Friday, November 27, 2020

 LƯỢC GIẢI KINH ĐỊA TẠNG.

Quyển trên

Lược giải phẩm thứ 1.

 

ĐỨC PHẬT HIỆN THẦN THÔNG

TRÊN CUNG TRỜI ĐAO LỢI

@&?

1.Đức Phật hiện thần thông: “Tôi nghe như vậy: Vào một thuở nọ đức Phật ở tại cung Trời Đao Lợi, vì mẹ mà nói pháp”.

Mở đầu kinh văn, chúng ta thấy đức Phật không giảng nói kinh này ở tại thế gian cho người phàm tục nghe; mà lên cung trời Đao Lợi để thuyết pháp cho mẹ của đức Phật, đã sinh Thiên nghe. Đặc biệt, trong chúng hội này cũng có sự hiện diện của chư Phật, chư Bồ tát lớn, trời, rồng, quỉ, thần ở trong cõi Ta Bà và những cõi nước khác trong mười phương cũng lên cung trời Đao Lợi để tham dự pháp hội. Như vậy kinh văn chỉ rõ rằng, muốn nghe được pháp Địa Tạng này, thì phải là người thực hành mười điều thiện trở lên (mà kinh dụ cho cung trời).

Những ai thực hành được mười nghiệp thiện? Những kẻ có duyên với Phật pháp; bất kể là trời, rồng, quỉ, hoặc thần. Vì vậy cho nên trời, rồng, quỉ, thần ở trong mười phương muốn được nghe pháp Địa Tạng này thì cũng phải lên cung trời Đao Lợi, tức phải thực hành mười điều thiệnhay nói cách khác là phải làm cho tâm mình thuần thiện. Còn hàng phàm phu tục tử với lòng đầy dẫy dục vọng, đầy dẫy bướng bỉnh sân si (cang cường) thì không thể nghe, hiểu và thực hành được pháp Địa Tạng này.

Đức Phật lên cung trời để giảng nói cho mẹ về pháp Địa Tạng là để thể hiện lòng hiếu đạo đối với mẹ; bởi cha mẹ là hai đấng sinh thành dưỡng dục ta nên người. Nhưng trong mọi sự báo hiếu về vật chật cũng như tinh thần, thì điều quan trọng nhất là làm cho cha mẹ hiểu được chánh pháp, biết tu thân hành thiện, rồi hướng đến giải thoátgiác ngộ mới gọi là đại hiếu. Gương bồ tát Mục Kiền Liên báo hiếu mẹ bằng cách nương nhờ đức Phật và Tăng già sau ba tháng an cư kiết hạ, rồi thỉnh về nhà để chuyển hóa cho thân mẫu là bà Thanh Đề thoát kiếp ngạ quỉ khổ đau, nên cũng được gọi là đại hiếu Mục Kiền Liên. Còn hàng phàm phu thì tùy theo khả năng của mình mà phụng dưỡng cha mẹ về vật chất cũng như tinh thần; chung quy không ngoài năm điều sau đây:

1.Hiếu dưỡng: Hai đấng sinh thành đã chịu bao gian khổ để trao cho chúng ta thân sống, nguồn sống và cả lẽ sống tràn trề. Mẹ khổ cực từ khi thai mang nặng nhọc cho đến lúc sinh sản và nuôi con lớn khôn. Cha thì một nắng hai sương, tất bật ngược xuôi trên vạn nẻo đường, kiếm từng miếng cơm, manh áo nuôi con. Công dưỡng dục của cha mẹ mênh mông như trời đất, bao la như đại dương và dạt dào như suối nguồn vô tậnVì vậy, phận làm con phải biết hiếu dưỡng đối với hai đấng sinh thành. Nhưng hiếu dưỡng ở đây mang ý nghĩa bao hàm, như khi còn nhỏ thì phải ngoan ngoãn chăm chỉ học hànhvâng lời cha mẹtùy sức mà làm những công việc nhỏ nhặt trong nhà, để cho cha mẹ đỡ phần mệt nhọc. Khi lớn khôn, sức cánh mạnh vai của tuổi thanh xuân thì thay cha mẹ mà gánh vác những công việc nặng nhọc. Lúc cha mẹ về già, thì con cái tùy theo hoàn cảnh kinh tế (tùy gia phong kiện) mà lo cho cha mẹ từng miếng ăn thức uống, áo quần chăn nệm tùy theo thời tiết nóng lạnh bốn mùa, chạy thầy lo thuốc và chăm sóc cẩn thận trong lúc cha mẹ ốm đau, tật bệnh. Khi cha mẹ qua đời, thì lo ma chay hiếu hỷ, phụng thờ tưởng niệm, để nhớ đến cội nguồn sinh hóa trong kiếp nhân sinh.

2.Hiếu kính: Cha mẹ là người đã chịu bao gian khó để trao cho chúng ta thân sống, nguồn sống và cả lẽ sống nhiệm mầu. Ân đức ấy thật cao cả vô cùng, khó lấy gì đền đáp nổi. Vì vậy cho nên, phận làm con thì phải luôn luôn tôn kính cha mẹ mình. Đừng thể hiện những điều bất kính, làm cho cha mẹ đau khổ.

3.Hiếu hòa: Cha mẹ là người đầu tiên trong cuộc đời trao cho chúng ta lẽ sống. Người đã chịu thương chịu khó từng bước tập con đi, rồi khi con bập bẹ thì tập con nói. Khi con lớn khôn, thì lo sách vở áo quần rồi dẫn đến trường cho con học tập, mong sao con nên người, khỏi thua chúng kém bạn, để trong đường đời con bớt khổ đau.  Cả chuỗi dài cha mẹ đã trao cho con bao điều hay lẽ phải, mong con biết hòa thuận trong cuộc sống chung cùng. Ý thức “chị ngã em nâng, tay đứt ruột xót”, nên phải sống thuận hòa giữa anh chị em như thể tay chân cùng cơ thể vậy. Một cuộc sống thuận hòa giữa con cái, là một niềm an vui lớn đối với hai đấng sinh thành.

4.Hiếu là sống tròn nhân cách: Sống ở trên cuộc đời này, không ai là không có ông bà cha mẹ. Biết bao đời tổ tiên của hai dòng nội - ngoại đã trao cho chúng ta thân sống, nguồn sống và cả lẽ sống nhiệm mầu. Vì vậybảo vệ thân mạng cho tốt đẹp, chính là biết trân quý gia bảo mà tổ tiên và cha mẹ đã trao truyền, để khi trưởng thành thì trao về cho các thế hệ con cháu mai sau. Tự phá hoại thân thể bằng rượu chè, xì ke ma túy và những độc dược là mang tội bất hiếu đối với những đấng sinh thành; cũng như phũ phàng đối với các thế hệ con cháu mai sau.

Thân mạng này được sinh ra từ tinh cha, huyết mẹ trong chín tháng thai mang, và công dưỡng dục của cha mẹ suốt chiều dài của tuổi thơ. Hai đấng sinh thành đã không quản gian lao vất vả, tất bật ngược xuôi trên vạn nẻo đường để tạo ra nguồn sống nuôi chúng ta lớn khôn. Vì vậy trong lúc trưởng thành, thì chúng ta phải tự tạo ra nguồn sống để nuôi thân bằng bàn tay, khối óc và con tim của mình (chánh mạng). Biết phân chia nguồn sống để cân bằng sự sống, bằng cách chia nguồn sống ra làm bốn phần: Phần thứ nhất để sinh sống hằng ngày. Phần thứ hai để tích lũy vốn làm tăng dần nguồn sống. Phần thứ ba để nuôi dưỡng cha mẹ già yếu, và thờ cúng ông bà tổ tiên để thể hiện “Cây có cội, nước có nguồn, ăn quả nhờ người trồng cây”. Phần thứ tư để thể hiện tình cảm giữa người với người “thù tạc vãng lai, láng giềng qua lại mới toại tình đời” như đám ma, đám cưới, hoặc lúc tắt lửa tối đèn có nhau. Hoặc bỏ ra làm từ thiện, giúp kẻ cô đơnbất hạnh giữa trường đời, hoặc bị thiên tai tật dịch. Ý  thức sự sống bắt từ nguồn sống, nên phải bảo vệ nguồn sống của mình và nguồn sống của người. Manh tâm cướp đoạt nguồn sống của nhau dưới mọi hình thức là mất nhân cách, mất đạo đức, làm cho cha mẹ bị hệ lụy khổ đau là mang tội bất hiếu.

Sống trên đời, ai cũng mong mình có cuộc sống an vui hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc không phải là thứ được ban phát từ một đấng nào; mà là từ sự nắm bắt được lẽ sống cho mình và cho người. Lẽ sống trước hết được hình thành trên thiện nghiệpVì vậy cho nên, phải luôn nuôi dưỡng tâm thiện, lời nói thiện và hành động thiện. Nhờ ba nghiệp (ý, miệng và thân) thuần thiện nên tránh được những tác hại cho mình và người. Một cuộc sống mà biết bỏ ác làm lành, bỏ xấu làm tốt, bỏ sân si để sống hòa hợp, thì dần dần sẽ hạn chế những mâu thuẩn phát xuất từ nội tại và làm cho cuộc sống an lạc hơn.

Tất cả mọi sự khủng bố đều xuất phát từ lòng tham bất chánh, tham quá tầm tay, từ sự ích kỷ và nổi sợ hãi, tạo nên hành động bất thiện làm cho ngoại tại bất anVì vậy cho nên, nếu chưa thật sự xả bỏ những ích kỷ của tâm thì hãy canh chừng“Hễ nơi nào có tiền tài, danh vọng và địa vị thì nơi đó sẽ có sự tranh chấp xảy ra, và người ta rất dễ dàng đánh mất nhân tính”.

Nhờ  nắm được lẽ sống tốt đẹp cho nhau, nên vợ chồng chung thủy sắt son, bạn bè trở nên tri âm tri kỷanh chị em như thể tay chân nên ý thức tay đứt ruột xót, tình bà con nội ngoại như dòng nước cùng nguồn nên ý thức bảo vệ đừng cho khô cội đoạn dòng. Láng giềng là tình cảm tương lân trong lúc tắt lửa tối trời nên đừng làm xiêu rào đổ dậu, đất nước lân bang hữu nghị nên không lấn đất dời nêu gây ra chiến tranh làm cho dân lành lầm than khốn đốn.

Vì ý thức cuộc sống chung cùng, nên phải dùng lời hay (ái ngữ) ý đẹp để đi vào sự sống, làm cho trong ấm ngoài êm, tình người hòa hợp. Tránh không nói lời cộc cằnthô lỗ, tục tĩu, mỉa mai, gây chia rẽ hận thù, gây mất đoàn kết.

Ý thức trí tuệ là ngọn đuốc soi đường đi đến chân, thiện, mỹ nên luôn giữ sự định tĩnh và trong sáng của tâm hồn. Tập nhìn cuộc đời bằng con mắt quán chiếu, để thấy rõ mọi động cơ dẫn đến khổ đau (tập đế) nhằm chuyển hóa và ngăn ngừa. Không sử dụng những chất nghiện ngập say sưa độc hại như ma túy, hóa chất gây ung thư, thuốc lá, rượu chè, cờ bạc, làm mất sự định tĩnh và trong sáng của tâm hồn và tác hại đến sức khỏe, gây xáo trộn cuộc sống thanh bình của cộng đồng.

5.Hiếu thuận: Khi con lớn khôn thì cha mẹ mong cho con thành gia thành thất và có cuộc sống an vui hạnh phúcVì vậy phải biết tìm lẽ sống tốt đẹp để sống cho nhau là rất cần thiết. Phải ý thức rằng, mỗi thành viên trong gia đình là nhân tố quyết định tạo nên cuộc sống an vui hạnh phúcVì vậy cho nên, tìm điều hòa thuận để sống cho nhau, chính là yếu tố để tạo thành hạnh phúc trong cuộc sống chung cùng. Ý nào không thuận thì không cố chấp; lời nào không thuận tai nghe thì không nói ra; hành động nào không thuận và không có kết quả tốt đẹp thì không làm. Phải làm sao cho trong ấm ngoài êm, làm cho cha mẹ an vui trong tuổi xế chiều, đó chính là biết hiếu thuận tâm lý vậy.

Ngoài thuận tâm lý ra, còn biết khuyên cha mẹ làm lành tránh dữ, biết ăn chay niệm phật, biết tu thân hành thiện để dần dần đưa tâm ra khỏi mọi khổ đau, vượt thoát luân hồi sinh tửVì vậy cho nên, trong năm điều hiếu thì hiếu đạo là hơn cả. Và chỉ có hiếu đạo mới được gọi là đại hiếu, như gương đức Mục Kiền Liên cứu mẹ chẳng hạn. Đức Phật dạy: “Những ai đền ơn bằng cách nuôi dưỡngcúng dường cha mẹ với của cảivật chất, tiền bạc thì  không bao giờ đủ để trả ơn cha mẹ. Nhưng này các Tỷ kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, thì khuyến khích, hướng dẫn cha mẹ an trú vào thiện giới. Đối với cha mẹ xan tham, thì khuyến khích, hướng dẫn cha mẹ an trú vào bố thí. Đối với cha mẹ theo ác trí tuệ, thì khuyến khích hướng dẫn cha mẹ an trú vào trí tuệ. Làm được như vậy, này các Tỷ kheo, là làm đủ và trả được ơn cha mẹ vậy”(1). Bởi chỉ có hiếu đạo mới tạo duyên cho cha mẹ ra khỏi luân hồi sinh tử mà thôi; cho nên đức Phật mới lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp môn Địa Tạng cho mẹ nghe là vậy.

Vậy pháp Địa Tạng ấy là pháp gì?

Như trong lời tựa đã diễn tả: “Địa là rắn chắc, sâu dày, rộng lớn và trùm chứa tất cả”.Cái gì dày chắc, rộng lớn không ngằn mé và trùm chứa tất cả?

Chính là tâm chứ không gì khác. Đức Phật dạy: “Một tâm có đủ mười pháp giớiĐịa ngụcngạ quỉsúc sinha tu la, người, trời, thanh vănduyên giácbồ tát và Phật” (2). Nhưng tâm ở đây được gọi là Địa Tạng, chính là tâm Như Lai tạng, hay chân tâm mà ai cũng có. Chân tâm thì vô hình vô tướng, biến khắp thời giantrùm khắp không gian nên không có gì phá hoại được, nên kinh văn gọi là kiên. Hết thảy chư Phật và chư Bồ tát trong mười phương đều trở về nương tựa chân tâm sẵn có của mình, nên kinh nói là đều đến hội họp (giai lai tập hội). Cùng một ý này, trong kinh A Di Đà diễn tả là: “Cùng các bậc thượng thiện nhân đều trở về một chỗ” (3). Cùng trở về một chỗ của các Đấng giác ngộ đó chính là trở về với chân tâm của mình vậy (chế tâm nhất xứ).

Vì vậy cho nên, chư Phật mới cùng nhau tán thán đức Phật Thích Ca Mâu Ni rằng: “Ngài ở trong cõi đời có năm thứ ô trược (4) mà hiện thần thông trí tuệ rộng lớn không thể nghĩ bàn, để điều phục chúng sinh cang cường, làm cho chúng nó rõ biết pháp khổ pháp vui”. Điều phục chúng sinh cang cường chính là điều phục những vọng tâm sinh diệt tiềm ẩn trong dòng năng lực samsāra (dòng chảy tâm thức) của mình vậy. Bởi mọi thứ có hình tướng cụ thể đều có thể dễ dàng vất bỏ; nhưng những vọng niệm trong tâm, nó chính là năng lực tiềm tại nên khó buông bỏ vô cùng; nên kinh văn nói: “chúng sinh cang cường nan điều nan phục”. Vì vậy cho nên, phải buông bỏ vọng tâm bằng thứ trí tuệ không vướng mắc hai bên, nên kinh nói: “hiện bất khả tư nghì đại trí tuệ thần thông chi lực”, cũng gọi là trí giác vô thượng, cũng gọi là trí bát nhã, trí Phật hay tánh giác.

Vì vậy cho nên, đức Phật dạy: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành, vì mỗi một chúng sinh đều có tánh Phật”. Những tướng tâm sai biệt (vọng niệm) đã, đang và sẽ được đức Địa Tạng giáo hóa. Chư Phật thì đã, chư Bồ tát thì đang, còn hàng trời, rồng, quỉ, thần thì sẽ dần dần chịu sự giáo hóa của tâm Như Lai (Địa Tạng), nếu biết quay về và nương tựa (cộng quy y).

Sự giáo hóa của chân tâm bằng cách vượt bỏ vọng thức là cả một nghệ thuật “vô công dụng hạnh”, nên đức Phật đã ân cần trao lại cho ngài Ca Diếp:

 

“Pháp gốc pháp không pháp 
Pháp không pháp cũng pháp 
Nay khi trao không pháp 
Mỗi pháp đâu từng pháp”. (5)

 

Bởi mọi ý hướng đi tìm chân lý với thứ tình thức mang tính chủ quan, thì chẳng khác nào kẻ mù bị lạc vào rừng rậm, thật khó mà tìm ra lối trở về nhà. Những mớ định kiến mà ta mang theo, nó tạo nên những uy lực đè nặng tâm hồn và phân hóa thực tại. Trong khi, chân tướng của vạn hữu là bản thể sống động bao hàm, luôn luôn vận hành một cách lung linh mầu nhiệm.

Nếu tự quán sát tâm theo khuôn mẫu của ký ức đã chết cứng tự bao giờ, thì vô tình ta đã quay lưng sấp mặt, bỏ qua thực tại với những uyên nguyên của nó. Trong khi, ta chỉ cần rỗng rang mọi sự, thì tâm ta được giải phóng, thông lưu và vô nhiểm (ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm). Ta thấy lại con người thật xưa nay của chính mình một cách chân xác như nó đang là, mà không bị một định kiến nào, một ý thức phân biệt nào can dự vào làm cho sai lạc.

Dùng mọi phương cách để theo dõi tâm, nhận dạng tâm, hướng dẫn tâm, điều phục tâm chỉ là cách chế ngự ý, an lập ý của Nhị thừa bởi người kiểm duyệt và kẻ bị kiểm duyệt. Trong khi, người kiểm duyệt và kẻ bị kiểm duyệt cũng chỉ là tâm.

Song, “Tâm không thể nắm bắt từ bên ngoài, từ bên trong hay ở giữa.Tâm vô hướng, vô niệm, không có chỗ sở y, không nơi chốn quy túc.Các đức Phật không thấy tâm trong quá khứ, trong hiện tại hoặc ở tương lai” (lời Phật). Cái mà chư Phật không thấy thì làm sao mà quán niệm được. Nếu có quán niệm, thì chẳng qua là sự quán niệm về những vọng tưởng sinh diệt của các đối tượng tâm ý mà thôi. Một lưỡi gươm không thể tự cắt nó. Một ngón tay không thể tự sờ mó nó. Tâm không thể quán tâm.

Trong khi ấy, mọi thứ tích tập từ vô lượng kiếp đến nay, nó chỉ là những sản phẩm vay mượn của tiền nhân; cái mà người xưa gọi là “Đồ ói mửa của Thánh nhân”. Hẵy quên đi tất cả mọi tư niệm, mà chính nó đã tạo nên những tràng hí luận hỗn man, dẫn ta về rối rắm. Quên đi cả những gì đang nói và quên luôn cả cái quên, thì cánh cửa chân lý tức thời rộng mở. Những pháp môn được dựng lập bởi dòng thức, chỉ tạo thêm vòng lẫn quẩn bởi chính công họa sư tâm ý và vẫn bị giam hãm trong cái rọ tư tưởng ngàn đời, chẳng khác nào kiến bò quanh miệng chén, mãi tìm lối nhưng không thể thoát ra. Đem tâm tìm tâm hay đem tâm quán tâm, thì chẳng khác nào muốn tránh cái bóng mà lại đứng giữa ánh nắng mặt trời. Chẳng biết đó chỉ là “Đầu mọc thêm đầu, tuyết rắc thêm sương” mà thôi.

Liễu ngộ chân lý không hạn cuộc bởi ngôn ngữ với mớ kiến thức vay mượn từ quá khứ, rồi đặt để cho hiện tại, hay dự phóng về tương lai. Cái thấy biết chân thật nó siêu vượt khỏi tầm đối đãi của hai bên (nhị nguyên). Hành vô hành là lộ trình không tên gọi. Khi rễ vọng tâm không đất nương tựa thì vòng luân hồi vào chốn vô sanh. Khi mặt trời lên thì đêm đen lui bóng. Trí tuệ bùng lên mỗi khi vọng tâm không còn hiện hữu. Đó chính là sự trở lại nương tựa tánh giác sẵn có trong tâm. Vì vậy cho nên, chư Phật tán thán sự giải thoát giác ngộ trong tâm; còn chư Bồ tát thì trở về nương tựa vào chân tâm, nên nói “Chư Bồ tát trong mười phương cùng về nương”.

Còn hàng phàm phu thì tán thán những thành quả của dục vọng, với trọng tâm là danh, lợi, tình, rồi mở rộng lòng tham không cùng tận; cho nên dòng đời là bãi chiến trường không có ngày kết thúc. Vậy muốn thoát khỏi khổ đau, thì phải thoát khỏi nghiệp thức, tức xóa bỏ vọng tâm, làm cho tâm không còn vướng mắc hai bên, nên kinh văn dụ cho mây thong dong giữa bầu trời vậy.

“Bấy giờ đức Như Lai mĩm cười rồi phóng ra trăm ngàn vạn ức vầng mây sáng rỡ lớn như là: Vầng mây tròn đầy sáng rỡ lớn (đại viên mãn quang minh vân), vầng mây cứu khổ ban vui cùng khắp sáng rỡ lớn (đại từ bi quang minh vân), vầng mây trí tuệ sáng rỡ lớn (đại trí tuệ quang minh vân)..v.v….”.

Vầng mây sáng rỡ lớn biểu trưng cho ánh sáng của chân tâm phát chiếu, hay trí tuệ bát nhã. Vì ánh sáng của chân tâm nên không bị tình thức khống chế, không vướng mắc vào mọi âm thanh sắc tướng, như mây thong dong giữa bầu trời vậy. Ở kinh Pháp Hoa phẩm Phổ môn, thì đức Phật dùng hình ảnh mặt trời giữa hư không để dụ cho tuệ giác vô sở trụ (như nhật hư không trụ). Trí tuệ giác ngộ, hay trí Phật là trí sáng chiếu trùm khắp, nên bao hàm thời gian và không gian (đại viên mãn quang minh vân). Trí ấy “Từ trong bản chất vốn xa lìa tướng danh tựxa lìa tướng nói năng, xa lìa tướng vọng tâm duyên lự, rốt ráo bình đẳng, không hề thay đổi, không thể phá hoại, chỉ là nhất tâm, nên gọi chân như.” (6).

Trí không vướng mắc vào sắc tướng nên được biểu trưng cho sự phóng ra những vầng mây sáng rỡ lớn của đức Phật; cũng có nghĩa là từ trong tánh giác phát ra những diệu dụng không ngằn mé như là: “từ bi, trí tuệbát nhãtam muộicát tườngphước đứccông đứcquy y, tán thán”.

Từ là ban vui mà bi là cứu khổ, nhưng ở đây là sự cứu khổ và ban vui lớn; tức đem tâm ra khỏi luân hồi để cho tâm không còn vướng mắc vào mọi khổ lụy nữa. Vì đem tâm ra khỏi dòng samsāra (luân hồi) bằng cách trở về y cứ và nương tựa vào chân tâm (Địa Tạng) nên ánh sáng chân tâm phát chiếu tròn đầy (đại bát nhã quang minh vân). Ánh sáng ấy làm cho tâm đại định (đại tam muội quang minh vân), làm cho tâm an lành tuyệt đối (đại cát tường quang minh vân), làm cho tâm thành tựu phước đức hữu lậu (đại phước đức quang minh vân) và công đức vô lậu (đại công đức quang minh vân), làm cho tâm trở về y cứ và  nương tựa Như Lai tạng không cùng tận (đại quy y quang minh vân), nên ca ngợi tâm sáng chiếu không sinh không diệt ấy cũng không cùng tận (đại tán thán quang minh vân).

Còn trí thế gian là do sự phát sóng của vỏ não, do tình thức của mỗi vọng tâm mà có, nên trí ấy đồng nghĩa với nghiệp chướng, tạo nên vui ít mà khổ thì nhiều. Trí do tâm thức vướng mắc mà hình thành, tạo nên chuỗi dài sinh diệt trong dòng samsāra trong vô lượng kiếp đến nay.

“Đức Phật phóng ra như vậy không thể nói hết những vầng mây sáng rỡ lớn như thế rồi, lại phát ra những âm thanh vi diệu như: Tiếng bố thí độ thoát, tiếng trì giới độ thoát, tiếng nhẫn nhục độ thoát.v.v…”.

Nhờ ánh sáng của chân tâm phát chiếu, nên tâm không còn dựng lập những tự ngôn tự ngữ (tâm không sở trụ); và những tiếng ở bên ngoài cũng không còn làm cho tâm dao động. Tiếng “bố thí độ” tức tâm xả ly không năng sở; cũng gọi là hằng thuần pháp tánh, tức cái nghe chỉ bằng cái nghe, cái thấy chỉ bằng cái thấy.v.v…mà không còn khởi vọng tâm lập trước vật. Bởi khởi vọng tâm lập trước vật chính là đối cảnh sanh tình của nghiệp thức, chứ không phải bản thân thực tại; mà thực tại là “như thị”. Tâm không còn nhảy nhót thi vi (tâm bình) nên kinh gọi là “trì giới độ”. Độ có nghĩa là vượt thoát mọi buộc ràng. Cùng một thật nghĩa này, tổ Huệ Năng cũng dạy: “Tâm bình đâu nhọc trì giới, hạnh trực chẳng dụng tu thiền”. Tâm bình chính là giới, là định, là tuệ, là giải thoát, là giải thoát mọi tri kiến.v.v...

Nhờ tâm xả ly một cách rốt ráo, cho nên những tâm niệm sai biệt không còn chi phối tâm. Những tướng tâm sai biệt mà kinh văn diễn tả là: tâm niệm ác độc, những mưu sâu kế  hiểm (dụ cho rồng, quỉ, thần), cho đến những niệm thiện (trời), những cảnh giới của thiền định sai lạc nên tâm thức rơi vào lạc trú (trời Tứ Thiên vươngtrời Đao Lợi.v.v…), rơi vào vô ký trầm không trệ tịch (trời phi tưởng, phi phi tưởng xứ) cũng  phải xả ly, thì tâm thể rộng lớn không ngằn mé mới hiện hữu. Và mỗi khi tâm xả ly rốt ráo (năng sở song vong) thì những đối tượng khách quan cũng không thể chi phối được tâm thể của hành giảVì vậy cho nên, kinh văn diễn tả: “Ở thế giới Ta bà (dụ cho cõi lòng) và những thế giới khác (dụ cho đối tượng) có vô lượng ức trời (thiện), rồng (mưu sâu kế hiểm), quỉ (lưu manhđộc ác, keo kiết, ích kỷ, gian tham…), thần (sân hậnnóng nảy, hung dữ) cũng đến hội họp ở cung trời Đao Lợi”. Hành giả hướng đến giải thoát bằng cách xả ly hết thảy những niệm thiện, niệm ác của mình và của người (Ta bà thế giới cập tha phương quốc độ), cũng như những thứ thiền định sai lạc làm cho tâm thức bám chặt vào những thứ tịnh lạc (dụ cho các cõi trời thuộc dục giới và sắc giới), hoặc bám chặt vào trầm không vô ký (dụ cho cõi trời phi tưởng) trệ tịch (dụ cho cõi trời phi phi tưởng); mà đưa hết thảy vọng tâm trở về một chỗ (nhất thiết thiên chúng, long chúng, quỉ thần đẳng chúng, tất lai tập hội). Buông hết đa tâm thì được nhất tâm là tất yếu. Đoạn trên đức Phật diễn tả chung mọi niệm thiện ác của chúng sinh trong sáu đường, kể cả những hệ quả thiền định mà tâm thức còn đối tượng để bám vào, kể cả bám vào không nên cũng rơi vào “không vô biên xứ, thức vô biên xứvô sở hữu xứphi tưởng xứ, phi phi tưởng xứ”.

Đoạn này đức Phật diễn tả từng loại tâm thức (chỉ cho tác dụng riêng của thức= S:Vijnana, P:Vinnana). Trước hết là diễn tả sức phá hoại của mầm sân ở trong tâm thức (dụ cho thần). Nếu quyền lực càng lớn thì cơn sân phá hoại càng sâu rộng, mà kinh văn dụ cho thần biển, thần sông, thần kênh rạch.

Cũng có những nổi oán thù cao ngất, hình như không thể bỏ xuống được, mà kinh văn dụ cho thần cây, thần núi (cố chấp mỗi ngày mỗi thêm lớn).

Cũng có những thù hận kiên cố, hình như không thể xóa được, mà kinh văn dụ cho thần đất.

Cũng có những oán thù liên tu bất tận chảy mãi trong tâm hồn, hình như không thể nào dừng lại được, mà kinh văn dụ cho thần sông chằm.

Cũng có những cơn sân giận đang còn trong mầm móng, mà kinh văn dụ cho thần lúa mạ.

Cũng có những cơn sân giận oán thù do tranh chấp hai bên như: phải trái, được mất, hơn thua, vinh nhục, đúng sai, tốt xấu, ý thức hệ này, ý thức hệ nọ, tôn giáo này, tôn giáo kia, quốc gia này, quốc gia nọ đối kháng lẫn nhau, mà kinh văn dụ cho thần chủ ngày, thần chủ đêm.

Cũng có những cơn sân giận oán thù do chấp vào ngoan không, vào chủ thuyết vô thầnhư vô chủ nghĩa,  mà kinh văn dụ cho thần hư không.

Cũng có những cơn sân giận oán thù do những niềm tin mù quáng nên chấp vào nhất thần (trời Phạm Thiên), mệnh trời, thượng đế, mà kinh văn dụ cho thần trên trời.

Cũng có những cơn sân giận oán thù do tranh dành vật dục của bản năng, mà kinh văn dụ cho thần ăn uống.

Cũng có những cơn sân do tâm cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, coi thường kẻ khác, mà kinh văn dụ cho thần cây cỏ.

Không thể kể hết những yếu tố làm cho lòng sân nổi lên, rồi sinh tâm phá hoại. Sự phá hoại do cơn sân của loài người cộng lại thật là lớn lao vô cùng tận và xảy ra liên miên bất tận, nên gọi là địa ngục vô gián.

Nếu nhân loại biết thức tỉnh, để nuôi dưỡng lòng thương và bảo vệ sự sống còn, thì cũng phải đưa tâm thức trở về một chỗ thuần thiện, mà kinh văn gọi là tập hội, tức nương về chân tâm dày chắc, rộng lớn và chứa đủ của mình (Địa Tạng). Ba độc tố tham, sân, si của dòng thức là động cơ tạo ra mọi cuộc chiến tranh không có ngày kết thúc, nếu loài người không tự cứu nguy.

Đến đoạn này, kinh văn diễn tả những tâm niệm, hoặc những hành động quá xấu ác của mình và người (Những đại quỉ vương ở cõi Ta bà cùng cõi nước phương khác). Do thiếu hiểu biết (vô minh), nên sinh ra những tầm nhìn xấu ác tạo thành những niềm tin tôn giáo hoặc ý thức hệ cực đoanbiến thành những hành động quỉ quyệt làm khổ đau cho mình và người, mà kinh văn dụ cho quỉ vương có tầm nhìn xấu ác (ác mục quỉ vương), quỉ vương hút máu (đạm huyết quỉ vương), quỉ vương hút tinh khí (đạm tinh khí quỉ vương)quỉ vương ăn thai hút trứng (đạm thai noãn quỉ vương), quỉ vương tạo ra tật bệnh (như bỏ melamine vào sữa…), quỉ vương thu nhiếp những độc tố.v.v..

Nhiều lúc vì lòng thương, nhưng hành động thì lại rơi vào xấu ác nên cũng được cho là quỉ quyệt, như “giết một con mèo để cứu vạn con chuột” chẳng hạn. Ảnh hưởng tư tưởng Khổng giáo nên Nguyễn Du cũng viết:

 

      “Hại một người, cứu muôn người

Biết điều khinh trọng, biết lời phải chăng”

 

Vì vậy cho nên, để cho Hồ Tôn Hiến ra tay giết Từ Hải. Hại một người cũng mắc vào tội sát nhân, cũng là hành động độc ác, nên kinh văn gọi là quỉ vương từ tâm (từ tâm quỉ vương), quỉ vương phước lợi (phúc lợi quỉ vương)quỉ vương yêu mến và thành kính lớn (đại ái kính quỉ vương).v.v…Tâm dễ thương mà hành động không dễ thương, cũng được dụ cho quỉ. Đây chính là sự khác biệt giữa lời dạy của đức Phật với lời dạy của những tôn giáo khác, những nền văn hóa khác. Đức Phật thể hiện tâm và hạnh đều thiện; cho nên đầu thiện, giữa thiện và rốt sau đều thiện. Ngược lại, những tôn giáo khác đi giết hại tha nhân không mang cùng một nhãn hiệu với mình, lắm khi cũng được phong thánh (Thánh chiến).

Đức Phật dạy: phải gom tất cả những tâm niệm xấu ác trở về chân tâm thanh tịnh, nên gọi là tập hội.

Đến đoạn này đức Phật bảo vua pháp là bồ tát Văn Thù Sư Lợi rằng: “Ngươi quán sát xem chư Phật, chư bồ tát và trời, rồng, quỉ, thần ở thế giới này cùng thế giới khác, ở trong cõi nước này cùng cõi nước khác, nay đều đến hội họp tại cung trời Đao Lợi, ngươi có biết số lượng là bao nhiêu không?”.

Bồ tát Văn Thù Sư Lợi là biểu trưng cho trí căn bản (căn bản trí), nên cũng được gọi là vua pháp (pháp vương), cũng gọi là thầy của chư Phật trong ba thời gian. Bởi muốn thành Phật cũng phải trở về với cái trí gốc của mình, nên gọi là trí căn bản. Trí căn bản hay tánh giác thì vượt ra ngoài đối đãi hai bên (tuyệt đãi), nên không phân biệt số chư Phật ở cõi nước này và cõi khác, tức tâm thanh tịnh của mình và người thì không còn đối đãiso sánhVì vậy cho nên, bồ tát Văn Thù thưa: “Bạch đức Thế Tôn! Nếu dùng thần lực của con để tính đếm trong ngàn kiếp, thì cũng không thể biết được số lượng là bao”.

Còn hàng Bồ tát thì đang từng bước đi về giác ngộ, nhưng cũng không thể biết được số lượng Bồ tát ở cõi nước này và cõi nước khác là bao. Bởi Bồ tát nghĩa là Giác hữu tình (Bodhisattva), tức đang buông bỏ những thứ tình thức ở trong tâm mình, nên cũng không còn sở biết.

Riêng hàng trời, rồng, quỉ, thần chính là những tâm niệm thiện ác cũng nhiều vô số kể. Ai biết được những tướng vọng niệm sai biệt trong tâm mình và tâm người là bao nhiêu? Ngay chính những vọng niệm của mình trong kiếp này thôi, mình cũng không đếm được là bao. Chính đức Phật, Ngài cũng không thể biết số lượng là bao, nên ngài nói: “Như Ta dùng mắt tuệ của Phật xem hãy còn không đếm xiết số lượng là bao. Số thánh, phàm này đều của Bồ tát Địa tạng (Như lai tạng tâm) từ nhiều kiếp lâu xa đến nay, hoặc đã độ, hoặc đang độ, hoặc chưa độ. Hoặc đã thành tựu, hoặc đang thành tựu, hoặc chưa thành tựu”. Những vọng tưởng của mình và của tha nhân từ vô lượng kiếp đến nay nhiều vô số kể.

Chư Phật là những vị đã thành tựu quả vị giác ngộ, hàng Bồ tát thì đang từng bước đi về giác ngộ. Còn hàng phàm phu thì chưa thành tựu, vì chưa có giờ phút nào chịu quay trở lại sống với Như Lai tạng tâm của mình cả. Tập hội chính là đưa tâm trở về một chỗ (chế tâm nhất xứ), đó là trở về bảo trọng tâm địa rộng lớn, dày chắc và chứa đủ của mình. Từ những niệm thiện (trời), cho đến những mưu cao kế sâu (rồng), những tâm niệm gian tham xảo trá, độc áckeo kiệtlọc lừa tráo trở, cống cao ngã mạnnóng nảysân si .v.v… (quỉ, thần), kể cả những trạng thái thiền định sai lạc, ngậm nước chết nên rơi vào vô kýtrầm không trệ tịch (phi tưởng, phi phi tưởng), cũng đều đưa chúng trở về với chân tâm. Và khi nào vọng tâm không còn nơi bám trụ, thì chân tâm mới hiện bày, nên kinh nói “chúng sinh độ hết mới chứng bồ đề”.

Hiểu rõ ý này nên bồ tát Văn Thù thưa: “Bạch đức Thế tôn, từ thuở quá khứ lâu xa, con đã tu căn lành nên chứng được trí tuệ vô ngại. Nay nghe lời đức Phật dạy, là tin nhận liền.  Còn đối với hàng tiểu quả Thanh Văn, hoặc trời, rồng, tám bộ và những chúng sinh về đời sau, tuy nghe lời thành thật của Như Lai, tất sinh nghi ngờ. Dẫu cho có lạy vâng đi nữa, cũng không tránh khỏi hủy báng. Xin đức Thế Tôn giảng rộng về nhân địa của bồ tát lớn Địa tạng, tu hạnh gì, lập nguyện gì, mà thành tựu sự không thể nghĩ bàn như thế?”.

Từ hàng Thanh Văn trở xuống vì còn dùng pháp đối của Nhị thừa, nên nghe diễn tả về chân tâm sinh nghi ngờ là tất yếu. Vì vậy cho nên, đức Văn Thù xin đức Phật giảng rộng về hạnh nguyện của bồ tát Địa Tạng.

Đức Phật bảo rằng, lấy tất cả mọi thứ, từ thực vật cho đến khoáng vật trong ba ngàn thế giới rộng lớn (có bao nhiêu cỏ cây, lùm rừng…đá, núi, bụi bặm); cứ mỗi vật là một sông Hằng, rồi cứ mỗi hạt cát trên sông Hằng làm một cõi nước, rồi trong một cõi nước cứ mỗi hạt bụi nhỏ làm một kiếp. Tính số kiếp như vậy từ lúc bồ tát Địa Tạng chứng quả địa thứ mười (thập địa = quả vị Phật) cho đến nay nghìn lần lâu hơn số kiếp thí dụ ở trên. Vì sao như vậy? Vì Địa Tạng là dụ cho Như Lai Tạng tâm, hay Phật tánh; mà Phật tánh thì vô thủy vô chung (vô lượng thọ) nên siêu việt số lượng.

Vì vậy cho nên, đức Phật bảo với bồ tát Văn Thù rằng, oai thần thệ nguyện của bồ tát Địa tạng thì không thể nghĩ bàn, tức chân tâm thì tuyệt đãiPhật bảo là “Về sau này có người thiện nam tín nữ nào nghe tên của vị bồ tát này (tức văn tự tánh), hoặc khen ngợi (tán thán tự tánh), hoặc chiêm bái đảnh lễ (quán tự tánh).v.v…thì sẽ được sinh lên cung trời Đao Lợi (thuần thiện), thì không còn đọa vào đường ác nữa”. Làm cho tâm thuần thiện thì sẽ thoát khỏi ba cõi xấu ác là tất yếu.

Đức Phật đưa ra hai câu chuyện để ẩn dụ:

1.Địa Tạng là con nhà giàu có lớn (trưởng giả tử) sinh ra trong đời gặp được đức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn HạnhTrưởng giả liền hỏi Ngài tu hạnh nguyện gì mà được tướng tốt đẹp này.

Đức Phật Sư Tử dạy: “Muốn chứng được thân tướng tốt đẹp này, thì cần phải trải qua thời gian lâu xa độ thoát tất cả chúng sinh đang chịu khổ”.

Chúng sinh đang chịu khổ ở đây là ám chỉ cho những hành tướng tâm lý xấu ác được dựng lập bởi tư duy hữu ngã, nên bị năm thụ uẩn khống chế, tạo thành chuỗi dài sinh diệt, với sầu bi khổ ưu não. Vì vậy cho nên, Trưởng giả nghe xong thì liền phát nguyện rằng: “Từ nay đến tột cùng về đời sau không thể kể hết số kiếp, con sẽ vì những chúng sinh mắc tội khổ trong sáu đường, mà rộng nói nhiều phương tiện làm cho giải thoát tất cả, rồi tự thân con mới chứng thành Phật đạo”.

Chúng sinh mắc tội khổ trong sáu đường chính là sáu căn dính mắc sáu trần, nên mới rơi vào địa ngụcngạ quỉsúc sinha tu la, người và trời. Vì vậy cho nên, tu giải thoát là làm cho tâm không còn dính mắc, tức không bị tình thức khống chế. Và chỉ khi nào vượt thoát dòng tâm thức chấp ngãchấp pháp (làm cho giải thoát tất cả) thì tánh giác mới hiện bày, nên kinh nói “tự thân mới chứng thành Phật đạo”. Trưởng giả gặp được đức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh, nghĩa là trở lại với tự tánh sẵn có của mình (Phật), và phải tinh tấn dõng mãnh thực hành đầy đủ muôn hạnh lành (sư tử phấn tấn cụ túc vạn hạnh).

Trong phẩm Kim Cang Bát nhãđức Phật cũng dạy:

“Không khởi vọng tưởng về ta, không khởi vọng tưởng về người, không khởi vọng tưởng về nhiều yếu tố duyên sinh (giả chúng duyên nhi sinh, nhi viết chúng sinh), không khởi vọng tưởng về những cảm thọ, mà thực hành hết thảy pháp lành tức chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.” (7).

2.Bà La Môn nữ cứu mẹ:

Trước hết kinh giới thiệu về đức Phật ở thời quá khứ vô số kiếp về trước không thể nghĩ bàn là Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, tức giới thiệu về bổn giácBổn giác thì vô thủy vô chung, nên kinh nói “không thể nghĩ bàn”. Phật tánh thì không nhiểm ô nên gọi là “giác hoa”. Vì không bị vọng thức chi phối nên gọi là “định tự tại vương Như Lai” (8). Đức Phật ấy thọ đến bốn trăm ngàn muôn ức kiếp, tức ám chỉ cho lìa khỏi vọng chấp (ly tứ cú) và chấm dứt những tự ngôn tự ngữ ở trong tâm thức (tuyệt bách phi); đó chính là thọ mạng của chư Phật (9), tức Phật tánh thì vô thủy vô chung.

Thứ đến là giới thiệu cô gái Bà la môn đức hạnh, nhiều kiếp chứa phước sâu dày, nên ai cũng kính nể và luôn được chư thiên bảo vệ. Phước sâu dày chính là bỏ hết thảy những điều xấu ác, và thực hành muôn hạnh lành.Thân không giết hại mà còn phóng sinh, không trộm cắp mà còn cúng dường bố thí, không tà dâm mà còn giúp người giữ tiết hạnh.Miệng không nói dối mà phải nói thành thật, không nói lưỡi hai chiều mà phải giúp người hòa giải, không nói lời xấu ác mà phải nói lời từ hòa, không nói lời hoa mị mà phải nói lời đoan chánh. Ý không tham dục, không giận dữ, và không khởi tà kiếnĐức Phật lấy mười nghiệp thiện để chỉ cho chư Thiên, nên kinh văn nói chư thiên ngày đêm hộ vệThực hành mười nghiệp lành, chính là bảo hộ cho chính mình tốt đẹp vậy.

Ngược lại, Không có chánh kiến mà còn tà kiến mê tín, không trở về y cứ và nương tựa Tam Bảo mà tin theo ngoại đạo tà giáo. Không biết rõ nhân quả thiện ác tốt xấu mà phó thác cho niềm tin tưởng viễn vong. Không nhận ra tánh Phật nơi tâm mình mà luôn tạo nhiều nghiệp nhân xấu ác, thì tất yếu phải ở nơi địa ngục vô gián, nghĩa là luôn sống trong tăm tối (vô minh) khổ đau. Vì vậy cho nên, Vô minh càng nhiều thì khổ đau càng lắm, nên kinh văn gọi là “thần hồn sa đọa vào địa ngục vô gián”.

Vậy muốn đưa tâm ra khỏi mọi khổ đau, thì trước hết phải thực hành giới - định - huệ mà chư Phật đã chỉ dạy, kinh văn dụ cho hương hoa cúng dường (năm phần hương cúng dường). Hương giới, hương định, hương tuệ, hương giải thoát, hương giải thoát khỏi mọi tri kiến lập tri; đó chính là cúng dường chân tâm hay Phật tánh của mình vậy.

Chiêm ngưỡng đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai hay quán chiếu tự tánh, làm cho tâm thức không còn vướng mắc nên gọi là Giác hoa. Vì tâm không dính mắc hai bên nên tâm an định tự tại (định tự tại vương). Chân tâm thường tịch thường chiếu, nên gọi là Như Lai.

Vì vậy cho nên, đức Giác Hoa dạy: “Ngươi mau mau trở về nhà, ngồi ngay thẳng niệm danh hiệu của ta, thời ngươi sẽ biết chỗ thác sinh của mẹ ngươi”. Trở về nhà là “Trở về với tự tánh” hay niệm tự tánh như đã nói ở trên, làm cho tâm định trở lại (Định Tự Tại Vương Như Lai). Nhờ tâm an định sáng suốt, nên mới thấy rõ những hành tướng của vọng tâm đang lưu tán vào đâu, và do những hành nghiệp gì mà lưu tán vào nơi ấy (chỗ thác sinh của mẹ). Niệm danh hiệu của Giác Hoa Định tự tại Vương Như Lai suốt một ngày một đêm (tĩnh thức trọn ngày đêm), thì liền thấy mình đứng trên bờ biển kia, tức vượt lên trên biển nghiệp.

Tâm giác ngộ (Giác Hoa) là tâm thanh tịnh bổn nhiên nên không ở nơi tâm sinh diệtvì vậy cho nên đức Phật dạy quay trở về nhà. Bây giờ nhìn lại biển nghiệp, mới thấy nước ái dục ngày đêm nung nấu tâm can (nước biển sôi sùng sục), tạo thành những nghiệp nhân xấu ác (nhiều thú dữ) bay nhảy trên bề mặt của sóng thức (trên mặt biển) rượt đuổi lẫn nhau. Những tướng tâm sinh diệt ấy (trai cùng gái) nhiều vô số kể, thoạt chìm thoạt nổi trong biển thức và bị những nghiệp nhân xấu ác chi phối, để hình thành những khổ đau thiên hình vạn trạng (nào là thú dữ, nào quỉ Dạ xoa nhiều tay nhiều chân, nhiều đầu nhiều mắt.v.v…). Thánh nữ nhờ nương sức niệm Phật (niệm tự tánh), nên không bị những nghiệp dữ ấy chi phối (không sợ).

Quỉ vương là chúa của loài quỉ, nhưng có cái danh là vô độc, bởi vì mỗi khi tâm thức đã quay lại với tánh giác rồi thì không còn độc hại nữa. Nhưng chỉ có những tâm niệm quỉ quyệt mới thấy rõ những hành động xấu ác đưa đến khổ đau (địa ngục) trong tâm vô minh (thiết vi) mà thôi, nên quỉ vương mới trả lời với thánh nữ rằng: “Đây là tầng biển thứ nhất ở phía tây núi Thiết vi”. Phía tây là phương mặt trời lặn, dụ cho đêm đen hay bóng tối vô minh. Vì vô minh quá dày đặc nên không có một chút ánh sáng của trí tuệ lọt vào được, nên dụ cho núi lớn rào sắt (đại thiết vi). Vì vậy cho nên, đức Phật dạy: “Si là gốc của muôn tội lỗitrí tuệ là gốc của muôn hạnh lành”.

Thánh nữ hỏi quỉ vương rằng: “Tôi nghe trong núi Thiết vi có địa ngục, việc ấy có thật vậy không?”, có nghĩa là tôi nghe trong tâm thức vô minh sinh ra nhiều sự khổ đau, việc ấy có thật chăng?

Quỉ vương vô độc đáp: “Thật có địa ngục”.

Đúng vậy, vô minh càng nhiều thì khổ đau càng lắm, cho nên đức Phật dạy: “Làm đau thương không gì bằng lo buồn, bắn tên hại người không gì bằng ngu si. Không thể lấy gì để trừ diệt được hai nổi khổ ấy. Chỉ có học rộng hiểu nhiều mới có thể trừ diệt được. Người mù nhờ học mà có mắt, người u tối nhờ học mà có sáng suốt. Có tu học thì như đem mắt cho người mù. Vậy phải rời bỏ ngu si, xả lòng kiêu mạn và an hưởng sự giàu có. Chuộng học nghe nhiều mới gọi là nhóm họp các công đức”.

Thánh nữ hỏi: “Vậy nay tôi làm sao vào được trong địa ngục ấy?”.

Vô độc đáp: “Nếu không phải do sức oai thần, thì phải do nghiệp lực mới vào được”.

Oai thần chính là sức phương tiện bởi nguyện lực của các bậc Thánh. Còn chúng sinh thì do nghiệp lực, nên tự chiêu cảm lấy. Đã gọi là do tâm thức chiêu cảm, thì không ai thay thế khổ đau cho ai được. Vậy trong lúc đang còn khỏe mạnh thì phải nương tựa chánh pháp để tu hành; chớ đừng đợi lúc sắp chết mới nhờ người khác cầu cho vãng sinh, thì không bao giờ được, bởi sái luật nhân quả của đức Phật dạy vậy.

Thánh nữ hỏi: “Duyên cớ gì mà nước trong biển này sôi sùng sục như thế, và lại có những người tội cùng với các thú dữ vậy?”.

Vô độc đáp: “Những người tội ở trong biển này là những kẻ tạo ác ở cõi Diêm Phù Đề”.

Như trên đã nói, cõi Diêm Phù Đề chính là cõi lòng. Nếu cứ để cho biển nghiệp xấu ác lộng hành, thì tâm thức luôn bị nóng bức như nước sôi sùng sục (nước biển sôi sùng sục), luôn đau khổ hãi hùng như bị thú dữ cắn nhai.v.v…là tất yếu. Cõi lòng tạo ra những nghiệp nhân xấu ác thì cảm lấy khổ đau, nên kinh nói là lội qua cái biển này.

Lại nữa, “Cách biển này mười muôn do tuần về phía đông cũng có cái biển nữa, những sự thống khổ trong biển này nhiều hơn biển trên”.

Mười là tiêu biểu cho mười vọng tưởng căn bản ở trong tâm thức, mà ở kinh Kim Cang đức Phật dụ cho mười loại chúng sinh tâm. Nào là sinh bằng trứng, sinh bằng bào thai, sinh ở nơi ẩm thấp, sinh bằng chuyển hóa, loài có sắc chất, loài không phải sắc chất (thần tàithổ địa), loài có tưởng (độc lậptự do), loài không tưởng (thượng đế, mệnh trời), loài chẳng phải tưởng (thiền định rơi vào trầm không), loài chẳng không tưởng (thiền định rơi vào trệ tịch). Nói tóm lại, từ những ý niệm cụ thể cho đến những ý niệm trừu tượng, tức mười loại vọng tưởng căn bản tạo thành muôn ức vọng nghiệp sai khác, che mất ánh sáng của chân tâm (mà kinh văn dụ cho phương đông), nên tạo ra bao nổi thống khổ;  tức vô minh càng nhiều thì khổ đau càng lắm. Vì vậy cho nên, không có nổi khổ nào bằng nổi khổ của tâm hồnBiển nghiệp được tạo ra bởi thân, miệng và ý, nên hệ quả là làm cho thân tâm mình khổ.

Vì vậy cho nên, trong ba cái biển nghiệp ấy (ý, miệng, thân) thì nghiệp của ý chủ đạo tất cả nên tạo thành mười tám giới phân biệt (sáu căn + sáu trần + sáu thức).Vì vậy cho nên, kinh văn nói “về địa ngục lớn thì có mười tám chỗ, kế có năm trăm chỗ, khổ sở cũng vô lượng”. Mười tám giới phân biệt cũng không ngoài vọng tâm chấp vào năm thọ uẩn mà nên. Mỗi thụ uẩn nhân cho một trăm pháp, thành năm trăm chỗ vướng mắc của tự tâm.

Địa ngục ở đâu?

Địa ngục ở ngay trong ba cái biển nghiệp của ý, miệng và thân. Người nào luôn luôn nuôi dưỡng những tâm niệm độc ác, luôn luôn nói lời xấu ác, và luôn hành động xấu ác thì người ấy ở trong địa ngục dài dài (vô gián).

Động cơ để tạo nên biển nghiệp chính là tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiếnbiên kiếnkiến thủ kiến và giới cấm thủ trong mỗi tâm hồn.Từ tham, sân, si khiến ý tạo nên những hành tướng tâm lý xấu ác, rồi sai sử miệng nói lời xấu ác, và điều khiển thân hành động bất chính. Những lời nói cộc cằnthô lỗ, tục tĩu, mỉa mai, gây chia rẽ hận thù, gây mất đoàn kết. Những hành động chuyên quyền, độc tài độc đoán, những tôn giáo độc quyền,  nhất thần, vô thần, tạo ra chiến tranh, hận thù chất ngất không có ngày dừng lại, đều xuất phát từ lòng tham bất chánh.

Trong cuộc sống hằng ngàynếu không được đức Phật Giác Hoa chỉ dạy, tức không đem tâm ra khỏi mọi sự vướng mắc, thì chúng ta luôn luôn lội qua ba biển nghiệp ấy (ý, miệng và thân) để tạo thành địa ngục trần gian của hận thù, của tham vọng và chiến tranh, rồi tạo thành chuỗi dài sầu bi khổ ưu não (địa ngục vô gián). Và sau khi chết thì thân trung ấm cũng mang theo những nghiệp nhân ấy như một dẫn lực để tiếp tục thọ sinh vào những cảnh giới tương ứng (địa ngụcngạ quỉsúc sinh, a tu la…) chứ không giao cho ai được. Chỉ có một điều là muốn sinh vào đường lành, thì phải biết quy y Tam Bảo, tin vào nhân quả, sống đúng nghiệp thiện, tạo nhiều phước đức.

Thánh nữ và Vô độc là biểu trưng cho trí căn bản và trí hậu đắc, hay biểu trưng cho bồ tát Địa Tạng và bồ tát Tài Thủ (10). Mỗi khi đưa tâm thức về căn bản trí, thì vọng tình tức thời tan biến và tâm trở nên thuần thiện, nên không bị ngoại cảnh xấu ác chi phốiVì vậy, Vô Độc thưa:  “Tội nữ Duyệt Đế Lợi đã được sinh lên cõi trời đã ba ngày nay. Nghe nói nhờ con gái của người có lòng hiếu thuận, vì mẹ mà sắm sửa lễ vật, tu tạo phước lành, cúng dường chùa tháp, thờ đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai. Chẳng những chỉ riêng mẹ của Bồ tát thoát khỏi địa ngục, mà những tội nhân vô gián cũng đều được thác sinh.”.

Vì đưa tâm (ý) ra khỏi vướng mắc hai bên nên tâm thuần thiện (diệu quán sát trí); từ đó cái thấy chỉ bằng cái thấy, cái nghe chỉ bằng cái nghe, cái ngửi chỉ bằng cái ngửi, cái nếm chỉ bằng vị, cái xúc chạm chỉ bằng cái xúc chạm nên gọi là thành sở tác tríthức mạt na không còn chấp thủ hạt giống nên chuyển thành trí tánh bình đẳng (bình đẳng tánh trí); và thức A lại da chuyển thành trí sáng tròn đầy (đại viên cảnh trítrùm khắp pháp giới, mà kinh dụ cho cả mẹ và tội nhân (chuyển thức thành trí) đều được thác sinh. Tâm không còn dong ruỗi về chuyện của ba thời gian (quá khứhiện tại và vị lai), nên kinh văn nói: “Tội nữ Duyệt Đế Lợi đã được sinh lên cõi trời đã ba ngày nay”. 

Vì trở về nhập với trí căn bản sẵn có, nên Thánh nữ phát nguyện: “Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai, tôi sẽ lập ra nhiều phương chước làm cho chúng sinh mắc tội khổ đều được giải thoát”.

Trở về sống lại với trí căn bản hay ra khỏi dòng tâm thức sinh diệt thì sẽ chấm dứt mọi khổ đau, tức thủy giác trở lại với bổn giác, nên gọi là “Thủy bổn chẳng hai”. Vì giữ gìn gia tài giải thoát giác ngộ nên gọi là Tài Thủ, đó cũng chính là tâm Như Lai Tạng tức Địa Tạng vậy.

Tóm lại, ý của đoạn kinh này chỉ dạy: Muốn được đầy đủ muôn hạnh lành (cụ túc vạn hạnh) thì phải độ thoát tất cả chúng sinh bị khốn khổ. Chúng sinh bị khổ đau ở đây chính là những nghiệp nhân xấu ác của ý, miệng và thân. Đưa tâm ra khỏi khổ đau bằng tự giác bổn tâm  nên gọi là Giác hoa, bằng thiền định nên gọi là Định tự tạiVì vậy cho nên, đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai phát nguyện rằng: “Tôi nguyện từ nay nhẫn đến đời vị lai, những chúng sinh mắc tội khổ, thì tôi lập ra nhiều phương chước làm cho chúng đó được giải thoát.” Giải thoát bằng tự giác bổn tâm, bằng thiền định bổn nhiên của tâm địa, nên mở đầu kinh văn ghi: “khể thủ bổn nhiên tịnh tâm địa”, tức sống lại với bổn tôn sẵn có của mình, dụ cho Địa Tạng.

Bằng không, thì dòng thức sẽ bị thúc đẩy bởi tham, sân, si và tâm ý sẽ mãi lao theo chiều sinh diệt với: được mất, hơn thua, thắng bạiphải tráivinh nhục .v.v… để rồi tâm thức phải đi vào muôn kiếp lạnh lùng mà thôi (địa ngục hàn băng). Như vậy, địa ngục không ngoài tâm sinh, thiên đường đâu ngoài tâm có. Tâm chính là công họa sư tạo ra chuỗi dài sinh diệt, mà cũng là nơi cứu cánh niết bànVậy mà trong cuộc sống xuất gia, mấy ai quay lại để thuần thiện và bảo trọng tâm rộng lớn dày chắc và chứa đủ của mình? Xin hành giả liễu tri.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.28/11/2020.

No comments:

Post a Comment