Pháp lược thuyết (Sankhitta Sutta, ).

1. Rồi một tỳ-khưu đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, tỳ-khưu ấy bạch Thế Tôn:
– Lành thay! bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
– Như vậy, ở đây, một số người ngu si, thỉnh cầu Ta, sau khi pháp được giảng, họ nghĩ Ta là người cần phải đi theo.
– Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, Thiện Thệ hãy thuyết pháp vắn tắt. Con có thể hiểu được ý nghĩa lời của Thế Tôn thuyết giảng. Con có thể trở thành kẻ thừa tự lời Thế Tôn thuyết giảng.
2.– Vậy này tỳ-khưu, thầy cần phải học tập như sau:
“Nội tâm ta sẽ an trú, khéo vững trú. Các pháp ác, bất thiện sanh khởi không có xâm chiếm tâm và không có chân đứng”. Như vậy, này tỳ-khưu, thầy cần phải học tập.
3. Này tỳ-khưu, khi nào nội tâm của thầy được an trú, khéo vững trú, các pháp ác, bất thiện sanh khởi không có xâm chiếm tâm và không có chân đứng, khi ấy, này tỳ-khưu, thầy cần phải học tập như sau:
“Tâm Từ đưa đến giải thoát sẽ được ta tu tập, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành”. Như vậy, này tỳ-khưu, thầy cần phải học tập.
4. Này tỳ-khưu, khi nào định này của thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy, này tỳ-khưu, thầy cần phải tu tập định này với tầm với tứ; cần phải tu tập không tầm, chỉ với tứ; cần phải tu tập không tầm không tứ; cần phải tu tập có hỷ; cần phải tu tập không hỷ; cần phải tu tập câu hữu với lạc; cần phải tu tập câu hữu với xả. Này tỳ-khưu, khi nào định này của thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy này tỳ-khưu, thầy cần phải học tập như sau:
“Tâm Bi đưa đến giải thoát sẽ được thầy tu tập … Tâm Hỷ đưa đến giải thoát sẽ được thầy tu tập … Tâm Xả đưa đến giải thoát sẽ được thầy tu tập, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, được làm cho kiên trì, được làm cho tích tập, được khéo tinh cần thực hành”. Như vậy, này tỳ-khưu, thầy cần phải học tập.
5. Này tỳ-khưu, khi nào định này của thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy, này tỳ-khưu, thầy cần phải tu tập định này với tầm với tứ; cần phải tu tập không tầm, chỉ với tứ; cần phải tu tập không tầm không tứ; cần phải tu tập có hỷ; cần phải tu tập không hỷ; cần phải tu tập câu hữu với lạc; cần phải tu tập câu hữu với xả. Này tỳ-khưu, khi nào định này của thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy này tỳ-khưu, thầy cần phải học tập như sau:
“Ta sẽ sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời”. Như vậy, này tỳ-khưu, thầy cần phải học tập.
6. Này tỳ-khưu, khi nào định này của thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy, này tỳ-khưu, thầy cần phải tu tập định này với tầm với tứ; cần phải tu tập không tầm, với tứ; cần phải tu tập không tầm, không tứ; cần phải tu tập có hỷ; cần phải tu tập không hỷ; cần phải tu tập câu hữu với lạc; cần phải tu tập câu hữu với xả. Này tỳ-khưu, khi nào định này của thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy này tỳ-khưu, thầy cần phải học tập như sau:
“Ta sẽ sống quán thọ trên các cảm thọ … quán tâm trên các tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời”. Như vậy, này tỳ-khưu, thầy cần phải học tập.
7. Này tỳ-khưu, khi nào định này của thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy, này tỳ-khưu, thầy cần phải tu tập định này với tầm với tứ; cần phải tu tập không tầm, với tứ; cần phải tu tập không tầm, không tứ; cần phải tu tập có hỷ; cần phải tu tập không hỷ; cần phải tu tập câu hữu với lạc; cần phải tu tập câu hữu với xả. Này tỳ-khưu, khi nào định này của thầy được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, khi ấy này tỳ-khưu, chỗ nào thầy đi, chỗ ấy thầy đi được an ổn; chỗ nào thầy đứng, chỗ ấy thầy đứng được an ổn; chỗ nào thầy ngồi, chỗ ấy thầy ngồi được an ổn; chỗ nào thầy nằm, chỗ ấy thầy nằm được an ổn.
8. Tỳ-khưu ấy, được Thế Tôn giáo giới với bài giáo giới này, từ chỗ ngồi, đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi. Tỳ-khưu ấy sống một mình, thanh tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng đạt được mục đích mà các thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ðây là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy rõ biết: “Sinh đã tận, Phạm hạnh đã thành. Những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Tỳ-khưu ấy trở thành một vị A-la-hán.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.29/11/2018.
No comments:
Post a Comment