Thursday, September 30, 2021
Trú xứ và cảnh giới.
Về Tứ đại thiên vương
Bốn vị vương: Nhóm từ Pāli: “Catummahārājikā” được dịch là một nhóm chư thiên có 4 vị vua, họ làm thống lãnh cõi trời này. Đó là:
Dhatarattha: Trì Quốc (thiên vương)
Viruḷhaka: Tăng Trưởng (thiên vương)
Virūpakkha: Quảng Mục (thiên vương)
Kuvera Vessavaṇṇa: Đa Văn (thiên vương)
Cõi trời này trú trên đầu núi Yugandhara là núi thứ 7, một trong Thất trùng sơn (Sattapribaṇḍa).
Một số chi tiết về cõi trời Tứ đại và Bốn vị thiên vương:
“Purimañca disaṃ rājā, dhataraṭṭho pasāsati, gandhab bānaṃ adhipamahārājā yasasino”. Trì quốc thiên vương thống lãnh Đông phương, làm chủ Càn thác bà (Gandhabbā), nghĩa là có chúng Càn thác bà làm thuộc hạ.
“Dakkhinañca disaṃ rājā, viruḷho tappasāsati, kumbhaṇḍāni adhipati, mahārājāyasassino”. Tăng trưởng thiên vương quản nhiệm Nam phương, là chủ Cưu bàn trà (Kumbhaṇḍā), nghĩa là có chúng Cưu bàn trà làm thuộc hạ.
“Pacchimañca disaṃ rājā virūpakkha pasāsati, nāgānaṃ adhipati, mahārājā yasassino”. Quảng mục thiên vương cai quản Tây phương, làm chủ loài Rồng (Nāga), nghĩa là có chúng Long chủng làm thuộc hạ.
“Uttarañca disaṃ rājā, kuvevo tappasāsati, yakkhānaṃ adhipati, mahārājā yasassino”. Đa Văn thiên vương thống lĩnh Bắc phương, làm chủ lọai Dạ Xoa (Yakkha), nghĩa là có chúng Dạ Xoa làm thuộc hạ.
Cả bốn vị thiên vương này có phước báu rất lớn, có rất nhiều thần lực, oai lực. Mỗi vị đều có 1000 con trai (vương tử), cao sang, đẹp dẽ, sắc tướng giống nhau cả thảy.
“Sunarusso hi pācinapassaṃ rajatamayaṃ dakkhiṇā passaṃ māṇimayaṃ pacchimapassaṃ phalikamayaṃ uttara pasaṃ sovaṇṇamayaṃ”. Phía Đông của núi Tu Di có con đường làm bằng bạc, phía Nam có con đường làm bằng ngọc mani, phía Tây có con đường làm bằng ngọc pha lê (phali), Phía bắc có con đường làm bằng vàng.
Cảnh giới của Đa Văn thiên vương
Nhân quá khứ
Vào một thời chưa có Phật ra đời, có một người Bà la môn tên là Kuvera, ông có một đời sống rất hiền lương, đạo đức, lại sẵn lòng bố thí, giúp đỡ mọi người. Nhà ông nằm ở bên cạnh một con đường có nhiều bộ hành qua lại nên ông khởi tâm dựng một quán nước mía để bố thí cho khách thập phương. Đơn giản thế thôi nhưng ông làm việc lành này không mệt mỏi, không ngưng nghỉ như là một giếng nước ngọt cho mọi người không phân biệt kẻ quen người lạ, kẻ giàu người nghèo. Hết kiếp ấy, ông lão Kuvera hóa sanh lên cõi trời Tứ Đại, sau làm thiên vương có tên Vessavaṇṇa.
Quốc độ cai quản
Phương Bắc, nơi quản nhiệm của vị thiên vương này có con đường làm bằng vàng, có 10 quốc độ, đó là: Aṭhānāthā, Kusināthā, Parakusināthā, Nāthāpaviyā, Parakusitanāthā, Kapivanta, Janagha, Navanatiya, Ambarāparavatiya, Āḷakamahā.
Lại có một cõi riêng, là Visāna – nơi an ngự của thiên vương Kuvera – ghép chung với trú xứ nên vị này có tên là Kuvera Vessavaṇṇa. Vị thiên vương này, dịch âm là Tỳ sa môn, dịch nghĩa là Đa Văn là vì ngài thường hay nghe pháp, lại có Tâm hộ trì Tam Bảo, quốc độ, đạo tràng, nơi thờ tự và thiện nam tín nữ biết tu tập.
Tướng Dạ Xoa
Đa văn thiên vương có 12 vị Dạ Xoa (chư thiên bậc thấp) làm bộ tướng thuộc hạ, nhận nhiệm vụ bên ngoài, có bổn phận quan sát và nắm bắt tin tức các nơi về trình báo lại cho ngài hay. Đó là: Tatona, Tatthaṇa, Tatotaṇa, Ojasī, Tatosī, Suru, Rāja, Surorāja, Ariṭṭha, Nomi, Aviṭṭhanemi.
Các vị tướng Dạ Xoa này không phải ai cũng tốt. Họ có phước báu hơn cõi người một chút, nhưng tâm địa cũng chỉ là một chúng sanh với những tham, sân, si, phiền não và đủ thứ bụi bặm, dơ uế hoặc hiện khởi hoặc trong dạng tiềm miên mà thôi.
Triều thần Dạ Xoa
Triều đình của Đa Văn thiên vương có 28 vị Dạ Xoa đại thần, quán xuyến mọi việc trong ngoài, có những chức năng khá nhau ví dụ như tham mưu, cố vấn, nghi lễ, khánh tiết, tiệc túng, du hí, ca vũ nhạc kịch… Cũng vậy, họ tốt có xấu có đó là: Mātali, Sitasona, Gandhabba, Janosabha, Sātāgira, Hemavata, Naḷorāja, Puṇṇaka, Karatuya, Gula, Sivaka, Muccarinda, Vesāmitta, Yugandhara, Gopāla, Supagodha, Hiri, Netti, Mandiya, Pañcāla, Canda, Āḷavaka, Pajunna, Sukhuma, Mani, Māṇicara, Digha.
Cảnh giới
Trong cõi Visāna của Đa Văn thiên có một cái hồ tên là Dharaṇī sâu rộng đến 50 do tuần, nước trong xanh phản chiếu thất bảo, có vô lượng kỳ hoa dị thảo, phi cầm, điểu thú của cõi trời, nhưng nhiều đẹp lạ lùng nhiều vũ điệu, muôn màu muôn sắc nhất là chinh công… Tại đây có một căn nhà hội, thật ra là một bảo điện rộng rãi, to lớn, nguy nga được phước báu hóa hiện bằng thất bảo, nhiều nhất là hàng trăm loại ngọc dùng làm nơi tổ chức đại hội Dạ Xoa.
Tất cả mọi Dạ Xoa kể trên đều có gia đình, tùy tùng cũng như nhiều thuộc hạ, nô tỳ. Dạ Xoa nhiều thần lực thì cũng biến hóa được cái này cái nọ và du hành qua không gian dễ dàng như ý muốn. Dạ Xoa ít thần lực thì mượn thần lực của các Dạ Xoa tùy tùng, nô tỳ, vật nuôi để bay. Có một số kinh văn Pāli sau đây giúp ta hiểu điều đó:
“Gāviṃ ekakhuraṃ katvā”: Có nhóm dùng bò (thiên ngưu), để cưỡi bay.
“Pasuṃ okkhuraṃ katvā”: Có nhóm dùng phi cầm (thiên cầm), cưỡi để bay.
“Itthiṃ vāhanaṃ katvā”: Có nhóm dùng nữ nhân (Dạ Xoa nữ) cưỡi để bay.
“Purisaṃ vāhanaṃ katvā”: Có nhóm dùng nam nhân (Dạ Xoa nam) cưỡi để bay.
“Kumāriṃ vāhanaṃ katvā”: Có nhóm dùng đồng nữ (Dạ Xoa đồng nữ) cưỡi để bay.
“Kumāraṃ vāhanaṃ katvā”: Có nhóm dùng đồng nam (Dạ Xoa đồng nam) cưỡi để bay.
Vậy là chúng cũng tha hồ bay đi đây đi đó khắp tam sơn tứ hải, vô ngại giữa không gian mênh mông. Chú giải còn nói rằng, các Dạ Xoa chủ nhân ông này thường thích dùng Dạ Xoa nữ đang có thai để dễ cưỡi (vì cái bụng ễn ra, dễ ngồi chăng?) còn Dạ Xoa nữ nô tỳ khác thì đôi khi sử dụng như vật kéo.
Riêng Đa Văn thiên vương thì tùy nghi, khi tự dùng thần lực để bay, khi sử dụng thiên tượng, thiên mã, thỉnh thoảng nằm nghỉ trong bảo điện và bảo điện có thể bay đi đây đi đó.
Chú thích: Ngoại trừ Tứ đại thiên vương là chư thiên có nhiều oai lực, phước tướng sang cả, các vị đạo thần, quang tướng cũng là chư thiên nhưng phước báu ít hơn. Số còn lại, như Dạ Xoa thuộc hạ, Càn thác bà thộc hạ, Rồng thuộc hạ, Cưu bàn trà thuộc hạ đều thuộc loại hạ đẳng. Chúng cùng với một số dạ xoa nô tỳ, voi, ngựa, chim công…đôi khi lại thuộc hóa sanh, bàng sanh, noãn sanh…như ở nhân gian vậy. Hai hạng sau này, phước báu thua cả con người.
Về cõi trời Đao Lợi
Tên cõi trời và tên của Đế Thích
Tāvatiṃsa, có nghĩa là 33 do sự tích (sẽ được kể sau) là có 33 người cùng làm phước, có tín, có giới nên hóa sanh lên đây làm chủ 33 tòa cung điện. Còn chữ Đao Lợi thì không có nghĩa gì cả. Lý do như sau: Từ Tāvatiṃsa là tiếng Pāli đồng một nghĩa, tiếng Sanskrit là Trāyastriṃsa. Khi sang Trung Quốc, các vị dịch giải đã dịch âm chữ Trāyastriṃsa trên là Đát lị da đát lị xa. Lâu ngày, do đọc tắt, biến âm thành “Đát lị” rồi “Đạo lỵ” mà thành quen, thành phổ thông.
Còn tên của Đế Thích? Đế thích cũng không có nghĩa gì cả tên thật của vị này là Sakka, có lẽ âm Tàu chữ này mà thành Đế Thích chăng?[12]. Vị này nhân gian hay gọi là Ngọc Hoàng Thượng Đế, cai quản cả Tứ Đại thiên vương thật ra, ngài có cả thảy bảy danh hiệu sau:
Maghavā: Do trong một kiếp trước làm người ngài có tên như vậy.
Purindado: Do bổ túc pháp bố thí ba la mật.
Sakko: Do bổ túc pháp bố thí bằng cách cung kính.
Vāsavo: Do từng bố thí chỗ ngủ cho khách lỡ đường.
Sahassakkho: Do có khả năng thấy biết hàng ngàn nhân quả trong nháy mắt.
Sujampati: Do là chồng của nàng Sujātā.
Devānamindo: Do ngài là bậc có đại phước báu, đại oai đức nhất trong cõi trời 33 và Tứ Đại thiên vương.
Ghi chú [12] Dè dặt góp ý. Đức Phật Sākya, tàu âm là Thích ca. Vậy, có lẽ “đế” là vua, hoàng đế, còn “thích” là âm của “Sak” trong Sakka mà thành chăng? Ta cũng có thể hiểu cách khác, người khai sanh cõi trời này cũng chính là tiền thân của Đức Phật, thuộc dòng Thích Ca, mà do sự liên tưởng ấy mà có tên là Đế Thích?
Pháp nào tạo nhân sanh Cõi Trời
Đức Phật có thuyết với đại ý rằng: Ai trong lúc làm người có đầy đủ 7 đức tính. Phẩm chất sau đây sẽ được sanh lên Cõi Trời:
Mātāpitubharo: Phụng dưỡng cha mẹ cho đến trọn đời.
Kuleyiṭṭhāpcāyī: Kính trọng các bậc tôn trưởng trong gia tộc.
Sahavācā: Lời nói ôn hòa nhã nhặn.
Apisunāvācā: Không nói lời đâm thọc, lấn hiếp người khác.
Vigatamalamacchero: Không bỏn xẻn keo kiệt.
Akodhano: Không nóng nảy giận dữ.
Đế Thích thiên chủ hằng có 7 đức tính ấy trong các kiếp làm người nên thường được chư thiên cõi trời Đao Lợi hằng tán thán, ca tụng ngài là bậc thiện tri thức, là bậc tịnh giả.
Cảnh giới
Cõi Đao Lợi thiên ở trên đỉnh núi Sineru rất lớn rộng, ngang dọc cả muôn do tuần. Do phước báu sang cả nên hóa hiện một cảnh giới khó sức tưởng tượng của nhân gian. Có thể khái lược qua những hiện vật đặc biệt.
01 bảo điện nguy nga nhiều tầng, nhiều mái bằng bảy báu cao chừng 700 do tuần nằm chính giữa trung tâm quốc độ. Đây là nhà hội lớn của tất thảy chư thiên có tên là Vejayañta. Đặc biệt tại đây có dựng rất nhiều cột cờ, cao chừng 300 do tuần. Cột và lá cờ phong phú rất nhiều màu sắc. Nếu cột bằng vàng thì lá cờ bằng ngọc māṇi. Nếu cột bằng ngọc māṇi thì lá cờ bằng vàng. Nếu cột bằng ngọc babāla thì lá cờ bằng ngọc mukta. Nếu cột thất bảo thì lá cờ cũng thất bảo.
01 cây đại thọ kỳ lạ có tên Pāricchattaka, tàn lá xây xung quanh như tàn lọng, cao 300 do tuần.
01 tảng đá dưới gốc cây ấy, có tên là Paṇḍukambala, với thể tích khối, bề 60 nhân 50 nhân 15 do tuần màu sắc giống như hoa Japā (hoa hường). Đây là chiếc ngai của Đế Thích khi ngài muốn ngự giữa trời, lúc an tọa thì nó lúm xuống, lúc dời thì nó phồng lên rất là dị kỳ.
01 con thiên tượng đặc biệt do một vị trời tên là Iravaṇṇa hóa hiện để phục vụ thiên chủ (chứ Cõi Trời này không có bàng sanh). Mỗi khi trời Đế Thích và chư thiên muốn chơi trò chơi lạ mắt, thế là chú voi kia hiển rộng thần oai, cao to 150 do tuần, trên lưng có 33 cái bành. Có lầu, có ngai dành cho 33 vị thiên, nằm ở các vị trí xung quanh. Mỗi cái bành như thế vuông vức chừng 6.000 sải tay. Trong mỗi cái bành ấy có 1 cái hồ lớn, trong hồ có 7 bồn nước, mỗi bồn có 7 cây sen, mỗi cây sen có 7 hoa, mỗi hoa có 7 vị tiên nữ đang múa hát. Riêng đức Ngọc Hoàng của chúng ta có 1 cái bành đặc biệt, ở vị trí trung ương, to rộng 30 do tuần, có 1 bảo điện bằng ngọc cao to 12 do tuần, bên trong có 1 bảo tọa cũng bằng ngọc cao to 1 do tuần, và xung quanh cũng hóa hiện tương tự như trên nhưng thất bảo nhiều hơn, kỳ vĩ hơn, to lớn hơn, xinh đẹp hơn. Trên lưng thiên tượng dựng đứng 34 cột cờ cao 100 do tuần được treo rất nhiều chuông gió phát ra âm thanh là những bản nhạc trời mê ly, quyến rũ.
01 đền vuông vức 500 do tuần, nguy nga tráng lệ có tên Sudhammadevā Sabhā.
01 cái hồ kỳ lạ có tên là Sunandā Pokkharanī, bằng bảu báu, sạn sỏi cũng bảy báu, đủ loại cá, đủ loại sắc màu cũng 7 báu bơi lượn. Có 7 loại sen trời, 7 màu, luôn nở không tàn, hương thơm ngào ngạt.
01 vườn thượng uyển tên là Sucittalatā, là nơi giải trí của tất thảy chư thiên to rộng 500 do tuần mà bên trong lắm kỳ hoa dị thảo, lắm công trình vui chơi, du hí tiệc tùng, ca nhạc vũ kịch…mà thế gian không thể tưởng tượng được.
Vua trời Đế Thích có 4 bà vợ: Thiên hậu Sudhamma và 3 bà thiên phi Sunanadā, Sucitta và Sujātā. Thường có tới mấy triệu ngọc nữ hầu hạ.
Chư thiên ở cõi này sống tuổi thanh xuân, trẻ mãi không già. Khi hết tuổi thọ thì thấy tiền hiện tượng (Pubbanimitta), tức là 5 dấu hiệu xảy ra mới biết mình sắp chết. Như đã nói ở trên, đó là: Hoa trang điểm mau héo úa, thiên bào, xiêm y màu sắc nhợt nhạt, cơ thể tướn rỉ mồ hôi, thân rã rời dường như không còn khí lực, và điều 5 là không còn thấy ham thích dục lạc cõi trời.
Kiếp trước của trời Đế Thích và các bà vợ
Trong bổn sanh Kulāvākā, đức Phật có kể như sau:
Thủơ xưa, thật quá lâu xưa, trong nước Ma kiệt đà, bồ tát sinh ra và lớn lên tại ngôi làng nhỏ bé tên là Macala giáp ranh thành Vương Xá, chàng tên là Magha. Thanh niên Magha do phước và trí sanh nên chàng như một thiên thần bước xuống cuộc đời. Chàng lập gia đình có 4 vợ Sudhamma, Sunanadā, Sucitta và Sujāta sinh con làm các nghề nghiệp chân chánh, giữ 5 giới lấy thiện sự làm niềm vui thanh cao.
Ngôi làng ấy đầy ác giới, chúng thường hay gây gổ đánh đập, chửi mắng nhau bằng binh khí dao gậy hay miệng lưỡi. Nghề nghiệp chính của họ là săn bắt thú rừng hoặc kéo cá trong lưới. Một số kẻ bất thiện khác thì bắt trộm heo gà, ăn nhậu với rượu men, rượu nấu, khi no nê say sưa chí tử rồi thì không có việc xấu xa tội lỗi nào mà chúng không làm, không có giới trọng nào mà chúng không phạm. Thế là tiếng cười lẫn tiếng khóc, tiếng than vãn lẫn tiếng la hét như đám lửa cháy âm ỉ hoặc bùng phát, cuồng nộ như nỗi thống khổ trong hỏa ngục ngày qua ngày, đêm qua đêm.
Magha sống giữa họ như sen mọc trong bùn, thanh sạch, thơm tho cả nghề nghiệp, giới hạnh và tâm hồn. Chàng thương họ, muốn cảm hóa họ, nhưng tự nghĩ: “Nói đến đạo đức và lẽ phải trong lúc này, đối với họ, thật như nước đổ đầu vịt. Vậy, hãy kham nhẫn, từ từ, không phải bằng nói năng, mà phải bằng hành động cụ thể cả vật chất lẫn tinh thần. Khi mà cơ cực, lầm than thống khổ tràn đến họ như một cơn lũ lớn, lúc ấy ta sẽ ra tay”. Từ đấy, chàng cùng các bà vợ các con siêng năng, chăm chuyên làm giàu. Việc gì làm được là làm. Đấy là chịu khó canh tác ruộng vườn, đan lát, thủ công, làm gốm mộc, thợ xây…Lúc nông nhàn, chàng và các con lên rừng lấy gỗ danh mộc, trầm rồi kết bè về bán ở miền xuôi.
Siêng năng, cần kiệm có đầu óc có ý chí một thời gian không lâu, chàng tích lũy được một gia sản lớn. Khi mà mỗi gia đình sống trong cái chòi tối tăm, rách nát, muỗi mòng, hôi hán, bẩn thỉu thì Magha đã có được một trang trại rộng lớn, kẻ ăn người ở tới lui tấp nập, với kho thóc lúa, kho bắp đậu, kho vải, kho củi, kho nông cụ vật dụng…như cơ ngơi của một triệu phú.
Thời đã đến, ngôi làng Macala và ngôi làng bên cạnh xẩy ra vụ tranh chấp về quyền lợi nơi khu rừng săn thú, nơi mặt sông đánh cá. Làng Macala bị bồi thường và phạt vạ, mỗi gia đình phải bỏ tài sản ra, tiếp đến là nạn cháy nhà, hạn hán, mất mùa. Chúng rơi vào một trận đói kinh hoàng cùng với dịch bệnh lây lan, dẫy chết đầy đường người và vật.
Magha từ lâu đã có dự tính, dự phòng nên đã tích trữ sẵn mọi thứ nhu cầu thiết yếu cho mối hiểm họa này. Chàng kêu cả làng đến rồi phát tặng lương thực, thực phẩm, thuốc men, vải vóc… với nụ cười đôn hậu và với tấm lòng rộng mở. Sau cuộc cứu nạn, chàng tụ tập 30 chàng thanh niên đại diện cho 30 gia đình tiến bộ nhất rồi giáo giới với họ rằng:
“Này các bạn, Tôi sẽ cứu các bạn và cả ngôi làng này qua khỏi cơn thống khổ. Bắt đầu từ hôm nay, lương thục của gia đình tôi chính là lương thực của các bạn. Chúng ta hãy cùng nhau lên rừng. Tôi biết ở đâu có gỗ quý, chiên đàn đỏ, chiên đàn trắng, chiên đàn vàng…Và tôi cũng biết chỗ người ta thu mua với giá cả rất phải chăng. Chỉ cần một chuyến như vậy là chúng ta có thể giúp đỡ cho cả làng qua khỏi cơn nguy khốn. Chuyến thứ hai các bạn có lương thực dự trữ. Chuyến thứ ba các bạn có đủ tài sản để chăm lo nông vụ, vườn tược. Hãy theo lời tôi, hãy nghe tôi, hãy cùng nhau chiến thắng cái đói nghèo”.
Như gặp chiếc phao cứu hộ, cả làng hoan hô và tán dương, khen ngợi Magha không hết lời. Thế rồi, cứ thế mà làm. Thanh niên Magha còn đưa ra kế hoạch trọn năm. Bốn tháng lên rừng khai thác gỗ, trầm, mật ong, măng giang, mộc nhĩ… Bốn tháng lo ruộng vườn và làm đầy kho ngũ cốc. Bốn tháng còn lại là làm những căn nhà, những con đường, cầu cống, bệnh xá, các nơi dơ uế phải chôn lấp… Magha nói với 30 chàng thanh niên:“Này các bạn! Hãy nghe tôi, hãy biến cái ngôi làng nghèo khổ này thành ngôi làng của cõi trời”.
Thế là một phong trào rầm rộ và toàn diện về chuyện làm ăn, xây dựng, canh tân được bàn bạc từ đầu thôn đến cuối xóm. Đèn đuốc được đốt thâu đêm. Niềm vui chạy rần rật khắp các hang cùng ngõ hẻm. Khi đủ ăn, đủ mặc, có dư giả chút ít thì một vài tệ trạng manh nha xuất hiện, đấy là rượu chè, cờ bạc, trộm cắp, chửi bới đánh đập nhau xảy ra. Tuy biết mà Magha chưa nói gì, chưa tỏ thái độ nào, vì chàng thấy chưa đúng thời. Trong lúc này nên làm hơn là nói. Magha, vợ và các con luôn dẫn đầu trong các công việc xã hội. Chiến bóng của Magha bao giờ cũng xuất hiện đầu tiên và cuối cùng chỗ này chỗ kia. 30 chàng thanh niên tuyên bố tuyệt đối tuân lời Magha, lấy Magha làm gương, là ngọn đèn, là con mắt của họ. Các con đường làng lần lượt được đắp lên cao ráo với những hàng cây có hoa, có hương và tỏa bóng mát. Những chiếc hồ công cộng được thả sen, thả súng, bơi lội những đàn cá màu. Những chiếc cầu lát đá hoặc gỗ bắt qua các bờ kênh, bờ nước có liễu rủ, có bóng tre. Một bệnh xá tương đối lớn khang trang, đầy đủ tiện nghi, thuốc thang dành cho người bệnh, ốm đau. Không còn một đống rác, những bãi phân, những vũng nước rác rưởi, tù đọng hôi hám. Có cả nghĩa địa lộ thiên cho người và thú. Mọi công trình, công tác kể trên đều được làm bởi sự tự nguyện của dân làng, được bảo quản tốt, chăm sóc tốt.
Hôm kia, biết là thời đã đến, chàng tâm sự với 30 chàng thanh niên thiện chí: Này các bạn! Tại sao đầy đủ cơm ăn áo mặc mà nơi này nơi kia, trong ngôi làng thân yêu của chúng ta, vẫn có những tiếng khóc, chửi mắng, đánh đập, rên than?”. Chúng không biết nghe theo lời giáo huấn của “Sư trưởng”, vẫn tự ý lên rừng săn thú, xuống sông bắt cá kiếm tiền chơi bời, ăn nhậu. Khi say sưa rồi thì sinh ra mọi tệ nạn khác như trộm cắp đánh đập, chửi mắng, tà hạnh…làm khổ vợ con, phá hoại gia đình của người khác.
Vậy thì có hữu lý chăng khi chúng ta những con người tiến bộ, phải biết gìn giữ giới không sát sanh, không trộm cắp không tà hạnh, không vọng ngữ, không dùng rượu men rượu nấu.
Rất hữu lý.
Thế các bạn có giữ được năm giới ấy chăng?
Chúng tôi sẽ cố gắng giữ được, thưa Sư trưởng. Bằng cách như vậy, bằng cách chỉ ra nhân ra quả như vậy, thanh niên Magha đặt để 5 giới trong tâm cho 30 chàng thanh niên mẫu mực. Tin được truyền đi, người thôn trưởng đâm ra lo sợ, tự nghĩ: “Trước đây, khi người dân làng này sát sanh, trộm cắp, tà hạnh, vọng ngữ, uống rượu thì ta được hoạnh phát tiền của. Nào là tiền bắt hàng trộm cắp, tiền phạt rượu, tiền phạt vạ, tiền bồi thường, nạp tiền lễ cúng tế, nạp tiền lễ ma chay, tiền tranh chấp của cải, đất đai tài sản, tiền giảng hòa, tiền kiện tụng…Chỗ nào cũng phải có tiền nộp vào hầu bao của ta. Nay, thanh niên Magha giáo giới chúng, đặt năm giới cấm trong tâm chúng, từ 30 gia đình sẽ lan ra bốn mươi, năm mươi… Và do uy tín hiền thiện ấy của Magha, của cả nhóm, không mấy chốc nó sẽ lan sang cả làng. Và như vậy có hậu quả gì? Hậu quả là ta sẽ khánh tận tài sản, lợi lộc. Vậy ta làm thôn trưởng để làm gì?”
Tức tối, hậm hực nhưng với mưu chước, người thôn trưởng cụ bị hành lý, đến ngay cổng hoàng cung hối lộ quan hộ thành, vào trong hối lộ quan triều nội nên được vào yết kiến đức vua chí tôn.
Tâu thiên tử! (tên thôn trưởng thưa trình). Tại làng Macala của thần dân có một bọn cướp lớn, chúng gồm 31 đứa kể cả tên đầu sỏ. Chúng phá làng, phá xóm. Chúng thiêu hủy các cuộc vui của nhân dân. Chúng làm cho các am các miếu thờ thần linh vắng lạnh và điêu tàn. Không một bóng người trên sông. Không một bóng người trên rừng. Trống không các buổi hội hè, đình đám tiệc tùng… Ôi! Quả thật là một bọn cướp đáng sợ…
Khi tấu trình như vậy, tên thôn trưởng có thừa khôn ngoan là nói lên hiện tượng có thật lỡ khi đức vua cho người điều tra. Tuy nhiên, hiện tượng giống nhau đấy, nhưng bản chất, sự thực lại khác, thời nào cũng vậy, cứ có tiền thì công lý đổi trắng thay đen ngay, còn dễ dàng hơn sự sấp ngửa của 1 đồng xu. Ông vua của chúng ta thuộc loại hàn hồ, cạn nghĩ, mới nghe tấu vậy đã hấp tấp phán:
Hãy đem theo lính, bắt dẫn tất cả chúng mang về đây.
Thế là Magha và 30 thanh niên bị bắt trói xếp cánh sau lưng, bị lôi bị kéo đến hoàng thành. Đức vua không hỏi cung, không điều tra sự vụ, ra lệnh dẫn ra pháp trường cho voi chà cả thảy. Khi nằm trên đất để lãnh chịu sự hành hình oan nghiệt, thanh niên Magha giáo giới: “Này các bạn! Hãy bình tĩnh, nếu quả thật chúng ta bị tử nghiệp do voi chà, thì không đâu trốn thoát được dầu ở hang sâu, rừng thẳm. Nhưng nếu chẳng phải thế thì dầu bạo lực của đức vua, dũng lực của ngàn voi cũng chẳng làm gì được chúng ta đâu. Vì sao vậy? Vì do thiện pháp bảo vệ, chúng ta sẽ được an toàn”.
Theo dõi để thở từng hơi thở nhẹ, chàng trầm tĩnh điềm đạm dạy tiếp: “Này các bạn! Hãy hành trì giới, kiến trú giới. Hãy khởi lòng từ đối với kẻ ác, với kẻ vu cáo ta. Hỹ khởi lòng từ đối với đức vua thiếu sáng suốt nên công lý đã mây che. Hãy khởi lòng từ với đàn voi không biết gì sắp dẫm đạp chúng ta. Tâm từ ấy phải được quảng đại, sung mãn, bao trùm đồng đẳng, chan hòa tất cả chúng sanh, tràn đầy hư không giới. Tất cả hãy mát mẻ, vắng lặng. Tất cả hãy mát mẻ, vắng lặng”.
Tất cả 30 thanh niên y lời, trầm tĩnh, an nhiên như một rừng thiền định. Khi đàn voi đi đến, chúng sững lại như gặp một bức tường vô hình kiên cố, chúng co rúm long, đuôi dựng đứng lên, thôi lui, rống to rồi quay lưng bỏ chạy. Đoàn voi khác đến, cũng như thế, không vượt qua được bức tường của tâm từ, quay lui rồi chạy hoảng loạn. Đức vua nghe báo ra tận hiện trường xem, tự nghĩ: “Chắc trong người bọn chúng có dấu thuốc “Trường sanh” nên chúng đã trở nên “Bất tử” chăng?”. Ông cho người lục soát nhưng chẳng thấy gì cả. Lại nghĩ: “Hay là chúng có đọc bùa chú?” Bèn nói to:
Này bọn cướp kia! Có phải các ngươi âm thầm đọc chú để chống lại bản án tử hình kia? Magha đã hiểu mọi chuyện nên chàng đáp:
Vâng, có, thưa thiên tử.
Ấy là bùa chú gì? Đọc lên ta nghe thử coi.
Thưa thiên tử, hãy lắng nghe, tôi sẽ nói. Tôi và 30 chàng thanh niên này trọn đời không sát sanh, không trộm cắp, không tà hạnh, không vọng ngữ, không uống rượu. Chúng tôi khởi lòng từ đồng đẳng đối với mình và các sanh loại. Chúng tôi bố thí, làm các thiện sự, các công ích như dựng trạm xá, làm cầu, làm đường, dào ao hồ, chôn lấp các hố rác, làm các công trình vệ sinh công cộng…Đấy là bùa chú (manta) của chúng tôi, là sự bảo vệ (parittāṇa) của chúng tôi, là hạnh kiểm (vutti) của chúng tôi, là áo giáp (vamma) kiên cố của chúng tôi.
Đức vua ngạc nhiên quá, cặn kẽ hỏi đầu đuôi. Thế là tên thôn trưởng xảo quyệt đành phải cung khai nhận tội.
Đức vua hài lòng, mỉm cười sung sướng về việc làm tốt đẹp của những công dân lương thiện. Ra lệnh tịch thu tài sản, của cải của tên thôn trưởng sung vào của công. Khắc dấu trên trán đày làm nô lệ trọn đời. Còn Magha thì được đức vua biếu tặng cả đàn voi, quyền sở hữu cả ngôi làng với quyền lực, uy tín, danh vọng…đã được đóng dấu có thiện son trong lòng mọi người. Từ đấy, Magha và 30 chàng thanh niên được tự do và an tâm làm các công đức, công ích xã hội được đức vua bảo vệ, tán dương cùng các khoản trợ cấp hậu hĩnh và hào phóng.
Hôm kia, Magha và 30 thanh niên khởi tâm làm 1 giảng đường hội họp rộng lớn tại một bãi đất trống, gần ngã tư đường, trung tâm của ngôi làng. Họ bàn bạc với nhau, rằng nữ nhân tâm thường ích kỷ, tâm chật hẹp, hay tụ họp nói chuyện vô ích, nói nhiều, nói vô bổ, khoe tóc, khoe da, khoe xiêm, khoe áo, lườn nguýt, ganh tỵ…dễ tạo sự phiền não, rối loạn nên quyết định không cho họ hùn góp công đức.
Sudhamma, bà chánh thất của Magha, vốn khôn ngoan tinh tế bèn mang một số tiền vàng đến gặp người phụ trách mẫu mã kiến trúc, nói rằng:
Ông hãy giúp tôi, bằng đủ mọi cách, để cho tôi có cơ hội hùn góp phần công đức vào phước sự lớn lao này. Người thợ cả kiến trúc nể tình, không nhận vàng bằng lòng giúp mưu kế, làm một cái tháp nhọn bằng loại danh mộc, chạm chổ công phu., phơi khô, lấy vải cuộn lại rồi bảo bà Sdhamma cất giấu đi.
Khi ngôi giảng đường nhiều tầng, nhiều mái làm xong, đến giờ đặt tháp nhọn, người thợ cả kiến trúc giả vờ hốt hoảng:
Chết rồi, các bạn ơi! chúng ta đã quên một việc quan trọng.
Cái gì vậy? Mọi người xôn xao hỏi.
Chúng ta quên làm cái tháp nhọn trên đỉnh, làm sao bây giờ?
Ô! Chẳng hề gì. Có thể làm gấp được mà.
Không phải vậy. Người thợ cả nói
Thứ nhất là phải có danh mộc để khỏi nứt rạn. Thứ hai phải là gỗ khô, gỗ tươi thì nó không ăn khớp, lâu ngày bị hở và nước sẽ thấm vào. Nay trời sắp mưa rồi, thời gian không còn kịp nữa, biết làm thế nào?
Mọi người nín lặng nan giải. Người kiến trúc bèn gợi ý:
Lạy chư thần cầu hộ biết đâu một nơi nào đó trong ngôi làng này, có thể sẵn có một cái tháp nhọn, đẹp vừa vặn, in khít đã làm từ lâu bằng danh mộc duyên may dành sẵn cho ngôi giảng đường của chúng ta?
Ôi! Có biết bao nhiêu là ngôi nhà có nóc nhọn, tháp nhọn lo gì.
Mọi người phân tán ra khắp làng tìm kiếm. Ngạc nhiên làm sao, họ thấy bà Sudhamma có cất sẵn một cái rất đẹp, đúng tiêu chuẩn yêu cầu. Họ hỏi mua nhưng bà không bán, bà nói:
Tiền bạc chẳng đủ nuôi sống ta từ đời này sang kiếp nọ. Vả, chồng ta công đức quá lớn, ta mà thiếu phước báu thì làm sao hy vọng gặp lại chàng trong kiếp lai sinh? Vậy, hãy cho ta hùn góp chút công đức, ta chẳng cần núi tiền, núi bạc của các ông. Hãy cho ta được dự phần.
Thật là nan giải. Nếu cho nữ nhân xen vào thì phá vỡ sự cam kết lúc đầu dẫu đấy là bà chánh thất của “sư trưởng”. Magha tôn trọng ý kiến chung nên không xen lời.
Người kiến trúc bèn trổ tài hung biện:
Sao các bạn cố chấp quá vậy? Chỉ phạm thiên giới mới không có nữ nhân. Các bạn đã là vị phạm thiên chưa mà làm oai, làm phách vậy. Tại sao các bạn không công nhận sự thực rằng, chính nữ nhân trên đời này đã đem lại tình yêu, niềm vui và hạnh phúc cho chúng ta. Họ là động lực cho chúng ta làm việc. Họ thống khổ sinh con đẻ cái nuôi dưỡng chúng để có cái gọi là tương lai. Còn nữa, các cõi trời, chư thiên nữ là những bông hoa, là đàn nhạc, là những ly rượu trời là chủ nhân ông của mọi trò chơi du hí, là niềm khoái lạc triền miên bất tận. Nếu không có nữ nhân thì các bạn sẽ sống với ai? Sống giữa sa mạc hoang vu với xương rồng, với giã thú cùng với sự cố chấp, tự mãn, tự thị của mình chăng?
Mọi người lắng nghe, toát mồ hôi, không ai cãi lại được một tiếng nào. Người thợ cả nói tiếp:
Các bạn hãy từ bỏ quan niệm ấy đi, dầu đã được cam kết. Hãy chấm dứt tâm phân biệt đầy ngã mạn kiêu căng ấy đi. Hãy lấy ngọn tháp để bà Sudhamma có cơ hội hùn góp công đức kẻo không còn kịp nữa. Và theo ý tôi, chúng ta hãy đón nhận tất cả các nữ nhân trong làng đến tùy hỷ đảm nhận phước sự về các phần còn lại.
Mọi người đuối lý. Quyết định cuối cùng là Magha, chàng mỉm cười nói:
Đây là mưu chước, nhưng mưu chước ấy đáng được hỷ xả. Các bạn ạ. Lập luận hùng biện, đanh thép dựa trên sự thực của người thợ cả có lẽ là do chư thiên, thọ thần mách bảo, không ai có thể phản đối được. Chúng ta là ai, mà dám đóng cánh cửa trời không cho nữ nhân cùng được bước vào?
Thế là nóc tháp nhọn được đặt lên, vừa vặn sít sao, tuyệt mỹ. Các nữ nhân trong làng, sau khi nghe được “mở cửa”, họ đua nhau đến góp công sức tiền của rồi vui vẻ, sung sướng ca hát, reo cười nhảy múa… làm cho không gian tịch lặng trước đây dường như sống động, trẻ trung hẳn lên.
Trong khi cả làng, ai có công việc nấy thì đặc biệt, trong đàn voi đức vua tặng, có con voi chúa tên là Iravaṇṇa có giác tính rất cao, rất sốt sắng, siêng năng trong việc phục vụ, chở người hay vật liệu, bất kỳ ngày đêm, xa hay gần. Ai cũng xem voi này như bạn bè, như thân hữu, như thần vật.
Không bao lâu sau, một quy mô cực kỳ vĩ đại được hoàn thành.
Trong giảng đường có đầy đủ bàn ghế tròn vuông, ngắn dài các loại. Đặt những ghè nước ngọt, trong tại các hành lang. Xung quanh giảng đường, họ làm thêm nhà trọ cho khánh lỡ bước, trạm nghỉ chân cho khách thương, cho cả trẻ nít chăn trâu chăn bò. Đâu đâu cũng đủ phòng ăn, nhà tắm, nhà vệ sinh, hầm bỏ rác. Ngoài ra, những bức tường dài bao quanh có gắn cửa vuông, cửa tròn ta rộng. Những con đường lót sỏi trắng. Những hàng cây sala, tre trúc, dâu da, các loại cây nhiệt đới xanh tươi mát mẻ. Tại mỗi nơi có bóng mát, Magha sai đặt những phiến đá vuông vức, đẹp cho người ngồi nghỉ chơi.
Nàng Sunandā, bà vợ thứ hai của Magha, muốn phước báu lớn hơn cả Sudhamma, phát tâm làm hồ, làm suối. Hồ xanh thăm thẳm lấp lánh sao trời, phô thắm hoa sen, hoa súng đủ màu. Suối vờn quanh những thảm cỏ xanh mịn màng, chỗ sâu, chỗ cạn, trong leo lẻo, đủ loại cá đẹp nhởn nhơ lặng lờ lui tới. Những chiếc cầu đá trắng lơ thơ liễu rủ trông thơ mộng như cõi bồng lai.
Nàng Sucitta, bà vợ thứ ba của Magha, đâu có chịu kém chị kém em khởi tâm làm một công viên mỹ lệ. Có những thảm cỏ xanh biếc. Có những thảm lá màu nhiều hình dáng, nhiều sắc vẻ khác nhau. Có những tảng đá thộc loại kỳ thạch, quái thạch màu trắng, màu vàng, màu đen, màu đỏ dựng nổi bật giữa nền xanh ngút ngàn. Hằng trăm cây ăn trái, cây kiểng, cây hoa, vườn hoa…lá vàng, lá tím, lá đỏ ngào ngạt hương. Không có cây nào là không tên tuổi. Không có đường nét nào là không vui tươi, bắt mắt, đầy nghệ thuật.
Riêng nàng Sujātā, bà vợ thứ tư của Magha, trẻ đẹp nhất, duyên dáng nhất thì lại làm biếng, không chịu đóng góp một chút gì vào công trình vĩ đại nói trên. Suốt ngày cứ nhìn ngắm sắc đẹp của mình, đi tới, đi lui, trang điểm, đổi thay y phục…Lại còn ăn món này, uống món nọ để mong trẻ đẹp mãi, mong đẹp hoài. Rất thương nàng Sujātā nhưng Magha không khuyên bảo được, chỉ lặng lẽ thở dài mà thôi.
Với công đức như vậy, nhân và duyên như vậy, lúc mệnh chung rất nhiều cư dân trong làng có công, có của đều hóa sanh lên cõi trời. Riêng thanh niên Magha hóa sanh làm vua trời Đế Thích, cai quản 33 tòa cung điện. Trong đó:
Do phước báu làm căn nhà hội lên đây được trả lại bảo điện Vejayañta có thể bay được bởi vị trời đánh xe Matāli. 30 tòa cung điện cao sang là phước báu của 30 chàng thanh niên và gia quyến của họ. 03 tòa bảo tháp mỹ miều, tráng lệ là phần của ba bà vợ của Đế Thích đấy là bà Sudhamma, Sunandā và Sucitta. Riêng bà vợ thứ tư, cô nàng xinh đẹp Sujātā, không chịu làm phức, không biết sanh về đâu, đọa lạc ở cõi nào.
Ngoài ra (xem phần cảnh giới ở trên) Người thợ cả kiến trúc sanh làm một vị thiên tử nhiều phước tướng nên có tên là Vessakamma.
Con voi chúa có công đức hóa sanh làm vị thiên tử có tên là Iravaṇṇa.
Do có trồng nhiều cây im mát nên tại cõi trời có cây đại thọ tên là Parichattaka.
Do đặt những tảng đá dưới gốc cây có bóng mát mà Đế Thích có bảo tọa bằng đá tên là Paṇḍukambala.
Do bà Sudhamma hùn góp tháp nhọn nên lên đây có bảo điện tên là Sudhammadevā Sabhā.
Do bà Sunandā phát tâm làm hồ, làm suối nên cõi trời này được trả lại 1 cái hồ kỳ vỹ hơn, đấy là hồ Sunandā Pokkharanī.
Do bà Sucitta làm công viên nên lên đây có được cái vườn thượng uyển diệu kỳ hơn, có tên Sucittalatā.
Như vậy, rõ là nhân nào quả nấy định luật ấy rất phân minh, không hề sai trật.
Câu chuyện về rượu trời và địa giới Atula thiên
Atula thiên có một cảnh giới riêng, là nơi ở của một loại chúng sanh hữu phước hơn cõi người[13]. Trước khi Đế Thích chưa hóa sanh lên đây thì cõi này là cảnh giới của Atula vương cùng thiên chúng Atula chiến ngự.
Hôm kia, chúng Atula ngạc nhiên xiết bao khi thấy ngay giữa trung tâm cảnh giới, chợt xuất hiện rất nhiều bảo điện nguy nga lộng lẫy, cao sang và quý báu hơn cả những cung điện của chúng. Rồi vào vườn thượng uyển, nào ao hồ nước, nào cây cối, nào kỳ hoa dị thảo, đâu đâu cũng xinh tươi, thơm tho và ngoạn mục. Ban đầu chúng tưởng rằng là “chư thiên đồng loại” nên chuẩn bị nghinh tiếp cư dân mới nhưng khi nhìn thấy hóa ra không phải, họ cao sang xinh đẹp hơn Atula nhiều.
Ghi chú [13] (1) Atula địa thì thua cõi người
Đế Thích cũng ngạc nhiên không kém khi thấy phía bên ngoài cảnh giới của mình lại có một cư dân khác, cũng là chư thiên nhưng sao trông phục sức và mặt mũi thấy chẳng hiền lành tí nào. Ngài cảm thấy bất an. Hôm kia, nhân dạo chơi vườn thượng uyển Sucittalatā, phát giác một cây đại thụ kỳ lạ, to lớn lạ lùng quả lại chín mọng treo lủng lẳng cả hàng vạn trái. Đế Thích bảo vị thiên theo hầu hái thử một quả. Vừa cắn một miếng nhỏ, Đế Thích có cảm giác ngọt, ngon, bùi, béo, lại say say, ngây ngây dễ chịu…
Thiên chủ hãy dè chừng – Vị thiên tâu- Thời gian trước đây, đã có hơn 10 vị trời, ăn cả trái say hoài không thấy tỉnh lại đấy.
Qủa có vậy sao?
Tâu vâng, chư thiên gọi nó là cây say, trái say.
Nghe vậy, Đế Thích ra lệnh cấm chư thiên không được ăn trái say kia nữa.
Nhớ lại chuyện ấy, Đế Thích nghĩ ra một mưu kế. Ngài cho thiết lễ một cuộc tiệc lớn tại trung tâm bảo điện, bày đủ thức ngon vật lạ, đặc biệt trong đó có trái say để mời Atula vương tên là Vepacitta Asurina và thiên chúng Atula cùng chia sẻ.
Atula vương cười ha hả, cùng vui vẻ no say. Và quả thật, khi đụng đến trái say, chúng ăn mê mải rồi say nằm la liệt. Nhìn hội chúng Atula không còn biết trời trăng là gì, Đế Thích nói với chư thiên: Chúng ta không thể sống chung với họ được. Phía dưới đỉnh Sineru này có một cảnh giới. Cõ lẽ chúng ta nên an trí họ ở đấy.
Sau đó, Đế Thích sai bảo các chư thiên chiến sĩ mạnh khỏe lần lượt quăng vất chúng Atula xuống phía dưới. Ai ngờ, do phước báu bảo hộ, một cảnh giới mới, có một bảo điện lớn rộng tên là Asuravimāna nâng đỡ họ ngay.
Tỉnh lại, Atula vương tức giận, mở cuộc chiến tranh, tấn công Đế Thích quyết đòi lại đất đai cảnh giới. Chư thiên Đao Lợi vốn người mảnh dẻ, thanh cảnh, vui chơi, du hí là chính đâu có biết đánh nhau. Thấy khí thế hung hổ với đao, kiếm, cung nỏ, những vũ khí lạ mắt ghê sợ của chúng Atula chư thiên rần rật bỏ chạy. Đế Thích cũng chạy. Ngài và 3 bà vợ, một số chư thiên trọng thần, leo lên chiếc xe Vejayañta với vị trời đánh xe Matāli lao đi với tốc độ kinh hồn, thoát khỏi vòng vây của Atula. Lướt qua hư không, lướt qua khu rừng, chiếc xe dường như không có vật cản.
Matāli nói:
Chúng ta đã đi quá xa, đến một cảnh giới nào đó rồi, thưa thiên chủ.
Có tiếng gì kêu, rơi…thế hả, Matāli?
Chiếc xe chúng ta xuyên qua rừng như vết chém thế là hàng ngàn hàng vạn thân cây lụa bong bị gãy đổ, đứt lìa rơi xuống biển. Đây là quốc độ của loài Kim xí điểu. Tổ của chúng bị bắt tung tóe, vô số chim mẹ, chim cha, chim con bị chết, bị cắt chém, bị tung, bị rơi…như trong trận bão trông rất thảm thương.
Nghe vậy Đế Thích lạnh toát cả người, vừa thương xót, hối hận vừa động mối từ tâm, tức khắc cho xe quay lui, đành cam chịu nạp mạng mình cho Atula vương. Không thể tìm cái sống trong cái chết của chúng sanh vô tội. Khi đi, Đế thích đi một hướng, khi về Đế Thích theo hướng khác.
Atula vương và Atula chiến sĩ đang say men chiến thắng và cũng đang ngất ngư nếm trái say tâm thần không ổn định thấy Đế Thích trở lại với sắc vẻ ung dung, tự tại, nghĩ rằng: “Chắc chắn các Đế Thích từ thế giới khác hay tin đến tiếp viện. Khi chạy trốn, chúng trốn hướng này, lúc trở lại, chúng đi hướng này. Như vậy rõ ràng chúng ta đang bị bao vây, không có hồ nghi gì nữa”.
Vì suy luận như thế nên bọn Atula rần rật bỏ chạy như đàn kiến vỡ tổ, phút chốc không còn một mống, khí giới các loại quăng bỏ ngổn ngang. Đế Thích vào thành với thiên chúng đoanh vây. Trong sát na ấy, đất nứt ra và địa giới của thiên quốc trồi lên cao 1000 do tuần. Đức Thiên Chủ đứng chiêm ngưỡng phước báu kỳ lạ, tự nghĩ rằng: “Có lẽ đây là nhân từ tâm, nhường nhịn chúng Atula, không đánh nhau với kẻ dữ, cũng do nhân từ tâm, thà nộp mạng sống mình cho ác chủ tể còn hơn là sát hại rừng Kim xí điểu”.
Do vậy, Đế Thích càng có tâm bất thối với thiện pháp. Từ đấy ngoại vi cảnh giới, ngài ra lệnh bảo vệ loài Kim xí điểu. Trong khu vực quản nhiệm, ngài tìm kiếm sự an toàn cho loài Nāga, loài Kumbhandā, kể cả Dạ Xoa và Càn thác bà trong thiên vương bốn cõi. Còn từ nay thiên quốc hoàn toàn thanh bình vì giới Atula đã quá xa xôi, không còn sợ bọn chúng quấy nhiễu nữa. Tuy nhiên, để đề phòng mọi bất trắc, tâm địa khó lường của Atula cắt đặt năm loại quân binh phòng hộ các nơi.
Bốn cửa cung trời hóa hiện kim tượng Đế Thích to lớn, đứng uy nghiêm, cầm gươm vàng sáng rực suốt ngày đêm, lại còn Tứ đại thiên vương lúc nào cũng sẵn sàng có mặt, theo hầu cũng như ứng chiến. Mặt nước đại hải và các nơi khác có chư thiên chiến sĩ, các đội quân Dạ Xoa (Yakka), Cưu bàn trà (Kumbhaṇḍa), Đại bàng (Grudha) túc trực sẵn.
Và quả thật, sự đề phòng này không uổng phí. Do Atula vương lâu lâu lại thèm nhớ rượu trời (trái say), muốn cất binh đi đánh. Nhưng lần nào, quân do thám về đều báo cáo lại là trên đó, đâu đâu cùng được canh phòng cẩn mật. Lại nữa, tại bốn cửa trời, cửa nào, lúc nào cũng gặp ông Đế Thích cầm gươm, sát khí đằng đằng nên chúng đều sợ hãi bỏ chạy. Thấy đâu đó thế là đã được ổn định xong xuôi, đã đến lúc, Đế Thích thấy đã đến lúc cứu độ nàng Sujātā, cô vợ bé bỏng, và thiếu phước nên không cùng lai sinh đồng đẳng để hưởng phúc quả.
Cuộc chuyển kiếp ngoạn mục của nàng Sujātā (cô vợ út xinh đẹp của Đế Thích)
Trong lúc mọi người sum vầy lạc phúc trên thiên giới thì tội nghiệp thay, cô vợ xinh đẹp Sujātā của Đế Thích lại sinh làm thân một cô gái Hạc ở rừng sâu. Cha mẹ chết, Hạc sống cô đơn, lạnh lẽo, không có bạn bè, không có niềm vui.
Hôm kia, trong ánh triều dương rực rỡ, cô gái Hạc, trên một cành cây, đang đứng tỉa tót long cánh thì trước mặt chợt sáng rực lên, xuất hiện một chàng thanh niên Hạc quý phái và đẹp đẽ lạ lùng. Chàng kia, đôi mắt trong xanh vời vợi, sâu thẳm, tròn to, đa tình, chiếc mỏ cong cong óng ánh lân tinh và đôi chân cứng mạnh tràn trề sinh lực.
Ta muốn đến làm bạn với nàng đây, hỡi công chúa Hạc kiều diễm. Cô gái Hạc thẹn thùng quá đỗi, khép cánh lại, nép đôi mắt ướt át vào sau một cành cây. Đi chứ, Sujātā, công chúa Hạc? Hãy cùng ta đi xem một cảnh giới huy hoàng.
Thanh niên Hạc ấy chính là Đế Thích hóa thân. Sau khi dùng thiên nhãn, ngài thấy Sujātā do thiếu phước nên đọa sanh làm thân chim Hạc ở rừng này nên đã phương tiện tìm cách cứu độ. Thế rồi, với thần lực của mình, Đế Thích nhẹ nhàng đưa cô gái Hạc bay xuyên qua những đám mây mờ đến cõi trời Đao Lợi. Sau khi để cho cô gái Hạc ngắm nhìn 33 tòa cung điện rực rỡ với chư thiên nam nữ phục sức trăm màu lộng lẫy, cao sang, vui chơi du hý đó đây, Đế Thích đứng trên một chóp đỉnh bảo điện, thì thầm to nhỏ như rót vào tai, kể lại cho cô gái Hạc nghe tiền duyên nhân quả, kiếp trước kiếp sau liên hệ như thế nào. Rồi khuyên cô gái Hạc sống đời thiện lương, giữ ngũ giới, sau này do phước báu bổ trợ, giúp nàng thác sanh vào cõi trời này để tái ngộ duyên xưa. Nói xong, như để làm tin, Chàng Hạc bỗng vút cánh lên mây xanh, biến thành Đế Thích thiên chủ, mũ miện sáng ngời, thiên bào bảy báu, rực rỡ uy nghi, ngồi giữa hư không nhìn cô gái Hạc, tủm tỉm cười. Lát sau, thấy cô gái Hạc e thẹn bẽn lẽn gật đầu, Đế Thích hài lòng, dùng thần lực đưa cô gái Hạc trở về rừng sâu.
Hạc tỉnh mộng, bàng hoàng nhớ lại tất cả mọi chuyện xảy ra ở kiếp trước. Ai cũng có công đức, riêng nàng thì không. Ai cũng được sum vầy, tái ngộ tại thiên quốc cực lạc còn nàng thì mang cái thân chim xấu xí, vô phước. Phải tu tập đi thôi, kiên quyết giữ giới để hy vọng một kiếp lai sanh tương ngộ tình nghĩa vợ chồng. Bắt đầu từ đó. Hạc không ăn các sanh mạng còn sống, lại không quen ăn lá cỏ các loại hạt nên Hạc gầy yếu rất nhanh. Ít tuần sau là Hạc kiệt sức, ngã gục bên bờ suối. Sương rừng và gió núi làm hạc tỉnh lại. Mệt mỏi, lờ đờ, Hạc lê vài bước. Một chút nước suối làm Hạc tỉnh táo hơn. Và ô kìa! Có một con cá béo ngậy nằm phơi cái bụng vàng óng ánh. Nó chết rồi! Đấy chỉ là tứ đại. Nó sẽ cho ta sinh lực và sự sống.
Khi ngậm con cá trong chiếc mỏ xinh xắn, Hạc nghe thân cá rung động, uốn con chiếc đuôi. Hoảng hốt và như một phản xạ trong sạch ở trong tâm có giới bất sát, Hạc nhả con cá ra, thần thờ. Hạc còn không quên dùng chiếc mỏ đẩy con cá xuống dòng nước. Thà chết chứ ta quyết không sát sanh. Dẫu cho cái đói bức bách, hành hạ ta, ta vẫn kiên gan chịu đựng để được lợi ích và tiến hóa trong các kiếp sống. Chợt, trước mắt Hạc rực sáng. Con cá bạc từ lòng suối, bỗng chém nước một đường bay ngoạn mục, vút lên không như một vệt thủy tinh, hiện thành Đế Thích thiên chủ, ngồi giữa đám mây lành tực rỡ. Lành thay, Sujātā thương yêu – Đế Thích nói – Nàng đã có giới ở trong tâm. Nàng đã biết nghe lời ta. Thật ra, chỉ một chớp mắt là cái kiếp Hạc phù du. Hãy kham nhẫn, chiến thắng vị dục và cái bụng, rồi nàng sẽ tái ngộ cùng ta trong cõi thiên đường xán lạn.
Nàng Sujātā nhờ có giới hộ trì, nâng đỡ, nhưng vì chưa đủ phước báu nên hết kiếp Hạc, tái sanh làm cô con gái trong một gia đình nghèo khổ ở Ba la nại. Từ đỉnh Sineru, nhờ thiên nhãn, Đế Thích biết chỗ sanh thú của nàng. Mùa hè đổ lửa nắng ấy, Đế Thích hóa thành một cụ già đẩy một chiếc xe chất đầy dưa chuột chín vàng đi vào thành phố. Ông già bán dưa chuột rao một câu lạ lung.
Ai cần dưa, hãy đến lấy. Ai có giới hãy đến lấy dưa chuột.
Màu dưa chuột chín vàng rất thích mắt, thấy là đã muốn ăn ngay. Thật là của hiếm giữa mùa nắng cháy rát da, khô họng. Người ta xô lại và ai cũng tranh phần muốn mua.
Ông già hét to:
Các ngươi là ai? Các ngươi có giới không? Ta chỉ cho dưa chuột đến người có giới.
Mọi người đều nói:
Tôi chẳng biết giới có mặt đen hay mặt đỏ, như tôi có tiền. Tôi sắn sàng trả giá cao nhất.
Hãy đi! Ông già bán rong lấy tay xua – Ta không cần tiền. Tiền bạc có tích sự gì? Dưa này, ta chỉ cho không đến người có giới.
Với sức mạnh do thần lực của vị thiên chủ, đôi cánh tay gầy guộc của cụ già như vòng đai kiên cố bảo vệ xe dưa chuột. Đám đông như chạm phải bức tường đồng vách sắt, dạt lui. Ai cũng nghĩ ông già ấy điên. Mọi người dần dần lảng tránh xa ra.
Tiếng rao của cụ già khàn khàn, vọng từ đường phố này sang đường phố khác, từ khu nhà này sang khu nhà khác. Muôn dân thành Ba la nại không hiểu duyên cớ tại sao cứ nghe mãi âm thanh của ông gìa rao bán dưa chuột vang vang trong lỗ tai. Kể cả kẻ điếc lãng hôm ấy họ cũng nghe rất rõ ràng: “Ai có giới, ta cho không dưa chuột. Ai có giới, ta cho không cả xe dưa chuột”.
Tiếng rao đến tai cô gái nghèo trái tim rung động mạnh. Tiềm thức quá khứ mơ hồ trở về. Nàng biết giới, nghĩ về giới, quen với giới như người bạn thân đi xa lâu ngày gặp lại. Cô gái ra đường, rẽ đám đông bước tới.
Thưa cụ! Tôi biết giới, tôi có giới. Hãy cho tôi dưa chuột.
Cụ già nở nụ cười hóm hỉnh, nhìn cô gái nghèo hỏi:
Cả xứ Ba la nại này có ai biết giới gì đâu, tại sao cô bé biết?
Thưa cụ, tôi biết từ quá khứ.
Vậy, giới là gì nào cô bé?
Là ngăn giữ những điều ác thưa cụ!
Vậy là đúng! Vậy là tốt! Cụ già cười ha hả- Này cô bé hãy thọ trì ngũ giới đấy cô bé nhé!
Rồi Đế Thích trao cả xe dưa chuột cho cô gái, chỉ nói riêng cho nàng nghe:
Đây chẳng phải là dưa chuột đâu, là cả xe vàng ròng đấy. Hãy dùng của cải mà nuôi mạng sống, nuối cha mẹ già, nhớ tích lũy thêm các công đức như bố thí, làm các thiện sự hữu ích đến mọi người. Cô gái y lời, giữ giới trong sạch, cúng dường các đạo sĩ, bố thí đến người nghèo khổ, xây dựng các trạm phước xá, chẩn bần đến mãn đời. Hết tuổi thọ mạng chung, cô gái hóa sanh làm công chúa cõi Atula thiên, mang sắc đẹp quý phái, đôn hậu thùy mị, lại có nước da màu vàng ròng, chói lọi nhưng mịn màng do quả giữ giới trong hai kiếp liên tiếp.
Đến tuổi trưởng thành, Atula vương cho nàng tự do kén chồng. Các hoàng tử khắp các cõi Atula đồng đến tham dự mong được lọt vào cặp mắt xanh của mỹ nhân. Đế Thích biết chuyện, chuẩn bị bộ sậu, giả trang làm một hoàng tử Atula trông vô cùng hiên ngang, anh tuấn, lại quý phái đẹp đẽ cực kỳ…Giữa chúng hoàng tử Atula Đế Thích phương phi, cao sang như chúa phượng hoàng.
Nhìn thấy Đế Thích, trái tim công chúa Atula xao xuyến, bồi hồi do sợi dây luyến ái, do năng lực từng chung sống yêu thương kiếp trước (Pubbesannivāsa), nàng chọn Đế Thích làm chồng giữa muôn vàn tiếng reo hò, tán dương của chư thiên và Atula đồng ngưỡng mộ.
Đế Thích ra mắt cha vợ, hiện thành thân tướng trang nghiêm đầy uy lực của một bậc thiên chủ tối cao. Ngài cung kính và điềm đạm trình bày cho Atula vương nghe rõ nhân, duyên và quả trong các kiếp sống bây giờ lại muốn kết tình giao hảo giữa hai quốc độ.
Ban đầu Atula vương (Vepacitta Asurina) đùng đùng nổi giận, sau nhìn thấy con gái rực rỡ hạnh phúc, nghĩ rằng, dẫu là ông vua trời cao quý nhưng đã hạ mình làm con rễ thì có lý nào lại cố chấp, chuốc mối oan thù? Điều đáng nên hãnh diện là khác. Bèn cười ha hả.
Đế Thích! Ha ha! Rốt lại, ngươi là con rể của ta! Ha ha.
Đế Thích nhũn nhặn mỉm cười vui vẻ, sai chư thiên thuộc hạ dâng trái cây say, một số lễ phẩm quý trọng mà cõi Atula không thể có rồi vái lạy Atula vương làm cha vợ.
Về cung trời Đao Lợi, Đế Thích tặng chúa Atula một biệt điện nguy nga lộng lẫy, đặt nàng lên vị trí thứ hậu, xung quanh đoang vây hai ngàn năm trăm vạn thiên nữ hầu hạ. Vậy, nhờ sự đa tình, thủy chung mà Đế Thích có đầy đủ bên mình 4 bà vợ trong mối lương duyên ẩn bên sau hương thơm của diệu pháp.
Thanh niên Magha, trời Đế Thích, thủa ấy là tiền thân Phật Sākyamuni của chúng ta vậy.
(Hết).HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.1/10/2021.
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment