Friday, September 24, 2021

Tích truyện Tích Viṭaṭūbhavatthu và tích truyện Sāmāvatīvatthu. Quả cùng chung nhau tạo ác nghiệp Ví dụ: Trong thời quá-khứ, tiền-kiếp của dòng họ Sakya đồng tâm cùng nhau tạo ác-nghiệp sát-sinh bỏ thuốc độc xuống dòng sông sát hại chúng-sinh lớn và nhỏ trong kiếp quá-khứ. Kiếp hiện-tại của dòng họ Sakya phần đông là bậc Thánh-nhân đều bị tàn sát do Đức-vua Viṭaṭūbha ngự tại kinh-thành Sāvatthī, đất nước Kosala, đó là quả của ác-nghiệp sát-sinh mà tiền-kiếp của dòng họ Sakya đồng tâm cùng nhau tạo ác-nghiệp sát-sinh bỏ thuốc độc xuống dòng sông sát hại chúng-sinh lớn và nhỏ trong kiếp quá khứ, dù Đức-Phật muốn cứu cũng không thể cứu được. Tích Viṭaṭūbhavatthu Tích Viṭaṭūbhavatthu(1) được tóm lược đoạn liên quan ác-nghiệp và quả của ác-nghiệp của dòng họ Sakya như sau: 1 Bộ Dhammapadaṭṭhakathā, Pupphavagga, Tích Viṭaṭūbhavatthu. Đức-vua Pasenadi Kosala ngự tại kinh-thành Sāvatthī, trị vì đất nước Kosala rộng lớn, muốn làm thân với dòng họ Sakya là thân quyến của Đức-Phật Gotama nên gửi đoàn sứ giả đến yết kiến Đức-vua Mahānāma, xin cầu hôn với công chúa dòng Sakya. Dòng Sakya họp bàn với nhau không muốn chấp thuận ban công chúa dòng Sakya kết hôn với người khác dòng, nhưng lại sợ uy thế của Đức-vua Pasenadi, chưa tìm ra phương cách đối xử với Đức-vua Pasenadi thế nào. Đức-vua Mahānāma truyền bảo rằng: Trẫm có người con gái tên Vāsabhakhattiyā rất xinh đẹp sinh ra từ thị nữ của Trẫm. Chúng ta nên ban người con gái tên Vāsabhakhattiyā rất xinh đẹp ấy cho Đức-vua Pasenadi. Mọi người trong dòng họ Sakya đều chấp thuận. Đoàn sứ giả rước cô Vāsabhakhattiyā đem về dâng lên Đức-vua Pasenadi. Nhìn thấy cô Vāsabhakhattiyā rất xinh đẹp, Đức-vua Pasenadi đem lòng yêu quý, nên tấn phong lên ngôi vị Chánh-cung Hoàng-hậu. Về sau, Chánh-cung Hoàng-hậu Vāsabhakhattiyā sinh hạ Thái-tử Viṭaṭūbha. Khi Thái-tử Viṭaṭūbha còn trẻ, Đức-vua Pasenadi phong chức tể tướng. Năm 16 tuổi, Thái-tử Viṭaṭūbha xin mẫu hậu cho phép đi thăm viếng hoàng tộc bên ngoại, mẫu hậu khuyên can không được, đành phải chấp thuận. Thái-tử Viṭaṭūbha vào chầu Đức Phụ-vương tâu xin phép đi thăm viếng hoàng-tộc bên ngoại, Đức-vua Pasenadi cũng chấp thuận. Thái-tử Viṭaṭūbha đi đến kinh-thành Kapilavatthu cùng với đoàn lính theo hầu, bà Chánh-cung Hoàng-hậu Vāsabhakhattiyā đã gửi thư báo trước cho biết Thái-tử Viṭaṭūbha đi đến kinh-thành Kapilavatthu thăm viếng Hoàng-tộc Sakya. Thái-tử Viṭaṭūbha được đón tiếp rất trọng thể tại cung điện. Đức-vua Mahānāma dòng họ Sakya là Đức-vua ngoại của Thái-tử Viṭaṭūbha. Trong khoảng thời gian ở tại cung điện, Thái-tử Viṭaṭūbha được tiếp đãi ân cần, trải qua 2 – 3 ngày, Thái-tử Viṭaṭūbha cùng với đoàn lính thuộc hạ mới trở về kinh kinh-thành Sāvatthī. Sau khi Thái-tử Viṭaṭūbha rời khỏi cung điện, nữ tỳ vào trong phòng khách trong cung điện, cằn nhằn nói xấu rằng: “đây là chỗ mà đứa con trai của thị nữ Vāsabhakhattiyā ngồi” vừa nói lẩm bẩm vừa lấy nước trộn với sữa lau chùi chỗ ngồi ấy. Khi ấy, vị quan cận vệ để quên thanh gươm, nên trở lại phòng khách lấy thanh gươm, đứng nghe rõ lời lẩm bẩm nên hỏi nữ tỳ để biết rõ sự thật bà Vāsabhakhattiyā là con gái của thị nữ và Đức-vua Mahānāma dòng họ Sakya. Nghe vị quan cận vệ thưa lại sự việc xảy ra như vậy, Thái-tử Viṭaṭūbha kết oan trái rằng: “Dòng họ Sakya rửa chỗ ngồi của ta bằng nước trộn với sữa, sau này ta lên ngôi vua, ta sẽ cắt cổ dòng Sakya lấy máu rửa chỗ ngồi của ta.” Khi Thái-tử Viṭaṭūbha trở lại kinh-thành Sāvatthī, các quan tâu sự việc này lên Đức-vua Pasenadi. Đức-vua Pasenadi nổi giận dòng họ Sakya rằng: “Dòng họ Sakya ban cho ta người con gái của thị nữ và Đức-vua Mahānāma” nên Đức-vua Pasenadi thu lại những đồ trang sức đã ban cho bà Vāsabhakhattiyā với ngôi vị Chánh-cung Hoàng-hậu và Thái-tử Viṭaṭūbha, rồi chỉ ban lại những đồ trang sức đối với địa vị thị nữ và con trai của thị nữ mà thôi. Sau đó, thời gian trải qua 2 – 3 ngày sau, Đức-Thế-Tôn ngự đến cung điện của Đức-vua Pasenadi. Đức-vua Pasenadi đảnh lễ Đức-Thế-Tôn, rồi bạch rằng: – Kính bạch Đức-Thế-Tôn, dòng họ Sakya của Đức-Thế-Tôn, ban cho con người con gái của thị nữ và Đức-vua Mahānāma, nên con đã thu lại những đồ trang sức đã ban cho Vāsabhakhattiyā với ngôi vị Chánh-cung Hoàng-hậu và Thái-tử Viṭaṭūbha, rồi chỉ ban lại những đồ trang sức đối với địa vị thị nữ và con trai của thị nữ mà thôi. Đức-Thế-Tôn truyền dạy rằng: – Này Đại-vương, dòng họ Sakya đã đối xử với Đại-vương không hợp lý. Theo lệ thường, nên ban công chúa dòng Sakya tương xứng với Đại-vương. – Này Đại-vương! Thật ra Vāsabhakhattiyā là con của Đức-vua Mahānāma dòng họ Sakya, và Thái-tử Viṭaṭūbha là con của Đại-vương. Đúng theo sự thật, bên mẹ không phải là quan trọng, chỉ có bên cha mới thật là quan trọng mà thôi. Sau khi nghe Đức-Thế-Tôn truyền dạy như vậy, Đức-vua Pasenadi vô cùng hoan hỷ biết được rằng: “Chỉ có bên cha mới thật là quan trọng mà thôi” nên Đức-vua Pasenadi truyền phong lại ngôi vị Chánh-cung Hoàng-hậu cho bà Vāsabhakhattiyā cùng những đồ trang sức Chánh-cung Hoàng-hậu và phong lại ngôi vị Thái-tử cho Viṭaṭūbha cùng với những đồ trang sức Thái-tử. Về sau, Thái-tử Viṭaṭūbha được lên ngôi làm vua, Đức-vua Viṭaṭūbha nhớ lại sự oan trái với dòng họ Sakya, nên nghĩ rằng: “Ta sẽ tàn sát tất cả dòng họ Sakya.” Đức-vua Viṭaṭūbha dẫn đầu đoàn binh lính đông đảo lên đường ngự đi đến kinh-thành Kapilavatthu. Canh chót đêm ấy, Đức-Phật xem xét chúng-sinh nên tế độ, thấy dòng họ Sakya sẽ bị tàn sát, nên Đức-Phật nghĩ rằng: “Như-lai nên tế độ thân quyến dòng họ Sakya”. Đức-Phật từ ngôi chùa Jetavana bay đến ngồi dưới cội cây có bóng mát trống trải gần kinh-thành Kapilavatthu. Nhìn thấy Đức-Phật ngồi tại dưới cội cây, Đức-vua Viṭaṭūbha ngự đến đảnh lễ Đức-Phật, rồi bạch rằng: – Kính bạch Đức-Thế-Tôn, tại sao Đức-Thế-Tôn ngồi dưới cội cây có bóng mát trống trải lúc trời nắng như vậy, kính thỉnh Đức-Thế-Tôn ngự đến cội cây da có bóng mát rậm rạp kia. Đức-Thế-Tôn truyền dạy rằng: – Này Đại-vương! Không có sao đâu! Bóng mát của thân quyến dòng họ mới là mát thật sự. Nghe Đức-Phật truyền dạy như vậy, Đức-vua nghĩ rằng: “Đức-Thế-Tôn ngự đến ngồi tại đây để tế độ thân quyến dòng họ Sakya” nên Đức-vua đảnh lễ Đức-Phật, rồi lui quân trở về kinh-thành Sāvatthī. Đức-Phật bay trở về ngôi chùa Jetavana. Một thời gian sau, nhớ lại hận thù của dòng họ Sakya, lần thứ nhì Đức-vua Viṭaṭūbha dẫn đầu đoàn quân ngự đi đến kinh-thành Kapilavatthu. Nhìn thấy Đức-Thế-Tôn ngồi tại dưới cội cây, Đức-vua Viṭaṭūbha ngự đến đảnh lễ Đức-Thế-Tôn rồi lui quân trở về kinh-thành Sāvatthī, như lần trước. Lần thứ ba, Đức-vua Viṭaṭūbha lại dẫn đầu đem quân ngự đi đến kinh-thành Kapilavatthu. Nhìn thấy Đức-Phật ngồi tại dưới cội cây, Đức-vua Viṭaṭūbha ngự đến đảnh lễ Đức-Phật rồi cũng lui quân trở về kinh-thành Sāvatthī, như hai lần trước. Đến lần thứ tư, Đức-vua Viṭaṭūbha dẫn đầu đoàn quân ngự đi đến kinh-thành Kapilavatthu để tàn sát dòng họ Sakya. Lần này, Đức-Phật thấy rõ, biết rõ tiền-kếp của dòng họ Sakya đồng tâm cùng nhau tạo ác-nghiệp sát-sinh bỏ thuốc độc xuống dòng sông sát hại chúng-sinh lớn và nhỏ trong kiếp quá khứ. Nay, ác-nghiệp sát-sinh ấy có cơ hội cho quả trong kiếp hiện-tại nên không thể ngăn cản được. Lần này, Đức-Phật không bay đến ngồi tại dưới cội cây như 3 lần trước. Dòng họ Sakya đều là cận-sự-nam, cận-sự-nữ giữ gìn ngũ-giới trong sạch và trọn vẹn, phần đông là những bậc Thánh-nhân. Đức-vua Viṭaṭūbha ngự đi đến kinh-thành Kapilavatthu, truyền lệnh tàn sát mọi người trong dòng họ Sakya từ những người già đến những người trẻ, thậm chí những đứa trẻ còn bú sữa cũng không còn sót lại. Sau khi tàn sát dòng họ của Sakya xong, Đức-vua Viṭaṭūbha kéo đoàn quân trở về đến con sông Aciravatī vào lúc ban đêm, Đức-vua Viṭaṭūbha truyền lệnh dựng trại bên bờ sông nghỉ đêm tại đó. Đức-vua Viṭaṭūbha cùng với đoàn quân quá sức mệt nhừ, nằm xuống ngủ say. Đêm hôm ấy, một trận mưa lớn như đổ nước, nước chảy mạnh tràn bờ cuốn trôi Đức-vua Viṭaṭūbha cùng với đoàn quân ra biển cả. Như vậy, Đức-vua Viṭaṭūbha cùng với đoàn quân đã tạo ác-nghiệp tàn sát toàn thể dòng họ Sakya cả già lẫn trẻ con không còn sót, nên Đức-vua Viṭaṭūbha cùng với đoàn quân đều bị nước lũ cuốn trôi ra biển cả, làm mồi cho cá. Tích Sāmāvatīvatthu * Tích Sāmāvatīvatthu(1) được tóm lược điểm chính như sau: 1 Bộ Dhammapadaṭṭhakathā, Appamādavagga, tích Sāmāvatīvatthu. Chánh-cung Hoàng-hậu Sāmāvatī của Đức-vua Udena cùng với nhóm 500 nữ tỳ, trong số người ấy có số là bậc Thánh Nhập-lưu, có số là bậc Thánh Nhất-lai, có số là bậc Thánh Bất-lai, đều bị chết thiêu đó là quả của ác-nghiệp của Chánh-cung Hoàng-hậu Sāmāvatī cùng nhóm 500 nữ tỳ, do âm mưu thâm độc của bà Chánh-cung Hoàng-hậu Māgaṇḍhiyā của Đức-vua Udena. Bà Chánh-cung Hoàng-hậu Māgaṇḍhiyā thù ghét bà Chánh-cung Hoàng-hậu Sāmāvatī cùng nhóm 500 nữ tỳ của Bà, bởi vì họ là những thanh-văn đệ-tử có đức-tin trong sạch vững chắc nơi Đức-Phật Gotama. Bà Chánh-cung Hoàng-hậu Māgaṇḍhiyā của Đức-vua Udena đã sai bảo những người bà con thân quyến đến đốt cháy ngôi cung thất của bà Chánh-cung Hoàng-hậu Sāmāvatī cùng nhóm 500 nữ tỳ của bà, rồi chặn các cửa ra vào và các cửa sổ không để cho một người nào thoát ra khỏi. Sở dĩ, bà Chánh-cung Hoàng-hậu Sāmāvatī và nhóm 500 nữ tỳ đều bị chết thiêu là vì tiền-kiếp của những người ấy đã từng cùng nhau tạo ác-nghiệp trong thời quá-khứ như sau: “Trong thời quá-khứ, Đức-vua Brahmadatta trị vì kinh-thành Bārāṇasī. Hằng ngày Đức-vua hộ độ cúng dường đến 8 Đức-Phật Độc-Giác. Đức-vua truyền lệnh cho nhóm cung nữ gồm có một người nữ trưởng nhóm cùng với 500 cung nữ thuộc hạ thân tín lo hộ độ cúng dường đến 8 Đức-Phật Độc-Giác. Khi ấy, 7 Đức-Phật Độc-Giác cùng ngự trở về núi Himavanta, còn một Đức-Phật Độc-Giác nhập diệt thọ tưởng suốt 7 ngày đêm trong đống cỏ gần bên bờ sông. Cho nên, nhóm cung nữ được rảnh rỗi. Một hôm, Đức-vua cho phép nhóm cung nữ đi tắm sông, mải ham chơi dưới nước, khi lên bờ cảm thấy lạnh, nhóm cung nữ liền đến đống cỏ đốt lửa sưởi ấm, đến lúc đống cỏ cháy tàn rụi, họ mới phát hiện thấy Đức-Phật Độc-Giác đang ngồi nhập diệt-thọ-tưởng trong đống cỏ. Vì sợ bị Đức-vua trị tội, nên nhóm cung nữ bàn tính cùng nhau đi tìm củi đem đến chất thành đống thiêu rụi Đức-Phật Độc-Giác để không còn tang chứng. Nhưng do năng lực nhập diệt-thọ-tưởng của Đức-Phật Độc-Giác nên lửa không thể thiêu rụi Đức-Phật Độc-Giác được. Đến ngày thứ 7, Đức-Phật Độc-Giác xả diệt-thọ-tưởng trở lại cuộc sống bình thường. Như vậy, ban đầu nhóm cung nữ đốt cỏ để sưởi ấm không có tác-ý sát-sinh, nhưng sau đó, có tác-ý thiêu rụi Đức-Phật Độc-Giác, họ có tác-ý sát-sinh, cùng nhau tạo ác-nghiệp sát-sinh không đủ chi-pháp (bởi vì Đức-Phật Độc-Giác không chết). Sau khi nhóm cung nữ chết, ác-nghiệp thiêu đốt Đức-Phật Độc-Giác ấy nhưng không chết, đã tạo ác-nghiệp không đủ chi-pháp cho quả tái-sinh trong cõi địa-ngục, bị thiêu đốt suốt nhiều ngàn năm. Sau khi mãn quả của ác-nghiệp ấy, đại-thiện-nghiệp khác cho quả tái-sinh làm người, thường bị chết thiêu hằng trăm kiếp như vậy. Nay kiếp hiện-tại này, bà Chánh-cung Hoàng-hậu Sāmāvatī cùng nhóm 500 nữ tỳ của bà là hậu-kiếp của nhóm 500 cung nữ trong thời quá khứ ấy, tất cả đều bị chết thiêu. Đó là quả xấu của ác-nghiệp thiêu đốt Đức-Phật Độc- Giác không chết trong thời quá khứ ấy. * Trường hợp những người nào chết cùng một lúc do bởi thiên tai hoặc tai nạn xảy ra, những người ấy đã từng tạo ác-nghiệp giống nhau hay không, điều ấy không thể biết được, nhưng sự sinh, sự tử đều do quả của nghiệp của mỗi chúng-sinh. Thiện-nghiệp thì cho quả an-lạc. Ác-nghiệp thì cho quả khổ. Như câu kệ dạy về nghiệp và quả của nghiệp rằng: “Yādisaṃ vapate bījaṃ, tādisaṃ harate phalaṃ. Kalyāṇakārī kalyāṇaṃ, pāpakārī ca pāpakaṃ.”(1) 1 Bộ Samyuttanikāya, phần Sagāthavagga, Kinh Samuddakasutta. Người nào gieo hạt giống thế nào, Người ấy gặp quả như thế ấy. Người hành thiện thì được quả thiện, Người hành ác thì chịu quả ác. Bậc thiện-trí có trí-tuệ sáng suốt tin nghiệp và quả của nghiệp của mình và cũng tin nghiệp và quả của nghiệp của người, của tất cả chúng-sinh lớn hoặc nhỏ, nên đại-thiện-tâm phát sinh suy xét đúng đắn về nghiệp đối với tất cả chúng-sinh rằng: “Sabbe sattā kammassakā.” Tất cả mọi chúng-sinh đều có nghiệp là của riêng mình, hưởng quả an-lạc của thiện-nghiệp của họ hoặc chịu quả khổ của ác-nghiệp của họ. Cho nên, mỗi người chúng ta nên biết hổ-thẹn tội-lỗi, biết ghê-sợ tội-lỗi, nếu không muốn quả khổ của ác-nghiệp thì nên tránh xa mọi ác-nghiệp, và nếu muốn hưởng quả an-lạc của thiện-nghiệp thì mỗi người chúng ta nên tự lựa chọn tạo thiện-nghiệp nào theo khả năng của mình. Đó là điều mà mỗi người chúng ta có quyền hoàn toàn chủ động tự lựa chọn tạo nghiệp nào, rồi tạo nghiệp ấy chỉ thuộc về của riêng mình mà thôi. Khi nghiệp nào của mình có cơ hội cho quả của nghiệp ấy, mỗi người chúng ta hoàn toàn bị động chấp nhận như người thừa kế quả của nghiệp ấy của mình mà thôi, hoàn toàn không có quyền từ khước được. (Xong phần nội dung của nghiệp và quả của nghiệp) Đoạn Kết Đức-Phật dạy các hàng thanh-văn đệ-tử hằng ngày nên suy xét về nghiệp và quả của nghiệp rằng: “Kammassako’mhi kammadāyādo kammayoni kamma-bandhu kammappaṭisaraṇo, yaṃ kammaṃ karissāmi kalyāṇaṃ vā pāpakaṃ vā tassa dāyādo bhavissāmi.”(1) 1Aṅg. phần Pañcakanipāta, kinh Abhiṇhapaccavekkhitabbaṭhānasutta. Ta có nghiệp là của riêng ta, ta là người thừa hưởng quả của nghiệp, nghiệp là nhân sinh ra ta, nghiệp là bà con thân quyến của ta, nghiệp là nơi nương nhờ của ta; ta tạo nghiệp nào ‘thiện-nghiệp hoặc ác-nghiệp’ ta sẽ là người thừa hưởng quả an-lạc của thiện-nghiệp ấy hoặc quả khổ của ác-nghiệp ấy. * Đức-Phật dạy về kamma: nghiệp rằng: Kammassako’mhi: Ta có nghiệp là của riêng ta, nghĩa là ta đã tạo đại-thiện-nghiệp nào hoặc ác-nghiệp nào rồi, đại-thiện-nghiệp ấy hoặc ác-nghiệp ấy là của riêng ta, hoàn toàn không phải của chung với ai khác. Mỗi chúng-sinh trong muôn loài cũng đều có nghiệp là của riêng họ cũng như thế ấy. Thật ra, ngoài nghiệp của riêng ta ra, còn những thứ của cải tài sản, nhà cửa, đất đai nào trong đời không phải là của riêng ta thật sự, thậm chí ngay cả thân này, ta cũng không thể làm chủ được, huống hồ những thứ của cải tài sản bên ngoài thân này. Tất cả của cải tài sản nhà cửa, đất đai, … đều là của chung, nếu người nào có quả của đại-thiện-nghiệp bố-thí nào tốt, thì người ấy tạm thời làm chủ tài sản nhà cửa, đất đai, …lâu hoặc mau tùy theo thời hạn cho quả của đại-thiện-nghiệp bố-thí ấy. * Đức-Phật dạy về quả của nghiệp rằng: “…tassa dāyādo bhavissāmi.” Ta sẽ là người thừa hưởng quả an-lạc của thiện-nghiệp ấy hoặc chịu quả khổ của ác-nghiệp ấy, như là người thừa kế (dāyādo). Đối với loài người trong cõi Nam-thiện-bộ-châu này, nếu chủ nhân nào có đại-thiện-nghiệp nào gặp thuận-duyên (sampatti) thì có cơ hội cho quả an-lạc của đại-thiện-nghiệp ấy, nên chủ nhân ấy hưởng được mọi an-lạc của đại-thiện-nghiệp ấy của mình, như là người thừa kế (dāyādo) quả của đại-thiện-nghiệp ấy với thời gian lâu hoặc mau tùy theo quả của đại-thiện-nghiệp ấy. Và nếu chủ-nhân nào có ác-nghiệp nào gặp nghịch-duyên (vipatti) thì có cơ hội cho quả khổ, nên chủ nhân ấy phải chịu quả khổ của ác-nghiệp của mình, như là người thừa kế (dāyādo) quả của ác-nghiệp ấy với thời gian lâu hoặc mau tùy theo quả của ác-nghiệp ấy. – Mỗi chúng-sinh nói chung, mỗi người nói riêng, đều không có số-mệnh hoặc định-mệnh của mình, mà chỉ có nghiệp và quả của nghiệp của mình mà thôi. Giả sử, nếu mỗi chúng-sinh có số-mệnh, có định- mệnh của mình thật sự, thì ai có khả năng định sẵn an bài số-mệnh, định-mệnh của mỗi chúng-sinh lớn và nhỏ trong bốn loài chúng-sinh, trong tam-giới gồm có 31 cõi-giới chúng-sinh này được??? Thật ra, nếu người nào tin nghiệp và quả của nghiệp của mình, thì người ấy chắc chắn không còn tin vào số- mệnh hoặc định-mệnh nào cả, bởi vì không có số- mệnh hoặc định-mệnh nào đã được an bài đối với mỗi chúng-sinh lớn nhỏ trong tam-giới. Thật ra, mỗi chúng-sinh nói chung, mỗi người nói riêng trong vòng tử sinh luân-hồi trong ba giới bốn loài, từ vô thủy trải qua vô số kiếp cho đến kiếp hiện-tại này, mỗi kiếp đã tạo vô số đại-thiện-nghiệp và vô số ác-nghiệp dù nghiệp nặng, dù nghiệp nhẹ cũng đều được lưu trữ đầy đủ trọn vẹn ở trong tâm không hề bị mất mát một mảy may nào cả. Tính chất của mỗi đại-thiện-nghiệp, mỗi ác-nghiệp – Mỗi đại-thiện-nghiệp ấy nếu gặp thuận-duyên (sampatti) thì có cơ hội cho quả tốt, quả an-lạc ngay trong kiếp hiện-tại (kiếp thứ nhất). – Sau khi chủ-nhân ấy chết, nếu đại-thiện-nghiệp ấy có cơ hội thì cho quả tái-sinh kiếp sau (kiếp thứ nhì) trong cõi thiện-dục-giới. – Đại-thiện-nghiệp ấy nếu gặp thuận-duyên (sampatti) thì có cơ hội cho quả từ kiếp thứ 3 cho đến kiếp chót của bậc Thánh A-ra-hán, trước khi tịch diệt Niết-bàn. – Mỗi ác-nghiệp ấy gặp nghịch-duyên (vipatti) thì có cơ hội cho quả xấu, quả khổ ngay trong kiếp hiện-tại (kiếp thứ nhất). – Sau khi chủ-nhân ấy chết, nếu ác-nghiệp ấy có cơ hội thì cho quả tái-sinh kiếp sau (kiếp thứ nhì) trong cõi ác-giới. – Ác-nghiệp ấy nếu gặp nghịch-duyên (vipatti) thì có cơ hội cho quả từ kiếp thứ 3 cho đến kiếp chót của bậc Thánh A-ra-hán, trước khi tịch diệt Niết-bàn. Bậc thiện-trí có kammassakatā sammādiṭṭhi: chánh-kiến sở nghiệp, tin nghiệp và quả của nghiệp của mình, và tin nghiệp và quả của nghiệp của mỗi chúng-sinh, nên bậc thiện-trí nhận thức đúng đắn rằng: “Không có sự bất công thật sự trong đời này.” Bởi vì, kiếp hiện-tại của mỗi chúng-sinh nào đều bị chi phối do nghiệp và quả của nghiệp của mỗi chúng-sinh ấy. Tuy nhiên, nghiệp và quả của nghiệp có thời gian mãn nghiệp ấy, hoàn toàn không phải là định-mệnh hoặc số-mệnh đã được an bài đối với mỗi chúng-sinh. Tất cả mọi người trong đời đều có quyền hoàn toàn chủ động tự lựa chọn tạo thiện-nghiệp nào theo khả năng của mình, và cũng có quyền hoàn toàn chủ động không tạo ác-nghiệp hoặc tạo ác-nghiệp theo khả năng của mình. Nếu đã tạo nghiệp nào rồi, nghiệp ấy có cơ hội cho quả thì chủ-nhân của nghiệp ấy hoàn toàn bị động, không có quyền phủ nhận quả của nghiệp của mình, mà phải chấp nhận như là người thừa kế (dāyādo) quả của nghiệp ấy. – Nếu ác-nghiệp nào gặp nghịch-duyên (vipatti) có cơ hội thì cho quả xấu, quả khổ của ác-nghiệp ấy, làm cho chủ nhân của ác-nghiệp ấy phải chịu bao nhiêu nỗi khổ trong cuộc sống. – Nếu đại-thiện-nghiệp nào gặp thuận-duyên (sampatti) có cơ hội thì cho quả tốt, quả an-lạc của đại-thiện- nghiệp ấy, làm cho chủ nhân của đại-thiện-nghiệp ấy được hưởng mọi sự an-lạc thuận lợi trong cuộc sống. Nghiệp và quả của nghiệp thật là công bằng, không hề thiên vị một ai cả. Người nào nghĩ rằng: “Có sự bất công thật sự trong đời này.” Bởi vì người ấy chỉ thấy, chỉ biết nghiệp trong kiếp hiện-tại mà thôi, họ không có kammassakatā sammā-diṭṭhi: chánh-kiến sở nghiệp, không tin nghiệp và quả của nghiệp của mình, và không tin nghiệp và quả của nghiệp của mỗi chúng-sinh. Sự thật, nghiệp và quả của nghiệp là 1 trong 4 điều bất khả tư nghì mà Đức-Phật thuyết dạy trong bài kinh Acinteyyasutta(1) rằng: 1Aṅguttaranikāya, phần Catukkanipātapāḷi, kinh Acinteyyasutta. – “Này chư tỳ-khưu! Có 4 điều bất-khả tư-nghì này không nên suy nghĩ, nếu người nào suy nghĩ thì người ấy sẽ trở thành người loạn trí, điên cuồng, làm khổ não. 4 điều bất khả tư nghì là: 1- Năng lực trí-tuệ phi thường của Đức-Phật đó là điều bất khả tư nghì, không nên suy nghĩ, nếu người nào suy nghĩ thì người ấy sẽ trở thành người loạn trí, điên cuồng, làm khổ não. 2- Năng lực phi thường của thiền-định, phép-thần-thông đó là điều bất khả tư nghì, không nên suy nghĩ, nếu người nào suy nghĩ thì người ấy sẽ trở thành người loạn trí, điên cuồng, làm khổ não. 3- Nghiệp và quả của nghiệp đó là điều bất khả tư nghì, không nên suy nghĩ, nếu người nào suy nghĩ thì người ấy sẽ trở thành người loạn trí, điên cuồng, làm khổ não. 4- Suy nghĩ về tạo nên cõi-giới này đó là điều bất khả tư nghì, không nên suy nghĩ, nếu người nào suy nghĩ thì người ấy sẽ trở thành người loạn trí, điên cuồng, làm khổ não. – Này chư tỳ-khưu! 4 điều bất khả tư nghì này không nên suy nghĩ, nếu người nào suy nghĩ thì người ấy sẽ trở thành người loạn trí, điên cuồng, làm khổ não.” Chỉ có Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác có trí-tuệ đặc biệt thấy rõ, biết rõ nghiệp và quả của nghiệp của mỗi chúng-sinh trong kiếp hiện-tại, vô số kiếp quá-khứ và vô số kiếp vị-lai mà thôi. Ngoài Đức-Phật ra, các bậc Thánh thanh-văn đệ-tử đều không có khả năng thấy rõ, biết rõ nghiệp và quả của nghiệp của mình, và của chúng-sinh khác được. Tuy nhiên, bộ Chú-giải Therāpadāna, Therī apadāna, chư Thánh A-ra-hán tự thuật lại tiền-kiếp hạn chế của mỗi Ngài đã từng tạo các đại-thiện-nghiệp gọi là các pháp-hạnh ba-la-mật từ thời-kỳ Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác trong thời quá-khứ cho đến kiếp hiện-tại trở thành bậc Thánh A-ra-hán trong giáo-pháp của Đức-Phật Gotama. Patthanā Iminā puññakammena, sukhī bhavāma sabbadā. Ciraṃ tiṭṭhatu saddhammo, loke sattā sumaṅgalā. Vietnam-raṭṭhikā sabbe ca, janā pappontu sāsane. Vuḍḍhiṃ viruḷhivepullaṃ, patthayāmi nirantaraṃ. Lời cầu nguyện Do nhờ phước-thiện thanh cao này, Cho chúng con thường được an-lạc. Cầu mong chánh-pháp được trường tồn, Tất cả chúng-sinh được hạnh-phúc. Dân tộc Việt Nam được phát triển, Tiến hóa hưng thịnh trong Phật-giáo. Bần sư cầu nguyện với tâm thành, Hằng mong được thành tựu như nguyện. Ciraṃ tiṭṭhatu saddhammo lokasmiṃ Ciraṃ tiṭṭhatu saddhammo Vietnamraṭṭhasmiṃ. Cầu nguyện chánh-pháp được trường tồn trên thế gian.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.25/9/2021.

No comments:

Post a Comment