Saturday, March 31, 2018

The wish of the Buddha.


hanh-nguyen-cua-nguoi-tu-phat
Buddhism is compassionate suffering. From the Buddhas mercy beings than Mother Love children. Also because they are suffering that the Buddha in the world to help them enlightenment enter the Buddha, forever freed from the sea of ​​birth and death samsara.
The mind of beings that tham - tham - si that body - speech - the creation of non - stop karma, the sensation in Karmic retribution does not stop. All because of the constant need of eating, wearing, staying, (treating) the disease. Eat delicious but not stop killing the life of all species; so beautiful, timely to adorn the fake temporary body; want to stay at home high, comfortable bed, whether comfortable whether it is "right career" or not; When the disease is killing the network to help nourish this ... All because of ignorance, self-attachment - that out. When the wrong feeling of lament, If sowing good human beings are rich, then the mind is dull, stingy, be a want to multiply ... without sharing with those unhappy; Because of the deviant mind, which transforms Buddhism into superstition to pray, pray for or satisfy your own desire; When the desire is not like the contempt, despise the Buddha Dharma does not work. Why not realize that when suffering is the result of negative kamma that he created before, is also the charm to help the province of self-consciousness must be sincere repentance practice medicine; If you are rich and wealthy by good deeds, you should cultivate the mind of Bodhi mind, good deeds to help the beautiful life. Tham-yard-si extremely scary, sins sown will suffer miserable. to help the beautiful beautiful life. Tham-yard-si extremely scary, sins sown will suffer miserable.to help the beautiful beautiful life. Tham-yard-si extremely scary, sins sown will suffer miserable.
hanh-nguyen-nguoi-tu-phat-2
Hell, not the Buddha, 
beings end, sense Bodhi-topic!
In the Path, the suffering in hell is the greatest. If there is a living beings that have to report in the hell do not wish to become a Buddha, but a living beings in the Green Gnosis is not willing to witness Bodhi. That is the Hạnh - Vows infinite infinite of the Buddha 10 10 3. Buddha's children, follow the Buddhist virtues, stars can be different. But how do you make  vows ?
1. Most cultivators now understand the "vow" not at all. Not to burn incense, prayer in front of the altar Buddha has already made vows. Why? Because it is the " body of ordinary people " of the vow not the " Buddhist mind " vow. Apparently the stems burned incense, mind also thought to choose which vow to suit his intentions (with intent, not natural), the owl to rhyme, match the demand ... It is not entirely In the state of deep meditation, let go of the mind that is called " Buddhist Vow ". The Buddhas also do not witness these wishes.
2. Know the "volunteer" derived from the immeasurable compassion of all beings, willing to sacrifice all beings without sacrificing birth and death. The practitioner is completely selfless - in the deep meditative state of meditation, the "volunteer" new birth. To be clearer, practitioners who elaborately recite the Buddha must reach the realms of Mindfulness Tam Toi  (ie the mind wants to initiate "Nam Moi Amitabha Buddha" without starting, even one word); or who meditate have reached the realmof no-mind  (the first question no longer arises phone anymore), then in the realm of  no-mind eighty he, the Buddha's mind of the founder of the vow without any intention. That is the true volunteer vow that comes from compassion, Tanh Buddha of Tanh Tanh (reach the Imagination Know Knowledge, willow discharge life) should 10 Buddhist evidence. Notice that, if elaborately not to mind, practitioners want to initiate the concept of Buddha (or early dialogue) can be arbitrary start, want to stop then stop; Even achievements of No Mind, whether to initiate the Buddha sentence (or early dialogue) also not arise.
Q:  Why "volunteer" can start when the mind has no thoughts, not arise any thoughts (whether Buddhist or early)?
A:  Because of the work reached the "mindlessness" should practice self-nature Buddha, the Buddha-nature of the word Bi-Hy - Harmless in the sea of ​​suffering thousands of beings, the Buddha's mind Prayers for all to save. The Buddha's compassion naturally flow from the Buddha's mind that is consistent with the Buddha's mind in 10 directions should be Buddha. Come here, the word of the practitioner has spread all over the 10 directions, the true practitioner is "Messenger As Lai on the Tathagata", depending on the coast, the degrees of beings, not selfless.The new poem in the ancient Buddha's words: "All beings have Buddha Tanh, the Buddha will be if the right foot Buddhist practice the Buddha's teachings."
In the end, say no mind Imprisonment - Free France, vow, still happy, also self - beings, the French to show stars. However, considering the importance of "Buddhist practitioners' aspirations in the practice of reluctance, must use the language to show the way to show the truth. How to meditate, how to make a prayer, now share the Dharma to the masses. Want the masses to forget the words, go further than let go of the truth - self-entangled in the mind, diligently use the work (meditation, recite the Buddha) to keep secret, Bi-Hy - Equanimity, no self, as the guiding heart for the practice, then there will be days to realize Tanh, willow escape death.END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.31/3/2018.

Hạnh nguyện của người tu Phật.


hanh-nguyen-cua-nguoi-tu-phat
Đạo Phật là đạo Từ Bi cứu khổ. Lòng Từ chư Phật thương xót chúng sanh hơn Mẹ thương Con. Cũng bởi vì chúng sanh khổ mà Phật thị hiện trên đời để giúp chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến, vĩnh viễn giải thoát khỏi biển khổ sanh tử luân hồi.
Tâm chúng sanh vốn dĩ tham – sân – si mà thân – khẩu – ý tạo nghiệp không ngừng, chiêu cảm quả báo trong Lục đạo luân hồi không dứt. Tất cả cũng vì nhu cầu không ngừng của ăn, mặc, ở, (điều trị) bệnh. Ăn sao cho ngon mà không ngừng giết hại sanh mạng của muôn loài; mặc sao cho đẹp, cho hợp thời nhằm tô điểm sắc thân giả tạm; muốn ở nhà cao, giường rộng, tiện nghi thoải mái mà bất chấp có phải là “chánh nghiệp” hay không; khi bệnh tật thì lại sát sanh hại mạng giúp bồi dưỡng thây thúi này… Tất cả cũng vì vô minh, chấp ngã – chấp pháp mà ra. Đến khi thọ khổ lầm than thì than trời trách đất sao quá đỗi bất công; nếu gieo nhân lành được giàu sang thì lại sanh tâm bủn xỉn, keo kiệt, được một muốn bội phần… mà không chia sẻ với những người bất hạnh; rồi vì tà tâm – tà tín mà biến đạo Phật thành đạo mê tín để cầu xin, cầu tự hay cúng bái cho thoả dục vọng của bản thân; đến khi sự mong cầu không như ý thì khinh chê, phỉ báng Phật Pháp không linh nghiệm. Sao không ngộ rằng khi thọ khổ là kết quả của nghiệp bất thiện mình gieo tạo trước đây, cũng là cơ duyên giúp cảnh tỉnh mà tự biết phải thành tâm sám hối tu hành giải nghiệp; còn được giàu sang phú quý do thiện nghiệp thì nên vun bồi trưởng dưỡng tâm Bồ-đề, hành thiện sự giúp đẹp đời đẹp đạo. Tham-sân-si thật đáng sợ vô cùng, nghiệp tội gieo sẽ thọ khổ khôn xiết.
hanh-nguyen-nguoi-tu-phat-2
Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật,
Chúng sanh độ tận, phương chứng Bồ-Đề!
Trong Lục đạo, sự thống khổ nơi địa ngục là nhiều nhất. Nếu còn một chúng sanh nào phải thọ báo ở địa ngục thì nguyện không thành Phật, còn một chúng sanh nào trong lục đạo luân hồi thì nguyện không chứng Bồ Đề. Đó chính là Hạnh – Nguyện vô lượng vô biên của Chư Phật 10 phương 3 đời. Người con Phật, tu theo hạnh Phật, sao có thể khác được. Nhưng phải lập nguyện như thế nào mới đúng là chơn nguyện?
1. Đa phần người tu hiện nay hiểu về “nguyện” không rốt ráo. Không phải hành giả thắp hương, khấn nguyện trước bàn thờ Phật là mình đã lập nguyện rồi. Vì sao? Vì đó là “thân tâm phàm phu” của hành giả nguyện chứ không phải “tâm Phật” nguyện. Rõ ràng thân đứng thắp hương, tâm còn nghĩ tưởng chọn lựa nguyện nào cho phù hợp với ý mình (có tác ý chứ không phải tự nhiên), câu cú sao cho có vần điệu, hợp với sở cầu… Đó hoàn toàn không phải trong trạng thái thiền định miên mật, buông xả thâm tâm mà nguyện thì sao gọi là “tâm Phật nguyện” được. Chư Phật cũng không chứng cho những vọng nguyện này.
2. Nên biết “chơn nguyện” xuất phát từ lòng Từ-Bi vô lượng muốn cứu độ hết thảy muôn vạn chúng sinh, sẵn sàng hy sinh thân mình mà không màng sanh tử. Tâm hành giả hoàn toàn vô ngã – vô trụ trong trạng thái thiền định miên mật thì “chơn nguyện” mới xuất sanh được. Nói rõ hơn, hành giả nếu ai công phu niệm Phật thì phải đạt đến cảnh giới Niệm Phật Tam Muội (tức tâm muốn khởi niệm “Nam mô A Di Đà Phật” mà không khởi được, dù chỉ một từ); hoặc ai tham thiền phải đạt đến cảnh giớiVô Niệm (câu thoại đầu không còn khởi lên được nữa) thì trong cảnh giới Vô Niệm Tam Muội ấy, tự tâm Phật của hành giả khởi lập nguyện mà không hề tác ý. Đó mới đúng là chơn nguyện vì nguyện ấy xuất phát từ tâm Từ Bi, Tánh Phật của Bậc kiến tánh (đạt đến Vô Niệm tức Kiến Tánh, liễu thoát tử sanh) nên 10 phương Phật chứng. Rõ thấy, nếu công phu chưa tới Vô Niệm, hành giả muốn khởi câu niệm Phật (hay tham thoại đầu) đều có thể tuỳ ý khởi, muốn dừng thì dừng; còn thành tựu Vô Niệm thì dù muốn khởi câu Phật hiệu (hay tham thoại đầu) cũng không khởi lên được.
Hỏi: sao “chơn nguyện” có thể tự khởi khi tâm đã Vô Niệm, không khởi lên được niệm nào (dù niệm Phật hay thoại đầu)?
Đáp: vì công phu đạt đến “Vô Niệm” nên hành giả kiến Tự Tánh Phật của chính mình, mà tánh Phật thì Từ – Bi – Hỷ – Xả vô lượng nên trong biển khổ của muôn vạn chúng sanh, tâm Phật của hành giả tự phát nguyện lập hạnh để cứu độ tất cả. Chính tâm nguyện Từ Bi tự nhiên lưu xuất từ tánh Phật của hành giả đó khế hợp với tâm Phật khắp 10 phương nên được Phật chứng. Tu đến đây, tâm Từ của hành giả đã trải rộng khắp 10 phương, hành giả đích thực là “Sứ giả Như Lai hành Như Lai sự”, tùy duyên khai thị, hóa độ chúng sanh, vô ngã vô pháp. Thế mới thấm thía lời Phật thọ ký năm xưa: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, là Phật sẽ thành nếu chơn chánh tu hành y lời Phật dạy”.
Rốt ráo mà nói, Vô Niệm tức Vô Ngã – Vô Pháp, còn nguyện, còn hạnh, còn tự ngã – chúng sanh, còn pháp để diễn bày sao. Tuy nhiên, xét thấy sự quan yếu của “hạnh nguyện người tu Phật” trong sự tu hành mà bất đắc dĩ, phải dụng ngôn để hiển bày lẽ đạo cho tỏ tường sự lý. Bản thân hành thiền, lập nguyện ra sao, nay chia sẻ Pháp hành đến Đại chúng. Mong Đại chúng liễu ý quên lời, tiến xa hơn nữa buông hết sự lý – tự ngã vướng mắc trong tâm, tinh tấn dụng công (tham thiền, niệm Phật) sao cho miên mật, giới hạnh vun bồi, mọi sự lấy Từ – Bi – Hỷ – Xả, Vô Ngã, Vô Trụ làm kim chỉ nam cho sự hành trì thì ắt có ngày thành tựu kiến Tánh, liễu thoát tử sanh!HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.31/3/2018.

Friday, March 30, 2018

The spirit of Buddhist monks before the division of the Buddhist sect.



It is suggested that only the Theravada system is the Buddha's theory should be considered the right Dharma, the remaining all the Sutra is the fabricated by the "Mahayana, Tau" created by mixing the philosophy of Unreached people. Therefore, those who practice the Law of Theravada are considered Buddha disciples, the opposite is all foreign. Among them, the most typical is rejecting the recitation of the Amitabha Buddha, the Patriarchate of the Zen Masters, the Tantra, the entire Mahayana scriptures (Surangama, Prajna, Vimalakirti, French ...), the Bo Slay (Avalokiteshvara, Dai The Chi, Tripitaka ...) along with the transmission of the mind and the bowl of the bowl of the Indo-Chinese parents.
Before many views and interpretations on the contrary, the Buddhist monks must do, how to practice to preserve the eternal Hue where the Three Jewels? Before we go into the matter, let's take a brief look at the synthesis of the Sutras after the passing of the Buddha and the appearance of the Mahayana scriptures.

- CONGRESS OF THE FIRST TIME  : It  was convened about 3 months after the Buddha's death (in 544 AD), in the Satiapanni cave outside of Rajasthan, sponsored by King Ajaratthu. Fearing that Dharma and the Law may be misunderstood and not fully existed, Mahakassapa presided over 499 Arahants, of whom Phra Upalis Vinaya, and Ananda (Dhamma). The method of gathering is the interrogation of Gender and the Fa, which were answered by the two Venerable Masters, and then received the consensus of the Sangha. Monks took 7 months to READ ALL the Dharma and Law for this first collection.
nd   convention : held about 100 years after the Buddha's death (444 BC) to resolve a serious dispute about the transgression of the monk and the disagreement about the request for change 10 Rule of Laws. These are not big changes but enough to cause the Sangha to separate the Mahasamhikika , most of which are the young monks who want to change, the rest conservative of the Vinaya The originalTheravada . Kalasoka (grandson of King A-So-So) is the sponsor of this gathering, held in Vesali. There are 700 monks in attendance, including Phra Da Da Xa (Yasa). 
- THIRD PARTY CONGRESS:  It was organized about 218 years after the Buddha's death (326 BC), consisting of 1,000 monks presided over by the Emperor Moggaliputta-Tissa, under the patronage of the Emperor. Asoka lived in Vientiane, Pataliputta, to recruit deceivers and deities, heretical views. The Abhidhamma Piṭaka is also mentioned in this conference. At the end, Mahinda's son, Mahinda, came to Sri Lanka to present Sri Lanka. This is the period marking the development of Buddhism outside of India. It is noteworthy that there are theories that in this collection, Tripitaka began to be recorded in the Pali text. However, this theory has not been accepted by most Buddhists.
- 4 th CONGRESS  : There  are many different hypotheses, the material recorded is not identical:
  • The first theory: occurred about 313 years after the Buddha's death (in 232 BC), sponsored by Sri Devanampiyatissa. There were 68,000 monks attending the convention, in which Mahinda chaired the meeting. The gathering place is the Thupprama Temple in Anuradhapura.
  • The second theory (in the tradition of the Mahasanghikas): occurred about 400 years after the Buddha's death (144 BC), initiated by King Kanishka (Gandhàra) Kanishka. There are all 500 Bhikkhus participating in the gathering, in which Venerable Master Vasumitra is presiding over the support of Parsva. Upon completion, the king ordered the carved Buddhist scriptures on bronze leaves and stored at a fixed place, not to bring out.
In parallel with the collection of the Mahasanghikas (around the year 144 BC), the Maitreya tribe, east of Sri Lanka, Sri Vattagamani, initiated the sponsorship compilation. There are 500 Bhikkhus participating, in which Maharakkhita presides.The Tripitaka was recited and translated into Pali, then written on a kind of dried-leaf paper, annotated in writing by Sang-La (Sri Lanka). Since then, the Pā Tami Tripitaka was formed. Scholars have recognized this as the fourth gathering of Venerable Buddhists in Ceylon.
5 th CONGRESS  (1871) AND 6 (1954):  organized by Burma to scrutinize whether any of the words of the Buddha's teachings are changed, misrepresented or lost. Later, the Tipitaka was printed by modern printing techniques and was published in Myanmar.
- THE EXCEPTION OF THE MAJORITY:  From the middle of the first century AD to the 1st century AD, the two Mahayana and Hynāyanā appear in the Lotus Sutra .Around the 2nd century AD, Mahayana became clearly defined when Nagarjuna developed the doctrine of emptiness and proved all things as unacquainted with the doctrine called the Madhyamika. Around the 4th century AD, two Aswan and Vasubandhu professors wrote many of the Mahayana sutras. Since then, the Mahayana Commentaries have been translated and disseminated to this day. It should be noted that we should not confuse the Hinayana with the Shang-coordinates!
* With these summaries, there are some points to discuss as follows:
1.  In the first episode 3 times, the Buddhist doctrine only be  reciting from memory  and  transmitted orally  from person to person, from the previous generation to the next generation in the Sangha. Methods  oral  stretching from the Buddha's passing until the 4 th Congress of aggregation, or as early as the 3rd Congress of aggregation, the Tripitaka can be saved by writing scripts. More than 400 years with many fluctuations, there is no recording system closely, Sutra due from individuals  younger, and read each RE  in that much time over many generations surely arise  differences  (due misunderstanding or self-inflicted) and even being BROKEN (missing or forgotten) as a necessity. Typically, the division of the sect has been taking place since the second gathering, only about 100 years after the Buddha's death, and later shows the differentiation of the various interpretations and methods of cultivation. in the sangha team.  NO ONE OF us in the BUDDHA, NOT THE ANIMALS RECORDING THE BUDDHISM WHEN THE HOLY SHOCK IS IN THE NEXT HOUR , now more than 2500 years after our overly subjective view of the mind, Confirm this business by the Buddha, the other business is not, then the French despise with the ancient German antediluvian, transcendental discipline, it is sinful! Suspected to the end, traced to the source, only the  PHEN DAY AT THE BUDDHIST IN THE NEW BUDDHIST BUDDHISM never mind. There is no concept known as: Theravada, Mahayana or Hinayana ... in the  PHARMACEUTICAL BUDDHIS . And to clarify the matter, quoting the following in the "Sutra" says TAM SAO - TOMORROW  occurs as a necessity:

Here, the monks, the learned monks, are mistaken, with the ordinance arranged upside down. Because the script is arranged upside down, the rate-pretentious, so the sense is misleading. The monks, this is the first Dharma to bring chaos and disappeared. 
Again, bhikkhus, for the hearing-lot, understand the A-jhana, the Dharma, the law, the weak. They do not talk carefully to others. When they are together, the business is cut off at the root, there is no place to stay. O bhikkhus, this is the third dharma to bring the Dharma to chaos and disappear . "
(quoting the Sutra)
2.  Past Buddha because beings  ME  should declare the means to  LAGOON MORTGAGE  beings, so  spontaneous so MORTGAGE BUSINESS OFFICE CONSULT  capital means only return paths that led Tam. The Way of the Buddha is still the same, the principle of Suffering - No - Impermanent - The selflessness that nourishes the mind from the Bi - Hy - Hyde, strict about - Dinh - Huệ, the Eightfold Path and Luc Do to save. Tham - Si - Decay - Dharma is the new spiritual desire to achieve liberation, regardless of any cult.
"Dharma Buddha let go, the case of Phi 
Pham Ung no-hub child born mind"

If the antics Literary News fall into the Enlightenment and Enlightenment which is the greatest obstacle for the practice, how can progress to enlightenment?
The Buddha taught: " VAN - TU - TU ; Hose believe my words IF NOT USED WITH WISDOM WATCH FOR CONSIDERATION SUY moral or spiritual ; HEALTHY LIFE  (The Unmanageable Medicine, The Unmanageable Medicine, The Unmanageable Medicine ,) Expressing the spirit of the superior direction of the real world without strangulation, attachment to the general; to help the practitioner clear the law of evil - evil, disguise - puppet; Avoid the wrong path. When there is no Dharma in the world, beings who have ignorance ignorance, greed and ignorance, how do they receive the Dharma that the Buddha taught after the Dao?The Buddha said that he was a complete enlightenment, will be released from suffering birth and death, then people rely on where to believe? ... Typically as in ancient times, Mao Kien Lien and Sapu Phat each bragging Brahman San-Xà-Da is famous as a teacher, after learning that he is not enough to meet his intellectual and intellectual ability, so he decided to set up his own school, the practice of disciples. It was not until the relics of Phat enjoy the goodness of meeting a bhikkhu, one of the first five disciples of the Buddha, Listening to the Buddha's Detachment, he immediately opened the light, telling the story. The listener joyfully touched the shoreless, unconscious tears that led to 200 of them to Truc Lam refuge Buddha-momentum. Is it thanks to the grace of mind, attitude and the spirit of socialism - the direction of seeking the truth of the ancients is the decisive factor in their acceptance of "hear" the Buddha Dharma theory (how?VAN ), then thoroughly test ( TU ) then believe in practice ( TU ) without hasty rush to deny, anti-left ?! And most importantly, in that practice, the new Buddhist practitioners experience and receive the Dharma, the new growth of deep faith in the Dharma. Such faith is the CHINESE, EXCEPTIONAL FROM THE TRUTH OF CHOAT TRUTH So very consistent, nothing can be moved. On the contrary, if the body is still greedy - passion - si, passionate five education, humiliation blinded, karma dominates the understanding, the knowledge, the knowledge of ordinary people are very limited, false; Because of the "fall in love" many times so often self-complacent clinging only the right - wrong people, argue lao koao, arguing forever not to end up laboring mind center, love the Tanh, what is the benefit? Instead, go  straight to the heart of the Dharma practice in France.  GOD - DEFINITELY  , until the time the  TRUE HISTORY is open, the new "as the market", the new Dharma manifested  .  in the text. As the  Sixth Patriarch Huong I do not know the Kinh, but the Tanh, who asked the Kinh (text) He did not know because he had never seen, but asked "Diệu lý" in which he was clear, French teachers that only teach. That is due to the precepts - Hue - Mind full circle should be aware of nature, mind so that the French sovereign communication. The Buddhist circuit was handed down thousands of years thanks to the testimony of the German monk Degrees so dignified, which must study only a few sets of Kinh, statistical history ... then doubt the theory has destroyed, To create a coma. For example, there are people who have never had the Buddha's time to listen to the Buddha's teachings directly, or have never seen the original texts (called "original" but no-copies) or even seen them. Ability to read due to language proficiency, or have the ability to read but not yet / have enough Wisdom to understand all the magic in the Buddha's teaching, if they have the ability to identify false ... in the scriptures or not? Moreover, if there is enough clarity and clarity, it is advisable to raise the issue which is not simple but hidden potential division, obstacle left, market ... this before the public or not? So the Tao advised that TU BUDDHA BUDDHA , study is so! No coincidence Patriarch Bodhidharma taught: Without practicing meditation, piety, truth be not discussed Dharma, because it is  that said (the mind maze say) fall into  whose  karma damnation that's not good Therefore, self-sense - self-reliant power that the force in French fraternity grace, until the TRUE HUSKIN  opening, then that is the true  MIND PRIVATE  MIND, the French source of wisdom. At that time, with problems that I suspect, not to be left or left, he will "self" clear the source. That is "self, self-consciousness" true!
3.  Essence of the Buddha Dharma is the  Four Noble Truths, 12 The causal factors, the Noble Eightfold Path, Luc Do; Suffering - No - Impermanence - Selflessness; is about - Dinh - Hue .

The Buddha had a dream that: " ALL THEIR BUDDHA BUDDHA! TA IS THE BUDDHISM, THE BUDDHISM IS BUDDHA! Do not understand the Buddhist religion that the crazy insatiable Tao Island, Buddhist India, French France, contempt Patriarch? Remember, the Buddha's teachings to promote the truth, direct the feet of the mind to help beings know the nature of their Buddha, which must be unique Buddhist? THE PRESIDENT OF THE PRESIDENT (Bodhidharma, Hui Neng ...), THE BEGINNERS HAVE BEEN BUDDHIST BUDDHISM, THE BUDDHISM OF THE BUDDHA, THE BUDDHA BUDDHA, should not be worth the post-school we follow the practice? Those who advocate the Mahayana should follow the example of the ancient Buddha in the world as mentioned above to receive the Dharma in accordance with the spiritual direction of the Buddha. Where the higher the higher the moral, the virtue of high spiritual practice that uses the mind of the mind - Hạnh Imagination of countless minds, even using impure words that postures, despiseMindfulness like what other wrong views of his own nature and want all beings, contempt Buddhas 10 to 3 CHANGE, reject the Buddha's teachings. The Patriarchate - Noble beings have no idea what the mind in mind, not self - the lawless but depending on the coast of education disclosed; with the mind differentiated, small, contempt, chain or vice verse praise, praise, reverence ... of the ordinary life is just dust in the eyes of the monk, what for them? However, please remember: ANYONE - THE BOTTLES  do not despise suffering later. If there are suspicions in France, then you should know that the tri-knowledge that if you do not like it, then best to practice yourself in France, do not fall off the words to create a career. Master of virtue will promote the practice of self-alms, self-centered care, selflessness, the mind of all beings, the mind of all beings by the Buddha, do not dare to criticize the post-school what is the old German money human, parent, the Bodhisattva. In order to step up the Buddhist religion, squarely round the direction of the virtue of public speech of the ordinary people must have and maintain, in what circumstances bear the name of Buddhist. Let the body - the mouth - the idea!
4.  In addition to the  TRANSLATION  and  FREEDOM  about the Buddha's teachings in more than 400 years after the Buddha's extinction as mentioned above:
- The influence of culture, indigenous customs of the region where Buddhism spread;
Language barrier of the translator when translating;
- Knowledge, limited knowledge of the increase in the literature commentary;Sometimes they understand misunderstandings, again add false opinions spreading the mind of the Buddha taught, contradictory to the core of the Dharma (especially when they do not have the meditation to the Dharma)
This has led to the situation of three-  star failure, the difference is  difficult to avoid in today's Tripitaka.

In addition, the recollection of a part of monks and nuns who are self-reliant, violated Gender, fake practice, borrowed the Tao of life also contributed not to alienate the image of Buddhism in the eyes of many. The paradox of the paradox such as praying, praying, wedding at the temple, worshiping the term expired, chanting, abuse of the Dharma or the increase of ghosts, pagan monasticism ..., Dao has written articles. Confidence helps repentance, self-quit, except; Even if ignorance is to ignore the island to the Buddha Dharma, return the purity of the sanctuary of the Buddha door and trust many people. However, the above-mentioned law is due to evil monks who devoted their lives to borrowing the brown robes of the Buddha statue to do the evil deeds, the righteous Dharma should be "the true lion's death" but not related to the Kinh Mahayana, How old and how ancient Germans As the Buddha taught over 2500 years, but beings are still confused in birth and death, not the fault of the Buddha.The conclusion is that all are false because of the Dharma and other variations in the text that ignore all the value of enlightenment - liberation for the many beings of the patriarch is the extremist mind negative feedback chain, ignore ignore. There is a sentence:
Yijing interpretation of the three, the Buddha's oan, 
Ly Kinh most self, ie the Ma theory!

The Sixth Patriarch Hui Neng has also taught: " WHAT HAPPENED, WHAT WAS THE WORD OF PEOPLE. ONLY THE MINISTRY OF THE PEOPLE, THEIR CONSUMPTION BY IT. MENTIONAL CONCEPTS IS A TRANSFORMED, CONCENTRATED BODY CONCENTRATIONTherefore, when the view of the Sutras, the key issue is the need to direct the practice of the new real wisdom is hidden magic, as soon as the idea of ​​forgetting the harness for the benefit of practice, Do not let the birth of business disputes are not competitive market, negativity, obstacles. Even as the scholarly spirit of the world, true scientists and intellectuals always think, "I do not know, even a little, in the sky of endless knowledge"; When reading books, we still have to practice according to the ancient principles: "Faith no matter the letter" (reading books that believe in the book is not read or not), then what the Buddha told the Buddha. Even the words of the Lord Buddha said that he also taught us not to believe, Venerable Tu Tu new enlightenment is the Buddha, let alone "read only" on the piece of paper, whether it is. Text? To do so, although holding the Book of Theravada or Mahayana, but with the same nature in the hand, but with the spirit of mindless obedience to such a direction, we can still filter the essence of the Dharma that steps progress On the contrary, even if the Buddha directly teach the advice but the mind, the wrong view, island paradox, left over, practice the real life is born drifting away forever!
5.  Broader, I think it is necessary for the Buddha to clean the scriptures, to eliminate the variations of the additional, the overlapping, ambiguous ambiguity ... that condensed, distilled core. Truth; After spreading the Chan - Dharma to all people to all benefit, staying in the Dhammapada Tathagata on the path of enlightenment. 

*** SUMMARY 
The name is just pretense, scripture is only the means of spiritual practice. Due to the need to borrow words expressing the mind, which must stimulate the division of the market to lose under the habit of pollution. Leaf branches are all from one root.Please do not let the Buddha's body bleed.
The magic of the Buddha does not involve the text. Practitioners Buddhist monks please read the scriptures with clear mind, pure, no war that Venerable - Tu should not be confident in anything, also do not argue, market losers that labor heart virtue.With France, you have to try your best to practice in the daily life that nurtures the mind, strengthening the deep faith in the Dharma. With what I have not understood, not understand or feel left, let temporarily that the contemplation, study but not because of love Tanh, neglect the tu. Absolutely not to suspicion, Self-attachment - Defying false development into unbelief in the Three Jewels. Remember, clinging (collapse, legal) is the greatest obstacle to spiritual practice, need to be excluded.Buddhism immeasurable miracle, Deal with the mechanics of the countless beings.Although ordinary people are lucky to bring his body to life after death, they also can not receive the Buddha's teachings of the Buddha; If not direct about the solemnity of Germany, Meditation practice the truth until Trí Vo Dao open, how can the source of understanding, through all the French! Understanding the mundane reality is so small in the vast universe, grasping the leaves of the Buddha on the palm of the Buddha that we have not yet known. Only wish all Buddhists book each other in the spirit of Hyun, to lead each other in front of the Buddha's unity, not to let go of the impatient, to argue over lost, the French despise the suffering sorrow long after life.If not direct about the solemnity of Germany, Meditation practice the truth until Trí Vo Dao open, how can the source of understanding, through all the French!Understanding the mundane reality is so small in the vast universe, grasping the leaves of the Buddha on the palm of the Buddha that we have not yet known. Only wish all Buddhists book each other in the spirit of Hyun, to lead each other in front of the Buddha's unity, not to let go of the impatient, to argue over lost, the French despise the suffering sorrow long after life. If not direct about the solemnity of Germany, Meditation practice the truth until Trí Vo Dao open, how can the source of understanding, through all the French! Understanding the mundane reality is so small in the vast universe, grasping the leaves of the Buddha on the palm of the Buddha that we have not yet known. Only wish all Buddhists book each other in the spirit of Hyun, to lead each other in front of the Buddha's unity, not to let go of the impatient, to argue over lost, the French despise the suffering sorrow long after life.
Position of business beings do not share the same French life as the grace that is different. Dao by the mind. The monk with the impermanent birth and death will not pretend before you will cherish the Buddha Dharma extremely, quietly practice, respect all beings. Also see the Dharma as an academic world, using humiliation label - My research that study, treat, do not practice the truth, only addiction - falling dead quality only, birth and death forever. A child can be classified as the classics, but those who live to the first silver is not sure to practice to abandon greed-tham.END=NAM MO SAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.30/3/2018.

Tinh thần người tu Phật chơn chánh trước sự phân chia hệ phái Phật giáo.



Có ý kiến cho rằng chỉ có hệ Kinh Nguyên Thủy là do Phật thuyết nên được xem là Chánh Pháp, còn lại tất cả Kinh đều là ngụy tạo do các “Tổ Đại Thừa, Tổ Tàu” sáng chế bằng cách pha tạp triết lý của ngoại đạo. Vì vậy, những ai hành trì pháp theo Kinh Nguyên Thủy thì được xem là đệ tử Phật, ngược lại đều là ngoại đạo. Trong đó, điển hình nhất là bác bỏ pháp môn Niệm Phật A Di Đà, Pháp Tham Tổ Sư Thiền, Mật tông, toàn bộ Kinh Điển Đại Thừa (Lăng Nghiêm, Bát Nhã, Duy Ma Cật, Pháp Hoa…), chư Bồ Tát (Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Địa Tạng Vương…) cùng với sự truyền thừa tâm ấn và y bát của bao đời chư Tổ Ấn – Hoa.
Trước nhiều quan điểm và kiến giải trái chiều trên, người tu Phật phải làm thế nào, tu hành ra sao nhằm giữ gìn Huệ Mạng đời đời nơi Tam Bảo tôn quý? Trước khi đi sâu vào vấn đề, chúng ta hãy cùng lược qua những lần kết tập Kinh Điển sau khi Phật diệt độ và sự xuất hiện Kinh Điển Đại Thừa.

– ĐẠI HỘI KẾT TẬP LẦN THỨ 1: được triệu tập khoảng 3 tháng sau Phật diệt độ (năm 544 trước TL), tại động Satiapanni nằm bên ngoài Vương Xá, do Vua A-Xà-Thế (Ajaratthu) bảo trợ. Vì sợ rằng Pháp và Luật có thể bị hiểu sai lạc và không tồn tại nguyên vẹn nên Trưởng lão Đại-Ca-Diếp (Mahakassapa) chủ trì 499 vị A-la-hán, trong đó Tôn giả U-pa-li (Upãli) phụ trách về Giới Luật (Vinaya), Tôn giả A-Nan (Ananda) phụ trách về Giáo lý (Dhamma). Phương thức kết tập là sự thẩm vấn về Giới và Pháp, được 2 vị Tôn giả trả lời, sau đó nếu nhận được sự đồng thuận của Tăng đoàn hiện diện thì chính thức được chấp thuận. Chư Tăng đã mất 7 tháng để TỤNG ĐỌC toàn bộ Pháp và Luật cho kỳ kết tập đầu tiên này.
– ĐẠI HỘI KẾT TẬP LẦN THỨ 2: được tổ chức khoảng 100 năm sau Phật diệt độ (năm 444 trước TL) để giải quyết một tranh cãi nghiêm trọng về sự phạm Giới của tu sĩ và sự bất đồng về yêu cầu thay đổi 10 điều Giới luật. Các điều này tuy không phải là những thay đổi lớn lao nhưng đủ để gây ra sự tách biệt Tăng đoàn thành Đại Chúng bộ (Mahàsamghika) mà đa số là các Tỳ-kheo trẻ muốn thay đổi, số còn lại bảo thủ các Giới luật nguyên thuỷ hình thành Thượng Tọa bộ (Theravada). Vua Kalasoka (cháu của vua A-Xà-Thế) là người bảo trợ cho kỳ kết tập lần này, được tổ chức ở Vesali. Có 700 vị Tăng cùng tham gia, trong đó Tôn giả Da-Xá (Yasa) làm chủ trì. 
– ĐẠI HỘI KẾT TẬP LẦN THỨ 3:  được tổ chức khoảng 218 năm sau Phật diệt độ (năm 326 trước TL) gồm 1.000 vị Tăng tham dự do Trưởng lão Mục-Kiền-Liên-Tử-Đế-Tu (Moggaliputta – Tissa) chủ trì dưới sự bảo trợ của Hoàng đế A-Dục (Asoka) ở tại Viên Lâm (Uyỳana), thành Hoa Thị (Pataliputta) nhằm tẩn xuất những tu sĩ suy thoái và giả dối, những quan điểm dị giáo. Luận tạng (Abhidhamma Piṭaka) cũng được đề cập tới trong Đại hội này. Sau khi kết thúc, con trai đã xuất gia của vua A-Dục là Đại đức Ma-hi-đà (Mahinda) đem Tam Tạng Kinh truyền bá sang Tích Lan (Sri Lanka ngày nay). Đây là giai đoạn đánh dấu sự phát triển của Phật giáo ra ngoài lãnh thổ Ấn Độ. Điều đáng lưu ý là có giả thuyết cho rằng trong lần kết tập kỳ này, Tam Tạng bắt đầu được ghi chép bằng văn tự Pàli. Tuy nhiên, giả thuyết này chưa được đa số các nhà Phật học chấp nhận.
– ĐẠI HỘI KẾT TẬP LẦN THỨ 4: có khá nhiều giả thuyết khác nhau, các tư liệu ghi lại không đồng nhất:
  • Thuyết thứ 1: diễn ra vào khoảng 313 năm sau Phật diệt độ (năm 232 trước TL), do vua Devànampiyatissa nước Tích Lan bảo trợ. Chư Tăng tham dự đại hội gồm có 68.000 vị, trong đó Ngài Ma-hi-đà (Mahinda) làm chủ tọa. Điểm kết tập là ngôi chùa tháp Thùpàrama ở thủ đô Anuradhapura.
  • Thuyết thứ 2 (theo truyền thống của Đại Chúng Bộ): diễn ra vào khoảng 400 năm sau Phật diệt độ (năm 144 trước TL), do vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishka) nước Kiền Đà La (Gandhàra) khởi xướng. Có tất cả 500 vị Tỳ Kheo tham gia kết tập, trong đó Tôn giả Thế Hữu (Vasumitra) làm chủ tọa với sự trợ thủ của Hiếp Tôn Giả (Parsva). Sau khi hoàn thành, vua sai thợ khắc Tam Tạng Kinh Điển trên lá đồng rồi bảo quản tại một nơi cố định, không cho mang ra ngoài.
Song song với niên đại kỳ kết tập của Đại Chúng Bộ (khoảng năm 144 trước TL) thì tại thôn Mã Đặc Lê, phía Đông A Lư Ca, nước Tích Lan, vua Ba Tha Già Mã Ni (Vattagamani) cũng khởi xướng bảo trợ kết tập. Có 500 vị Tỳ Kheo tham gia, trong đó Tôn giả Maharakkhita làm chủ tọa. Tam Tạng Kinh Điển được tụng đọc lại rồi dịch sang tiếng Pàli, sau đó viết trên một loại giấy bằng lá bối-đa khô, chú giải bằng văn Tăng Già La (Tích Lan). Từ đó, Tam Tạng Pàli được thành hình. Các học giả đều công nhận đây là lần kết tập thứ 4 của Phật giáo Thượng Tọa Bộ tại Tích Lan.
– ĐẠI HỘI KẾT TẬP LẦN THỨ 5 (năm 1871) VÀ 6 (năm 1954): do Miến Điện tổ chức nhằm xem xét kỹ lưỡng có điều nào trong lời Phật dạy bị thay đổi, xuyên tạc hay đánh mất không. Sau đó, Tam Tạng Kinh đã được in bằng kỹ thuật in hiện đại và được xuất bản bằng chữ Miến.
– SỰ XUẤT HIỆN CỦA KINH ĐIỂN ĐẠI THỪA: bắt đầu khoảng từ giữa thế kỷ thứ 1 trước TL tới thế kỷ thứ 1 TL, hai danh từ Đại Thừa (Mahāyanā) và Tiểu Thừa (Hynāyanā) xuất hiện trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Khoảng thế kỷ thứ 2 TL, Đại-thừa trở nên xác định rõ ràng khi Luận sư Long Thọ phát triển thuyết học Tánh không và chứng minh tất cả mọi sự vật là Không tánh theo bổn luận gọi là Trung Quán Luận. Khoảng thế kỷ thứ 4 TL, có hai luận sư Vô Trước và Thế Thân đã viết rất nhiều bộ Luận về Đại-thừa. Từ đó, Kinh Luận Đại Thừa được dịch và phổ biến cho đến ngày nay. Điểm cần lưu ý là chúng ta không nên nhầm lẫn Tiểu Thừa với Thượng-tọa-bộ!
* Với những tóm lược trên, có những điểm cần bàn như sau:
1. Trong 3 lần kết tập đầu tiên, Giáo lý nhà Phật chỉ được ĐỌC TỤNG BẰNG TRÍ NHỚ và TRUYỀN MIỆNG từ người này sang người khác, từ thế hệ trước sang thế hệ sau trong Tăng đoàn. Phương thức KHẨU TRUYỀN này kéo dài từ khi Phật diệt độ cho đến Đại hội kết tập lần 4, hoặc sớm nhất là Đại hội kết tập lần 3, thì Tam Tạng Kinh Điển mới có thể được viết lưu bằng văn tự. Hơn 400 năm với bao biến động, lại không có hệ thống ghi chép chặt chẽ, Kinh văn do từ các cá nhân NHỚ, HIỂU và ĐỌC TỤNG LẠI trong ngần ấy thời gian qua nhiều thế hệ chắc chắn nảy sinh các DỊ BIỆT (do nhớ hiểu sai lầm hay tự thêm thắt) và thậm chí là bị THẤT TRUYỀN (do thiếu sót hay quên) như một điều tất yếu. Điển hình là sự phân chia bộ phái đã manh nha hình thành kể từ lần kết tập thứ 2, chỉ khoảng 100 năm sau khi Phật diệt độ, và sau đó đã cho thấy sự phân hóa về kiến giải và phương cách tu học khác nhau trong đội ngũ Tăng đoàn. KHÔNG MỘT AI TRONG CHÚNG TA CÓ MẶT VÀO THỜI PHẬT, LẠI KHÔNG GIẤY MỰC NÀO GHI CHÉP LỜI PHẬT DẠY KHI NGÀI CÒN TẠI THẾ, giờ hàng hậu học chúng ta hơn 2500 năm sau lại quá chủ quan với tư kiến trí cạn của mình, khẳng định Kinh này do Phật thuyết, Kinh kia không phải, rồi báng Pháp khinh Tổ với bao bậc cổ Đức tiền nhân, bài xích Tông môn, thật là tội lỗi! Nghi phải nghi đến tận cùng, truy phải truy đến nguồn cội, chỉ có LỜI PHẬT DẠY KHI NGÀI CÒN TẠI THẾ MỚI LÀ KINH DO PHẬT THUYẾT mà thôi. Không có khái niệm gọi là: Kinh Nguyên Thủy, Đại Thừa hay Tiểu Thừa… trong LỜI PHẬT DẠY. Và để sáng tỏ vấn đề, trích dẫn đoạn sau trong “Kinh Tăng Chi Bộ” đã nói lên tình trạngTAM SAO – THẤT BẢN xảy ra như một điều tất yếu:

Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo học thuộc lòng kinh, được lãnh thọ sai lầm, với văn cú sắp đặt bị đảo lộn. Do văn cú bị sắp đặt đảo lộn, này các Tỷ-kheo, nên nghĩa lý bị hướng dẫn sai lạc. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ nhất đưa đến Diệu pháp hỗn loạn và biến mất. 
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các Tỷ-kheo nghe nhiều, thông hiểu các tập A-hàm, bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Các vị ấy không nói lại kinh cho người khác một cách cẩn thận. Khi họ mệnh chung, kinh bị cắt đứt tại gốc rễ, không có chỗ y cứ. Này các Tỷ-kheo, đây là pháp thứ ba đưa đến Diệu pháp hỗn loạn và biến mất.”
(trích Kinh Tăng Chi Bộ)
2. Xưa, Đức Phật vì chúng sanh  nên khai phương tiện để PHÁ CHẤP cho chúng sanh, do đó TU PHẬT CHỚ NÊN KIẾN CHẤP KINH VĂN vốn chỉ là phương tiện dẫn lối trở về nẻo Tâm. Đường lối tu Phật xưa nay vẫn thế, thấu lý Khổ – Không – Vô thường – Vô ngã mà trưởng dưỡng tâm Từ – Bi – Hỷ – Xả, nghiêm trì Giới – Định – Huệ, hành Bát Chánh Đạo và Lục Độ nhằm đốn bỏ Tham – Sân – Si – Chấp Ngã – Chấp Pháp thì sự tu hành mới mong thành tựu giải thoát, cho dù tu theo hệ phái nào đi nữa.
“Pháp Phật buông bỏ, hà huống Phi Pháp
Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”

Nếu kiến chấp Kinh văn tức rơi vào Chấp Pháp và Chấp Ngã vốn là chướng ngại lớn nhất cho sự tu hành, làm sao có thể tiến tu giác ngộ?
Đức Phật đã từng dạy: “VĂN – TƯ – TUCHỚ VỘI TIN LỜI TA NẾU KHÔNG DÙNG TRÍ HUỆ XÉT SUY XEM CÓ HỢP VỚI ĐẠO LÝ HAY KHÔNG; TỨ Y PHÁP (Y Pháp bất y Nhân, Y nghĩa bất y ngữ, Y trí bất y thức, Y liễu nghĩa kinh bất y bất liễu nghĩa kinh)” thể hiện tinh thần hướng thượng cầu thị chơn lý mà không câu nệ, chấp trước vào sự tướng; giúp hành giả tỏ tường Pháp chánh – tà, hư – ngụy; tránh tu lầm đường lạc lối. Khi chưa có Phật Pháp tại thế gian, chúng sanh vốn đã vô minh tăm tối, tham sân si sai sử thì làm sao họ tiếp nhận Giáo Pháp mà Phật thuyết sau khi thành Đạo? Phật nói Ngài là người đã giác ngộ hoàn toàn, liễu thoát khổ sanh tử luân hồi thì người thời ấy dựa vào đâu để tin?… Điển hình như xưa, Đức Mục Kiền Liên và Xá Lợi Phất từng bái vị Bà-la-môn trứ danh San-Xà-Dạ làm thầy, sau cảm thấy học vấn thầy không đủ đáp ứng cho sức tìm hiểu và trí tuệ của mình nên đành cáo biệt mà tự thành lập học đoàn riêng, chiêu tập đồ đệ. Mãi cho đến khi Xá Lợi Phất duyên lành gặp vị Tỳ Kheo A Thị Thuyết, một trong năm vị đệ tử đầu tiên của Phật, được nghe Pháp Duyên Khởi của Ngài liền tâm khai huệ sáng, về kể cho Mục Kiền Liên nghe. Người kể người nghe hoan hỷ xúc động vô bờ, bất giác rơi lệ liền quyết dẫn 200 đồ chúng đồng đến Trúc Lâm tinh xá quy y Phật-đà. Phải chăng đó chính là nhờ căn duyên túc trí, thái độ và tinh thần xã kỷ – hướng thượng tìm cầu chơn lý của người xưa mới là nhân tố quyết định việc họ tiếp nhận “nghe” Chánh Pháp Phật thuyết như thế nào (VĂN), từ đó suy nghiệm kỹ càng () rồi mới tin theo hành trì (TU) mà không ngã mạn vội vàng phủ nhận, chống trái?! Và quan trọng nhất là nơi sự tu hành đó, hành giả tu Phật mới trải nghiệm và lãnh hội được Pháp vị, mới trưởng dưỡng được niềm tin sâu sắc nơi Phật Pháp. Đức tin như thế mới là CHÁNH TÍN, XUẤT PHÁT TỪ SỰ TU HÀNH CHƠN THẬT nên rất kiên định, không gì lay chuyển được. Ngược lại, nếu thân tâm còn tham – sân – si, đắm say ngũ dục, nhục nhãn mê mờ, nghiệp lực chi phối thì cái hiểu, cái biết, cái tri kiến của phàm phu thường rất hạn hữu, sai lệch; lại do “ngã mê” nhiều đời nên thường tự mãn chấp thủ chỉ mình đúng – người sai, hý luận lao xao, tranh biện mãi hoài chẳng dứt làm lao nhọc thân tâm, mê sự bỏ Tánh, nào có ích lợi chi?! Thay vào đó hãy trực tâm tu hành miên mật nơi Pháp mình hợp duyên, GIỚI – ĐỊNH nghiêm trì, đến thời TRÍ HUỆ VÔ SƯ khai mở thì cái thấy mới “như thị”, mới trạch Pháp tỏ tường DIỆU LÝ CHƯ PHẬT TRAO TRUYỀN trong Kinh văn. Như Lục Tổ Huệ Năng vốn chẳng biết chữ biết Kinh nhưng ngộ Tánh, ai hỏi Kinh gì (văn tự) Ngài đều không biết vì chưa từng xem qua, nhưng hỏi “Diệu lý” trong đó thì Ngài đều thông suốt, trạch Pháp mà giáo hóa chỉ bày. Đó là nhờ Giới – Định – Huệ – Tâm Hạnh tròn đầy nên kiến tánh, tâm thông nên liễu Pháp thuyết thông vậy. Mạng mạch Phật Pháp được lưu truyền ngàn đời nhờ thân chứng của những bậc chơn tu Giới Đức trang nghiêm như thế, nào phải chỉ nghiên cứu vài ba bộ Kinh, thống kê Kinh sử… rồi nghi mạn hý luận đã phá, báng Kinh diệt Tổ, tạo nghiệp bồi mê. Ví như có người chưa từng sinh thời Phật để trực tiếp nghe Ngài thuyết Pháp, hoặc chưa từng nhìn thấy bản gốc của Kinh văn (gọi là “gốc” nhưng đã tam sao – thất bản), hoặc thậm chí có nhìn thấy cũng không có khả năng đọc do đòi hỏi sự uyên thâm về ngôn ngữ, hoặc có khả năng đọc nhưng chưa có/đủ Trí Huệ để hiểu hết diệu lý trong Kinh mà Phật trao truyền, thì liệu họ có đủ khả năng phân định thật giả… trong Kinh điển hay chăng? Hơn nữa, nếu thật sự có đủ sự sáng suốt minh tâm, thiết nghĩ có nên nêu vấn đề vốn không hề đơn giản nhưng lại tiềm ẩn sự chia rẽ, phân tranh chướng trái, thị phi… này ra trước công luận hay chăng? Cho nên Đạo Tràng từng khuyên rằng TU PHẬT CHỨ ĐỪNG HỌC PHẬT, nghiên cứu suông là vậy! Không phải ngẫu nhiên Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma dạy rằng: Nếu không có công tu Thiền Định, đạo hạnh chơn thật thì chớ luận bàn Phật Pháp, vì đó là MA NÓI (tâm mê nói) rơi vào MA SỰ tạo nghiệp trầm luân mà chẳng hay. Do đó, hãy tự giác – tự lực – tự cường mà nhẫn lực tu hành nơi Pháp mình hữu duyên, đến khi TRÍ HUỆ VÔ SƯ khai mở thì đó mới là BẬC MINH SƯ chơn thật thông suốt, liễu trạch vạn Pháp nguồn Tâm. Lúc ấy, với những vấn đề mình nghi hoặc, chưa thấu hay chướng trái, hành giả ắt sẽ “tự” tỏ rõ ngọn nguồn. Đó chính là “tự độ, tự giác” chơn thật vậy!
3. Cốt tủy Phật Pháp là Tứ Diệu Đế, 12 Nhân Duyên, Bát Chánh Đạo, Lục Độ; là Khổ – Không – Vô thường – Vô ngã; là Giới – Định – Huệ.

Đức Phật đã từng thọ ký rằng: “TẤT CẢ CHÚNG SANH ĐỀU CÓ PHẬT TÁNH! TA LÀ PHẬT ĐÃ THÀNH, CHÚNG SANH LÀ PHẬT SẼ THÀNH!”. Người tu Phật sao chẳng rõ LÝ TÁNH mà chấp mê điên đảo Tổ Tàu, Phật Ấn, báng Pháp, khinh Tổ Sư? Nên nhớ, lời Phật dạy xiển dương chơn lý, trực chỉ chơn tâm giúp chúng sanh kiến ngộ Tự Tánh Phật của mình, nào phải Phật vị độc tôn vô nhị? LỜI DẠY CỦA CHƯ TỔ (Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Năng…), NHỮNG BẬC ĐÃ KIẾN TÁNH VÔ SANH, ĐỀU KHẾ LÝ HIỆP CHƠN, KẾ THỪA PHẬT Ý, không lẽ chẳng đáng để hàng hậu học chúng ta theo đó tu hành? Những ai báng Pháp Đại Thừa hãy noi theo gương người xưa thời Phật còn tại thế như đã nói ở trên mà tiếp nhận Pháp sao cho đúng với tinh thần hướng thượng của người tu Phật. Căn trí phàm phu thượng thừa đến đâu, đạo hạnh tu hành cao thâm độ nào mà dùng ý phàm đo lường Tâm – Hạnh vô lượng bất khả tư nghì của Bậc kiến tánh, thậm chí còn dùng những ngôn từ bất tịnh mà bài xích, miệt khinh? Tâm niệm như thế khác gì tà kiến phủ nhận tánh Phật của chính mình và muôn vạn chúng sanh, khinh mạn Chư Phật 10 phương 3 ĐỜI, bài bác lời Phật dạy. Chư Tổ – Bậc đã kiến tánh vô sanh thì chẳng còn chấp niệm nào trong tâm, vô ngã – vô pháp mà tùy duyên giáo hóa khai thị; với những tâm thái phân biệt, nhỏ nhen, khinh chê, bài xích hay ngược lại ca ngợi, tán thán, tôn kính… của phàm phu cũng chỉ là bụi trong mắt bậc chơn tu, huống gì đối với các Ngài; tuy nhiên xin nhớ: NHÂN NÀO – QUẢ NẤY mà đừng chuốc lấy khổ đọa về sau. Nếu có nghi hoặc nơi Pháp thì hãy tầm Thiện-tri-thức mà tham học, nếu vẫn chưa ưng thì tốt nhất hãy tự thân hành trì nơi Pháp mình hữu duyên, chớ phóng ngã buông lời tạo nghiệp. Bậc trí đức sẽ huân tu Thiện-hạnh, tu tâm dưỡng tánh, vô ngã vô cầu, tâm hằng kính quý tất cả chúng sanh bởi đồng có tánh Phật, chẳng dám khinh chê hàng hậu học huống gì là với các bậc Cổ Đức tiền nhân, chư Tổ, chư Bồ Tát. Muốn bước lên Phật đạo, trước hãy vuông tròn Nhơn đạo thì phẩm hạnh công ngôn của người bình thường tối thiểu phải có và giữ gìn, huống gì mang danh là Phật tử. Hãy tịnh thân – khẩu – ý!
4. Ngoài những DỊ BIỆT và THẤT TRUYỀN về lời Phật dạy trong hơn 400 năm sau khi Phật diệt độ như đã nói ở trên thì:
– Sự ảnh hưởng của văn hóa, phong tục bản địa vùng miền nơi Phật đạo lan tỏa;
–  Rào cản về ngôn ngữ của dịch giả khi phiên dịch;
– Tri kiến, sở ngộ giới hạn của phàm Tăng khi luận giải Kinh văn; đôi khi hiểu cạn, lại thêm thắt tư kiến lan man làm sai lệch Chánh ý Phật trao truyền, mâu thuẫn bất nhất với cốt tủy Phật Pháp (nhất là khi họ không có công tu Thiền Định để trạch Pháp)
đã dẫn đến tình trạng tam sao thất bản, dị biệt khó tránh trong Tam Tạng Kinh Điển ngày nay.

Ngoài ra, thoái tâm của một bộ phận Tăng sĩ hành đạo sanh tư lợi dưỡng, phạm Giới, giả tu, mượn Đạo tạo Đời cũng góp phần không nhỏ làm tha hóa hình ảnh Đạo Phật trong mắt bao người. Nhiễu cảnh mê sự nghịch lý như cúng bái, cầu xin, cưới hỏi tại chùa, cúng sao giải hạn, tụng đám, lạm dụng Phật Pháp hay nạn ma tăng, giả tu hoành hành…, Đạo Tràng đã có những bài viết lên tiếng cảnh tỉnh giúp sám hối, tự tứ, đoạn trừ; thậm chí phải thanh trừng nếu vẫn chấp mê điên đảo nhằm Hộ Trì Phật Pháp, trả lại sự thanh tịnh tôn nghiêm nơi cửa Phật và tín tâm bao người. Tuy nhiên, Pháp nạn trên là do những tu sĩ tà tâm – tà hạnh mượn áo nâu sòng núp bóng Phật môn làm điều tà ngụy, trái Chánh Pháp nên “sư tử trùng thực sư tử nhục” chứ nào có liên quan gì đến Kinh Đại Thừa, chư Tổ và bao bậc Cổ Đức chơn tu? Như lời Phật dạy đã trên 2500 năm nay nhưng chúng sanh vẫn mê mờ trong sanh tử, không lẽ lỗi ấy do Phật? Quy kết đánh đồng tất cả là hư ngụy vì Pháp nạn và những dị bản thêm thắt trong Kinh luận mà bài bác đi tất cả chơn giá trị giác ngộ – giải thoát vì chúng sinh bao đời của chư Tổ là tâm thái cực đoan, tà kiến bài xích tiêu cực, chấp mê nên tránh. Có câu:
Y Kinh giải nghĩa, Tam thế Phật oan,
Ly Kinh nhất tự, tức đồng Ma thuyết!

Đức Lục Tổ Huệ Năng cũng đã từng dạy: “KINH CÓ LỖI GÌ, ĐÂU LÀM CHƯỚNG NIỆM CỦA NGƯỜI. CHỈ VÌ MÊ NGỘ TẠI NGƯỜI, TỔN ÍCH DO MÌNH MÀ THÔI. MIỆNG NIỆM TÂM HÀNH TỨC LÀ CHUYỂN ĐƯỢC KINH, MIỆNG NIỆM TÂM CHẲNG HÀNH TỨC BỊ KINH CHUYỂN”. Cho nên, hành giả khi xem Kinh thì vấn đề trọng yếu là cần phải trực tâm tu hành chơn thật mới có Trí huệ ngộ được diệu nghĩa ẩn tàng, ngay khi liễu ý thì hãy quên lời đốn chấp nhằm lợi lạc tu hành, chớ đừng để Kinh chuyển sanh kiến chấp gây tranh biện thị phi, phiền não, chướng ngại. Ngay như tinh thần học thuật của thế gian, những nhà khoa học, trí thức đích thực luôn nghĩ rằng: “Mình thật chẳng hề biết gì, dù chỉ một chút, trong bầu trời tri thức vô tận”; hoặc khi đọc sách, chúng ta vẫn phải thực hành theo nguyên tắc của người xưa: “Tín thư bất như vô thư” (đọc sách mà tin ngay vào sách thì chẳng bằng không đọc), thì huống gì Pháp bảo Phật truyền. Thậm chí lời từ chính Kim khẩu của Đức Phật nói ra mà Ngài còn dạy chúng ta chớ vội tin, phải Văn – Tư – Tu mới ngộ được Phật ý, huống hồ là “chỉ đọc thấy” trên mảnh giấy, cho dù đó là Kinh văn?! Làm được thế, dù cầm quyển Kinh Nguyên Thủy hay Đại Thừa với bao điều dị bản thêm thắt trong tay, nhưng với tinh thần vô chấp cầu Đạo hướng thượng như thế, ta vẫn có thể gạn lọc được cốt tủy Phật Pháp mà vững bước tiến tu. Ngược lại, dù Phật có tại thế trực tiếp dạy bảo khuyên tu nhưng tâm giải đãi, tà kiến điên đảo, nghi mạn chướng trái, chẳng hành trì chơn thật thì sanh tử mãi trôi lăn!
5. Rộng hơn, thiết nghĩ cần lắm Phật sự làm trong sạch lại Kinh Điển, gạt bỏ đi những dị bản thêm thắt, những đoạn trùng lắp, tối nghĩa mơ hồ… mà cô đọng, chắt lọc lại cốt tủy Chánh ý xiển dương Chơn lý; sau rộng truyền Chơn Kinh – Chánh Pháp đến với mọi người để tất cả đồng lợi lạc, an trú trong Diệu Pháp Như Lai trên đường giác ngộ. 

*** TÓM LẠI 
Tên gọi chỉ là giả danh, Kinh điển chỉ là phương tiện dẫn lối tu hành. Do sự cần bàn nên mượn lời bày tỏ tâm tư, nào phải khơi gợi phân tranh để thị phi hơn thua theo thói đời ô trược. Muôn nhánh lá đều chung từ một cội. Xin đừng làm thân Phật chảy máu.
Diệu lý của chư Phật chẳng dính dáng đến văn tự. Hành giả tu Phật xin hãy đọc Kinh điển với tâm sáng suốt thanh tịnh, vô cấu vô tranh mà Văn – Tư – Tu chớ đừng vội tin chắc vào bất kỳ điều gì, cũng đừng tranh biện, thị phi hơn thua mà lao tâm tổn đức. Với Pháp mình hữu duyên khế cơ thì bản thân hãy nỗ lực hành trì thực nghiệm trong đời sống thường nhật mà trưởng dưỡng Đạo tâm, củng cố niềm tin vững sâu vào Chánh Pháp. Còn với những gì mình chưa thông suốt, chưa hiểu thấu hay cảm thấy chướng trái, hãy tạm để đó mà chiêm nghiệm, nghiên tầm nhưng đừng vì mê Sự mà bỏ Tánh, sao lãng việc tu. Tuyệt đối không để mối nghi hoặc, Ngã chấp – Kiến chấp phát triển sai lệch thành sự bất tín nơi Tam Bảo. Nên nhớ kỹ, Chấp (ngã, pháp) là chướng ngại lớn nhất cho sự tu hành, cần phải đoạn trừ. Phật Pháp mênh mông vi diệu, lý sự viên dung, khế lý khế cơ mà hóa độ muôn vạn chúng sanh. Dẫu kẻ phàm phu may mắn được mang thân Người đến vạn kiếp thì muôn đời cũng không sao lãnh hội được Diệu Pháp Phật bằng trí Ta Bà; nếu không trực tâm Giới Đức trang nghiêm, Thiền Định tu hành chơn thật đến khi Trí Vô Sư khai mở, sao có thể liễu ngộ nguồn Tâm, thông suốt vạn Pháp?! Hiểu biết phàm phu thật quá nhỏ bé trong vũ trụ bao la, nắm lá Pháp trên lòng bàn tay Đức Phật mà ta còn chưa liễu ngộ nổi nữa là. Chỉ mong sao tất cả con Phật hãy sách tấn nhau trên tinh thần Lục Hòa, dìu dắt nhau kẻ trước người sau đồng ngộ Phật tánh chớ đừng buông lời mê bất tịnh, tranh biện hơn thua, báng Pháp khinh Tổ mà gieo nghiệp khổ đọa muôn kiếp về sau.
Căn trí túc nghiệp chúng sanh chẳng đồng nên dụng tâm thọ Pháp cũng tùy duyên mà sai biệt. Đạo do tâm hành. Người thống thiết với sự vô thường sanh tử thoáng không hẹn trước sẽ trân quý Phật Pháp vô cùng, miên mật tu hành, kính quý tất cả chúng sanh. Còn xem Phật Pháp như môn học thuật thế gian, dùng nhục nhãn – trí Ta Bà nghiên cứu mà hý luận, giải đãi, không hành trì chơn thật thì chỉ thêm chướng – ngã chất ngất mà thôi, sanh tử mãi trầm mê. Một đứa trẻ có thể làu làu Kinh điển không thua kém, nhưng kẻ sống đến bạc đầu chưa chắc thực hành đốn bỏ nổi tham-sân-si.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/3/2018.