Thursday, July 21, 2022
VÔ LƯỢNG THỌ KINH KHỞI TÍN LUẬN.
Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín LuậnKinh Vô Lượng Thọ là viên giáo xứng tánh của Như Lai, là hóa nghi sẵn đủ của chúng sanh. Nơi cõi chân như, trong cửa giải thoát vốn không có một pháp nhưng lại vào khắp vi trần, ứng các căn cơ mà cứu cánh rỗng lặng; chỉ vì chúng sanh chẳng liễu ngộ nguồn tâm mà bị trói buộc một cách hư dối vào đủ thứ khổ não, huyễn sanh huyễn diệt, chợt xuống chợt lên. Nếu muốn nhổ gốc sanh tử, cắt nhân ái dục mà chẳng mở môn niệm Phật thì đâu biết con đường về nhà. Vì thế Đấng Pháp Vương dủ lòng từ mẫn, giương rộng lưới nguyện tóm thu kinh được chư Phật hộ niệm[1], trang nghiêm cõi nước vốn sẵn thanh tịnh của chúng sanh. Biển giác vô biên thu nạp vô vàn ngọn sóng, mây từ vô tận tuôn mưa thấm nhuần khắp cõi đại thiên, Vừa niệm hồng danh A-di-đà Phật thì liền khô cạn nguồn tội, lúc nhất niệm vẹn toàn thì liền bước lên đất báu. Bản thân ta và Phật không có ngăn cách, vượt qua mười muôn ức cõi nước chẳng phải là xa; phàm thánh không sai khác, ngay ba mươi hai tướng cả hai đồng đủ. Điều quý nhất là tâm này làm Phật, ngay nơi Phật sáng tỏ tâm; hội vạn thiện để đồng quy, nắm nhất tâm để bất loạn. Nơi hoa sen vi diệu, mẹ con rốt cuộc gặp nhau, trong tướng bạch hào đâu có khổ vui gián cách. Từ đây nắm trí ấn của Văn-thù, mãn nguyện vương của Phổ Hiền; chẳng động mảy lông mà được các tam-muội, không dời nửa bước mà đến khắp mười phương; được thọ ký bồ-đề, lên ngôi bất thoái. Phương tiện như thế, ai mà chẳng biết ơn sâu; hễ đủ linh tri đều nên tin nhận.
Nếu người chấp hữu bác không, trệ tình mê tánh, lưu luyến thân huyễn trăm năm, không biết đạo huyền vạn cổ thì dù có đem thuốc tiên chuyển con bọ hung đi nữa, nó cũng chẳng thể nào bay cao; chắp cánh làm cho con phù du rạng rỡ đi nữa thì nó cũng chẳng tồn tại đến hết buổi sáng, đứa con nghèo cùng trôi nổi nhận chốn nghèo hèn làm quê nhà, sống đời điên đảo, khóa chặt chân giác trong đêm dài mộng mị. Dẫu cho ân cần chỉ dạy nhưng ai có thể theo ngón tay chỉ điểm mà biết đường về, cũng có người phá tướng rồi cho rằng hoàn toàn không có gì cả, đó là kẻ chấp thuốc thành bệnh; không nhận Đức Từ Tôn ở ngoài tâm, bỏ cõi Cực Lạc cho là như đồ thừa. Họ chỉ biết đắm đuối nơi tịch tĩnh u nhàn mà chẳng xét là đang chôn vùi thiên chân, trái với tánh giác, như thấy bóng sáng lọt qua khe cửa, mà không thấy hết ánh sáng mặt trời, chỉ thấy nước trong gáo nổi sóng mà chẳng tin có biển cả rộng lớn mênh mông. Điều này giống như bà lão ở thành Đông dù Phật hiện ra trước mặt cũng vô ích, Diễn-nhã-đạt-đa bỗng nhiên tự nói mất đầu rồi đâm ra sợ hãi.
Than ôi! Thân người khó được, chí đạo khó được nghe, một hơi thở ra không hít vào, đã thành đời khác, một phen bị đọa vào ba đường ác, biết đến năm nào mới được thoát ra, nhà lửa cháy bừng, vậy mà còn mãi ở trong đó chơi đùa, thân thọ báo qua lại trong sáu nẻo luân hồi nhiều như số cát sông Hằng không cùng tận, chỉ do vì chẳng liễu ngộ nhất tâm chân như nên mới đến nỗi bị trầm luân nhiều kiếp. Nếu muốn vượt ngang ba cõi, chi bằng qua thẳng Tây Phương. Phật nói các kinh Tịnh Độ, đại khái có bốn, năm bộ, nếu nói về bản kinh hoàn bị nhất thì phải kể đến kinh này. Tiếc thay! Các sư sớ giải chưa kịp xiển dương, bản hiệu san của ông Vương Nhật Hưu có hơn phân nửa bị sai lầm. Tôi chẳng lượng sức mình ngu tối, đánh bạo nói sơ lược cương tông, dẫn chứng kinh điển để quy về nhất thật.
I.Nói về giáo thể
II.Nói về giáo tướng
III.Nói về quy thú
IV.Giải thích văn kinh
V.Hồi hướng Cực Lạc
Đặt tên chung là Khởi Tín Luận, mục đích của luận này là phá tà chấp không hữu, nói chánh tông viên đốn, mở cơ duyên mà chư sư chưa mở, cứu lỗi lầm của Vương Long Thơ[2] đã hiệu san sai lầm, ngỏ hầu khai Phật tri kiến, thị Phật tri kiến, ngộ Phật tri kiến, nhập Phật tri kiến, dẫn dắt khắp quần sanh đồng về Cực Lạc.
I.Nói về giáo thể
Muốn nói về giáo thể thì phải quán pháp tánh. Pháp tánh thì bất sanh bất diệt, bất đoạn bất thường, tâm chỉ là cái tên tạm gọi thì quốc độ nương gá vào đâu! Nhưng phi tâm phi độ mà tức tâm tức độ, thủ xả đều trừ, thấy nghe đều dứt thì đâu thể nào sanh chấp trước, lầm nói thị phi. Sơ lược nêu ra bốn nghĩa để tìm hiểu về pháp tánh: 1. Tự tha không hai, 2. Tánh tướng không hai, 3. Nhân quả không hai, 4. Chúng sanh và Phật không hai.
1.Tự tha không hai: Pháp thân chư Phật trùm khắp pháp giới, toàn tự toàn tha, chẳng chống trái, chẳng chướng ngại nhau. Theo hóa nghi thì hiện ra có chủ có bạn, như Tỳ-lô-giá-na làm chủ thì các Đức Phật khắp mười phương làm bạn cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết vi trần số cõi Phật, không cõi nào chẳng phải là pháp giới Tỳ-lô-giá-na. Như Đức Phật Vô Lượng Thọ làm chủ thì các Đức Phật khắp mười phương làm bạn cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết vi trần số cõi Phật, không cõi nào chẳng phải là pháp giới Vô Lượng Thọ, cho nên kinh này nói ánh sáng của Đức Phật Vô Lượng Thọ chiếu khắp Hằng sa cõi nước ở phương Đông, các phương Nam, Tây, Bắc, bốn phương cạnh, phương trên, phương dưới cũng giống như vậy. Pháp tánh là như vậy, không có chia cắt thành từng bộ phận, như kinh Thủ-lăng-nghiêm nói: “Ta dùng diệu minh bất sanh bất diệt hợp Như Lai tạng mà Như Lai tạng chỉ là diệu giác minh viên chiếu pháp giới. Thế nên, ở trong đó một là vô lượng, vô lượng là một, trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ, chẳng rời đạo tràng mà hiện khắp mười phương, thân bao hàm hư không vô tận khắp mười phương, trên một đầu sợi lông hiện cõi nươc Phật, ngồi trong hạt bụi chuyển diệu pháp luân”. Vì thế nên biết Đức Phật Vô Lượng Thọ hiện trước mắt tất cả chúng sanh ở khắp mười phương, chẳng thể dùng tâm tư duy mà sanh phân biệt. Hoặc có người nói Hoa Nghiêm là thật, Cực Lạc là quyền, phải biết nói như thế là không đúng, vì pháp thân chư Phật không có tự tha.
Hỏi: Vậy thì, tại sao không niệm Lô-xá-na mà niệm Phật Vô Lượng Thọ?
Đáp: Vì lời dạy của Đức Phật Thích-ca, vì bản nguyện của Đức Phật Vô Lượng Thọ, vì mười niệm vãng sanh, vì chóng lên bất thoái.
2.Tánh tướng không hai: Luận Đại thừa khởi tín nói: “ Từ xưa đến nay, sắc tâm không hai, vì tánh của sắc thân tức là trí cho nên thể của sắc thân vô hình được gọi là trí thân; vì tánh của trí tức là sắc thân cho nên được gọi là pháp thân ở khắp tất cả mọi nơi. Sắc thân hiện ra không có giới hạn cục bộ, tùy tâm có thể thị hiện vô lượng bồ-tát, vô lượng báo thân, vô lượng trang nghiêm ở khắp các thế giới trong mười phương, mỗi thân sai khác đều không có giới hạn cục bộ và không chướng ngại nhau”. Vì thế, trong kinh Hoa nghiêm nói thế giới, hạt bụi, sợi lông, vật hữu hình, vật vô hình thảy đều diễn nói diệu pháp, đầy đủ đồ trang nghiêm của mười phương pháp giới. Kinh Vô Lượng Thọ cũng nói trong mỗi hoa sen, trong mỗi tia sáng, tiếng gió thổi, tiếng nước chảy, tiếng âm nhạc, hoặc thấy, hoặc nghe, không có một vật nào chẳng phải là thân Phật, không có một tiếng nào chẳng phải là pháp Phật. Vì sao? Vì hữu tình, vô tình phi nhất, phi dị, trong cảnh giới chân như không có bỉ thử.
Hỏi: Pháp tánh đã như thế, trong thế giới Ta-bà, vì sao chẳng thấy Đức Phật hiện thân thuyết pháp?
Đáp: Đức Phật thường thuyết, không lúc nào không thuyết pháp, chỉ vì hữu tình trí cách nên chẳng thấy chẳng nghe. Nếu một niệm chứng nhập pháp giới Phật thì chẳng rời Ta-bà bước thẳng lên Cực Lạc, như kinh Pháp hoa nói: “ Chúng sanh thấy kiếp tận, lúc lửa đốt thế giới, cõi nước Ta an ổn, trời người thường đông đúc”, kinh Duy-ma nói: “ Cõi nước của Ta thanh tịnh mà ông chẳng thấy”. Đây là chỗ tự thọ dụng của chư Phật, tất cả chúng sanh cũng đồng đầy đủ.
Hỏi: Vậy thì đâu cần phải cầu sanh tịnh độ?
Đáp: Sanh tức vô sanh, cõi nước cũng chẳng phải cõi nước, vì hàng bố chẳng ngại viên dung, vì tướng chẳng phải ngoài tánh.
3.Nhân quả không hai: Kinh này nói tỳ-kheo Pháp Tạng vừa phát nguyện xong, trong hư không có tiếng ngợi khen rằng quyết định ắt thành Vô thượng chánh giác. Kinh còn nói chúng sanh một niệm niệm Phật ắt là đầy đủ công đức vô thượng. Phải biết nhân gồm biển quả, quả suốt nguốn nhân, kinh Hoa nghiêm cũng nói lúc vừa mới phát tâm liền thành Chánh giác, vì trong pháp tánh, nhân quả chẳng khác, vì cứu cánh bất khả đắc. Kinh Đại bát-nhã ghi: “Ngài Thiện Hiện hỏi: Đại bồ-tát dùng tâm đầu tiên chứng đắc Vô thượng chánh đẳng bồ-đề hay là dùng tâm sau cùng chứng đắc Vô thượng chánh đẳng bồ-đề? Phật đáp: “ Như lúc đốt đèn, ngọn lửa đầu tiên đốt cháy tim đèn hay ngọn lửa sau cùng đốt cháy tim đèn? Thiện Hiện đáp: “ Bạch Thế Tôn! Theo ý con hiểu, chẳng phải ngọn lửa đầu tiên đốt cháy tim đèn, cũng chẳng lìa ngọn lửa đầu tiên, cũng chẳng phải ngọn lửa sau cùng đốt cháy tim đèn cũng chẳng lìa ngọn lửa sau cùng. Phật dạy: “ Các đại bồ-tát cũng giống như thế, chẳng phải dùng tâm đầu tiên chứng đắc Vô thượng chánh đẳng bồ-đề, cũng chẳng phải lìa tâm đầu tiên chứng đắc Vô thượng chánh đẳng bồ-đề, chẳng phải dùng tâm sau cùng chứng đắc Vô thượng chánh đẳng bồ-đề, cũng chẳng phải lìa tâm sau cùng chứng đắc Vô thượng chánh đẳng bồ-đề”. Nếu có thể như thế mà tin vào pháp môn Tịnh Độ thì trong khoảnh khắc liền đã nghiêm tịnh cõi nước của chư Phật, liền đã đầy đủ công đức vô thượng, thành Phật độ chúng sanh, nhất thời cứu cánh, cùng với tỳ-kheo Pháp Tạng không hai không khác, như trong kinh nói đầy đủ, chân thật không dối.
4.Chúng sanh và Phật không hai: Kinh Đại niết-bàn nói: “Ta dùng Đại bát-nhã quán tất cả hàm linh ở trên núi, trong biển cả, trên đất liền của lục đạo trong tam giới; tam giới này căn bản tánh ly, tất cánh không tịch đồng với tướng hư không, vô danh, vô thức, vĩnh viễn đoạn các hữu, xưa nay bình đẳng không có tưởng cao thấp, không thấy, không nghe, không giác, không biết, không thể trói buộc, không thể giải thoát, không chúng sanh, không thọ mạng, chẳng sanh, chẳng khởi, chẳng tận, chẳng diệt, chẳng phải thế gian, chẳng phải phi thế gian, niết-bàn sanh tử đều bất khả đắc, hai thứ bình đẳng vì các pháp bình đẳng”. Thế nên biết Đức Phật Vô Lượng Thọ chẳng ở Cực Lạc, chúng sanh chẳng ở Ta-bà, vốn tự không có uế thì từ đâu lấy tịnh; chỉ vì chúng sanh chẳng giữ tự tánh, ở trong nhất thể, lầm sanh đồng dị, Đức Phật mới dùng phương tiện đại bi để độ thoát họ, cho nên kinh này nói: “Như thế chư Phật đều an lập vô lượng chúng sanh nơi chánh đạo của Phật”.
Hỏi: Chúng sanh và Phật đã bất khả đắc, tại sao chư Phật hiện thân tiếp dẫn chúng sanh?
Đáp: Kinh Hoa nghiêm nói: “Ví như mặt trời chiếu khắp thế gian, đều hiện bóng trong tất cả các đồ đựng có nước trong lặng ở khắp mọi nơi mà mặt trời không có qua lại, nếu đồ đựng nước bị vỡ thì bóng chẳng hiện. Mặt trời trí huệ của Như Lai cũng giống như vậy hiện khắp pháp giới, không trước không sau, trong tâm thanh tịnh của chúng sanh, Phật đều hiển hiện. Tâm chúng sanh thường thanh tịnh thì thường thấy thân Phật. Nếu tâm chúng sanh ô trược thì chẳng được thấy thân Phật. Vậy thì, Phật vốn không đến mà đến, chúng sanh thật không đi mà đi, theo tâm chúng sanh mà hiện có đến đi.
II.Nói về giáo tướng
Muốn nói về giáo tướng thì phải biết về nhân duyên. Chư Phật vì nhân duyên mà xuất hiện ở thế gian, chúng sanh nhờ nhân duyên mà chứng chân. Nếu chỉ quán pháp tánh mà chẳng thông đạt nhân duyên thì đóng bít cửa phương tiện, không có phần tiếp dẫn; sáu nẻo luân hồi do đâu mà được ra khỏi, vạn đức do đâu mà được viên mãn. Sơ lược chia ra làm bốn môn để nói ý nghĩa của kinh: 1.Môn tín, 2.Môn nguyện, 3.Môn niệm, 4.Môn hạnh.
1. Môn tín tức là kinh này nói: “Chúng sanh nghe danh hiệu Phật, tín tâm hoan hỷ, chí tâm hồi hướng, nguyện sanh về nước Cực Lạc”. Lại nói: “Sáng suốt tin Phật trí cho đến thắng trí v.v...”. Kinh Hoa nghiêm nói: “Tin sâu chư Phật và Phật pháp, cũng tin đạo của bồ-tát tu hành và tin Vô thượng bồ-đề, bồ-tát lấy đây để bắt đầu phát tâm”. Lại nói: “Thà ở trong vô lượng kiếp chịu khổ nơi các đường ác, chứ chẳng bao giờ bỏ Như Lai mà cầu xuất ly”. Kinh Duy-ma nói: “Bồ-tát ở trong đường sanh tử đáng sợ phải nên nương vào sức công đức của Như Lai”. Chúng sanh kém hiểu biết nghe nói cảnh giới bất tư nghị của chư Phật, phần nhiều sanh ra nghi ngờ; ngay cả hàng nhị thừa như Thanh văn còn chẳng tin có chư Phật ở phương khác, vì chẳng biết Phật không ngoài tâm này, vì ngoài tâm không có Phật. Nếu biết Phật không ngoài tâm này thì biết tha Phật tức là tự Phật, mà cũng chẳng hoại tướng tự tha thì người này có khả năng vào vô biên cõi nước Phật, khởi vô lượng hạnh môn. Vì cảnh giới của tự tâm bất tư nghị nên biết cảnh giới của chư Phật cũng bất tư nghị đến như nguyện lực, công đức, trí huệ, thần thông của Đức Phật Vô Lượng Thọ tròn đồng thái hư, rộng khắp Hằng hà sa thế giới, chẳng phải có thể tánh toán được, chẳng phải tình thức có thể lường được. Nếu người nghe kinh này rồi quyết định tin vào mà chẳng kinh, chẳng sợ, chẳng hãi thì phải biết người này đã trồng thiện căn ở chỗ vô lượng các Đức Phật, sẽ được bất thoái chuyển đối với A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, hơn hàng Thanh văn gấp trăm nghìn vạn ức lần, huống là người khác!Thế nên phải biết vào trong môn này thì tín là bậc nhất. Luận Tỳ-bà-sa nói: “Nếu người trồng thiện căn, nghi thì hoa không nở, người tín tâm thanh tịnh, hoa nở liền thấy Phật”. Vì sao? Vì một niệm tín tâm vượt lên tình chấp, đủ Phật tri kiến.
2. Môn nguyện tức là kinh này nói: “Tuân tu đức của bồ-tát Phổ Hiền” nghĩa là đủ vô lượng hạnh nguyện của các bồ-tát, nguyện thành Chánh giác ở vô lượng thế giới cho đến bốn mươi tám nguyện của ngài Pháp Tạng và các chúng sanh nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc. Tất cả hạnh môn đều từ nguyện khởi; nguyện như mầm tốt, chẳng có mầm thì chẳng có trái; nguyện như người dẫn đường giỏi, chẳng có người dẫn đường thì chẳng đi được đến nơi. Nhưng tâm có rộng hẹp cho nên nguyện có lớn nhỏ; chỉ có người phát tâm tương xứng với lượng của pháp giới mới có thể vào nguyện ba-la-mật của chư Phật, như trong kinh Hoa nghiêm, bồ-tát Phổ Hiền bảo Thiện Tài: “Người muốn thành tựu môn công đức của Như Lai thì phải tu mười hạnh nguyện rộng lớn: 1.Lễ kính chư Phật, 2.Khen ngợi Như Lai, 3.Rộng tu cúng dường, 4.Sám hối nghiệp chướng, 5.Tùy hỷ công đức, 6.Thỉnh chuyển pháp luân, 7.Thỉnh Phật trụ thế, 8.Thường học theo Phật, 9.Hằng thuận chúng sanh, 10. Hồi hướng cho khắp tất cả chúng sanh”. Mười nguyện này được gọi là nguyện vương, tất cả bồ-tát đều từ mười nguyện này tu hành thẳng đến thành Phật. Nhưng trong đó có một môn tổng trì có năng lực làm cho sở nguyện mau được thành tựu, đó là chẳng lìa niệm Đức Phật Vô Lượng Thọ, cầu sanh Tây Phương, bài kệ của ngài Phổ Hiền nói:
“Nguyện tôi thời điểm sắp lâm chung,
Trừ hết tất cả các chướng ngại,
Tạn mặt thấy Phật A-di-đà,
Liền được vãng sanh cõi An Lạc.
Tôi đã đã sanh về cõi ấy rồi,
Hiện tiền thành tựu đại nguyện này,
Đầy đủ tất cả không thiếu sót
Lợi ích an lạc các chúng sanh”.
Thế nên biết nguyện vượt trội hơn các nguyện của chúng sanh trong khắp mười phương chánh là nguyện vãng sanh An Lạc. Vì sao? Vì Phật Vô Lượng Thọ là nguyện vương vô thượng, là nguyện vương của tất cả bồ-tát, không có vị bồ-tát nào không lấy nguyện sanh Tây Phương làm cứu cánh.
Nay nói phát nguyện, phải như trong Tây phương hiệp luận nói: “Quyết được vãng sanh:
1.Chẳng vì phước điền nên nguyện mà vì che chở chúng sanh nên nguyện sanh Tịnh độ.
2. Chẳng vì quyến thuộc nên nguyện mà vì quản trị nhà Như Lai nên nguyện sanh Tịnh độ.
3. Chẳng vì bệnh khổ nên nguyện mà vì chữa trị ung nhọt vô minh cho tất cả chúng sanh nên nguyện sanh Tịnh độ.
4. Chẳng vì ngôi vị Chuyển luân vương nên nguyện mà vì chuyển pháp luân của Phật, làm Đại pháp vương nên nguyện sanh Tịnh độ.
5. Chẳng vì Dục giới nên nguyện mà vì lìa tất cả ngũ dục vi diệu nên nguyện sanh Tịnh độ.
6. Chẳng vì Sắc giới nên nguyện mà vì lìa tất tham đắm thiền vị nên nguyện sanh Tịnh độ.
7. Chẳng vì Vô sắc giới nên nguyện mà vì sạch hết các thứ lưu chú vi tế, chứng thân vô lượng tướng hảo nên nguyện sanh Tịnh độ.
8. Chẳng vì Thanh văn, Bich-chi-phật nên nguyện mà vì hai thứ phước trí trang nghiêm lợi ích chúng sanh nên nguyện sanh Tịnh độ.
9.Chẳng vì chúng sanh trong một thế giới, nghìn thế giới nên nguyện mà vì chịu khổ thay cho chúng sanh trong vô số thế giới, cứu chúng sanh khổ trong tất cả thế giới nên nguyện sanh Tịnh độ.
10.Chẳng vì chúng sanh trong một a-tăng-kỳ kiếp, nghìn a-tăng-kỳ kiếp nên nguyện mà vì chịu khổ thay cho chúng sanh trong vô số a-tăng-kỳ kiếp, cứu chúng sanh khổ trong tất cả kiếp nên nguyện sanh Tịnh độ”.
3.Môn niệm tức là kinh này nói “Nhất hướng chuyên niệm Phật Vô Lượng Thọ cho đến mười niệm, một niệm niệm Đức Phật ấy”. Trong kinh Lăng-nghiêm, bồ-tát Đại Thế Chí bạch Phật: “Con nhớ thuở xa xưa cách nay Hằng hà sa kiếp, có Phật xuất thế hiệu là Vô Lượng Quang, mười hai Đức Như Lai nối nhau ra đời trong một kiếp, Đức Phật sau cùng hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang, Ngài dạy con niệm Phật tam-muội. Ví như có hai người, một người chuyên nhớ, một người chuyên quên, hai người này hoặc gặp nhau hoặc không gặp nhau, hoặc thấy nhau hoặc không thấy nhau. Hai người này nhớ nhau và nhớ nhau sâu sắc, như vậy cho đến từ đời này sang đời khác thì họ gần gũi nhau như bóng với hình, chẳng còn xa cách. Các Đức Như Lai ở khắp mười phương thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu con bỏ đi thì mẹ nhớ thương cũng không lôi kéo lại được. Nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con thì mẹ con đời đời chẳng xa cách nhau. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật niệm Phật thì hiện tại hoặc tương lai chắc chắn thấy Phật, cách Phật chẳng xa, chẳng nhờ phương tiện nào khác cũng được tâm khai. Nhân địa trước kia của con nhờ tâm niệm Phật mà chứng nhập Vô sanh nhẫn, nay con ở thế giới này tiếp dẫn người niệm Phật đưa về tịnh độ. Phật hỏi viên thông, con không có chọn lựa nào khác hơn là pháp tu thu nhiếp cả sáu căn, tịnh niệm nối nhau, đắc tam-ma-địa, đây là bậc nhất”. Kinh Văn-thù sở thuyết bát-nhã nói: “Pháp giới nhất tướng, buộc tâm duyên vào pháp giới, đây gọi là Nhất Hạnh tam-muội. Thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn nhập Nhất Hạnh tam-muội phải nên ở chỗ vắng vẻ, rảnh rang, bỏ các tâm ý tán loạn, chẳng chấp tướng mạo, buộc tâm vào một Đức Phật, chuyên xưng danh hiệu, ngồi ngay thẳng day mặt về hướng của của Đức Phật ấy, trong tâm niệm một Đức Phật ấy tương tục thì ở trong niệm này có thể thấy các Đức Phật quá khứ, vị lai, hiện tại. Vì sao? Vì công đức niệm một Đức Phật vô lượng vô biên cũng không khác với công đức của vô lượng các Đức Phật. Người nhập Nhất Hạnh tam-muội như thế biết hết tướng pháp giới vô sai biệt của Hằng hà sa Chư Phật”. Lại như trong kinh Bát-chu, Phật dạy: “Do đâu mà đắc tam-muội Chư Phật hiện tại đứng ở trước mặt? Nếu có bốn chúng[3]trì giới đầy đủ, ở yên một mình, tâm niệm Phật A-di-đà ở phương Tây hiện đang cách đây mười muôn ức cõi Phật, tên cõi nước ấy là Tu-ma-đề (Hán dịch: Cực Lạc hoặc An Lạc), Ngài đang nói kinh cho các bồ-tát nghe. Những người thường niệm Đức Phật A-di-đà thì ví như người nằm mộng thấy thất bảo và cùng quyến thuộc vui chơi, thức dậy rồi kể lại việc ấy. Nếu người niệm Phật A-di-đà một ngày một đêm, hoặc bảy ngày bảy đêm, nếu lúc thức không thấy Phật A-di-đà thì trong mộng sẽ thấy. Lúc tâm niệm Phật thì những chỗ tối tăm bị núi lớn che trong các cõi nước của chư Phật thảy đều mở toang, chẳng cần thần túc mà vẫn đến được cõi Cực Lạc, ngồi tại thế gian mà vẫn thấy Phật A-di-đà và được nghe Phật nói kinh”. Ba kinh kể trên đều nói đủ niệm lực bất khả tư nghị, thế nên biết một niệm, mười niệm cho đến nhất hướng chuyên niệm, Đức Phật Vô Lượng Thọ theo tâm của chúng sanh mà niệm niệm xuất hiện. Chúng sanh nào có một niệm niệm Phật thì có một tâm thanh tịnh, có một tâm thanh tịnh tức là có một thân thanh tịnh, có một thân thanh tịnh tức là có nhiều thân thanh tịnh, có nhiều thân thanh tịnh tức là có một thế giới thanh tịnh, có một thế giới thanh tịnh tức là có nhiều thế giới thanh tịnh, như vậy cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết Hằng hà sa số thế giới thanh tịnh. Đến lúc lâm chung, tùy theo niệm lực của người ấy, thấy Phật và vãng sanh, tự tánh tự độ vì tâm này làm Phật.
4.Môn hạnh tức là kinh này nói tỳ-kheo Pháp Tạng và các bồ-tát tích tập vô lượng công đức cho đến công đức của người trong tam bối vãng sanh tu. Trong kinh Duy-ma, trưởng giả Bảo Tích bạch Phật; “ Cúi xin Thế Tôn nói về hạnh tịnh độ của các bồ-tát. Phật dạy: Chúng sanh là tịnh độ của bồ-tát. Vì sao? Vì bồ-tát tu tịnh độ là vì lợi ích chúng sanh. Ví như có người muốn xây cất nhà cửa ở mặt đất thì tùy ý vô ngại, nếu xây cất trên hư không thì không thể nào được. Cũng vậy, bồ-tát vì thành tựu chúng sanh nên nguyện sanh về cõi nước Phật; nguyện sanh về cõi nước Phật tức là chẳng phải xây nhà trên hư không. Nếu bồ-tát muốn được tịnh độ thì phải tịnh tâm mình, theo tâm mình tịnh mà cõi nước Phật tịnh”. Trong kinh Bảo tích, Phật bảo Di-lặc: “Phát mười tâm sau đây thì được vãng sanh Cực Lạc:
1.Khởi tâm đại từ không làm tổn hại chúng sanh.
2. Khởi tâm đại bi không làm bức não chúng sanh.
3.Tâm ưa thủ hộ chánh pháp của Phật, không tiếc thân mạng.
4.Phát tâm thắng nhẫn không chấp trước tất cả pháp.
5.Tâm thích thanh tịnh không tham lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng.
6.Tâm cầu Phật trí, không lúc nào quên mất.
7. Tâm tôn trọng cung kính đối với chúng sanh, không dám xem thường.
8.Tâm quyết định đối với bồ-đề phần, không say đắm thế luận.
9. Tâm thanh tịnh không tạp nhiễm trồng các thứ thiện căn.
10.Khởi tâm tùy niệm, không lìa bỏ các tướng đối với các Đức Như Lai.
Đây gọi là phát mười tâm bồ-đề, do mười tâm này mà được vãng sanh. Nếu người nào thành tựu một trong mười tâm này muốn vãng sanh về thế giới của Phật A-di-đà mà không được sanh thì thật là vô lý!” Thế nên hành giả đã phát nguyện rồi, chỉ cần lúc làm bất cứ việc gì cũng chẳng rời niệm Phật, lúc đang ở một mình cũng chẳng rời niệm Phật, ở giữa quyến thuộc cũng chẳng rời niệm Phật, nghe nói lời vừa ý hay lời không vừa ý cũng chẳng rời niệm Phật, thấy hình sắc vừa ý hay hình sắc không vừa ý cũng chẳng rời niệm Phật, cho đến vào triều chầu vua, điểm binh ra trận cũng chẳng rời niệm Phật, gặp kiếp đao binh, nhập bọn la-sát cũng chẳng rời niệm Phật. Niệm Phật như thế dần dần có thể sạch hết bốn tướng căn bản: ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, tùy nguyện đầy đủ mười ba-la-mật. Tâm đã là tâm Phật thì đâu có khó gì bước vào cõi nước Phật. Vì sao? Vì một tịnh thì tất cả tịnh.
III.Nói về quy thú:
Muốn nói về quy thú thì cần phải biết nhân duyên chẳng lìa pháp tánh, như kinh này nói ngài Pháp Tạng mới phát tâm trước tiên khai mở Chánh giác, thế nên tam bối vãng sanh đều phải phát tâm bồ-đề, nếu chẳng phát tâm bồ-đề thì bốn môn[4] kể trên chẳng thành an lập. Phát tâm bồ-đề là gì? Bồ-đề nghĩa là giác, nói tóm lại có năm nghĩa: 1.Biết rõ tất cả chư Phật chẳng lìa tự tâm, vì tự tâm thường có chư Phật thành Chánh giác, 2. Biết rõ tất cả cõi Phật chẳng lìa tự tâm, vì tự tâm đầy đủ tất cả cõi Phật trang nghiêm, 3.Biết rõ chúng sanh một niệm niệm Phật quyết định thành Phật, vì tất cả Phật do niệm lực mà thành, 4. Biết rõ chúng sanh phát nguyện cầu sanh tịnh độ chắc chắn được sanh tịnh độ, vì tất cả cõi nước đều do nguyện lực hiện ra, 5.Biết rõ tự tâm như vậy thì tha tâm cũng vậy, có một chúng sanh chẳng sanh tịnh độ, chẳng thành Phật thì cõi nước tôi chẳng thanh tịnh, tôi chẳng thành Phật, vì tôi, Phật, chúng sanh, cả ba không sai khác. Do đây phát khởi tín thì gọi là không tin mà tin; do đây phát khởi nguyện thì gọi là không nguyện mà nguyện; do đây phát khởi niệm thì gọi là không niệm mà niệm; do đây phát khởi hành thì gọi là không hành mà hành.
Sao gọi là không tin mà tin? Kinh Hoa Nghiêm nói; “Phật tử! Những gì là tín tạng của Đại bồ-tát? Bồ-tát này tin tất cả pháp không, tin tất cả pháp vô tướng, tin tất cả pháp vô nguyện, tin tất cả pháp vô tác, tin tất cả pháp vô phân biệt, tin tất cả pháp vô sở y, tin tất cả pháp bất khả lượng, tin tất cả pháp vô hữu thượng, tin tất cả pháp nan siêu việt, tin tất cả pháp vô sanh. Nếu bồ-tát có thể tùy thuận tất cả pháp như thế, sanh niềm tin thanh tịnh rồi, nghe pháp bất khả tư nghị của chư Phật mà tâm không khiếp nhược, nghe tất cả Phật bất khả tư nghị mà tâm không khiếp nhược, nghe chúng sanh giới bất khả tư nghị mà tâm không khiếp nhược, nghe pháp giới bất khả tư nghị mà tâm không khiếp nhược, nghe hư không giới bất khả tư nghị mà tâm không khiếp nhược, nghe niết-bàn giới bất khả tư nghị mà tâm không khiếp nhược, nghe thời quá khứ bất khả tư nghị mà tâm không khiếp nhược, nghe thời vị lai bất khả tư nghị mà tâm không khiếp nhược, nghe thời hiện tại bất khả tư nghị mà tâm không khiếp nhược, nghe vào tất cả kiếp bất khả tư nghị mà tâm không khiếp nhược, vì sao? Vì bồ-tát này ở chỗ chư Phật mãi mãi có niềm tin vững chắc, biết trí huệ Phật vô biên vô tận, trong vô lượng thế giới ở khắp mười phương, mỗi thế giới đều có vô lượng chư Phật đã đắc, đang đắc, sẽ đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác, đã xuất thế, đang xuất thế, sẽ xuất thế, đã nhập niết-bàn, đang nhập niết-bàn, sẽ nhập niết-bàn. Trí huệ của các Đức Phật ấy chẳng tăng chẳng giảm, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng tiến chẳng thoái, chẳng xa chẳng gần, vô tri vô xả. Bồ-tát này nhập trí huệ Phật, thành tựu vô biên vô tận tín, được niềm tin này rồi thì tâm chẳng thoái chuyển, tâm chẳng tạp loạn, chẳng thể phá hoại, không bị đắm nhiễm, tùy thuận thánh nhân, sanh vào nhà Như Lai, hộ trì chủng tánh của tất cả chư Phật, tăng trưởng tín giải của tất cả bồ-tát, tùy thuận thiện căn của tất cả Như Lai, sanh ra phương tiện của tất cả chư Phật, đây gọi là tín tạng của Đại bồ-tát”. Thế nên biết, nguyện lực, công đức, trí huệ, thần thông của Phật Vô Lượng Thọ ở trong tâm chúng sanh chẳng tăng chẳng giảm, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng tiến chẳng thoái, chẳng xa chẳng gần, vô tri vô xả, xưa nay vốn là Phật, không còn gì để tin. Trong kinh Lăng-nghiêm, ngài Văn-thù nói: Tôi thật Văn-thù, không có là Văn-thù; nếu có người là Văn-thù thì thành hai Văn-thù”. Tâm, Phật cũng vậy, ta thật Vô Lượng Thọ Phật, không có Phật là Vô Lượng Thọ, niềm tin như vậy mới là niềm tin thanh tịnh, cho nên kinh này nói: “ Biết tất cả pháp thảy đều tịch diệt”. Nếu nghe pháp thâm diệu này mà tâm không nghi sợ thì đây gọi là không tin mà tin.
Sao gọi là không nguyện mà nguyện? Trong kinh Đại Bát-nhã, Phật dạy: “Các Đại bồ-tát có đủ giác ngộ tối thắng, tuy có khả năng vâng làm pháp thâm diệu này nhưng ở trong đó không cầu quả báo. Vì sao? Vì đối với tự tánh không động. Thiện Hiện hỏi: Đối với tự tánh của những pháp nào không động? Phật đáp: Đối với tự tánh vô tánh của tất cả pháp không động. Vì sao? Vì tự tánh của các pháp tức là vô tánh, vô tánh chẳng thể hiện chứng vô tánh”. Trong kinh Tư Ích, bồ-tát Võng Minh nói: “Tánh của A-nậu-đa-la tam-miệu-tam bồ-đề tức là tánh của tất cả chúng sanh, tánh của tất cả chúng sanh tức là tánh của huyễn, tánh của huyễn tức là tánh của tất cả pháp; ở trong pháp này, ta chẳng thấy có lợi, chẳng thấy không lợi. Nếu có bồ-tát hy vọng công đức lợi mà phát tâm bồ-đề thì không được gọi là phát tâm đại thừa. Vì sao? Tất cả pháp không có công đức lợi, vì không có chỗ đền đáp”.
Hỏi: Tất cả pháp đã không có công đức lợi thì vô lượng nguyện vương từ đâu kiến lập?
Đáp: Từ tâm của tất cả chúng sanh kiến lập. Tánh của tất cả chúng sanh vốn thanh tịnh, vì vốn thanh tịnh nên thọ vốn vô lượng, vì vốn thanh tịnh nên quang cũng vô lượng, cho đến các đường ác thống khổ như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ở trong tâm thanh tịnh vốn bất khả đắc. Thế nên biết tất cả chúng sanh thường trụ Cực Lạc, chỉ ở trong huyễn mộng có Ta-bà, lúc tỉnh cơn huyễn mộng thì Ta-bà đâu còn tồn tại, vốn không đáng chán cũng không đáng ưa, chỉ lấy tâm thanh tịnh mà hồi hướng Phật, cho nên kinh này nói: “ Giác ngộ tất cả pháp như mộng, như huyễn, như âm vang mà đầy đủ các diệu nguyện thì chắc chắn thành tịnh độ”. Đây gọi là không nguyện mà nguyện.
Sao gọi là không niệm mà niệm? Trong kinh Hoa nghiêm, tỳ-kheo Đức Vân bảo Thiện Tài: “Thiện nam tử! Ta đắc Tự tại quyết định giải lực, tín nhãn thanh tịnh, ánh sáng trí huệ chiếu khắp pháp giới, lìa tất cả chướng, khéo léo quán sát, phổ nhãn sáng suốt, đủ hạnh thanh tịnh, đi qua tất cả cõi nước ở khắp mười phương cung kính cúng dường tất cả chư Phật, thường niệm tất cả chư Phật Như Lai, tổng trì chánh pháp của tất cả chư Phật, thường thấy tất cả chư Phật trong mười phương, đó là thấy ở phương Đông có một Đức Phật, hai Đức Phật, mười Đức Phật, trăm Đức Phật, nghìn Đức Phật, trăm nghìn Đức Phật, ức Đức Phật, trăm ức Đức Phật, nghìn ức Đức Phật, trăm nghìn ức Đức Phật, na-do-tha ức Đức Phật, trăm na-do-tha ức Đức Phật, nghìn na-do-tha ức Đức Phật, trăm nghìn na-do-tha ức Đức Phật, cho đến thấy vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết bất khả thuyết Đức Phật, cho đến thấy Diêm-phù-đề vi trần số Đức Phật, tứ thiên hạ vi trần số Đức Phật, thiên thế giới vi trần số Đức Phật, nhị thiên thế giới vi trần số Đức Phật, tam thiên[5] thế giới vi trần số Đức Phật, Phật sát vi trần số Phật, cho đến bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát vi trần số Đức Phật. Như phương Đông, các phương Nam, Tây, Bắc, bốn phương cạnh và hai phương trên và dưới cũng giống như vậy. Lại nữa, trưởng giả Giải Thoát bảo Thiện Tài: Ta nếu muốn thấy Đức A-di-đà Như Lai ở thế giới An Lạc tùy ý liền thấy. Ta nếu muốn thấy Kim Cang Quang Minh Như Lai ở thế giới Chiên Đàn, Bảo Quang Minh Như Lai ở thế giới Diệu Hương, Bảo Liên Hoa Quang Minh Như Lai ở thế giới Liên Hoa, Tịch Tĩnh Quang Minh Như Lai ở thế giới Diệu Kim, Bất Động Như Lai ở thế giới Diệu Hỷ, Sư Tử Như Lai ở thế giới Thiện Trụ, Nguyệt Giác Như Lai ở thế giới Cảnh Quang Minh, Tỳ-lô-giá-na Như Lai ở thế giới Bảo Sư Tử Trang Nghiêm, các Đức Như Lai như thế ta đều tùy ý liền thấy. Nhưng các Đức Như Lai ấy chẳng đến đây, ta cũng chẳng qua chỗ của các ngài. Ta biết tất cả Phật và tâm ta thảy đều như mộng; biết tất cả Phật đều như bóng, tâm ta như nước; biết sắc tướng của tất cả Phật cho đến tâm ta thảy đều như huyễn; biết tất cả Phật cho đến tâm ta thảy đều như âm vang. Ta biết như vậy, ức niệm như vậy, các Đức Phật được ta thấy đều do tâm ta. Niệm Phật như vậy thì ngay nơi niệm tức là Phật, không còn có Phật nào khác; nơi Phật tức là niệm, không còn có niệm nào khác; Vô Lượng tức là thể của niệm, niệm tức là dụng của Vô Lượng, thể dụng nhất như, tâm tâm tịch diệt, Phật Phật hiển bày. Kinh Viên giác nói: “Viên giác phổ chiếu và tịch diệt không hai, ở trong trăm nghìn vạn ức a-tăng-kỳ bất khả thuyết Hằng hà sa thế giới của chư Phật như hoa đốm trong hư không loạn khởi loạn diệt, chẳng tức chẳng ly, chằng trói buộc, chẳng giải thoát, mới biết chung sanh xưa nay vốn đã thành Phật”. Vậy thì, chẳng rời chỗ này mỗi bước đi trên hoa sen, đâu đợi ngày khác, mỗi hạt bụi đều là tịnh độ, cho nên kinh này nói; “ Trụ vào môn định sâu thấy hết vô lượng các Đức Phật hiện tại, trong khoảng một niệm đến khắp các nơi”. Đây gọi là không niệm mà niệm.
Sao gọi là không hành mà hành? Kinh Hoa nghiêm nói: “Lúc bồ-tát tu hành trong pháp tịch diệt vi diệu thậm thâm thù thắng, cũng chẳng nghĩ rằng ta đang tu hạnh này, đã tu hạnh này, sẽ tu hạnh này, chẳng chấp ngũ uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới, nội thế gian, ngoại thế gian, nội ngoại thế gian, đều không chấp trước đại nguyện, các ba-la-mật và tất cả pháp. Vì sao? Vì trong pháp giới không có pháp gọi là hướng đến Thanh văn thừa, hướng đến Độc giác thừa, không có pháp gọi là hướng đến Bồ-tát thừa, hướng đến A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, không có pháp gọi là hướng đến cõi phàm phu, không có pháp gọi là hướng đến nhiễm, hướng đến tịnh, hướng đến sanh tử, hướng đến niết-bàn. Vì sao? Vì các pháp không hai, không chẳng hai”. Kinh Kim cang bát-nhã cũng nói: “Trang nghiêm cõi nước Phật tức là chẳng phải trang nghiêm, ấy gọi là trang nghiêm.”.
Hỏi:Tất cả pháp đã bất khả đắc thì cần gì phải trang nghiêm cõi nước Phật?
Đáp:Tất cả pháp bất khả đắc vì thế mới trang nghiêm cõi nước Phật. Nếu có một pháp khả đắc thì Phật và chúng sanh mỗi bên đều trụ tự tánh riêng, đồng dị rõ ràng thành hai bên đối địch, Phật chẳng độ chúng sanh, chúng sanh chẳng thành Phật. Chỉ vì một pháp bất khả đắc nên giác ngộ viên mãn, duyên khởi không để lại dấu vết, bản tế bất động, Phật sự phồn hưng. Thế nên biết chúng sanh cầu sanh, thật vốn vô sanh; Phật không hiện mà hiện, Phật tức là chúng sanh; không sanh mà sanh, chúng sanh tức là Phật; cho nên kinh này nói; “Ví như nhà ảo thuật hóa hiện các thứ hình sắc khác nhau hoặc nam, hoặc nữ, vì ông ta đã học thông thuộc nên tùy ý biến hiện đủ thứ”. Đây là không hành mà hành.
Pháp này thật là pháp môn bao gồm vạn thiện, liễu nghĩa của nhất thừa, bồ-tát lấy pháp này để nghiêm tịnh cõi nước Phật, chư Phật dùng pháp này để viên chứng bồ-đề. Các kinh đều ca ngợi pháp tánh như nhiên, hễ tin vào được thì đã gieo hạt giống vào ao báu; vĩnh viễn chặt đứt gốc nghi thì chắc chắn vãng sanh về đất vàng. Điều này cố nhiên xưa nay đầy đủ, nhưng cần phải phương tiện gia công, nhiếp cả sáu căn chỉ đề khởi một niệm, ngộ được tức tâm tức Phật thì tự biết phi Phật phi tâm. Đến phần giải thích văn kinh dùng để khuyến khích.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.PHAT GIAO CHUYEN PHAP LUAN KIM LIEN.TINH THAT.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.21/7/2022.
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment