Wednesday, May 23, 2018

XÃ HỘI ẤN ĐỘ
TRONG THỜI ĐỨC PHẬT.
          Ấn Độ là một nước rộng lớn, có một nền văn minh tối cổ. Căn cứ vào những di tích khai quật được ở miền Mohenjo-dero và Harappà trên lưu vực sông Ấn Độ (Indus-Sind) người ta biết được nguyên lai xa xăm của nền văn hóa Dravidien đã có từ 3 đến 4 ngàn năm trước Tây lịch, lại có giống người Aryen cư ngụ trên miền Bắc Ba Tư (Iren) chuyên sống nghề du mục, họ đã di cư xuống vùng Đông Nam Á Tế Á, xâm nhập phía Tây Bắc Ấn Độ, rồi lần lượt phân tán ra bốn phương, đuổi dân bản xứ hoặc sống trà trộn với dân bản xứ, thiết lập thành tiểu bang tranh chấp với nhau. Dân Aryen chiếm tất cả miền Bắc Ấn Độ dựng nên nhiều bang quốc, đồng hóa với văn hóa ma thuật của dân Dravidien, tạo nên những nền văn hóa Aryen - Indus (văn minh Ấn Hà).
          Các bang quốc phần nhiều theo chế độ quân chủ nhưng cũng có bang tổ chức chế độ dân chủ. Ví dụ kinh đô Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu) nơi sinh trưởng của đức Phật. Theo truyền thuyết, thời kỳ này có nước Ma-kiệt-đà (Magadha) và nước Câu-

tát-la (Kosala) là hai trung tâm văn minh Ấn Độ lúc đương thời, rất quan hệ mật thiết với Phật giáo.
          Giống người Aryan thông minh, ưa lễ nghi tế tự, sùng tín thần linh. Sau khi đã định cư trên mảnh đất Ấn Độ phì nhiêu, lần lần họ chuyển biến từ trạng thái du mục sang nếp sống nông nghiệp và tổ chức xã hội theo chế độ bộ tộc, đứng đầu có chức tộc trưởng và gia trưởng để giữ việc tế lễ, gọi là chức Ty tế. Dần dần chức này trở thành chuyên môn, nên được thay thế bằng Tăng lẽ. Về sau vì phát triển của các nghề nghiệp, dân chúng được chia ra đẳng cấp khác nhau rồi được thần bí hóa bằng một bản thánh ca trong kinh Rigveda, theo đó nhân loại được chia ra làm bốn đẳng cấp tùy ở nơi cơ thể của Brahma. Từ miệng Ngài sinh ra thành đẳng cấp tu sĩ Bà-la-môn, từ hai cánh tay Ngài sinh ra thành đẳng cấp chiến sĩ Sát-đế-lỵ (Ksatriya). Từ hai bắp đùi Ngài sinh ra thành đẳng cấp thương nhơn Tỳ-xá (Visya). Từ hai bàn chân Ngài sinh ra thành đẳng cấp nô lệ Thủ-đà-la (Sudra). Bốn giai cấp này về sau được quy định chặt chẽ trong bộ luật Manu, đời sống giai cấp càng ngày càng khắt khe, bất bình đẳng. Hễ ai đã sinh ra từ đẳng cấp nào thì suốt đời ở trong đẳng cấp ấy với nghề nghiệp truyền thống bất di dịch. Hàng Bà-la-môn đã chiếm được vị trí tối cao trong xã hội nên họ

quyết định cho 3 giai cấp (trừ giai cấp Thủ-đà-la) bốn thời kỳ sinh hoạt của một đời người như nhau:
          Phạm trí kỳ: Thời kỳ thiếu niên theo thầy học kinh Vệ-đà, trau dồi hiểu biết.
          Gia cư kỳ: Thời kỳ thành niên sinh hoạt gia đình nối dõi tổ tông.
          Lâm cư kỳ: Thời kỳ tráng niên, đã làm tròn nghĩa vụ gia đình vào núi tu tập.
          Du hành kỳ: Thời kỳ lão niên du hành đây đó tìm sự giải thoát. Người trong thời kỳ du hành không có nơi nhất định, nên họ có tên Khất sĩ (Bhikhsu) hay là Hành giả (Yati) hay là Ly giả (Samnyasin).
          Ngoài những hạng trên còn có những kẻ tiện dân, bị coi là hạng người đầy tội lỗi gọi là Chiên-đà-la (Chandala), không thuộc giai cấp nào, sống ngoài lề xã hội, chuyên làm nghề thanh toán xác chết, không ai dám sờ mó tới sợ lây ô uế.
TÌNH HÌNH BÀ-LA-MÔN GIÁO LÚC PHẬT RA ĐỜI
          Nền văn hóa Ấn Độ bắt nguồn từ 4 cuốn kinh Về-đà. Bốn cuốn kinh này được thành lập theo thứ tự: Quyển lớn nhất được thành lập trước đức Phật khoảng 2.000 năm. Tiếp theo 4 kinh Vệ-đà là bộ Ưu-ba-ni-sát-đàm (Upanishad) hoặc dịch là Áo nghĩa thư, cũng thành lập trước và sau Phật. Áo

nghĩa thư cũng thành lập theo thứ tự trước sau gồm có 13 bộ: Iba Upanisahad, Kena..., Kasha...., Prasno...., Mundaka...., Mundukya..., Tathiriya...., Ari-sareya..., Chandaya..., Bihadaranyaka..., Kausitak...., Sve-tasvatana..., Maitrayani... Các kinh Vệ-đà thiên về nghi thức tôn giáo, Áo nghĩa thư phần nhiều nói về triết lý.
          Bốn kinh Vệ-đà và Áo-nghĩa-thư này là sản phẩm văn hóa của chủng tộc Bà-la-môn sáng tạo. Nay có chỗ gọi là Bà-la-môn giáo hay gọi là Ấn giáo cũng chỉ một gốc mà ra, tức là một đạo giáo mà Phật giáo cũng từng dựa vào đó một phần làm cơ sở thuận hoặc nghịch. Tuy nhiên, khoảng trước và sau Phật  giáng sanh là một thời kỳ mà tư tưởng rất hỗn tạp của Ấn Độ bắt đầu chuyển hướng và canh tân.
          Bốn kinh Vệ-đà là:
                   * Rigveda (đọc tụng).
                   * Samaveda (ca vịnh).
                   * Yajurveda (tế lễ).
                   * Atharaveda (nhương tai giả ách)
          Trong bốn kinh này, kinh thứ tư xuất hiện sau, không quan trọng lắm nên kinh A-hàm nhiều chỗ chỉ nói ba kinh.
          Đem tài liệu rải rác trong Phật điển ra so sánh khảo chứng, chúng ta có thể thấy rằng lúc bấy giờ

có hai trào lưu lớn là phái Vệ-đà và phái vận động phản Vệ-đà. Trong phái Vệ-đà có thể chia ra làm ba hạng như sau:
          1. Tư tưởng truyền thống Bà-la-môn:
          Bà-la-môn giáo đồ có 3 cú thoại:
          a. Vệ-đà là thiên thư.
          b. Bà-la-môn là chủng tộc cao quý nhất nhân loại.
          c. Tế lễ là vạn năng.
          Những tư tưởng này được truyền lại hơn ngàn năm. Đến khi Phật giáng sinh đương nhiên họ vẫn bảo trì tàn lực ấy nhưng không được. Như là một chủ nghĩa chuyên chế ngoan cố, họ không thể trói buộc mãi lòng người khi đổi mới. Huống hồ lúc bấy giờ giáo đồ Ba-la-môn rất kiêu sa dâm dật, giống như cựu giáo đồ La-mã trước ngày cách mạng tôn giáo Âu châu, cho nên họ không thể duy trì nổi tín ngưỡng của họ trong xã hội nữa.
          2. Đối với mê tín trong dân gian biến đổi:
          Về-đà hoàn toàn thuộc đa thần giáo, việc tế lễ rất nặng nề và phiền toái. Đến giai đoạn này thì nhân dân dần dần chán mệt những nghi thức nghiêm khắc ấy. Vì thế từ trong các vị thần, người ta chọn lấy một vị làm trung tâm tín ngưỡng, đó là ba vị thần phổ thông nhất thời bấy giờ là Phạm-thiên (Brahma, Thần sáng tạo), Tỳ-nựu-noa-thiên (Visnu,

Thần phá hoại) và Thấp-bà-thiên (Visa, Thần bảo tồn). Đối tượng tín ngưỡng thế là bắt đầu chuyển dần từ đa thần giáo sang nhất thần giáo vậy.
          3. Nghiên cứu triết học Áo- nghĩa-thư (Upanisad).
          Áo-nghĩa-thư tuy là kế tục bốn kinh Vệ-đà, song rất chú trọng về phương diện triết học, lý luận. Lý tưởng tối cao mà họ chủ trương trong đó là: "Phạm thiên tức Ta, Ta tức Phạm thiên".
          ở thời vệ-đà, người đạo sĩ chỉ cảm hứng được Brahma (Đại ngã) ở vũ trụ, qua sự giải thích các cú nghĩa thi tụng Vệ-đà và thực hành nghi lễ. Đến thời Upanisad thì các đạo sĩ tìm sự thống  nhất Phạm tức Ta, Ta tức Phạm (Atma: tiểu ngã tức Brahma: Đại ngã) bằng công phụ nội quan theo con đường trí thức kinh nghiệm. Upanisad có nghĩa là "Cận tọa" ngồi gần sư phụ để thọ giáo những giáo lý tâm truyền về Brahma, Atma. Như vậy, so với Vệ-đà thì đã tiến bộ nhiều. Trong đó có hai phái triết học được chú ý đồng thời với Phật là phái Số luận (Samkhya) và Du-dà (Yoga) tuy vẫn tôn Vệ-đà song tinh thần bên trong thật thay đổi hết. Như vậy so với Vệ-đà trước thì Upanisad đã tiến bộ nhiều.
          Tình hình thế lực của các phái Vệ-đà (Veda) đã thế, lại còn những hạng bất mãn với giáo nghĩa Vệ-đà. Đương nhiên hạng người này rất cực đoan,

nhưng có những điểm đáng chú ý. Nguyên nhân trước khi đức Phật ra đời khoảng một vài trăm năm. Ấn Độ thủy chung vẫn lấy địa phương Ca-lô (Kuruksetra) thuộc hạ lưu sông Hằng làm trung tâm văn hóa hoàn toàn do Bà-la-môn tạo lập. Khi Phật ra đời ở Đông bộ và Nam bộ được thành lập ra bốn vương quốc mới. Tựu trung Ma-kiệt-đà và Câu-tát-la và hai nước rất hùng cường. Hai nước này là hai quốc gia đều tưởng lệ đến vấn đề tự do tư tưởng. Bất luận là học giả phái nào cũng đều được bảo hộ và kính trọng, vì thế phái vận động phản Veda lấy hai kinh này là Xá-vệ và Vương-xá làm đại bản doanh. Từ đó trung tâm văn hóa Ấn Độ tùy theo trung tâm chính trị di chuyển sang Đông Nam. Sau khi có sự vận động phản Veda, tư tưởng giới Ấn Độ rất sáng lạng nhưng cũng rất hỗn tạp. Phật giáo cũng là một trong những phái tham gia công cuộc vận động này, nhưng đặc biệt là Phật giáo đã hợp thời và chỉ đạo được dân chúng.
CÁC TRƯỜNG PHÁI VẬN ĐỘNG PHẢN VỆ ĐÀ Ở THỜI PHẬT
          Tư tưởng giới Ấn Độ ở thời Phật gần giống như tư tưởng giới Trung Quốc trong thời Chiến quốc. Căn cứ kinh Phạm- võng (Phạm- động, Brahmaja-lasutta) và kinh Sa-môn quả (Samamaphalasutta) trong bộ Trường A-hàm, ta biết ngoại đạo lúc bấy

giờ có đến 62 phái (62 chủ kiến khác nhau). Trong 62 phái này có thể chia ra làm 18 luận chấp về quá khứ gồm:
          4 Thường trú luận: Chủ trương thế giới và tự ngã thường còn.
          4 Một phần thường trú, một phần vô thường trú luận: Chủ trương tất cả hiện tượng gì cũng đều có một bộ phận thường còn, một bộ phận biến diệt.
          4 Hữu biên vô biên luận: Chuyên thảo luận về thế giới hữu hạn hay vô hạn.
          4 Ngụy biện luận: Tức bất tử kiểu loạn luận, bất cứ đối với những vấn đề gì đều không giải đáp một cách quyết định, dứt khoát mà chỉ đáp quanh co luống léo nên gọi là Bổ mang luận (lý luận kiểu bắt cá).
          2 Vô nhân luận: Chủ trương mọi hiện tượng đều ngẫu nhiên phát sinh
          18 luận chấp này đều lập luận trong phạm vi chú hướng về đời quá khứ nên có tên là bổn kiếp bổn kiến, tổng cộng có tới 18 chủ trương thuộc loại này.
          44 luận chấp về tương lai gồm có:
          16 luận chấp có tưởng sau khi chết,
          8 Luận chấp vô tưởng sau khi chết,

8 Luận chấp không phải có tưởng không phải không có tưởng sau khi chết: Chuyên thảo luận về vấn đề sau khi chết ý thức còn tồn tại hay không và sinh ra những trạng thái như thế nào?
          7 Đoạn diệt luận: Chủ trương chết rồi là mất hẳn.
          5 Hiện pháp Niết bàn luận: Chủ trương hiện tại và cảnh giới lý tưởng tối cao.
          Các luận chấp này đều lập luận trong phạm vi chú hướng về đời vị lai nên có tên là mạc kiếp mạc kiến. Tổng số có tới 44 kiến chấp thuộc loại này. Đức Phật truy nguyên sự hiện khởi của các tà thuyết này từ sự chi phối của tham ái, xúc chạm các căn đối với ngoại cảnh, và sự cảm nhận lạc thọ, khổ thọ. Nói một cách khác, các tà thuyết này sở dĩ có là vì các nhà chủ trương chúng bị tham ái chi phối và y cứ nơi xúc chạm của nội căn đối với ngoại trần mà thành lập các tà luận. Đức Phật đứng ngoài tất cả 62 tà thuyết trên và khéo léo đặt phạm vi ngoại đạo Phật ra ngoài mọi tà giáo. (Tóm tắt trường bộ của Hòa thượng Thích Minh Châu).
          Đó là những điểm mà căn cứ vào đó ta có thể thấy được tất cả sự hỗn tạp của tư tưởng giới đương thời.
          Ngoài các luận thuyết trên, có 6 vị đại luận sư danh tiếng nhất, theo kinh Sa-môn quả trong

Trường A-hàm có chép sơ lược học thuyết của các vị ấy như sau:
          1. Phú Lan-na Ca-diếp (Purana Kassapa):
           Ông là nhà luận lý hoài nghi. Theo ông thì thiện ác không có tiêu chuẩn nhất định, bất quá là do tập quán xã hội mà gọi thôi. Xã hội cho là thiện và ác, vị tất đã là thật thiện hay thật ác. Cho nên ông chủ trương dù làm thiện hay ác không có nghiệp báo.
          2. Mạc-gia-la Câu-xá-da (Makkhali Gosala):
          Ông chủ trương "cực đoan định mạng luận", nghĩa là hành vi vận mạng của con người đều do pháp tắc tự nhiên chi phối, không phải con người muốn mà được. Khi túc mạng con người đã định kỳ giải thoát thì tự nhiên giải thoát. Họ đề xướng giáo lý vô vi điềm đạm tương tự với học thuyết Lão Trang. Phật giáo gọi họ là Tà mạng ngoại đạo.
          3. A-ki-dạ Kỳ-xả Khâm-ba-li (Ajitakesa Kambali):
          Ông chủ trương "cực đoan duy vật luận" cho rằng con người do bốn đại: địa, hỏa, thủy, phong hặp thành, ngoài vật chất ra không có sanh mạng. Theo ông, chết rồi là hoại diệt, cho nên mục đích nhân sinh là chỉ cần thú vui hiện tại. Ông cật lực bài xích tất cả luân lý đạo đức mà theo ông nó chỉ là những điều khắt khe vô lý. Thuyết này tương tự

với học thuyết của Dương Châu. Phật giáo gọi họ là Thuận thế ngoại đạo (Lokayat, Locagiatha).
          4. Phù-đà-ca-chiên-diên (Pakudhakackàyana):
          Ông chủ trương "cực đoan thường kiến luận" phản đối phái cực đoan đoạn kiến luận của Thuận thế ngoại đạo. Ông lập thuyết Tâm vật nhị nguyên bất diệt cho rằng con người do bảy yếu tố: địa, thủy, hỏa, phong, khổ, lạc và sinh mạng hợp thành. Bản chất của 7 yếu tố này không vì sống chết mà sinh diệt theo. Thí dụ như người bị chém, theo ông, chẳng qua lưỡi dao ấy tạm thời làm cho địa thủy hỏa phong v.v... phân tán mà thôi, không quan hệ đến sự tồn tại sinh mạng. Ông dùng lý luận để khuyến khích con người không cần phải sợ chết.
          5. Tán-nhĩ-di Tỳ-da-lê-tử (Sanjaya Belatthiputta):
          Ông thuộc phái "ngụy biện bất tử kiểu loạn luận". Lập luận của ông như thế nào không được rõ lắm, chỉ biết hai đệ tử của Phật là Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên khi chưa theo Phật, vốn là kiện tướng của môn hạ Tán-nhã-gia. Nhân đó có thể tưởng tượng giá trị tương đương của họ.
          6. Ni-kiền-tử Nha-đề-tử (Nigantha Nàtaputta):
          Ông là vị tổ hữu danh đã khai sáng Kỳ-na giáo (Jainis) và đã chiếm địa vị trọng yếu của lịch sử tư tưởng Ấn Độ, không kém Đức Thích Ca mấy. Lúc

bấy giờ Phật giáo đồ và Kỳ-na giáo đồ thường tiếp xúc nhau. Trong kinh Phật có chép nhiều cuộc biện luận của đôi bên, giáo lý họ xây dựng trên cơ sở nhị nguyên: Sinh mệnh (Jiva) và Phi sinh mệnh (Ajiva) về phương diện thực tiễn, họ được chủ trương thân hành nghiệp, mọi nghiệp đều bắt nguồn từ thân và diệt nghiệp cũng từ thân, do đó chủ trương khổ hạnh tột độ, rất tương tự triết gia Mặc tử với thuyết "dĩ tự khổ vi cực". Một số chủ trương lõa thể, nên Phật giáo gọi họ là Vô tàm ngoại đạo.
          Sáu vị đại luận sự trên thường thường được ghi lại trong kinh Phật, đều là những ngoại đạo hữu danh đương thời mà Phật giáo gọi chung là lục sư ngoại đạo. Tựu trung Kỳ-na giáo có uy nhất, nên có chỗ để cho Kỳ-na giáo ngoài lục sư ngoại đạo mà giáo tổ của họ là Đại hùng (Varahamana) hoặc Đại nhân (Mahavira). Kỳ-na giáo chủ trương nhị nguyên để giải thích thực thể vũ trụ, còn Ni-kiền-tử chỉ là một phái chủ trương khổ hạnh ép xác trong đó mà thôi.
SÁU PHÁI TRIẾT HỌC CHÍNH THỐNG
          Kỳ-na giáo và lục sư ngoại đạo nói trên là những phái phản Vệ-đà nhưng đồng thời và sau Phật giáo, còn có 6 phái triết học, trong đó tuy có Veda, nhưng thực tế thì tinh thần cũng đã biến đổi.

Đại để tư tưởng của 6 phái này như sau:
          1. Phái Ni-da-da (Nyaya: "Luận lý hay chính lý phái"):
          Khai tổ phái này là Gautama biệt danh là Aksapada (Túc mục) 50-150 sau Tây lịch. Ông căn cứ vào kinh Nyàya chủ trương đa nguyên luận, cho rằng con người sinh ra đã đầy dẫy khổ đau bởi tà ác nghiệp (Pravrti), tác nghiệp bởi phiền não (dosa), phiền não bởi vô tri (Mithyajàna). Cho nên muốn giải thoát trước phải diệt vô tri. Về phương thức luân lý, họ đặt ra 5 phần: Tôn, nhân, dụ, hợp, kết. Ví dụ ông A phải chết, vì ông là người; là người đều phải chết, như ông B, ông A là người vậy, vậy ông A phải chết. Hoặc cách khác gồm 5 đoạn: định lý, lý do, đại tiền đề, tiểu tiền đề và kết luận: Socrat phải chết, vì ông ta là người, người nào cũng phải chết, mà Socrat là người, vậy ông phải chết. Môn lý luận này về sau được phục chính, hoàn bị bởi hai vị luận sư Phật giáo là Thế thân và Trần na (Vasubandhu, Digna) tạo thành nhân minh luận, và trở thành môn luận lý học Phật giáo.
          2. Phái Vệ-thế-sử-ca (Vaisesikatti - Thắng luận):
          Khai tổ phái này là Canada (khoảng 150-50 trước Tây lịch). Ông căn cứ kinh Vaisesikatti chủ trương: "Thanh vô thường" giải thích vạn hữu theo lập trường tự nhiên bằng 6 cú nghĩa: Thật, Đức.

Nghiệp, Đồng dị tánh, Hòa hiệp tánh, Đại hữu tánh. Về phương diện nhân sinh, chủ trương con người được cấu thành bởi 8 yếu tố: Tâm (atman), Ý (mana), 5 căn và nghiệp lực. Tâm, ý thuộc tinh thần, 5 căn ngũ đại tạo thành, thuộc vật chất, Atman làm trung tâm, các cơ quan kia phụ thuộc, tiếp xúc ngũ trần mà nhận thức và tạo nghiệp, do nghiệp nên luân hồi. Vậy muốn hết luân hồi phải dứt nghiệp bằng lối tu khổ hạnh. Khi nghiệp sạch thì đạt tới cảnh giới thuần túy của Atman tự tại giải thoát.
          3. Phái Số-luận (Sammkhya):
          Khai tổ phái này là Ca-tỳ-la (Catipla) khoảng 350-200 trước TL, chủ trương tinh thần và vật chất nhị nguyên luận. Tinh thần tức là linh hồn thuần túy chủ quan, không bị biến động, trái lại vật chất là yếu tố tạo thành vạn hữu, là thuần túy khách quan, luôn luôn biến động.
          Học thuyết của phái này cô đọng trong bộ Kim thất thập luận của họ, theo đó vũ trụ tạo thành do 25 đế, đế đầu là Tự tánh (Prakiti, nguyên lý thiên nhiên phổ quát) và đế sau cùng là Tâm bình đẳng căn (Purusha, thần ngã, nguyên lý tinh thần). Tự tánh có 3 đặc tánh gọi là 3 đức làm nguồn gốc cho các pháp. Ba đức ấy là Tát-đỏa (Sattva), Lạt-xà (Rájas), Đáp-ma (Tamas) mà mỗi đức có nhiều nghĩa, theo tác dụng thì là dòng, trầm, ám; theo tâm

sở thì là tham, sân, si; theo ví dụ về sắc thì là: huỳnh, xích, hắc, theo trạng thái thì là minh, động, ám. Vạn hữu chỉ được hình thành sự phối hợp của 3 đức, do chỗ cần dùng của thần ngã.
          Đây thật là một duy tâm luận rất khôn khéo, ẩn hình dưới lối lập luận nhị nguyên mà thôi.
          4. Phái Du-già (Yoga)
          Khai tổ là Bát-ta-ra-lê (Patanjali) khoảng 400-450 khai Dl, căn cứ vào kinh Yoga chủ trương ti thuyền để cầu giải thoát. Có 8 giai đoạn trong cách thực tập thiền định:
          (1) Cấm chế (Yamayoga) là giữ 5 cấm giới, không sát, không đạo, không tà dâm, không vọng ngữ, không tham lam.
          (2) Khuyến chế ( Niyamayoga) là tích cực thực hành 5 việc: thanh tịnh, mãn định, khổ hạnh, học tập kinh điển, định thần.
          (3) Tọa pháp ( Asanayoga) là điều hòa thân thể.
          (4) Điều tức (Pranayanayoga) là điều hòa hơi thở.
          (5) Chế cảm (Pratyakarayoga) là chế ngự cảm xúc của ngũ căn.
          (6) Chấp trì (Dharanayoga) là tập trung tư tưởng.
          (7) Tịnh lự ( Dhyanayoga) là thống nhất tâm ý.

(8) Đẳng trì (Samadhiyoga) là tâm vắng lặng như hư không, sáng lạng như nhật nguyệt, trong cảnh tam muội, duy một thần ngã tự tại giải thoát không bị điều gì chi phối.
          5. Phái Di-mạn-tác (Mimamsa):
          Khai tổ phái này là Jaimini (khoảng 200-100 trước TL) chủ trương thuyết học luận lý, phục tòng kinh Veda, xướng thuyết "âm thanh thường trú". Căn cứ học thuyết phái này, người ta thấy nhất nguyên luận của Upanisad không ngừng phát triển và quan niệm một thực tế nguyên thủy. Cái một toàn thể biểu hiện ra hai hình thức: Một tinh thần coi ý thức mầm mống nội tại thầm kín ở các chúng sanh và một tự nhiên hay vật thể nguyên thủy tuy không có ý thức nhưng là động lực cơ bản cho cả thế giới tâm lý và sinh lý nữa.
          6. Phái Phệ-đàn-đà (Vedanta)
          Khai tổ phái này là Badarayana (khoảng 100 trước Tây lịch). Ông tạo ra kinh Vedanta làm cơ bản cho học phái của mình.
          Tuy tôn kính Veda, nhưng đã đưa Brahman ra khỏi tính thần linh nhân cách hóa để chủ trương Brahaman là một tổng thể nguyên lý của vũ trụ, lại duy nhất siêu việt.

Hiện tượng giới đều từ Brahman khai triển, trước hết xuất hiện từ hư không, rồi từ hư không có gió, từ gió có lửa, từ lửa có nước, từ nước có đất. Năm nguyên tố này một mặt tổ chức thành thế giới vô tri, một mặt tổ chức thành thế giới hữu hình.
          Brahman và Atman cùng một thể (Phạm tức Ngã, Ngã tức Phạm). Atman ở mọi chúng sinh là một phần của Brahman. Đồng tính với Brahman, nên khi công phu tu hành đầy đủ thì Atman được thoát nghiệp, trở lại dung hợp vào Brahman, tiêu diêu tự tại.
          Tóm lại những triết gia trên, không phải xuất hiện đồng thời với Phật, mà phần nhiều xuất hiện sau thời Phật, có lẽ là bị sự kích thích chi phối của Phật giáo mà tư tưởng Vệ-đà của cựu Bà-la-môn giáo được phục hưng với lối giải thoát tiến bộ ẩn dưới các học phái này. Tuy vậy họ cũng như đức Thích-ca đều là những nhà cách mạng Veda cựu giáo và được nhiều người trọng dụng. Tựu trung chỉ có Phật giáo và Kỳ-na giáo thịnh hành nhất như Nho, Mặc hai phái thời Chiến quốc, được xưng là Hiển học.
          Ở giữa cảnh thác loạn bởi bao chủ thuyết cực đoan mâu thuẫn, bởi xã hội phân chia đẳng cấp bất công khắc nghiệt, có hạng người được tôn như thánh thần, có hạng người lại bị coi như thú vật. Đức Phật đã chiết trung những điều thái quá cực

đoan, lấy trung đạo thực tiễn làm chuẩn đích.
          Về phương pháp tư dưỡng,một mặt Thuận thế ngoại đạo chủ trương cực đoan khoái lạc chủ nghĩa, một mặt Kỳ-na giáo chủ trương cực đoan khổ hạnh chủ nghĩa. Đức Phật không thếm Ngài lấy mức trung bình "không ép xác khổ hạnh cũng không đam mê khoái lạc" làm con đường tu dưỡng tinh thần.
          Về vấn đề linh hồn, một mặt Phù-đà-ca Chiên-diên chủ trương cực đoan thường trú luận, một mặt Thuận thế ngoại đạo chủ trương cực đoan đoạn diệt luận, đức Phật không thế, Ngài xướng ra "lưu động sinh mạng quán" theo luật nhân duyên hòa hiệp.
          Về vấn đề nhân quả, một Cực đoan tức mạng luận (Định mạng luận), một Cực đoan khác là vô nhân luận. Đức Phật không thế, Ngài thuyết minh trách nhiệm đạo đức, hễ tạo nghiệp thì họ báo.
          Như vậy về mặt thực tiễn, cũng như về mặt đạo lý, đức Phật đều lấy trung đạo làm tôn chỉ để truyền bá, nhờ vậy đã biến xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ từ cảnh hỗn tạp rối ren, hoang mang không định hướng trở thành một xã hội ổn định tươi sáng, mỗi người tự nhận rõ được giá trị đích thực của mình. Những lý lẽ tà kiến làm chia cách con người đến nay mất hết hiệu lực, và mọi người có thể nắm tay nhau sống một cuộc sống an lành trên nền tảng Đạo lý Từ bi bình đẳng của đức Phật.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.24/5/2018.

No comments:

Post a Comment