Giới có bốn phân khoa như sau.
1. Giới Pháp (Śiladharma).
Giới pháp là Đức Phật căn cứ vào Chánh Pháp để thiết lập giới luật. Nghĩa là Ngài dựa vào pháp Bát Chánh Đạo mà thiết lập các học giới, để cho các hàng đệ tử xuất gia, tại gia tu học, nhằm đi đến Chánh trí và Chánh giải thoát.
2. Giới Thể (Śilata).
Giới thể gọi là vô tác giới thể hay vô biểu giới thể.
Giới thể vô biểu Tỷ-khưu phát sinh có mười trường hợp như sau:
a. Tự nhiên thành tựu giới thể.
Đây là trường hợp thành tựu giới thể của đức Phật và các vị Độc Giác. Vì tự thân của các Ngài tu tập chứng ngộ. Do tự chứng ngộ, nên giới thể tự thành tựu. Và nó có công năng phòng phi, chỉ ác một cách tự nhiên, không có sự trao truyền.
b. Giới thể thành tựu do thấy rõ đế lý.
Do nghe đức Phật giảng dạy đạo lý Tứ đế, tự mình chiêm nghiệm rồi thấy rõ đế lý, bước vào Thánh đạo vô lậu, mà phát sinh vô biểu giới thể, và có công năng phòng hộ điều ác.
c. Giới thể thành tựu do đức Phật gọi tên.
Do đức Phật gọi rằng: “Hãy đi đến nơi an tịnh, hỡi Tỷ-khưu !” (…………….! – Thiện lai Tỷ-khưu !)
Trong thời đức Phật còn tại thế, có rất nhiều Tỷ-khưu được Ngài tác thành giới thể bằng cách gọi này.
d. Giới thể thành tựu do xác nhận đức Phật là Bậc Đạo Sư.
Đây là trường hợp thành tựu giới thể của Tôn giả đại Ca Diếp. Tôn giả đã do xác nhận đức Phật là Bậc Đạo Sư của mình mà thành tựu được giới thể vô biểu.
e. Giới thể thành tựu do khéo trả lời.
Trường hợp của Tô-đà-di. Ông ta mới bảy tuổi, đức Phật hỏi ông rằng: “Nhà con đâu?”. Tô-đà-di trả lời: “Ba cõi không đâu không là nhà”, do khéo trả lời như vậy, nên đức Phật đã dạy Chúng Tăng làm phép Yết-ma, tác thành giới thể Tỷ-khưu cho Tô-đà-di.
f. Giới thể thành tựu do thọ Tám kỉnh pháp.
Đây là trường hợp bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề, do lãnh nhận Bát kỉnh pháp mà thành tựu giới thể Tỷ-khưu Ni.
g. Giới thể thành tựu do gởi đại diện.
Đây là trường hợp đặc biệt Nàng Pháp Thọ, vì Nàng là người đẹp nổi tiếng trong vùng, khi nghe Nàng xuất gia thọ Tỷ-khưu Ni, nhiều thanh niên đã tổ chức đón đường để bắt cóc.
Do đó, Phật cho phép Nàng gửi người đến giữa Tăng để thọ, sau đó về truyền lại.
h. Giới thể thành tựu do vị thứ năm trì luật.
Trường hợp ở biên cương, Tăng không đủ túc số mười vị, để tác pháp Bạch Tứ Yết-ma, truyền thọ Tỷ-khưu giới, cho một Sa-di. Nên, đức Phật cho phép, chỉ cần năm vị Tỷ-khưu, trong đó có một vị thông thạo tác pháp Yết-ma, thì người thọ mới thành tựu giới thể.
i. Giới thể phát sinh do Tăng mười vị.
Trường hợp ở nơi trung tâm văn hóa, đạo đức, thì phải đủ túc số Tăng mười vị để tác pháp Bạch Tứ Yết-ma, tác thành giới Tỷ-khưu cho một vị Sa-di.
j. Giới thể thành tựu do ba lần nói lên.
Giới thể thành tựu do ba lần nói lên rằng: Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Trường hợp này chỉ xảy ra, trước khi đức Phật quy định pháp Bạch Tứ Yết-ma.
Lại nữa, giới thể của một vị thọ giới phát sinh, có thể y cứ vào ba trường hợp:
Sắc pháp.
Lúc thọ giới hai nghiệp thân và ngữ của người thọ, có biểu lộ ra những hình thái cụ thể, mà thuật ngữ Luật tạng gọi là hữu biểu sắc. Từ nơi hữu biểu sắc ấy, lại nương vào bốn đại chủng, mà khởi lên một loại sắc pháp, đó là sắc vô biểu, một loại sắc không biểu lộ hình thái cụ thể bên ngoài, nhưng có khả năng điều động và phòng hộ thân, ngữ tránh được những hành động sai lầm.
Vô biểu sắc, cũng gọi là vô tác sắc, hay vô tác giới thẻ, nghĩa là giới thể của một vị Tỷ-khưu thành tựu, kể từ khi Tăng tác pháp Bạch Tứ Yết-ma xong, thì ngay đó, giới thể liền dựa trên sắc uẩn của người thọ mà phát sinh một cách đầy đủ và tiếp tục tồn tại một cách tự nhiên, cho đến trọn đời để phòng hộ thân ngữ.
Theo trường phái Hữu bộ của Phật giáo, thì chính công năng phòng hộ thân, ngữ ấy, gọi là vô biểu sắc, vô tác sắc, hay vô tác giới thể và chúng đều thuộc về sắc pháp.
Do đó, Biệt Giải Thoát Luật Nghi vô biểu cần phải hiểu theo nghĩa này.
Tâm pháp.
Trong kinh Pháp Cú nói:
“Tâm dẫn đầu các pháp
Tâm là chủ, tâm tạo tác.
Nếu nói hay hành động
Với tâm niệm độc ác
Khổ não liền theo sau
Như xe bò theo sát.
Tâm dẫn đầu các pháp
Tâm là chủ, tạo ác
Nếu nói hay hành động
Với tâm niệm thanh tịnh
An lạc liền theo sau
Như bóng chẳng rời hình”.[1]
Như vậy, tâm đóng vai chủ đạo trong vấn đề tạo ác và tạo thiện. Do đó, khi tâm của một người phát khởi để mong cầu thọ giới, thì tâm ấy tương ưng với thiện tâm sở, thiện tâm sở tương ưng với phát động tư, nghĩa là thiện tâm sở tương ưng với ý chí phát khởi, làm cho chủng tử thiện tiếp diễn, tạo thành công năng khiến thân tâm thọ giả, đủ sức để dứt ác hành thiện.
Bởi vậy, mà gọi giới thể phát sinh là dựa trên tâm và tâm sở pháp.
Phi sắc phi tâm pháp.
Vì sắc không có hình chất, nên gọi là phi sắc; vì tâm không bị lệ thuộc vào thẩm lự tư nên gọi là phi tâm.
Mặc dù, vô tác giới thể được dẫn sinh từ sắc và tâm, nhưng nó không thể khẳng định là sắc hay tâm. Thế mà nó lại có công năng phòng hộ, khiến ba nghiệp hoạt động trong sự thanh tịnh.
Vậy, giới thể phát sinh từ sắc, từ tâm hay từ phi sắc, phi tâm, nó đều có khả năng phòng hộ những hành động sai lầm của thân và ngữ, đồng thời khiến thân và ngữ luôn luôn an trú ở trong Chánh Nghiệp, Chánh Mạng và Chánh Ngữ…
Do đó, năng lực phòng hộ và điều động ấy, được hiểu là giới thể.
3. Giới hành (Śilacarya):
Một người sau khi đã thọ giới, mọi hành động của họ đều được điều động bởi giới thể, do đó hành động ấy, được gọi là giới hành hay Chánh hành, hành động ấy làm cơ sở để dẫn đến đời sống hoàn toàn phạm hạnh.
Giới hành (Śilacarya) do giới thể (Śilata) điều động, nó được thể hiện qua bốn trường hợp sau:
a. Giới hành thanh tịnh thuộc về sự chế ngự của các giới bổn (Pātimokkasaṃvara Śila).
Giới bổn tiếng Sanskrit là Prātimokṣa, có nghĩa làm căn bản cho sự giải thoát.
Vậy, người thực hành theo sự chế ngự của giới bổn, là người đặt cơ sở để chế ngự thân hành ác, ngữ hành ác, nhằm giải thoát khổ ách, đọa xứ để đi đến đời sống an tịnh của Niết-bàn.
Người có giới hành, người đó tránh xa hành động giết hại, tránh xa hành động lấy của không cho, tránh xa hành động dâm dục, tránh xa lời nói dối trá…
Do tránh xa các điều nói trên, vị ấy thành tựu Chánh hạnh, đặt nền tảng vững chắc cho đời sống phạm hạnh hoàn toàn.
Lại nữa, một vị Tỷ-khưu có giới hành, vị ấy sẽ không bao giờ gần gũi những chỗ không thích đáng như phòng trà, chỗ ăn chơi, quán rượu thịt, chỗ vua quan, nơi lợi lộc, nơi tranh giành địa vị, hoặc giao thiệp với những gia đình tà kiến, không có tín tâm đối với Tam Bảo.
Trái lại, vị ấy chỉ gần gũi những nơi an tịnh, tiếp xúc với những Bậc có giới, có định, có tuệ, những Bậc ít tham muốn, biết đủ, đời sống tịch tịnh, biết sống độc thân, biết tinh cần để thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu tuệ, thành tựu giải thoát và giải thoát tri kiến.
Do tiếp xúc và gần gũi như vậy, vị ấy sẽ thấm nhuần không khí tươi mát của giới, không khí an ổn, bình lặng của định, và được sưởi ấm bằng mặt trời trí tuệ.
Lại nữa, một vị tu tập có giới hành, vị ấy có bốn uy nghi, đi, đứng, nằm, ngồi rất thanh tịnh. Vị ấy, có sự cung kính trước Tăng. Vị ấy, đi đến những nơi đáng đi, đứng những nơi đáng đứng, ngồi những nơi đáng ngồi, nghỉ những nơi đáng nghỉ, và tất cả đều nằm trong tư thái hoàn toàn thanh tịnh.
Vị ấy, rất khéo giữ gìn lời nói, sẽ không nói những điều không đáng nói, không khen những điều không đáng khen, không chê những điều không đáng chê. Vị ấy, chỉ nói đúng thời, đúng chỗ, đúng việc, đúng đối tượng.
Vị ấy, rất tự tin ở chính mình, nhìn đời với đôi mắt bình lặng và hết lòng ngưỡng mộ những Bậc đáng kính.
Vị ấy, luôn luôn quán chiếu để thấy sự nguy hiểm trong từng lỗi nhỏ của chính mình và từng ý niệm bất thiện khởi lên ở tâm ý.
Như vậy, giới hành thuộc về sự chế ngự của giới bổn đặt trên nền tảng của Chánh nghiệp, Chánh mạng và Chánh ngữ và luôn luôn đi kèm với Chánh tinh tấn, Chánh định, Chánh niệm và được soi chiếu bởi Chánh tư duy và Chánh kiến hay Tuệ.
Còn nếu, một vị chưa đủ Chánh kiến hay Tuệ để tu tập giới hành, thì vị ấy sẽ thực hành giới hành về sự chế ngự của giới bổn là hoàn toàn do niềm tin thuần tịnh.
b. Giới hành thuộc về sự phòng hộ các căn môn (Indriyasaṃvara Śila).
Một vị thực hành giới, khi mắt tiếp xúc với sắc trần, thức không khởi lên sự phân biệt vọng tưởng về vọng tướng và tự tướng của sắc, do đó vị ấy chế ngự được tham ái đối với sắc. Cho đến tai vị ấy, khi nghe âm thanh, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý thức nhận thức các pháp, đều không khởi lên những phân biệt vọng tưởng về vọng tướng và tự tướng của chúng, do đó vị ấy chế ngự được mọi tham ái, chấp thủ và hậu hữu đối với những thứ ấy.
Nếu một vị tu tập mà sáu quan năng nhận thức không được đóng kín bởi Chánh Niệm, hạnh phúc của vị ấy sẽ bị đe dọa nghiêm trọng và sẽ bị giặc tham ái, sân hận gây rối và cướp mất. Để rồi, vị ấy sẽ bị dòng tác chấp ngã cuốn phăng và nhận chìm trong biển cả sinh tử.
Tuy nhiên, một vị thực hành giới, phòng hộ các căn môn, chính là vị ấy phòng hộ về tâm ý. Vì sao? Vì khi nhãn căn tiếp xúc với sắc trần, nhĩ căn tiếp xúc thanh trần… mà chưa có tác ý thì chưa khởi lên những nhận thức, hoặc những cảm thọ ô nhiễm, vì đó là trạng thái thấy để mà thấy, nghe để mà nghe… Tất cả những hiện trạng thấy nghe ấy, đều còn ở trong giai đoạn vô sự.
Hoặc khi các quan năng nhận thức, tiếp xúc với các đối tượng liên hệ với chúng, tâm của vị trì giới khởi lên như lý tác ý, hiểu rõ tự bản thân của các đối tượng ấy, chúng đang là gì; do đó người trì giới không bị chúng đánh lừa. Và mặc dù, có nhìn, có nghe…Nhưng tâm của họ có giới hành, nên không bị ô nhiễm.
Bởi vậy, một vị tu tập giới hành phòng hộ các căn, chính là vị ấy phòng hộ sự tác ý, để sự thấy, sự nghe… khỏi bị đắm chìm và mắc kẹt nơi tự tướng và cộng tướng của đối tượng.
Cốt lõi của sự tu tập giới hành về các quan năng, chính là phòng hộ ý, khiến cho ý luôn luôn an trú trong Chánh Niệm.
Mỗi khi ý đã an trú trong Chánh Niệm thì không có điều ác nào là không diệt trừ, và không có điều thiện nào là không thực hiện, dù là một điều thiện rất nhỏ.
Bởi vậy trong giới kinh đức Phật dạy: “Đừng làm các điều ác, hãy làm các điều thiện, giữ tâm ý thanh tịnh.”
Hễ tâm ý của một vị đã có giới hành thanh tịnh, thì không có việc gì của vị ấy là không thanh tịnh.
Như vậy, giới hành phòng hộ các cửa ngõ về căn môn, nó được đặt trên nền tảng của Chánh niệm, Chánh định và Chánh tinh tấn, đồng thời luôn luôn được đi kèm với Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh ngữ và được soi chiếu bởi Chánh tư duy, Chánh kiến và tuệ.
c. Giới hành thuộc về thanh tịnh Chánh mạng (Ājīvapārisuddhi Śila).
Vì lý do sinh nhai, nên con người hay nói dối trá với nhau, và cũng chính vì lý do đó mà nhen mồi cho các tham dục sinh trưởng, làm hỏng mất đời sống thanh tịnh.
Lại nữa, vì mong có lợi nhuận trong sự sinh nhai, mà một người phải uống cong lời nói. Và cũng vì lợi nhuận sinh nhai, mà kẻ cầm bút đã bẻ cong ngòi bút của mình.
Thậm chí đến cả những nhà tu hành, cũng vì nghĩ đến lợi nhuận cho bản thân mà xu phụ quyền lực, đến nỗi gây thiệt hại tín tâm cho hàng tín đồ không ít, ngay cả sự cầm bút của họ, cũng viết thành những văn bản nhảm nhí, dối trá, lừa phỉnh tín đồ và quần chúng, để mong có chút lợi nhuận hoặc an thân và lập mệnh trên những lợi nhuận tà mạng ấy.
Và thậm tệ hơn nữa, có những vị chưa hề chứng đắc các Thánh quả, mà tự khoe mình đã chứng Pháp thượng nhân để mong cầu lợi dưỡng.
Hoặc có kẻ ngụy trang thiền tướng để mong cầu lợi dưỡng. Hoặc có kẻ làm môi giới giữa trai và gái, hay làm môi giới giữa các thế lực chính trị để cầu lợi dưỡng. Hoặc không bệnh hoạn mà đi mong cầu những thức ăn thượng vị… Tất cả những trường hợp xảy ra như trên, là do thiếu sự phòng hộ của giới hành thanh tịnh về sinh mạng.
Một người mà sống thiếu sự phòng hộ của giới hành này, thì họ có những đặc điểm như sau:
- Giả bộ đạo đức: Tính lừa đảo bịp bợm thường xảy ra ở nơi một người không có giới hành thanh tịnh về mạng.
Vị ấy, thường giả bộ uy nghi, đạo đức, bố thí, trì giới… Nhưng thật chất là hoàn toàn để dối trá và lừa đảo kẻ khác mà thôi.
Tại sao họ làm như vậy ? Vì không mục đích nào khác hơn của họ, là có lợi nhuận.
- Nói thiếu thực nghiệm: Nghĩa là người ấy ăn rồi ngồi nói tán dóc, ngôn ngữ của họ nói là ngôn ngữ rỗng tuếch, không có chất liệu của sự thực nghiệm nào.
- Nói xu phụ: Vì mong cầu lợi nhuận, vị ấy không kể đến sự thật, chỉ biết nói nịnh chảu, tâng bốc người quyền thế, người giàu có.
- Nói không biết hổ thẹn: Nói lời nói không biết xấu hổ, không biết hổ ngươi với kẻ khác và đối với lương tâm mình.
- Nói nhiều lần: Người đó nói láo không biết mỏi miệng, nói đi nói lại nói hoài cho đến bao giờ đạt được mục tiêu lợi nhuận, thì mới hết nói.
- Nói khiêu gợi: Cách nói bóng, nói gió, nói xa, nói gần để khiêu gợi người khác cúng dường.
- Nói chinh phục: Cách nói nhẹ nhàng dễ chịu, với mục đích để có lợi nhuận từ kẻ khác.
- Nói quyến rũ: Cách nói lên giọng, xuống giọng, hứa hẹn…để ru ngủ kẻ khác, đưa họ đi vào thế giới mê hồn, để kiếm lợi nhuận cho bản thân.
- Nói nhiếc mắng: Khi nhu cầu lợi dưỡng không được đáp ứng, kẻ thiếu giới hành về thanh tịnh sẽ nói gì? Họ sẽ nói lời nhiếc mắng, gièm pha, dọa dẫm, chê trách, mách lẻo, bôi nhọ, chửi sau lưng, chửi lén, chửi bóng, chửi gió…
- Săn đuổi lợi nhuận: Họ đặt quyền lợi của họ lên trên quyền lợi của kẻ khác, họ đặt bản ngã của họ lên trên của kẻ khác, họ sử dụng lợi nhuận này để mong cầu lợi nhuận khác. Do đó, họ là kẻ làm mồi cho lửa tham dục.
- Những đặc điểm nêu ra ở trên, là những đặc điểm của người sống thiếu giới hành phòng hộ về thanh tịnh sinh mạng.
Giới hành phòng hộ thanh tịnh sinh mạng, được đức Phật thiết lập trên nền tảng của Chánh mạng và được đi kèm với những yếu tố khác của Bát Chánh đạo.
d. Giới hành liên hệ đến bốn vật dụng (Paccayasannissita Śila).
Một vị tu tập thực hành giới hành liên hệ đến bốn vật dụng, vị ấy luôn luôn quán sát trong lúc sử dụng bốn vật dụng như sau.
- Sử dụng y phục: Vị ấy thọ dụng y phục với những mục đích như sau:
+ Ngăn ngừa nóng và lạnh.
+ Ngăn ngừa sự đụng chạm của các loài vật hút máu.
+ Ngăn ngừa sức nóng của mặt trời chiếu dọi trên cơ thể.
+ Ngăn ngừa gió bụi chạm lên cơ thể.
+ Hỗ trợ cho tâm biết hổ thẹn, vì không biết hổ thẹn là đánh mất hết thiện căn, và cũng do vì không biết hổ thẹn, mà kẻ khác không khoát lên cho thân thể, bất cứ một loại y phục nào, và thân thể đó thích hợp với những điều dơ bẩn.
Người tu tập có giới hành liên hệ đến bốn vật dụng, trước hết họ khoát lên cho thân thể bộ y phục biết hổ thẹn.
- Sử dụng thức ăn khất thực:
Vị tu tập thực hành giới liên hệ đến sự khất thực, vị ấy, đi khất thực an trú trong Chánh Niệm. Và sử dụng thức ăn khất thực là để duy trì sinh mệnh, nhằm thực hiện đưa đến sự viên mãn giới, định và tuệ.
Lại nữa, đói làm cho thân thể tiều tụy, làm cho tâm tư sầu muộn và vì để chấm dứt sự tổn hại ấy, nên vị tu tập đi khất thực và dùng thức ăn khất thực.
Khi đi khất thực và dùng đồ ăn, vị ấy quán niệm rằng, thân này như chiếc xe, đồ ăn khất thực như nhiên liệu, nhờ có sự hỗ trợ của nhiên liệu mà chiếc xe vượt qua được những chỗ hiểm nghèo, đến được những chỗ muốn đến một cách an toàn.
Lại nữa, khi đi khất thực và dùng thức ăn vị tu tập quán niệm, đói là một cơn bệnh, có khả năng tàn phá sức khỏe, nên vị ấy sử dụng thức ăn khất thực như là một loại dược phẩm trị bệnh, diệt trừ các khổ thọ do bệnh đói gây nên.
Trong lúc quán niệm để sử dụng thức ăn như vậy, thì tâm sở tàm và quý luôn luôn hiện hữu, nên lúc thọ dụng, tâm không bị rơi vào phóng túng, làm mồi cho tham dục phát sinh.
Và trong lúc quán niệm như vậy, vị tu hành theo giới tránh được hai trường hợp:
+ Trường hợp chán ăn: Vì trường hợp này, đưa thân thể đến chỗ suy nhược, gầy còm, da thịt thô xám, trắng bạc…
+ Trường hợp hám ăn: Đưa đến cho cơ thể khó thở, mệt đừ buồn ngủ, uể oải và tăng thêm những nhu cầu tham dục bẩn thỉu cho cơ thể.
- Sử dụng trú xứ:
Ngay từ khi đức Phật còn tại thế, Ngài không lưu trú bất cứ một trú xứ nào nhất định, khi thì Ngài ở trú xứ này, khi thì Ngài ở trú xứ kia để thuyết pháp giáo hóa chúng sanh, ròng rã cuộc đời hoằng pháp như vậy, cho đến khi Ngài nhập Niết-bàn giữa rừng cây Sala.
Khởi đầu sứ mệnh hoằng pháp, đức Phật dạy các vị Tỷ-khưu, trong lúc đi hoằng đạo không được ngủ quá ba đêm ở dưới một gốc cây.
Tuy nhiên, sau đó Chánh Pháp được truyền bá rộng rãi, hàng Phật tử tại gia quy ngưỡng Tam Bảo với số lượng quá nhiều và nhu cầu học tập của họ, cần có sự trực tiếp hướng dẫn bởi đức Thế Tôn hoặc bởi các Thánh đệ tử. Do đó, hàng Phật tử tại gia được thiết lập Tịnh xá và Tu viện để Ngài và các Thánh đệ tử dừng chân giáo hóa, hướng dẫn đời sống tâm linh cho họ, đồng thời cũng làm nơi dừng nghỉ cho các Ngài, những khi cần thiết và tránh những lúc nguy hiểm của thời tiết.
Thời tiết nguy hiểm là gì? Đó là lúc thời tiết hoặc quá nắng, hoặc quá lạnh hoặc mưa gió bão bùng.
Như vậy, vị tu tập thực hành giới thanh tịnh về trú xứ nhắm tới mục đích gì? Mục đích là phòng ngừa thời tiết nóng và lạnh. Và lại thuận tiện cho đời sống độc cư, để quán sát và giảm trừ các tâm sở bất thiện là tham, sân và si, vì những tâm sở bất thiện này, nó nguy hiểm hơn cả sự nguy hiểm về thời tiết nữa.
Bởi vậy, vị tu tập sử dụng trú xứ, nhưng không vì trú xứ ấy, để cho tham tâm dấy khởi, sân tâm dấy khởi và si tâm dấy khởi, làm thương tổn đến giới hành.
- Sử dụng dược phẩm trị bệnh.
Dược phẩm trị bệnh, tiếng Pāli là Parikkhāra, nó có nghĩa là nhu yếu hay trang bị cho đời sống.
Bất cứ những thứ gì, dù là cây cỏ, hay những chất liệu lấy ra từ động vật, thực vật có khả năng chữa lành bệnh đều gọi là dược liệu trị bệnh.
Vị tu tập, khi trị liệu các dược liệu như vậy, cũng có thể ngăn chặn được các cảm thọ thống khổ, do sự xáo trộn của tứ đại gây ra.
Và khi sử dụng dược phẩm trị liệu, bằng sự thực hành giới thanh tịnh, vị ấy, hoàn toàn an trú Chánh Niệm, do đó khi sử dụng dược phẩm, không bị các tham tâm, sân tâm và si tâm chi phối.
Giới hành liên hệ đến bốn thứ vật dụng, là đức Phật đã căn cứ vào Lý Trung Đạo để thiết lập, cho các hàng đệ tử vâng hành, nhằm tránh xa hai cực đoan. Một là ép xác khổ hạnh, vì cách hành động này không thể nào đưa đến Chánh trí và Chánh giải thoát. Hai là buông lung theo các dục, vì hành động buông lung theo các dục, vì hành động buông lung này, chỉ dẫn đến khổ đau và sa đọa, hoang phí mà vô ích.
Nếu một vị tu tập không có giới hành thanh tịnh, mà sử dụng bốn vật dụng ở trên, thì bị mắc vào lỗi lầm như kẻ ăn trộm, như người mắc nợ, như kẻ dối gạt tín đồ.
Trái lại, một vị tu tập có viên mãn về giới hành, vị ấy khi sử dụng bốn vật dụng, luôn luôn an trú trong Chánh Niệm, có tính tự chủ, không bị tham lam chuyển động, họ luôn luôn được soi chiếu bởi Chánh Kiến và Tuệ.
4. Giới tướng (Śilalaksana).
Tức là hình tướng của các giới tướng Cận Sự, Cận Trú, Sa-di, Tỷ-khưu…
a. Giới tướng Cận Sự.
Giới tướng của Cận Sự có năm điều mà người phát nguyện thọ trì giới này, thì suốt đời không được vượt qua.
- Không giết hại.
- Không trộm cắp.
- Không tà dâm.
- Không nói láo.
- Không uống rượu.
b. Giới tướng Cận Trú.
Cận trú giới có tám giới tướng, vị thọ trì giới này, thì nguyện một ngày một đêm không vượt qua.
- Không giết hại.
- Không trộm cắp.
- Không dâm dục.
- Không nói láo.
- Không uống rượu.
- Không trang điểm vòng hoa hương, không thoa hương thơm vào mình. Không đi xem các thứ các thứ ca nhạc vũ kịch.
- Không nằm ngồi giường rộng lớn cao sang.
- Không ăn phi thời.
c. Giới tướng của Sa-di.
Giới tướng này có mười điều, vị thọ trì giới Sa-di, thì nguyện suốt đời không vượt qua.
- Không giết hại.
- Không trộm cắp.
- Không dâm dục.
- Không vọng ngữ.
- Không uống rượu.
- Không trang điểm, không xoa hương.
- Không đàn ca, xướng hát.
- Không nằm ngồi giường rộng lớn cao sang.
- Không ăn phi thời.
- Không nắm giữ các báu vật như vàng, bạc …
d. Giới tướng Tỷ-khưu.
Theo Luật Tứ Phần, thì giới tướng Tỷ-khưu có năm thiên, gồm 250 học giới.
- Thiên Ba-la-di, gồm có bốn học giới.
- Thiên Tăng-già-bà-thi-sa, gồm có 13 học giới.
- Thiên Ba-dật-đề, gồm có 120 học giới.
- Thiên Ba-la-đề-đề-xá-ni, gồm có 4 học giới.
- Thiên Chúng học pháp, gồm có 100 pháp cần học.
e. Giới tướng Tỷ-khưu Ni.
Theo Luật Tứ Phần, thì giới Tỷ-khưu Ni cũng có năm thiên, nhưng số điều khoản học giới nhiều hơn Tỷ-khưu.
- Thiên Ba-la-di, gồm có 8 học giới.
- Thiên Tăng-già-bà-thi-sa, gồm có 17 học giới.
- Thiên Ba-dật-đề, gồm có 208 học giới.
- Thiên Ba-la-đề-đề-xá-ni, gồm có 8 học giới.
- Thiên Chúng học pháp, gồm có 100 pháp cần học.
f. Giới tướng của Bồ-tát.
1. Giới tướng của Bồ-tát Phạm Võng.
- Trọng giới gồm có 10 điều.
- Khinh giới gồm có 48 điều.
2. Giới tướng thuộc Bồ-tát Ưu-bà-tắc.
- Trọng giới gồm có 6 điều.
- Khinh giới gồm có 28 điều.
g. Giới tướng của Thập Thiện:
Gồm có mười điều.
Còn giới tướng của Sa-di Ni, thì đồng với Sa-di. Và giới tướng của Thức Xoa Ma Na thì chỉ có sáu.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.25/5/2018.
No comments:
Post a Comment