Giới tiếng Sanskrit là Śila, có nghĩa là thiện, phẩm chất của thiện, luân lý, đạo đức.
Các nhà Phật học Hán Tạng, chuyển âm Śila là Thi-la và dịch là giới. Ấy là những điều răn dạy đạo đức, răn dạy thực hành điều thiện, ngăn ngừa điều ác.
Vậy, Thánh giới là gì ? Đó là giới do Bậc Thánh nội chứng và tuyên thị, làm nền tằng cho thiền định và trí tuệ, có mục đích đưa người thực hành đi đến giải thoát và giác ngộ.
Bởi vậy, trong Phật Pháp giới làm nền tảng cho toàn bộ giáo lý của đức Phật. Do đó, hễ đề cập đến giáp lý đức Phật, thì trước hết là phải đề cập đến giới học và tu tập theo giáo lý đức Phật, thì trước hết là phải thọ trì và tu tập tịnh giới.
Nên, Kinh Bồ-tát Anh Lạc nói: “Nếu hết thảy chúng sanh, bước đầu muốn đi vào biển cả Tam Bảo, thì niềm tin là tối yếu, và muốn an trú trong ngôi nhà Phật Pháp, thì giới là căn bản.”[1]
Nếu một người muốn tu tập mà không hành trì tịnh giới, thì các Thánh quả Dự Lưu, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán không do đâu mà thành tựu. Cho đến các địa vị Bồ-tát và Phật cũng không biết dựa vào đâu mà chứng đạt.
Kinh Phạm Võng nói: “Tất cả các loài có tâm thức, đều nhiếp thâu vào trong giới pháp của Phật, chính là họ đang và sẽ hội nhập vào địa vị của chư Phật.”[2]
Do đó, giới vừa làm căn bản cho sự tu tập, vừa xuyên suốt lộ trình đi đến giải thoát và giác ngộ.
Do đó, giới vừa làm căn bản cho sự tu tập, vừa xuyên suốt lộ trình đi đến giải thoát và giác ngộ.
Nên, giới rất phong phú đa dạng, sâu thẳm và bao gồm những ý nghĩa như sau:
1. Giới có nghĩa là Tránh Xa.
Tức là tránh xa hai cực đoan ép xác và buông lung.
Tránh xa sự tu tập ép xác khổ hạnh, vì ép xác khổ hạnh không đưa đến đoạn tận các lậu hoặc và thành tựu sự an tịnh của Niết-bàn.
Tránh xa sự buông lung, vì buông lung tâm ý chạy theo các dục, thì không những bị khổ đau trong đời sống hiện tại, mà còn ngay cả đời sống trong tương lại nữa.
2. Giới có nghĩa là Thân Cận.
Vì giới gần gũi và đặt nền tẳng cho Định, Tuệ, Giải thoát và Giải thoát tri kiến.
Hay nói cách khác, giới gần gũi và đặt nền tảng để dẫn đến sự thành tựu các pháp vô lậu của giải thoát và Niết-bàn.
3. Giới có nghĩa là Hộ Trì.
Vì nó khiến cho Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỷ căn, Thiệt căn, Thân căn và Ý căn không bị các trần tướng bên ngoài đâm thủng và khuấy động, khiến thân tâm buông lung theo các dục.
Ngoài nghĩa hộ trì, giới còn có nghĩa là thâu nhiếp, khiến các căn luôn luôn an trú ở trong định và tuệ, đồng thời giới cũng còn có nghĩa là gạn lọc, khiến cách nhìn, cách nghe, cách ngửi, cách nếm, cách tiếp xúc, cách tư duy, không bị cấu uế của tham, sân, si, mạn, chấp ngã làm vẩn đục.
4. Giới có nghĩa là Giải Thoát.
Vì giới có năng lực khiến cho tâm xa lìa sự chấp thủ các sắc là tự ngã, là sở hữu của ngã; các cảm thọ là tự ngã, là sở hữu của ngã; các tưởng uẩn là tự ngã, là sở hữu của ngã; các hành uẩn là tự ngã, là sở hữu của ngã; các thức uẩn là tự ngã, là sở hữu của ngã.
Do tâm không chấp thủ năm uẩn là tự ngã, và sở hữu của ngã, nên được giải thoát, vì vậy mà giới có nghĩa là giải thoát.
5. Giới có nghĩa là Thận Trọng.
Vì giới phòng hộ các ác pháp một cách chín chắn và cẩn thận, khiến cho những sai lầm nhỏ nhặt không thể phát sinh làm nguy hiểm đến đời sống phạm hạnh và cao khiết.
Người đời thường hay khinh thường những lỗi nhỏ mà buông lung tâm ý, nên lâu ngày làm cho tâm ý nhiễm ô, bị phiền não trói buộc, bị nghiệp lực câu thúc mà tự mình không hay biết, nên mãi bị đắm chìm trong sanh tử luân hồi.
Bậc Thánh trí thận trọng từng lỗi nhỏ, cẩn thận tháo gỡ, từng gút giây nhỏ, đang trói buộc lấy mình.
Quả thật, giây càng nhỏ mịn bao nhiêu, thì sự trói buộc càng chắc bấy nhiêu, nên ai là kẻ trí trong đời không thể không cẩn thận.
6. Giới có nghĩa là Tư tâm sở (Cetanā).
Nghĩa là giới có mặt và phát khởi, từ tư tâm sở của một người; có ý chí và phát ra lời thề nguyện rằng “Từ hôm nay cho đến trọn đời, từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cướp, từ bỏ tà hạnh, từ bỏ nói láo…” Vì nó là bảy tác ý, luôn đi kèm theo bảy, trong mười nghiệp đạo thiện, nơi một người phát khởi ý chí và thề nguyện trọn đời từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh, từ bỏ nói láo….”.
7. Giới có nghĩa là Tâm Sở Thọ, Tưởng và Hành.
Nghĩa là giới có mặt và phát khởi từ tâm sở thọ, tâm sở tưởng và tâm sở hành nơi tâm một người kiêng giữ, đối với những hành động, từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm cắp, từ bỏ tà hạnh, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói thêm thắc, từ bỏ nói thô tục, tâm an trú vô tham, vô sân và Chánh kiến.
8. Giới có nghĩa là Chế Ngự.
Sự chế ngự của giới có năm trường hợp:
a. Do tùy thuận theo giới bổn mà chế ngự được các áp pháp.
b. Do Chánh niệm mà chế ngự được các lậu hoặc các tạp niệm.
c. Do Chánh kiến mà chế ngự được vô minh, hành nghiệp, khát ái, chấp thủ và các nghiệp hữu.
d. Do kham nhẫn mà chế ngự được các thèm muốn của dục vọng, chế ngự được sự nóng lạnh, sự đói khát, sự đam mê, và bệnh tật.
e. Do tinh tấn mà chế ngự được những điều ác chưa phát sinh và đã phát sinh. Và do tinh tấn mà phát khởi được những điều thiện chưa phát sinh và nuôi dưỡng được những điều thiện đã phát sinh.
Do có năm trường hợp ấy, mà giới có nghĩa là chế ngự.
9. Giới có nghĩa là Không Nên Vượt Qua.
Vì giới là bờ đê ngăn chặn điều ác, nếu vượt qua giới, tức là rơi vào điều ác.
Do đó, giới có nghĩa là không nên vượt qua.
10. Giới có nghĩa là Kết Hợp (Śilana).
Vì giới kết hợp với thiện nghiệp đạo của thân, ngữ và ý.
11. Giới có nghĩa là Đình Chỉ.
Vì giới có khả năng đình chỉ những hành vi ác của thân, ngữ và ý.
12. Giới có nghĩa là Nâng Lên (Upadhārana) hoặc Nắm Giữ.
Vì từ giới mà nâng lên Định, Tuệ và nâng người hành trì giới từ phàm phu lên địa vị Thánh giả, từ sanh tử lên Niết-bàn. Và giới nắm giữ độc quyền về điều thiện, nếu không có giới thì các thiện pháp hữu lậu và vô lậu không do đâu mà phát sinh.
13. Giới có nghĩa là Điểm Hội Tụ.
Vì giới có nghĩa là khởi điểm và tụ điểm của các thiện pháp.
14. Giới có nghĩa là Tươi Mát (Sītala).
Vì ba ác nghiệp ngày đêm oi bức đốt cháy chúng sanh. Giới phòng hộ ba nghiệp, khiến chung sanh ngày đêm không bị các phiền não bức hại, làm oi bức và đốt cháy.
Lại nữa, giới làm cho đời sống của chúng sanh ổn định và tươi mát. Hán tạng gọi giới là ao thanh lương, tức là ao trong mát tắm sạch hết thảy mọi phiền não cho chúng sanh.
15. Giới có nghĩa là Diệu Hành (Sucarita).
Vì giới có khả năng đưa người thực hành đến nơi hạnh phúc cao thượng; đi đến chỗ an toàn của thân mạng và nhân phẩm; đi đến các cõi Trời và các cõi Thánh; đi vào các cảnh giới bất khả tư nghì của Bồ-tát và chư Phật.
16. Giới có nghĩa là Thiện Nghiệp.
Vì giới thúc đẩy và bắt buộc mọi hành động phải đi theo lẽ phải, để thẳng đến cửa ngõ Niết-bàn.
17. Giới là Luật Nghi.
Luật nghi tiếng Phạn là Sạmvara, động từ của Sạmvara là √vr, có nghĩa là bao trùm, ước nguyện, thệ nguyện, phòng hộ… những ý nghĩa này, chúng ta có thể thấy đức Phật dạy trong kinh như sau:
“Này các Tỷ-khưu, hãy sống đầy đủ giới hạnh, đầy đủ giới bổn, sống phòng hộ với sự phòng hộ của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chơn chánh lãnh thọ và học tập các học giới”.
“Này các Tỷ-khưu, nếu vị Tỷ-khưu nào có ước nguyện: Mong rằng ta được các đồng phạm hạnh thương mến, yêu quý, cung kính và tôn trọng, vị Tỷ-khưu ấy, phải thành tựu viên mãn giới luật, kiên trì, nội tâm tịch tỉnh, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, thích sống tại các trú xứ không nhàn.”[3]
Và luật nghi được hiểu là giới, vì ở Luận Câu-xá có nói như sau: “Luật nghi có khả năng phòng hộ, có năng lực diệt trừ liên tục các ác giới.”[4]
Tuy nhiên, giới có nhiều ý nghĩa như vậy, nhưng ý nghĩa cốt lõi của nó, là đình chỉ các ác và thực hành các thiện, đây là ý nghĩa thông suốt, các trường phái Phật giáo đều chấp nhận.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.25/5/2018.
No comments:
Post a Comment