Thursday, May 24, 2018

Giới có những chức năng như sau:4.
 
1. Chế ngự điều ác:
Giới có chức năng chế ngự điều ác, chế ngự mọi hành vi bất thiện.
Đồng minh với sự chế ngự của giới, là có hai thiện tâm sở tàm và quý. Do tâm có tàm và quý, nên tự mình biết xấu hổ với chính mình và hổ thẹn với kẻ khác mà tự phòng hộ, khiến không thể thực hành những hành vi bất chánh, tà vạy, do đó mà đời sống được hạnh phúc, an lạc được ổn cố.
Trong kinh Di Giáo, Đức Phật dạy: “Hỡi các Tỷ-khưu ! Các Thầy đã ở trong tịnh giới thì phải chế ngự năm thứ giác quan, không cho phóng túng vào năm thứ dục lạc. Như kẻ chăn trâu cầm gậy mà coi giữ, không cho trâu phóng túng, phạm vào lúa mạ của người.
Phóng túng năm thứ giác quan, thì không những chỉ có năm thứ dục lạc, mà có thể sẽ không còn giới hạn nào nữa.
Như con ngựa hung hãn mà không được chế ngự bằng giây cương, thì sẽ mang người lao xuống hầm hố. Giặc cướp làm hại, khổ chỉ một đời, còn giặc giác quan làm hại, họa đến nhiều kiếp. Tai hại rất nặng các Thầy không thể không cẩn thận.
Thế nên, người có trí thì chế ngự mà không theo, giữ như giữ giặc, không cho phóng túng.
Giả sử, phóng túng năm thứ giác quan thì cũng không bao lâu, ta sẽ thấy chúng tàn diệt tất cả.”[1]
Nếu chức năng của giới chế ngự các điều ác một cách yếu ớt, thì người hành trì giới sẽ bị dấn đến phạm giới và mất giới.
Cũng ví như bức trường thành ngăn cản sự tiến quân của địch bị đổ vỡ, thì tránh sao cho khỏi nạn mất nước nhà tan !
 
2. Nhiếp hộ điều thiện:
Giới kinh dạy: “Đừng làm các điều ác, nên thực hiện điều thiện, giữ tâm ý thanh tịnh.”[2]
Thế nên, chức năng của giới, không có phải chỉ có nhiệm vụ và có tác dụng đình chỉ mọi điều ác, mà còn  phải có chức năng thực hành mọi điều thiện nữa.
Nói cách khác, giới có năng lực nhiếp hộ các căn, khiến chúng tương ưng với định và tuệ để có lợi ích lớn cho hành giả.
Trong kinh đức Phật dạy: “Đây là giới, đây là định. Định cùng tu với giới sẽ đưa đến kết quả lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với định sẽ đưa đến kết quả lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các loại lậu hoặc tức là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.”[3]
Trong ý nghĩa căn bản về nhiếp hộ và thực hành điều thiện, chính là nhiếp hộ các căn trong sự thực hành giới, định và tuệ.
Thực hành thiền định tương ưng với giới, thiền định ấy được gọi là Chánh định, thực hành tuệ quán tương ưng với giới, tuệ quán ấy được gọi là Chánh kiến hay Chánh tuệ, thực hành giới tương ưng với định và tuệ, giới ấy được gọi là Chánh giải thoát, thực hành định và tuệ tương ưng với giới, thì định và tuệ ấy được gọi là Định giải thoát và Tuệ giải thoát.
Lại nữa, giới phát sinh do ngữ biểu và sự lãnh thọ đúng pháp, giới ấy được gọi là Biệt giải thoát luật nghi, nó có khả năng phòng hộ thân ngữ, khiến thân ngữ tránh xa mọi điều ác.
Giới do thực hành thiền định mà phát sinh, giới ấy gọi là Tịnh lự sanh luật nghi, nó có công năng phòng hộ và nhiếp phục các thứ phiền não, ngủ ngầm trong tâm ý.
Và giới phát sinh do sự chứng đắc các Thánh quả, giới ấy gọi là Đạo sanh luật nghi, nó có công năng nhiếp hộ các thiện pháp vô lậu.
 
3. Nhiếp hộ chánh pháp:
Trong Kinh Đại Bát Niết-bàn đức Phật đã dạy bảy nguyên tăc bất thối, để duy trì sự hòa hợp và hưng vượng của Tăng nhằm nhiếp hộ Chánh Pháp. Bảy nguyên tắc ấy như sau:
a. Các Tỷ-khưu phải thường xuyên tập hợp và tập hợp đông đảo, để giảng luận Chánh Pháp, khiến cho các Tỷ-khưu trên dưới đều hòa thuận.
b. Các Tỷ-khưu phải tụ họp trong tinh thần hòa hợp, giải tán trong tinh thần hòa hợp và chấp hành mọi Tăng sự trong tinh thần đoàn kết.
c. Các Tỷ-khưu không nên ban hành những luật lệ không thích hợp và không bãi bỏ những luật lệ đã được ban hành bởi Tăng đoàn.
d. Các Tỷ-khưu trẻ, thì phải luôn luôn kính trọng các vị Tỷ-khưu trưởng lão và những vị Tỷ-khưu có nhiều kinh nghiệm tu tập trong pháp và luật, sẵn sàng nghe theo những lời khuyên dạy của các Bậc trưởng thượng.
e. Các Tỷ-khưu không bị lôi cuốn bởi tham ái.
f. Trú xứ của các Tỷ-khưu luôn luôn là trú xứ nhàn tịnh.
g. Các Tỷ-khưu sống an trú trên Chánh Niệm, tạo thành một cộng đồng sinh động, khiến cho các bạn đồng tu, từ những phương khác nếu chưa đến, thì muốn đến và đã đến, thì muốn cùng sống và cùng tu tập trong sự an lạc.
 
Và trong Kinh Đức Phật cũng dạy sáu nguyên tắc hòa hợp của Tăng để đưa tới sự nhiếp hộ Chánh Pháp.
Sáu nguyên tắc ấy là giữ gìn thân nghiệp từ hòa, khẩu nghiệp từ hòa, ý nghiệp từ hòa, lợi dưỡng phân phối từ hòa, hành trì giới trong niềm từ hòa, trao đổi hiểu biết trong niềm từ hòa.
Do các Tỷ-khưu thực hiện đúng sáu pháp bất thối này, khiến cho đời sống của Tăng Đoàn hưng thịnh.[4]
Nếu các Tỷ-khưu không hành trì giới luật, không thực hành bảy pháp và sáu pháp bất thối, thì đó là dấu hiệu đi xuống của Tăng đoàn và mỗi khi đời sống của Tăng bị xuống cấp, tiếng nói của Tăng không mang chất liệu thanh tịnh hòa hợp, và không chuyên chở được nội dung giải thoát và giác ngộ, thì Chánh Pháp dựa vào cơ sở nào để hưng thịnh và tồn tại.
Bởi vậy, sự hưng thịnh của Chánh Pháp, chính là sự hưng thịnh của Tăng, sự hưng thịnh của Tăng là do các Tỷ-khưu hành trì giới luật, thế mới biết giới quan trọng đến chừng mực nào trong sự hưng vong của Chánh Pháp. Và quan trọng như thế nào, đối với sự nhiếp hộ Chánh Pháp?
Đối với sự nhiếp hộ Chánh Pháp, Bồ-tát Thắng Man đã bạch với đức Thế Tôn như sau:
“Bạch đức Thế Tôn! Kể từ hôm nay cho đến khi thành tựu Bồ-đề, con nguyện nhiếp thọ Chánh Pháp, không bao giờ để quên mất.
Vì sao vậy? Vì quên mất Chánh Pháp, là quên mất Đại Thừa, quên mất Đại Thừa là quên mất cứu cánh viên mãn. Hễ quên mất cứu cánh viên mãn là không có ước vọng Đại Thừa.
Nếu Bồ-tát không quyết định Đại Thừa, thì không có khả năng nhiếp thọ Chánh Pháp, để đi vào an lạc một cách tùy ý và chắc chắn không thể nào kham nổi ngôi vị vượt khỏi phàm phu.
Con thấy sai lầm to lớn vô lượng như vậy, lại thấy phước lợi vô biên của Bậc Đại Bồ-tát nhiếp thọ Chánh Pháp trong tương lai, nên con xin chấp nhận sự lãnh thọ trọng đại này”.[5]
Như vậy, chức năng của giới là nhiếp hộ Chánh Pháp, khiến cho Chánh Pháp
luôn luôn tồn tại trong thế gian, để lợi lạc cho hết thảy hữu tình.
 
4. Thế đức Đạo Sư:
Trong Kinh Đại Bát Niết-bàn, đức Phật dạy Ngài A-nan rằng: “Quý vị đừng nghĩ, sau khi Như Lai diệt độ, là lời nói của Bậc Đạo Sư không còn nữa, thì quý vị không có Đạo Sư. Quý vị không nên có những tư tưởng như vậy, sau khi Như Lai diệt độ, Chánh Pháp và luật là Bậc Đạo Sư của quý vị”.[6]
Lại nữa, trong kinh Phật Thùy Bát Niết-bàn Lượt Thuyết Giáo Giới, Đức Phật dạy: “Này các Tỷ-khưu, sau khi ta diệt độ, quý vị phải tôn trọng, trân quý tịnh giới, như kẻ mù lòa mà được mắt sáng, như người bần cùng mà được bảo vật. Phải biết tịnh giới là Bậc Đạo Sư của quý vị. Nếu ta ở đời thì cũng không khác gì tịnh giới ấy.”[7]
Và trong Luật Tứ Phần ghi rằng: “Thế Tôn khi Niết-bàn, vận khởi tâm đại bi, họp các Tỷ-khưu chúng, ban giáo giới như vậy: Chớ nghĩ ta Niết-bàn, không còn ai nhiếp hộ. Ta nay nói giới kinh, cũng gọi là Tỳ-ni. Ta tuy nhập Niết-bàn, hãy xem đó như Phật.”[8]
Như vậy, Đức Thế Tôn trao truyền giới cho các đệ tử và dạy các đệ tử rằng: Phải y vào giới để tu học, vì giới làm nền tảng cho sự giải thoát và dẫn đạo cho Chúng Tăng đi đến giải thoát.
Do đó, Đức Thế Tôn đã ví Ngài là hiện thân cho giới luật và giới luật chính là Ngài, nên các Tỷ-khưu hủy phạm giới luật chính là hủy phạm đến Ngài và xâm hủy đến Ngài là xâm hủy đến giới luật.
Bởi vậy, giới có chức năng thay thế Đức Thế Tôn để dẫn đạo hàng đệ tử của Ngài tu học.
 
5. Là kho tàng công đức:
Trong Kinh Bồ-tát Anh Lạc nói: “Giới là kho tàng căn bản cất chứa hết thảy mọi hành vi công đức; là con đường thẳng đi đến Phật quả, là căn bản của hết thảy hạnh lành, chức năng của giới là diệt trừ hết thảy mọi thứ ma lớn.”[9]
 
6. Nền tảng cho thể chế Đức Trị:
Hình ảnh Nhà vua Chuyển Luân Thánh Vương (Cakravartirāja), trong các kinh điển Phật giáo đề cập, đó là hình ảnh của một nhà lãnh đạo thiên hạ dựa trên nền tảng Chánh Pháp.
Nghĩa là vị đó, dùng Chánh Pháp để trị dân và thống nhiếp thiên hạ trong bốn phương bằng Chánh Pháp và Lục độ.
Trong Kinh Đức Phật đã kể với Tôn giả A-nan, về hình ảnh Nhà Vua Đại Thiện Kiến (Mahāsudassana) như sau:
          “Bấy giờ các địch vương ở phương Đông đến yết kiến Vua Đại Thiện Kiến và nói: “Hãy đến đây Đại Vương! Tâu Đại Vương tất cả đều thuộc của Ngài, Đại Vương hãy giáo huấn cho chúng tôi!
          Vua Đại Thiện Kiến nói rằng: Không được sát sanh, không được lấy của không cho, không được tà dâm, không được nói láo, không được uống rượu, hãy ăn uống cho thích hợp.”[10]
Và các Vua của các phương khác, họ cũng đều đến yết kiến Vua Đại Thiện Kiến, và cũng trình bày ý kiến của họ như trên, và cũng được Vua Đại Thiện Kiến giáo huấn những điều răn dạy đạo đức như trên.
Trong mọi thể chế chính trị ở đời, thì thể chế chính trị dựa trên nền tảng đức trị, là thể chế chính trị vững bền nhất, vì nó thuộc về bản chất đạo đức, thích ứng muôn đời với nếp sống của nhân bản và nhân văn.
Vậy, giới là nền tảng của Chánh Pháp, do đó giới cũng là nền tảng cho thể chế đức trị và là cốt lõi tạo nên sự an lạc cho nhân dân và mọi ổn định trật tự cho xã hội loài người.
Trong Bồ-tát Giới Phạm Võng nói: Khi một người thọ Bồ-tát giới mà phạm giới, thì vị ấy sẽ mất địa vị Quốc vương, địa vị Chuyển luân Thánh vương…
Do đó, giới không những làm nền tảng cho thể chế đức trị, mà còn tạo nên tư cách, tác phong và bản chất nhà lãnh đạo của thể chế ấy nữa.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.25/5/2018.

No comments:

Post a Comment