Kinh Dược Sư Giảng Ký
Ấn Thuận Đại Sư giảng
Thích Pháp Chánh dịch
.jpg)
Thích Pháp Chánh dịch
.jpg)
Hiện nay mọi người đều xem trọng đời sống thực tế, mong muốn có một cuộc sống lý tưởng, an lạc. Phật pháp nói về “lạc” có ba loại: (a) Hiện pháp lạc (an lạc hiện đời), (b) Hậu thế lạc (an lạc đời sau), và (c) Cứu cánh giải thoát lạc (an lạc của sự giải thoát rốt ráo). Chúng sinh trên thế gian có đủ loại khổ não bức bách, cho nên mong muốn thoát ly đau khổ, đạt được an lạc. Thế nhưng, tất cả mọi sự mong cầu an lạc đều không ngoài ba loại an lạc hiện đời, an lạc đời sau và an lạc giải thoát rốt ráo. Đây là vì căn tính của chúng sinh khác biệt, sinh hoạt trong không thời gian khác biệt, cho nên sự mong cầu cảnh giới an lạc cũng có sự khác biệt. Có những chúng sinh mong cầu sự an lạc đời sau, có những chúng sinh mong cầu sự an lạc giải thoát rốt ráo, thế nhưng loài người hiện nay thì lại đặc biệt xem trọng sự an lạc hiện đời.
Đức Thích Tôn khai sáng Phật giáo, tinh thần căn bổn là dẫn dắt chúng sinh đạt được sự an lạc giải thoát rốt ráo, cho nên nói rằng Phật pháp là pháp xuất thế. Thế nhưng, sự mong cầu của chúng sinh không giống nhau, nếu chỉ giảng nói đến sự an lạc giải thoát rốt ráo thì không thể thích ứng rộng rãi đến tất cả chúng sinh có căn tính khác nhau, cho nên đức Phật Thích Ca đã khai sáng pháp môn Dược Sư (Tịnh độ Đông phương) và pháp môn A Di Đà (Tịnh độ Tây phương). Mọi người đều cho rằng đức Phật Dược Sư là “diên thọ” (tăng tuổi thọ), đức Phật A Di Đà là “độ vong” (tiếp dẫn người chết), nhưng thật ra, đây là nói theo người đời. Nếu căn cứ vào Chánh nghĩa của Phật pháp mà nói, pháp môn Tịnh độ của đức Như Lai Dược Sư Lưu Ly Quang ở phương Đông là thích ứng cho một loại chúng sinh mong cầu “hiện thế lạc” (an lạc hiện đời), còn pháp môn Tịnh độ của đức Phật A Di Đà ở phương Tây là thích ứng cho một loại chúng sinh mong cầu “hậu thế lạc” (an lạc đời sau). Thế nhưng, hai pháp môn này đều là phương tiện để dẫn dắt người tu tiến nhập Đại thừa, để đạt đến mục đích cuối cùng là sự an lạc giải thoát...
Kinh Dược Sư Giảng Ký (pdf) 
Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Đại Luận
Tập II
Tập II

Con đường tu tập Đại thừa, một cách cơ bản và thuần khiết nhất, chính là tu tập sáu ba la mật và tứ nhiếp pháp. Nhưng nền tảng của sự tu tập Đại thừa lại chính là Bồ đề tâm. Cho nên một hành giả muốn tu tập Đại thừa, hoặc tự nhận mình là hành giả Đại thừa, thì không thể không y theo phương pháp tu tập đã được trình bày trong quyển luận này là Bảy tầng nhân quả và Hoán đổi mình người để thiết lập nền tảng (Bồ đề tâm) vững chắc cho con đường tu tập Đại thừa...
Trong luận nói, nếu không có Bồ đề tâm thì dù hành giả có tu tập pháp môn nào chăng nữa, vẫn chẳng phải là pháp môn Đại thừa. Cho nên tại sao sự phát tâm Bồ đề là một điều vô cùng trọng yếu. Sau khi phát Bồ đề tâm nguyện, hành giả lại cần phải thọ trì giới Bồ tát luật nghi, tức là thọ trì Bồ đề tâm hành. Đây là lúc bắt đầu dấn thân tiến bước trên cuộc hành trình tu tập công hạnh Bồ tát. Tu tập sáu ba la mật đa tuy có thể tự lợi lợi tha, nhưng muốn thật sự độ chúng sinh (lợi tha viên mãn) thì cần phải nhiếp thọ họ về với mình, vì thế hành giả lại cần phải tu tập tứ nhiếp pháp. Chỉ có tu hành tự lợi lợi tha viên mãn thì mới có thể thành Phật. Mà chỉ có thành Phật mới có thể thật sự quảng độ chúng sinh.
Trong thời đại hiện nay, chúng sinh đang điêu linh thống khổ, đấu tranh chém giết, tàn nhẫn bóc lột, đây cũng chính là lúc mà tinh thần Bồ tát đạo của Đại thừa cần phải được phát huy đến cực điểm. Chúng ta cần phải tu hành thực tế, lợi mình lợi người ngay trong lúc này, mà không thể hứa hẹn một viễn cảnh tốt đẹp mơ hồ ở một tương lai xa xôi diệu vợi nào đó.
Có đọc Lamrim Chenmo mới thấy được tinh thần vĩ đại của Phật giáo Đại thừa nói chung, và trí tuệ siêu việt của ngài Tsong Khapa nói riêng. Cho nên, nếu không biết, không tin, không hiểu Đại thừa thì thôi, còn nếu đã tự nhận mình là người Đại thừa thì phải sống với tinh thần quảng đại vị tha, lấy sự mưu cầu lợi lạc chúng sinh làm tiền đề.
Thời đại hiện nay, phần lớn những người học Phật chỉ thích pháp môn "dễ tu dễ chứng mà không cần phải phí nhiều công sức." Không chịu học hỏi kinh điển, không chịu huân tập văn, tư, thì giống như trong luận này đã nói: "Không có văn, tư, thì cũng chẳng biết lấy gì để tu." Phật pháp nói nhân quả, không thể nào không gieo nhân mà có quả. Bỏ công rất ít mà muốn hưởng thụ rất nhiều, đây là một loại tinh thần bại hoại khiến cho Phật pháp suy vong.
Tịnh Độ Tân Luận
Ấn Thuận Đại sư giảng
Thich Quán Tạng tập chú
Thich Pháp Chánh dịch
Thich Quán Tạng tập chú
Thich Pháp Chánh dịch

Ngài Ấn Thuận, một bậc cao tăng đương đại, xuất hiện trong thời buổi kháng chiến Trung Nhật, đang lúc nhân tâm tán động vì thời cuộc, đã theo gót chân của Đại sư Thái Hư, làm một cuộc cách mạng tư tưởng, với niềm hy vọng cảnh tỉnh, và canh tân Phật giáo truyền thống Trung Quốc. Ngài Ấn Thuận đã từ lập trường Trung Quán, đặt nền tảng trên Phật giáo Căn bổn và Phật giáo Đại thừa sơ kỳ, với một cái nhìn sâu rộng đối với pháp môn Tịnh Độ, đã đưa ra nhiều đề nghị cải cách hợp lý. Điều đáng tiếc là Tịnh Độ Tông truyền thống Trung Quốc, sau hơn một ngàn năm ngủ quên trên chiến thắng, đã không để tâm lắng nghe những kiến nghị hợp lý đó, mà còn quay lại phản kích, cho rằng chủ trương Phật Giáo Nhân Gian, và đặc biệt các tác phẩm Tịnh Độ Tân Luận, v.v..., của ngài là phản Phật giáo, v.v...
Bộ Tịnh Độ Tân Luận này, tuy có thể nói là đã thất bại trong việc khơi động một cuộc cách mạng tư tưởng Tịnh Độ ở Trung Quốc, nhưng ít ra, cũng đã gây một ảnh hưởng không nhỏ đối với một số hành giả đang tha thiết mong mỏi một sự canh tân tư tưởng trong Phật pháp Đại thừa.
Tịnh Độ Tân Luận (pdf)
Học Phật Tam Yếu
Ấn Thuận Đại Sư giảng
Thích Pháp Chánh dịch
Thích Pháp Chánh dịch

Phật pháp vô cùng cao sâu, vô cùng rộng lớn! Quá sâu, quá rộng. Những người bình thường mò mẫm không thấy rõ cửa vào, lối đi. Quả thật không biết bắt đầu tu tập từ chỗ nào. Thế nhưng, Phật pháp không phải là hỗn tạp không có đường hướng, mà tự nó có một tông yếu nhất quán, thứ tự rõ ràng không hỗn loạn. Các bậc thánh xưa nay nói: "Tất cả pháp môn, dù là phương tiện, hoặc là cứu cánh, hoặc là phương tiện trong phương tiện, cứu cánh trong cứu cánh, không có pháp nào là không dẫn đạo hành giả tiến nhập Phật thừa. Hoặc là hồi tà hướng chánh (pháp Ngũ thừa), hoặc là từ sự trói buộc đạt đến giải thoát (pháp Tam thừa), hoặc là hồi Tiểu hướng Đại (pháp Nhất thừa). Những sự kiện này đều là do "đại sự nhân duyên", tùy thuận căn tánh của chúng sanh mà nói cạn nói sâu, nói ngang nói dọc, cho nên từ lập trường học Phật mà nói, tất cả pháp môn đều có thể là lịch trình tu học của Bồ tát, là chánh đạo Bồ đề để thành Phật.
Do vì thời tiết nhân duyên (Hán: thời đại tính) không đồng, không đồng căn tánh, tập quán, thời thượng, v.v…, nên phương pháp tu học thích ứng chúng sinh khó mà tránh khỏi có ngàn muôn sự khác biệt. Thế nhưng, nếu từ các phương pháp bất đồng tiến sâu thực chất, tức sẽ hiểu rõ rằng: Phật pháp quyết chắc không có trăm ngàn sự khác biệt, mà có thể dùng "tam cú nghĩa" để hàm nhiếp tất cả, thống nhiếp để hội quy về "nhất đạo." Không chỉ "Nhất đại thừa" như vậy, mà Ngũ thừa và Tam thừa cũng đều như vậy. Cho nên hiện nay đặt tên "Học Phật Tam Yếu" tức là ba đạo tâm yếu cho sự học Phật, hoặc Tam Đại Cương Yếu thống nhiếp tất cả pháp môn học Phật....
Trung Quán Luận Giảng Ký
Long Thọ Bồ Tát tạo luận
Ấn Thuận Đại Sư giảng
Thích Pháp Chánh dịch
Ấn Thuận Đại Sư giảng
Thích Pháp Chánh dịch

Trung Quán Luận là một trong những tác phẩm uyên thâm khó hiểu nhất trong Phật pháp Đại thừa, cho nên dù đã trải qua bao nhiêu thế hệ mà những vấn đề được nêu ra vẫn còn được nghiên cứu, tranh biện sôi nổi. Hiện nay trong giới Phật giáo Âu Mỹ, nhiều bản dịch đã được ra đời, và những bài nghiên cứu thảo luận về những vấn đề Tính Không vẫn đang còn tiếp diễn không ngừng. Điều này chứng tỏ Trung Quán Luận có một tầm mức quan trọng trong tòa nhà tư tưởng văn minh nhân loại.
Đại sư Ấn Thuận là một học giả uyên bác của Phật giáo Trung Quốc cận đại. Ngài có một cái nhìn sâu sắc về Phật pháp và rất tích cực trong việc hoằng dương Phật pháp Đại thừa theo đường hướng thiết thực phục vụ nhân sinh. Đối với những vấn đề liên quan đến Long Thọ Học, ngài đã chịu nhiều ảnh hưởng của phái Trung Quán Ưng Thành của Tây Tạng, đặc biệt xem trọng kiến giải của ngài Nguyệt Xứng (Chandrakirti). Những lời giảng của ngài [trong quyển Giảng Ký này] có một nội dung vô cùng phong phú, cẩn nghiêm và thấu đáo. Lập trường "Tính Không triệt để cứu cánh" của ngài trước sau như một. Ngài đã đứng trên lập trường "Tất cánh không triệt để" phê phán toàn bộ Phật giáo Đại thừa truyền thống Trung Quốc và điều này đã đưa đến những va chạm đáng kể đối với các tông phái lớn như Tịnh Độ Tông, Thiên Thai Tông, v.v... Do đây đã gây ra nhiều sự hiểu lầm nghiêm trọng.
Một trong những đặc sắc của ngài Ấn Thuận là đã phát huy tư tưởng và cổ võ Phật Giáo Nhân Gian, đem Phật pháp Đại thừa từ những cõi trừu tượng vô hình trở lại mặt đất này để phục vụ đóng góp vào đời sống nhân gian hiện thực mà không chạy theo những huyễn tưởng xa vời và những điều hứa hẹn mông lung. Một hành giả Đại thừa chân thực cần phải có đầy đủ trí và bi. Trí để thấu rõ ý nghĩa thâm sâu của Phật pháp để không bị lạc vào tà kiến. Bi để thực hành sâu xa những hạnh nguyện thiết thực của chư Phật Bồ tát ngay trong hiện đời để người thế gian không hiểu lầm Phật pháp là yếm thế tiêu cực, là ăn bám xã hội, là biếng nhác trốn đời.
Trung Quán Luận Giảng Ký (pdf)
Phương Tiện Đạo
Đại Sư Ấn Thuận soạn
Thích Pháp Chánh dịch
Thích Pháp Chánh dịch

Hơn hai ngàn năm trăm năm trước, đức Phật Thích Ca Mâu Ni (phía dưới gọi tắt là đức Thế Tôn), đản sinh ở Trung Ấn Độ. Sau khi xuất gia tu hành, ngài ở tại Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhigaya) thành Phật, sau đó, trong khoảng thời gian bốn mươi lăm (hoặc bốn mươi chín) năm, ngài đã du hành dọc theo hai bên bờ sông Hằng, vì mọi người thuyết pháp, và từ đó, Phật pháp đã lưu hành ở nhân gian. Phật pháp, tuy có tính chất thế giới, không bị cục hạn bởi chủng tộc và phạm vi quốc gia, thế nhưng, vì Phật pháp xuất hiện ở Ấn Độ, từ Ấn Độ mà truyền bá đến các nơi trên thế giới, cho nên, tuy có một bộ phận giáo điển, có truyền thuyết là từ trên trời xuống, hoặc từ long cung đến, hoặc từ các cõi Phật khác đến, nhưng nguyên bổn của tất cả giáo điển đều sử dụng ngôn ngữ của người Ấn Độ, trải qua sự truyền tụng, ghi chép mà được lưu truyền đến đời sau. Phật pháp có thể nói đến quỷ thần, nói đến thế giới phương khác, nói đến sự lý siêu việt nhân gian, nhưng chúng ta không thể quên rằng, tất cả Phật pháp đều xuất hiện ở nhân gian Ấn Độ, bắt nguồn từ đức Phật Thích Ca thành Phật và thuyết pháp ở Ấn Độ...
Tu hành là một sự kiện quan trọng nhất trong Phật pháp. Chẳng qua, Phật pháp là giải thoát đạo, Phật pháp Đại thừa là Bồ đề đạo. Giải thoát đạo thì thâm sâu, Bồ đề đạo thì khó thực hiện. Vì muốn hoằng pháp lợi sinh, bất luận là dẫn dắt hàng sơ học vun trồng thiện căn xuất thế, hoặc vì thích nghi với căn cơ phổ thông của thời đại và địa phương, không thể không khéo léo thi thiết phương tiện. Phật pháp khai triển phương tiện tu hành là chú trọng dến “tín”, tuy nông cạn nhưng dễ dàng, có thể phổ cập đến quần chúng. “Phật pháp như biển lớn, càng vào càng sâu”, cho nên từ cạn vào sâu, từ dễ đến khó, không thể không nói là phương tiện thiện xảo. Chẳng qua, phương tiện thời cổ xưa, có một số thích ứng với tín ngưỡng hành trì đê cấp của thần giáo, có một số thích ứng với sự tín ngưỡng hành trì không thực tế. Nếu như quá phần xem trọng phương tiện, cho đó là cứu cánh vô thượng, thì sẽ không tránh khỏi “mãi độc hoàn châu” (買櫝還珠, ý nói chỉ chăm bề ngoài không xét đến giá trị thực bên trong)! Quyển sách này từ những phương tiện đạo phổ thông, mà thuyết minh sự lưu truyền biến chuyển của Phật giáo Ấn Độ, diễn tả một phương diện của lịch sử Phật giáo Ấn Độ.
(Hiện nay tạm đăng phần I: Phật Pháp)
Bồ Tát Giới Ba La Mật Đa Luận
Tsong Khapa tạo luận
Thích Pháp Chánh dịch Việt văn
Thích Pháp Chánh dịch Việt văn
Từ khi Đấng Đại Giác ứng thế, khai thị pháp môn tự lợi lợi tha, xiển dương giáo pháp Hiển thừa, Mật thừa, đưa chúng sinh lên Thập địa, độ hữu tình ra ba cõi, phương tiện tuy vô lượng vô biên, nhưng không có phương tiện nào mà không dùng giới luật làm thuyền bè, lấy thi la làm bờ bến. Tu giới hạnh nên nghiệp ác diệt trừ, tự thành tựu mà chúng sinh lợi ích. Chí cực thay Giới độ. Hành địa của Bồ tát còn có chỗ vượt ngoài phạm vi này chăng? Đáng buồn thay, đời mạt pháp suy, giới luật không còn ai giảng giải. Chỉ trì, tác trì mất đi chánh quỹ, tu tập, phụng hành oai lệch hành nghi. Muốn vượt biển khổ mà không nghiêm trì giới đức, thì cũng giống như voi cuồng đi lạc đường tà. Đạo pháp mịt mờ, âu cũng là nỗi lo của Bồ tát vậy.
May thay, Bậc Thượng sư của chúng ta, Thánh Tsong Kha Pa, Bậc trí tuệ khai ngộ siêu việt hơn đời, Đấng giới đức uy nghiêm vượt xa thế tục, xuất sinh ở Cam Ninh, trưởng thành tại Tây Tạng, học nhiều hiểu rộng, thâm nhập Thánh giáo, hoằng dương Chân Thừa. Mở đường đạt đạo cho ba loại căn cơ, bày sự thâm sâu của Hiển giáo, Mật giáo. Đây chính là đắp đường phẳng đến Niết bàn, chấn uy phong cho giới luật. Ngài đã tham khảo luật tạng mà tạo nên bộ luận này, thống nhiếp vạn hạnh thành ba tụ, bao quát ức độ vào chín loại. Chỗ xả bỏ, tức là mười tám tội tha thắng, bốn mươi sáu tội vi phạm, chỗ giữ lấy, tức là giới biệt giải thoát của bảy chúng, cùng các học xứ lục độ, tứ nhiếp, lại còn thâu nhiếp bổn nghĩa của các bộ Du Già Sư Địa Luận, Tập Bồ Tát Học Luận, dung hợp ý thú của các ngài Long Thọ, Vô Trước, y cứ rộng rãi vào các sớ giải của kinh luận để xiển minh hành tướng giới luật, nghi quỹ thọ giới, cùng hành tướng của sự phòng hộ tịnh giới.
Hai thừa Hiển, Mật, xả bỏ giới luật thì không còn là con đường đạo mà Bồ tát ba đời đều phải học tập. Đây quả thực là Thuyền Từ trong việc độ thế, Diệu Phẩm cho sự xuất ly...
May thay, Bậc Thượng sư của chúng ta, Thánh Tsong Kha Pa, Bậc trí tuệ khai ngộ siêu việt hơn đời, Đấng giới đức uy nghiêm vượt xa thế tục, xuất sinh ở Cam Ninh, trưởng thành tại Tây Tạng, học nhiều hiểu rộng, thâm nhập Thánh giáo, hoằng dương Chân Thừa. Mở đường đạt đạo cho ba loại căn cơ, bày sự thâm sâu của Hiển giáo, Mật giáo. Đây chính là đắp đường phẳng đến Niết bàn, chấn uy phong cho giới luật. Ngài đã tham khảo luật tạng mà tạo nên bộ luận này, thống nhiếp vạn hạnh thành ba tụ, bao quát ức độ vào chín loại. Chỗ xả bỏ, tức là mười tám tội tha thắng, bốn mươi sáu tội vi phạm, chỗ giữ lấy, tức là giới biệt giải thoát của bảy chúng, cùng các học xứ lục độ, tứ nhiếp, lại còn thâu nhiếp bổn nghĩa của các bộ Du Già Sư Địa Luận, Tập Bồ Tát Học Luận, dung hợp ý thú của các ngài Long Thọ, Vô Trước, y cứ rộng rãi vào các sớ giải của kinh luận để xiển minh hành tướng giới luật, nghi quỹ thọ giới, cùng hành tướng của sự phòng hộ tịnh giới.
Hai thừa Hiển, Mật, xả bỏ giới luật thì không còn là con đường đạo mà Bồ tát ba đời đều phải học tập. Đây quả thực là Thuyền Từ trong việc độ thế, Diệu Phẩm cho sự xuất ly...
Dịch Phẩm của Thích Pháp Chánh
(dạng pdf)
Ấn Thuận
Bài Viết
Bàn Về Vấn Đề Ăn Chay
Phương Châm Kiến Lập Phật Giáo Tại Gia
Phương Pháp Hàng Ma
Phật Giáo Nhân Gian Khế Lý Khế Cơ
Phương Châm Kiến Lập Phật Giáo Tại Gia
Phương Pháp Hàng Ma
Phật Giáo Nhân Gian Khế Lý Khế Cơ
Sách
Học Phật Tam Yếu 
Phương Tiện Đạo (Phần I. Phật Pháp)
Tịnh Độ Tân Luận
Trung Quán Luận Giảng Ký
Vãng Sinh Tịnh Độ Luận Giảng Ký
Phương Tiện Đạo (Phần I. Phật Pháp)
Tịnh Độ Tân Luận
Trung Quán Luận Giảng Ký
Vãng Sinh Tịnh Độ Luận Giảng Ký
Bồ Tát Đạo
Giới Luật
Bồ Tát Giới Ba La Mật Đa
Địa Trì Bồ Tát Giới Bổn Tiên Yếu
Kinh Năm Giới Tướng của Ưu Bà Tắc
Nghi Thức Truyền Giới Bồ Tát Du Già
Nghi Thức Truyền Giới Bồ Tát Tại Gia
Nghi Thức Tụng Giới Bổn Bồ Tát Địa Trì
Nghi Thức Tụng Giới Bổn Bồ Tát Du Già
Nghi Thức Tụng Giới Bổn Bồ Tát Tại Gia
Địa Trì Bồ Tát Giới Bổn Tiên Yếu
Kinh Năm Giới Tướng của Ưu Bà Tắc
Nghi Thức Truyền Giới Bồ Tát Du Già
Nghi Thức Truyền Giới Bồ Tát Tại Gia
Nghi Thức Tụng Giới Bổn Bồ Tát Địa Trì
Nghi Thức Tụng Giới Bổn Bồ Tát Du Già
Nghi Thức Tụng Giới Bổn Bồ Tát Tại Gia
Kinh Điển Đại Thừa
Kinh Dược Sư Giảng Ký 
Kinh Giải Thâm Mật
Kinh Pháp Bảo Đàn (Truyện Lục Tổ Huệ Năng)
Kinh Pháp Hoa Huyền Luận
Kinh Nghi Vấn Của Trưởng Giả Úc Già
Kinh Thắng Man Huyền Luận
Tại Gia Bồ Tát Giới Kinh
Tại Gia Bồ Tát Giới Kinh Giảng Lục
Kinh Giải Thâm Mật
Kinh Pháp Bảo Đàn (Truyện Lục Tổ Huệ Năng)
Kinh Pháp Hoa Huyền Luận
Kinh Nghi Vấn Của Trưởng Giả Úc Già
Kinh Thắng Man Huyền Luận
Tại Gia Bồ Tát Giới Kinh
Tại Gia Bồ Tát Giới Kinh Giảng Lục
Tịnh Độ
Luận Sơ Lược Ý Nghĩa Tịnh Độ An Lạc
Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ
Quán Niệm A Di Đà Phật Tướng Hải Tam Muội Công Đức Pháp Môn
Thích Tịnh Độ Quần Nghi Luận
Tịnh Độ Tân Luận
Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập
Vãng Sinh Lễ Tán Kệ
Vãng Sinh Tịnh Độ Luận Giảng Ký
Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ
Quán Niệm A Di Đà Phật Tướng Hải Tam Muội Công Đức Pháp Môn
Thích Tịnh Độ Quần Nghi Luận
Tịnh Độ Tân Luận
Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập
Vãng Sinh Lễ Tán Kệ
Vãng Sinh Tịnh Độ Luận Giảng Ký
Tsong Khapa
Bậc Thang Giác Ngộ (Lamrim Chungba)
Bồ Tát Giới Ba La Mật Đa Luận
Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Đại Luận (Lamrim Chenmo) Tập II
Mật Tông Tu Đạo Thứ Đệ Đại Luận (Sngags Rim Chen Mo) Tập I
Bồ Tát Giới Ba La Mật Đa Luận
Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Đại Luận (Lamrim Chenmo) Tập II
Mật Tông Tu Đạo Thứ Đệ Đại Luận (Sngags Rim Chen Mo) Tập I
Linh Tinh
Nhất Mộng Mạn Ngôn (Tự Truyện Của Luật Sư Kiến Nguyệt)
Sự Tích Linh Nghiệm của Bồ Tát Địa Tạng.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSRALIA,SYDNEY.24/6/2020.
Sự Tích Linh Nghiệm của Bồ Tát Địa Tạng.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSRALIA,SYDNEY.24/6/2020.

No comments:
Post a Comment