PHẬT GIẢNG VỀ THẾ GIỚI CỰC LẠC.
– “Ương Quật Ma La kinh” quyển 3: “Khi đó, Thế Tôn như chim Nhạn vương, cùng đại chúng gồm Ương Quật Ma La, Xá Lợi Phất, Đại Mục Liên, Văn Thù Sư Lợi phò tá…như quần tinh vây quanh trăng tròn, từ dưới cây Vô Ưu bay lên hư không, đi đến chỗ cây Thất Đa La, cách thành Xá Vệ chừng 40 tiếng bò rống. Khi ấy, mẹ Ương Quật Ma La cùng chư thiên, long, dạ xoa, càn đạt bà, khẩn na la, ma hầu la già bày biện đại lễ cúng dường đến rừng Kỳ Đà. Lúc ấy, Thế Tôn như chim Nhạn vương, đi vào vườn Cấp Cô Độc ở rừng Kỳ Đà, tiến lên tòa Sư tử, (cảnh tượng khi ấy khiến) tam thiên đại thiên thế giới bằng phẳng như lòng bàn tay, sinh ra các loài cỏ mềm mại như AN LẠC QUỐC.”
Đoạn kinh văn trên rõ ràng cho chúng ta thấy các La Hán khi kết tập kinh điển có nhắc đến An Lạc Quốc, một tên gọi khác của Thế giới Cực Lạc rồi. Sở dĩ có câu kinh văn mô tả sự thù thắng trên là chỉ tình cảnh rất trang nghiêm, tuyệt diệu. Chúng ta biết mỗi lần Phật thuyết pháp hoặc Bồ Tát thuyết chú, đều có những sự kiện tương tự như đại địa chấn động, hoa từ trên trời rơi xuống như mưa, mùi thơm ngào ngạt, nhạc tấu nổi lên…Vì thế, việc cả tam thiên đại thiên thế giới bỗng trở nên thanh mình, tĩnh lặng và mềm mại như Thế giới Cực Lạc là chuyện hết sức bình thường, không phải tự thêm thắt vào cho thành văn vẻ.
– “Ương Quật Ma La kinh” quyển 3: Khi đó, Thế Tôn hỏi Văn Thù và những người khác: “Các thế giới Như Lai đó ra sao?”. Nhóm Văn Thù đáp rằng: “Các thế giới đó không có sa thạch, bằng như nước trong, cảm giác mềm mại như bông, như AN LẠC QUỐC không có ngũ trọc, cũng không có nữ nhân, Thanh Văn, Duyên Giác, duy chỉ có NHẤT THỪA mà không có các Thừa khác”.
Phật nói với Văn Thù và những người khác: “Nếu như có thiện nam tử, thiện nữ nhân, xưng niệm danh hiệu tất cả các chư Phật đó, dù đọc dù viết dù nghe hay cười đùa nói chuyện, hoặc thuận theo người khác mà đọc hay tự mình muốn thể hiện, nếu như có mọi chuyện sợ hãi thì chúng đều biến mất; tất cả chư thiên, long, dạ xoa, càn đạt bà, a tu la, gia lâu la, khẩn na la, ma hầu la già…không thể gây nhiễu loạn. Chúng nghe thấy đều ủng hộ, đóng cửa Tứ thú (Tam ác đạo và A tu la). Ta nói đó là đối với người chưa phát tâm mà đắc cái nhân Bồ Đề, huống hồ là người có tâm thanh tịnh đọc, tụng, viết, nghe?”
Đoạn kinh văn này cho biết Văn Thù Bồ Tát khi trả lời Thế Tôn về các thế giới khác bên ngoài thế giới Ta Bà đã ví quang cảnh của các thế giới đó tựa như AN LẠC QUỐC…Chúng ta biết rằng, Thế giới Cực Lạc có rất nhiều tên gọi khác nhau như Tịnh Độ, An Lạc, Liên Bang, Tây phương Cực Lạc, Tây phương Tịnh Độ, đồng thời ở đó chỉ có thuần thiện, không có ác pháp, không giống như Ta Bà là nơi ngũ trọc ác thế. Văn Thù Bồ Tát đã lấy An Lạc Quốc – Thế giới Cực Lạc ra để so sánh, cho mọi người hình dung về các thế giới xa xôi khác, chứng tỏ rằng cảnh giới của Thế giới Cực Lạc rất quen thuộc với mọi người lúc đó rồi, cho nên chỉ cần nói vậy là mọi người hiểu ngay. Chúng ta thường ví von “mềm như bông”, “trắng như tuyết”, “vàng như nghệ”…tức lấy cái mà mọi người đã biết như bông, tuyết, nghệ để hình dung về một trạng thái nào đó tương tự. Đây là một biện pháp so sánh lấy cái đã biết để nói về cái chưa biết hết sức thông thường mà bất cứ ai cũng có thể hiểu được, đủ thấy các tỳ kheo khi đó đều biết An Lạc Quốc là thế giới như thế nào rồi.
Đồng thời đoạn kinh văn này một lần nữa hé lộ cho chúng ta biết Nhất Thừa – tức Phật thừa (Pháp Đại thừa) cũng đã được mọi người biết đến, cho nên Văn Thù Bồ Tát mới so sánh để mọi người hiểu. Điều này cũng phù hợp với Tịnh Độ, vì hành giả khi đã vãng sinh đến An Lạc Quốc thì chỉ có một con đường tu lên thành Bồ Tát ở các quả vị khác nhau, cuối cùng thành Phật. Đó chính là con đường Phật Bồ Đề chứ không phải là đạo Giải thoát mà các La Hán đang tu hành.
*** KẾT LUẬN
Như vậy, qua các đoạn kinh văn thuộc hệ thống kinh A Hàm nói trên, chúng ta có thể thấy khi Phật Thế Tôn truyền pháp, ngoài pháp Tiểu thừa của đạo Giải thoát, Người cũng đã truyền dạy các pháp Đại thừa của đạo Phật Bồ Đề, trong đó có nói đến các pháp môn Niệm Phật rồi. Pháp môn niệm Phật lục tự hồng danh “Nam mô A Di Đà Phật” cũng nằm trong số đó, vì thế mà các La Hán cũng biết đến thế giới Cực Lạc – An Lạc Quốc mà không có chút hồ nghi, ghi chép lại rõ ràng. Vấn đề khác biệt duy nhất ở chỗ đó không phải là con đường tu đạo mà các La Hán mong muốn, bởi phải trải qua vô số kiếp tu hành, phải chịu khổ cực luân hồi sinh tử, hoàn toàn trái ngược với ước nguyện giải thoát trong một đời của họ, do đó mà các La Hán không tu học, cũng không ghi chép lại đầy đủ trong tứ A Hàm mà thôi.
Đến đây, sau loạt bài “Phá tà kiến của nhóm người tu Tiểu thừa chuyên phỉ báng Đại thừa”, có lẽ tất cả mọi người đã nhận diện rõ nét hơn về tình hình truyền bá và tu tập Phật pháp khi Phật còn tại thế. Rõ ràng là Phật Thế Tôn đã giảng rất nhiều pháp Đại thừa để giúp chúng sinh tu thành Phật đạo. Riêng pháp Tiểu thừa chỉ là một bộ phận trong đó, Thế Tôn trích ra nói riêng để đáp ứng nguyện vọng tu tập và giải thoát trong một đời của các La Hán. Do hạnh nguyện khác biệt nên các La Hán khi kết tập kinh điển đã chủ yếu lưu lại những gì mà Thế Tôn đã thuyết giảng về pháp môn Bát Chính Đạo, chứ không đi sâu vào pháp Đại thừa. Nhưng do sự liên quan, liền mạch của sự việc, nên trong khi kết tập kinh điển, các La Hán vẫn kết tập một phần nội dung của kinh điển Đại thừa ở mức độ hết sức thô lược. Nhưng những thông tin này cũng đủ chứng minh cho chúng ta thấy một sự thật không thể chối cãi rằng Phật Thế Tôn khi tại thế đã thuyết pháp Đại thừa, còn Tiểu thừa chỉ là một bộ phận nhỏ ở trong đó mà thôi. Song vì vấn đề diễn biến lịch sử, nên người đời sau đã hiểu lầm một cách nghiêm trọng rằng Thế Tôn chỉ thuyết pháp Tiểu thừa mà không thuyết Đại thừa. Sự hiểu lầm này căn bản đã là một sự phỉ báng Thế Tôn rồi, huống chi là nhóm những người tu “Tiểu thừa cực đoan” trí mỏng đức cạn, tu tập không đến nơi đến chốn, dưới sự dẫn dắt sai lầm của các ác tri thức, tối ngày lên mạng xã hội hoặc viết sách ra sức phỉ báng kinh điển Đại thừa, phỉ báng Phật Pháp Tăng. Đây thực sự là những tà kiến nguy hiểm thời mạt Pháp, có liên quan mật thiết đến sự an nguy, trường tồn của chính pháp Như Lai cũng như pháp thân huệ mạng của chính những kẻ phỉ báng Tam Bảo.
Một lần nữa, dựa trên những bằng chứng sắt đá này, tôi kêu gọi những người vì mê lầm tin theo ác tri thức, hãy bình tâm tự phản tỉnh, suy xét cho kỹ vấn đề, đọc lại chính những bộ kinh điển mà mình đang tu học để đối chứng, đừng dại dột chấp mê bất ngộ, “y nhân bất y pháp” mà phỉ báng Tam Bảo và kinh sách Đại thừa. Hãy gạt qua mọi thể diện, hiểu biết phàm tục thế gian mà dũng cảm ăn năn sám hối trước Tam Bảo, quay về bảo vệ chính pháp, hồi Tiểu hướng Đại, lấy công chuộc tội, kẻo đến khi “chân lạnh” thì không kịp hối nữa rồi.
Mong các đạo hữu phát tâm Bồ Đề, chia sẻ rộng rãi thông tin này cho tất cả mọi người cùng biết, tránh để bạn bè, người thân đi vào vết xe đổ này, cùng nhau hộ trì chính pháp, cứu độ chúng sinh, đồng đăng Phật địa.
Trong quá trình dịch kinh, nếu có gì sai sót, kính mong các bậc thiện tri thức từ bi chỉ giáo.
Đệ tử dập đầu trước Tam Bảo, nguyện chư Phật Bồ Tát từ bi minh chứng.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.15/5/2019.


No comments:
Post a Comment