CHƯƠNG NĂM
VÌTHIMUTTA (Ra ngoài lộ trình): CÁC ÐỀ TÀI ÐƯỢC BÀN ÐẾN
I. PÀLI VĂN.
2) Catasso bhùmiyo, catubbidhà patisandhi, cattàri kammàni, catudhà maranuppatti ceti vìthimuttasangahe cattàri catukkàni veditabbàni.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
2) Trong sự tổng hợp của tâm thoát ngoài lộ trình, 4 loại 4 thứ cần được biết tức là 4địa, 4 sự tái sanh, 4 nghiệp, 4 nguyên nhân của chết.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Sự diễn tiến của tâm có hai: 1) Ngang qua lộ trình (Vìthicitta) như đã nói đến trước. 2) Khi tái sanh, tiếp nối từ đời nay qua đời khác. Phần trước đã nói đến trong các chương trước. Nay nói đến phần thứ hai.
BỐN ÐỊA
I. PÀLI VĂN.
4) Tàsu, nirayo, tiracchànayoni, pettivisayo, asurakàyo ceti apàyabhùmi catubbidhà hoti.
5) Manussà càtummahàràjikà, tàvatinsà, tusità, nimmànarati, paranimmitavasavattì ceti kàmasugatibhùmi sattavidhà hoti.
Sà panàyam, ekàdasavidhà pi kàmàvacarabhùmicceva sankhamgacchati.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
4) Ở đây ác thú địa này có 4 = Ðịa ngục, súc sanh, ngã quỷ và A-tu-la.
5) Dục giới thiên có 7 = Loài người, Tứ thiên vương, Tam thập tam thiên, Dạ ma thiên, Ðâu suất đà thiên, Hóa lạc thiên, Tha hóa tự tại thiên.
Như vậy Dục giới địa tổng cộng có 11 cõi tất cả.
IV. THÍCH NGHĨA.
Tiracchàna: Tiro: Ngang Acchàna: Ði. Các súc sanh đi ngang, bò xuống, không đi thẳng như người.
Peta: Pa + i + ta: Chúng sanh đã đi nghĩa là đã chết. Chúng không phải là ma quỷ vô hình. Chúng có sắc thân nhưng mắt người không có thể thấy. Chúng không có cảnh giới riêng. Chúng sống trong rừng hay tại các chỗ nhớp nhúa.
Asura nghĩa là những vị không có hoan lạc hay không có chói sáng. Những A-tu-la này khác với một loại A-tu-la thù nghịch với chư thiên và sống ở Tam thập tâm thiên.
Manussa: Loài người. Ma-no Ussannam etesam, những người có những tâm cao thượng. Chữ Phạm Manusya nghĩa là con của Manu, loài người trở thành văn minh sau vị tu sĩ Manu.
Càtummahàràjika: Tứ thiên vương. Cõi này là cõi thấp nhất trong các cõi chư Thiên.
Tàvatimsa: Tam thập tam thiên Sakka, Ðế Thích ở tại đây. Sở dĩ được gọi như vậy là theo tích truyện có 33 vị, dưới sự hướng dẫn của Magha đã làm những thiện sự và được sinh vào cõi này.
Yàma: Yam nghĩa là tàn phá, diệt trừ. Diệt trừ khổ đau nên gọi là Yàma.
Tusita: Những vị sống sung sướng. Theo tục truyền, vị Bồ tát tương lai sống tạ đây và chờ đợi cơ hội thuận tiện để sinh ra làm người và thành Phật.
Nimmànarati: Những vị sống hoan lạc trong những lâu đài tự tạo ra.
Paranimmitavasavatti: Những vị đem dưới quyền của mình các vật do các vị khác hóa hiện.
I. PÀLI VĂN.
7) Àkàsànancàyatanabhùmi, Vinnànancàyatanabhùmi, Àkincànnàyatanabhùmi, Nevasannànàsannàyatanabhùmi ceti arùpabhùmi catubbidhà hoti.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
7) Vô sắc giới thiên có 4: Không vô biên xứ thiên, Thức vô biên xứ thiên, Vô sở hữu xứ thiên và Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Có ba Phạm thiên, chỗ sanh trưởng của những vị đã chứng sơ thiền. Cảnh giới thấp nhất là Phạm chúng thiên nghĩa là những vị sanh ra giữa những đồ chúng của Ðại Phạm Thiên. Cảnh thứ hai là Phạm phụ thiên nghĩa là những phụ tá, những tổng trưởng của Ðại Phạm Thiên. Cảnh giới thứ ba là Ðại Phạm Thiên. Các vị này được gọi vậy vì các vị này sống lâu hơn; hình thái đẹp hơn và nhiều hạnh phúc hơn.
TOÁT YẾU
I. PÀLI VĂN.
Sotàpannà ca sakadàgàmino càpi puggalà.
Ariyà nopalabbhanti asannàpàyabhùmisu.
Sesatthànesu labbhanti aryànariyà pi ca.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Ở Phước sanh thiên, chỉ có các vị A-na-hàm và A la hán sanh. Các vị A-na-hàm được sanh ở đây, chứng quả A la hán và sống cho đến khi thọ mạng mãn.
CÁC LOẠI KIẾT SANH THỨC Ở ÁC THÚ
I. PÀLI VĂN.
10) Tattha akusalavipàkopekkhàsahagatasantìranam apàyabhùmiyam okkantikkhane patisandhi, hutvà, tato param bhavangam, pariyosànecavanam ca hutvà vocchijjati. Ayamekàpàyapatisandhi nàma.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
10) Ở đây, Suy đạc tâm, bất thiện dị thục tương ưng với xả làm Kiết sanh thức khi thác sanh vào Ác thú, rồi thành Hữu phần, cuối cùng thành Tử thức và bị diệt. Ðó là kiết sanh thức độc nhất ở Ác thú.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Kiết sanh thức ở Ác thú là Suy đạc tâm câu hữu với xả và thuộc bất thiện dị thục.
KIẾT SANH THỨC Ở DỤC GIỚI
I. PÀLI VĂN.
Sà panàyam dasavidhà pi kàmàvacarapatisandhicceva sankham gacchati.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
I. PÀLI VĂN.
13. Navasatam cekavìsa vassànam kotiyo tathà,
Vassasatasahassàni satthi ca vasavattisu.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
13. Thọ mạng của Tha hóa tự tại thiên là 9.216.000.000 tuổi người.
I. PÀLI VĂN.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Các địa giới thiền phân loại theo kinh tạng nên chỉ có 4, nhị thiền và tam thiền hợp lại thành một.
THỌ MẠNG TRÊN SẮC GIỚI THIÊN
I. PÀLI VĂN.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Kappa: Ở đây ở Ðại kiếp. Có ba loại kiếp: Antarakappa (Trung kiếp), Asankheyyakappa (Vô lượng kiếp) và Mahàkappa (Ðại kiếp). Antarakappa: Trung-kiếp là thời gian tuổi con người lên từ 10 tuổi đến vô số tuổi rồi trụt xuống chỉ có 10 tuổi. 20 trung kiếp như vậy là vô số kiếp (asankheyyakappa), 4 vô số kiếp thành một Ðại kiếp (mahàkappa). Một Ðại kiếp là thời gian cần thiết để quăng cho hết các hột cải trong một khoảng đất rộng, cao và dài một do tuần, cứ 100 năm là quăng một hột cải.
KIẾT SANH THỨC VÀ TUỔI THỌ Ở VÔ SẮC GIỚI - TOÁT YẾU
I. PÀLI VĂN.
17) Tesu pana àkàsànancàyatanùpagànam devànam vìsati kappasahassàni àyuppamànam vinnànancàyatanùpagànam devànam cattàlisa kappasahassàni, ãkincannàyatanùpagànam devànam satthi kappasahassàni, nevasannànàsannàyatanũpagànam devànam caturàsìti kappasahassàni.
18) Patisandhi bhavangan ca tathà cavanamànasam,
Ekameva tatheveka-visayam cekajàtiyam.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
17) Ở những cảnh giới ấy, thọ mạng của Chư Thiên ở không Vô biên xứ là 20 ngàn kiếp, của Chư Thiên ở Thức vô biên xứ là 40 ngàn kiếp, của Chư Thiên ở Vô sở hữu xứ là 60 ngàn kiếp, của Chư Thiên ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ là 84 ngàn kiếp.
18) Trong một đời sống, Kiết sanh thức, Hữu phần và Tử tâm thuộc một loại và cùng một đối tượng.
I. PÀLI VĂN.
Tathà akusalam, kàmàvacarakusalam, rùpàvacarakusalam, arùpà-vacarakusalam càti pàkatthànavasena.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
Về phương diện sức mạnh thứ tự đưa đến hình thành của quả báo, có bốn loại nghiệp: cực trọng nghiệp, cận tử nghiệp, tập quán nghiệp và tích lũy nghiệp.
Về phương diện thời gian đưa đến sự thọ lãnh kết quả của nghiệp, có bốn loại nghiệp: hiện báo nghiệp, sanh báo nghiệp, hậu báo nghiệp và vô hiệu nghiệp.
Về phương diện vị trí quả báo, có bốn loại nghiệp: bất thiện nghiệp, dục giới thiện nghiệp, sắc giới thiện nghiệp và vô sắc giới thiện nghiệp.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Kamma nghĩa là hành động, tạo tác. Nói một cách thiết thực hơn, kamma là những hànhđộng thiện, ác cố ý. Trừ đức Phật và các vị A la hán, hành động cố ý của các loài khác đều gọi là kamma.
Kamma là hành động, vipàka là quả hay phản ứng của nghiệp. Theo Abhidhamma, kamma bao trùm 12 Bất thiện Tâm, 8 Dục giới thiện tâm, 5 Sắc giới thiện tâm, 4 Vô sắc thiện tâm. 8 Siêu thế tâm không gọi là kamma vì những tâm này có tánh cách đoạn trừ căn rễ của kamma, khiến không còn sanh tử. Tại Siêu thế tâm, trí tuệ (pannà) chiếm địa vị ưu thắng. Tại Dục giới tâm, Tư (cetanà) chiếm địa vị ưu thắng. 29 tâm kể trên gọi là kamma, vì chúng chứa khả năng tạo ra quả báo. Có 23 tâm gọi là quả báo dị thục ở Dục giới. 5 tâm là quả báo dị thục ở Sắc giới và 4 tâm là quả dị thục ở Vô sắc giới.
Janakakamma (sanh nghiệp) là nghiệp chi phối sự sanh trưởng trong một đời sau. Sự chết của con người chỉ là sự kết liễu tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Chính tâm sát na cuối cùng định đoạt đời sống tương lai của con người.
Theo sớ giải, Janakakamma là nghiệp sanh ra tâm uẩn và sắc uẩn khi mới thọ thai. Tâm đầu tiên là Patisandhi vinnàna (kiết sanh thức) bị chi phối bởi Janakakamma này.
Upatthambhakakamma (trì nghiệp) là nghiệp tiếp theo Janakakamma, duy trì và nâng đỡ nghiệp này cho đến khi mệnh chung. Một thiện trì nghiệp có thể làm con người khỏe mạnh, an lạc, hạnh phúc. Trái lại, một bất thiện nghiệp có thể làm con người bệnh hoạn, đau khổ v.v...
Upapìlakakamma là chướng nghiệp. Nghiệp này, trái với nghiệp trước, làm cho yếu ớt, dừng lại và chậm trễ sự kết thành của sanh nghiệp. Như một người sanh ra với một thiện sanh nghiệp có thể đau đớn bịnh hoạn, do vậy không có kết quả tốt lành của nghiệp thiện.
Upaghàtakakamma, đoạn nghiệp là nghiệp đoạn trừ, tiêu diệt năng lực của sanh nghiệp, như một mũi tên đang bay có thể bị một sức mạnh nào khác cản lại khiến cho mũi tên rơi xuống. Sức mạnh ấy là đoạn nghiệp. Ðoạn nghiệp này có thể thiện hay ác.
Một ví dụ điển hình công năng của các nghiệp trên là đời sống của Devadatta. Thiện sanh nghiệp khiến Devadatta sanh trong gia đình vương giả giàu có. Nhờ trì nghiệp Devadatta được sống hạnh phúc an lạc trong một thời gian khá dài. Vì chướng nghiệp, Devadatta bị nhục nhã khi bị tẩn xuất ra khỏi Giáo hội. Vì đoạn nghiệp, Devadatta bị chết một cách đau đớn.
Garukakamma (cực trọng nghiệp) có thể thiện hay bất thiện. Nghiệp này nhất định tạo quả đời này hay đời sau. Nếu là thiện, thời thuộc ý nghiệp như các thiền tâm. Nếu không phải thiện, có thể khẩu nghiệp hay thân nghiệp. 5 cực trọng nghiệp là giết cha, giết mẹ, giết A la hán, phá hòa hợp tăng, làm thân Phật chảy máu. Cực trọng này cũng gọi là Ànantariyakamma (vô gián nghiệp) vì nhất định nghiệp này đem đến kết quả trong đời sau. Nếu một người tu thiền và sau làm một cực trọng nghiệp, thiện nghiệp của người này sẽ bị cực trọng nghiệp tiêu trừ. Ðời sống sau này của vị này sẽ bị chi phối bởi cực trọng nghiệp, như Devadatta mất thần thông và phải sanh vào ác thú vì đã làm đức Phật bị thương và phá hòa hợp Tăng. Như vua Ajàtasattu không thể chứng sơ quả vì đã giết phụ vương.
Àsannakamma (cận tử nghiệp) là nghiệp làm ra hay nhớ nghĩ khi lâm chung. Nghiệp này rất quan trọng vì chi phối đến đời sống sau này. Cho nên nhiều lễ nghi tổ chức khiến người sắp chết nhớ lại việc thiện để người ấy được sanh vào những cõi tốt đẹp hơn. Một người ác có thể sanh lên thiện thú nếu khi chết người ấy nhớ hay làm một thiện sự. Trái lại một người thiện có thể chết một cách đau đớn hay sanh vào ác thú nếu khi chết người ấy làm hay nhớ đến một việc ác. Như hoàng hậu Mallika, vợ của vua Kosala sống một đời sống ngay thẳng tốt lành, nhưng chỉ vì khi lâm chung, nhớ đến một lời nói láo của mình, nên phải sống 7 ngày đau khổ trong ác thú.
Àcinnakamma (tập quán nghiệp) là nghiệp thường làm và thường nhớ đến. Chính những hànhđộng trở thành tập quán tác thành cá tánh con người. Cunda, người đồ tể, chết la hét như con heo, vì sống bằng nghề đồ tể, dầu sống bên cạnh chùa của đức Phật. Vua Dutthagàmi ở Tích-Lan thường cúng dường cơm nước cho chư Tăng trước khi ăn cơm. Chính tập quán nghiệp này khiến vua hoan hỷ lúc chết và được sanh lên cõi trời Tusita (Ðâu suất).
Katattàkamma (tích lũy nghiệp) nghĩa là làm những nghiệp không thuộc vào ba loại nghiệp kể trên và những nghiệp làm mà quên liền, thuộc về loại nghiệp này. Nghiệp này như là chỗ chứa đựng các nghiệp cho một chúng sanh.
Ditthidhammavedanìyakamma: Hiện báo nghiệp, là nghiệp đưa đến kết quả hiện tại. Theo Abhidhamma, chúng ta làm thiện hay ác trong giai đoạn Javana (tốc hành tâm), tâm này tồn tại đến 7 Sát-na. Quả báo của tâm sát-na thứ nhất, tâm yếu ớt nhất, có thể được lãnh thọ ngay ở đời này. Như vậy gọi là hiện báo nghiệp. Nếu không thọ lãnh ngay trong đời này, nghiệp ấy gọi là Vô hiệu. Tâm sát-na yếu ớt thứ hai là tâm sát-na thứ 7. Quả báo của tâm này có thể thọ lãnh đời sau thì gọi là Upapajjavedanìya (sanh báo nghiệp). Nghiệp này nếu không đưa đến quả báo đời sau thì được gọi là vô hiệu. Quả báo của các sát-na tâm ở giữa có thể được thọ lãnh bất kỳ lúc nào cho đến khi chứng được Niết bàn. Loại nghiệp này gọi là Aparàpariyavedanìya hậu báo nghiệp. Chính đức Phật và các vị A-la-hán cũng không thoát khỏi nghiệp này. Không có một loại nghiệp đặc biệt gọi là Ahosikamma (Vô hiệu nghiệp), nhưng khi một nghiệp nào phải có quả báo ở đời này hay đời sau, mà không thành tựu được, nghiệp ấy gọi là Ahosikamma.
CÁC NGHIỆP BẤT THIỆN
I. PÀLI VĂN.
21) Katham? Pànàtipàto, adinnàdànam, kàmesu micchàcàro ceti kàyavinnattisankhàte kàyadvàre bàhullavuttito kàyakammam nàma.
22) Musàvàdo, pisunvàcà, pharusavàcà, samphappalàpo ceti vacìvinnattisankhàte vacìdvàre bàhullavuttito vacìkammam nàma.
23) Abhijjhà, byàpàdo, micchàditthi ceti annataràpi vinnattiyà manasmim yeva bàhullavuttito manokamman nàma.
24) Tesu pànàtipàto, pharusavàcà, byàpàdo ca dosamùlena jàyanti. Kàmesu micchàcàro, abhijjhà micchàditthi ca lobhamùlena. Sesàni cattàri pi dvìhi mùlehi sambhavanti. Cittuppàdavasena panetam akusalam sabbathà pi dvàdasavidham hoti.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
21) Sao? Sát sanh, lấy của không cho, tà dâm gọi là thân nghiệp vì chúng phần lớn làm bởi thân.
22) Nói láo, nói hai lưỡi, ác ngữ, ỷ ngữ gọi là khẩu nghiệp vì chúng phần lớn do miệng thốt ra.
23) Tham, sân, các tà kiến gọi là ý nghiệp vì chúng phần lớn làm bởi ý.
24) Trong những nghiệp này, sát sanh, ác khẩu và sân được khởi lên do sân căn. Tà dâm, tham, tà kiến được khởi lên do tham căn. 4 pháp còn lại khởi lên do cả hai căn. Tùy theo tâm sanh, bất thiện có 12 loại tất cả.
IV. THÍCH NGHĨA.
I. PÀLI VĂN.
26. a) Rùpàvacarakusalam pana manokammameva, tanca bhàvanàmayam appanàpattam, jhànangabhedena pancavidham hoti.
b) Tathà arùpàvacarakusalam ca manokammam. Tampi bhàvanà-mayam, appanàpattam, àrammanabhedena catubbidham hoti.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
26. a) Còn Sắc giới thiện chỉ thuộc ý nghiệp, do thiền định sanh, thuộc thiền tâm và chia thành năm loại theo các cõi thiền.
b) Cũng vậy Vô sắc giới thiện chỉ thuộc ý nghiệp, do thiền định sanh, thuộc thiền tâm và chia thành bốn loại theo đối tượng tu hành.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Ðoạn này chỉ các thiện tâm ở Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, phân loại theo thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp hoặc phân loại theo các thiện pháp, hoặc theo các thiền định.
QUẢ CỦA NGHIỆP BẤT THIỆN
I. PÀLI VĂN.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Uddhacca (Trạo cử) không đủ sức mạnh để tạo Patisandhi trong ác thú. Trạo cử chỉ diệt trừ trong A La hán đạo tâm. Ác quả của mgười hai bất thiện tâm là bảy bất thiện dị thục tâm, chúng có thể hiện hạnh trong đời sống hiện tại.
QUẢ CỦA NGHIỆP THIỆN
I. PÀLI VĂN.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Các thiện nghiệp đưa đến thiện quả là tám vô nhân thiện dị thục tâm và tám Tịnh quang Dị thục tâm. Kết quả của tám Tịnh quang thiện tâm có thể là Kiết sanh thức (Patisandhi) và cũng có thể là tám Tịnh quang thiện dị thục tâm trong đời sống hằng ngày.
QUẢ CỦA HAI VÀ BA THIỆN NHÂN
I. PÀLI VĂN.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Các thiện nghiệp thù thắng đầy đủ ba nhân là bốn Tịnh quang thiện tâm tương ưng với trí. Chữ Ukkattha (U: Cao) (Kas: Kéo) là thù thắng thiện nghiệp, có thiện nhân trước và sau khi hành động. Như bố thí cho một vị hết sức gìn giữ giới luật thanh tịnh, với tiền của được một cách chơn chánh và sau khi cho không có hối tiếc được xem là một thiện nghiệp thù thắng nhất. Omaka: Thấp kém. Khi bố thí, có thể có tâm với ba thiện nhân. Nhưng nếu cho một người độc ác với tiền của không được chân chánh và sau lại hối hận thời nghiệp như vậy là gọi là thấp kém.
Mười sáu dị thục tâm khởi lên trong đời sống bình thường là tám vô nhân tâm và tám hữu nhân hoạt động với công tác Tadàlam bana (Ðồng sở duyên). Bốn thiện - nghiệp yếu ớt hơn cả ba thiện nhân (4 Tịnh quang tâm tương ưng với trí) và bốn thiện nghiệp mạnh hơn chỉ có vô tham vô sân (4 Tịnh quang tâm không tương ưng với trí) khiến sanh ra có trí thông minh sút kém. Quả dị thục của chúng khởi lên, trong tuần tự diễn tiến của tâm chỉ có mười hai loại, tức là trừ 4 loại tương ứng với trí. Một thiện tâm yếu ớt hơn, chỉ có vô tham, vô sân làm nhân, (không có vô si tức là bốn tâm không tương ưng với trí) khiến sanh ra thành người hoặc sanh ra đã mù, câm hay ngu đần. Các dị thục khởi lên trong diễn tiến của tâm gồm tám vô nhân dị thục tâm.
TOÁT YẾU
I. PÀLI VĂN.
Sasankhàramasankhàravipàkàni ti kecana.
Tesam dvàdasa pàkàni dasattha ca yathàkkamam,
Yathàvuttànusàrena yathàsambhavamuddise.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
Theo (các vị này) như đã nói đến trước, các dị thục tâm khởi lên, theo thứ tự là 12, 10 và 8 cần được nêu lên.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Những luận sư đề cập đến là những luận sư giáo phái của Ðại Ðức Mahàdhammarakkhita ở chùa Moravapi, Tích-Lan. Theo những vị này, một tâm mạnh hơn trong hai tâm không cần nhắc bảo, tương ưng với trí có thể sanh 12 dị thục tâm tức là 4 tâm không cần nhắc bảo và tám vô nhân dị thục tâm. Cũng vậy một tâm mạnh hơn trong hai tâm cần được nhắc bảo, tương ưng với trí có thể sanh 12 dị thục tâm, tức là 4 tâm cần được nhắc bảo và tám vô nhân tâm.
Một tâm yếu hơn của hai tâm tương ưng với trí và một tâm mạnh hơn của hai tâm không tương ưng với trí không cần nhắc bảo sanh 10 dị-thục tâm (2 dị thục tâm không tương ưng với trí không cần nhắc bảo và tám vô nhân tâm). Cũng vậy đối với hai tâm cần được nhắc bảo. Một tâm yếu hơn của tâm không tương ưng với trí chỉ sanh có tám vô nhân tâm.
QUẢ CỦA SẮC GIỚI THIỆN NGHIỆP
I. PÀLI VĂN.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Hàng Dự lưu (Sotàpanna) và Nhứt lai (Sakadàgami) chứng Ðệ ngũ thiền được sanh vào cõi Quảng quả thiên nhưng nếu các vị này không có tha thiết gì đến cảnh giới có sắc, có thể sanh vào các Vô sắc giới thiên.
Các hàng Bắt-Lai (Anàgàmi) chứng Ðệ ngũ Thiền và có năm đức tánh tín, tấn, niệm, định, huệ đồng đều, được sanh vào Quảng Quả thiên. Những ai có lòng tin mãnh liệt, lấn át các đức tánh khác, được sanh vào cõi Avihà (vô phiến thiên); có tinh tấn (viriya) mãnh liệt, lấn át cácđức tánh khác, được sanh vào cõi Atappa (Vô nhiệt thiên), có niệm (sàti) mãnh liệt, lấn át cácđức tánh khác, được sanh vào cõi Sudassa (Thiện Kiến thiên); có định (Sanàdhi) mãnh liệt, lấn át các đức tánh khác, được sanh vào cõi Sudassi (Thiện hiện thiên); có Huệ (Pannà) mãnh liệt, lấn át các đức tánh khác, được sanh vào cõi Akanittha (Sắc cứu cánh thiên).
Các vị Bất Lai không có luật nhất định nói các vị này không sinh vào các cõi khác (Te pana annattha na nibbattantìti niyamonatthi Sớ giải).
Còn các vị A-na-hàm Sukkha-vipassaka (khổ quán) chứng thiền định trước khi chết được sanh vào cõi Tịnh cư thiên.
QUẢ CỦA VÔ SẮC GIỚI THIỆN NGHIỆP VÀ TOÁT YẾU
I. PÀLI VĂN.
33. Ittha mahaggatam punnam yathàbhùmi-vavatthitam. Jenetisadisam patisandhippavattiyam.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
33. Như vậy đại hành Thiện tâm, được phân định tùy theo cảnh giới, anh những dị thục tâm giống nhau khi thọ sanh và trong đời sống bình thường.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Ðối với Vô sắc giới thiện tâm, nếu chứng được tâm nào thì sanh vào cõi Vô sắc giới tươngđương. Nói đế Ðại hành tâm là tâm ở cả Sắc giới và Vô sắc giới.
NGUYÊN NHÂN CỦA CHẾT
I. PÀLI VĂN.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
IV. NGHĨA VĂN.
- Chết là sự chấm dứt tạm thời của một hiện tượng tạm thời. Chết là sự diệt tận của mạng căn (Jìvitindriya), sức nóng (usna = Tejodhàtu) và thức (vinnàna) của một cá nhân. Chết không phải là đoạn diệt hẳn, chết tại chỗ này nghĩa là sanh tại chỗ khác, như mặt trời mọc một chỗ này nghĩa là mặt trời lặn một chỗ khác. Thọ diệt như khi một người chết vì tuổi già, Nghiệp diệt là thường khi chết, tư (cetanà) của con người rất mạnh và chi phối sự tái sanh của mình. Trong phút cuối cùng này, có sự có mặt của một năng lực đặc biệt, và khi năng lực của sanh nghiệp này tàn diệt, thời mọi hoạt động về sắc thân đình chỉ, cho đến trước khi tuổi già. Cả hai diệt, khi một người sinh ra với tuổi thọ 80, và người này chết lúc 80 tuổi do vì năng lực của sanh nghiệp diệt tận, như vậy người này chết do thọ diệt và nghiệp diệt. Sát nghiệp và nghiệp cắt đứt thình lình sức sống của sanh nghiệp. Ví dụ, một sức mạnh chống đối mạnh hơn có thể làm cho một mũi tên đang bay rơi xuống đất. Cũng vậy, một sức mạnh của nghiệp quá khứ có thể làm cho tiêu tan sanh nghiệp của một loài hữu tình và như vậy khiến loài hữu tình ấy bị chết. Ba loại chết trên gọi là Kàlamarana (chết đúng thời), và loại chết thứ tư gọi là Akàlamarana (chết phi thời hay bất đắc kỳ tử).
Một ngọn đèn có thể do bốn nguyên nhân sau đây: Hết tim, hết dầu, hết tim và dầu, do một ngoại duyên khác như bị gió thổi. Sự chết của con người cũng do 4 duyên như vậy.
NGHIỆP, NGHIỆP TƯỚNG VÀ THÚ TƯỚNG
I. PÀLI VĂN.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
1. Một nghiệp có khả năng khiến cho tái sanh trong đời sau được khởi tùy theo trường hợp.
2. Hay là một nghiệp tướng là một vật như sắc v.v... mà trước kia đã từng được dùng trong khi làm nghiệp ấy.
3. Hay là một thú tướng phải được và phải thực nghiệm trong đời sống khởi lên ngay tiếp theo đó.
Liền theo đó, y cứ theo đối tượng được khởi lên, tùy theo với nghiệp cần phải được thuần thục, hoặc thanh tịnh hay nhiễm ô, và phù hợp với cảnh giới sẽ được tái sanh, dòng tiềm thức luôn luôn được trôi chảy, hướng phần lớn về cảnh giới ấy. Hay cái nghiệp có khả năng khiến cho tái sanh ấy hiện khởi đến với căn môn với tư cách là một tác động mới.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Khi một người sắp chết, một nghiệp thiện hay bất thiện hiện khởi ra trước người ấy, nghiệp ấy có thể là một cực trọng nghiệp (garuka) như các thiền (Jhàna) hay giết cha v.v... những nghiệp này quá mạnh đến nỗi lấn áp tất cả nghiệp khác và hiện khởi rõ rệt. Nếu không có cực trọng nghiệp, thời người ấy có thể lấy một cận tử nghiệp (àsanna kamma). Nếu là một quá khứ, thời chính là thiện hay bất thiện niệm khởi lên trước khi chết, niệm này, người ấy đã được kinh nghiệm trong khi làm nghiệp ấy. Kammanimitta (nghiệp tướng) là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp gì mà người ấy nhận lãnh được, khi làm nghiệp ấy, như con dao đối với người đồ tể, các bệnh nhân đối với thầy thuốc, bông hoa đối với người tín nữ v.v... Gatinimitta (Thú tướng) là một hình tướng gì của cảnh giới mà người ấy sắp được tái sanh, một sự kiện luôn luôn xảy ra với người sắp chết. Nếu là một hình tướng không tốt đẹp, thời có thể thay đổi chúng bằng cách ảnh hưởng đến tư tưởng của người sắp chết, và như vậy thiện niệm của người ấy biến thành cận tử và thay thế cho sanh nghiệp của người ấy. Thú tướng này có thể là lửa địa ngục, rừng, núi, bào thai của người mẹ, thiên cung v.v...
Kamma hiện khởi ra tại ý căn. Kammanimitta hiện khởi ra tại một trong sáu căn, tùy theo trường hợp. Gatinimitta, luôn luôn là một sắc tướng, hiện khởi ra dưới hình thức chiêm bao.
LỘ TRÌNH TÂM CỦA MỘT NGƯỜI SẮP CHẾT
I. PÀLI VĂN.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Lấy một trong ba tướng kể trên làm đối tượng, lộ trình của tâm tuần tự diễn tiến, dầu cho sự chết có đến hết sức bất thần và lập tức. Sau đây là lộ trình tâm của một người sắp chết và được sanh lên cõi người, và đối tượng của người này là một thiện nghiệp.
Tâm Bhavanga (hữu phần) dừng lại và rung động hai tâm sát-na rồi diệt, tiếp theo là Ý môn hướng tâm (manodvàràvajjana) khởi lên rồi diệt. Tiếp đến là Javana (tốc hành tâm) chỉ có năm tâm sát-na chớ không phải bảy như thường lệ vì yếu ớt. Vì vậy tâm này thiếu khả năng dẫn sanh mà chỉ có khả năng điều hành cho một đời sống mới Abhinavakarana. Ðối tượng trong trường hợp này là thiện, tâm của người này là thiện, không cần nhắc bảo hay phải được nhắc bảo, câu hữu với hỷ tương ưng hay không tương ưng với trí, tùy theo trường hợp. Tâm đồng sở duyên (Tadàlambana), có công tác ghi giữ hay ghi nhận trong hai sát-na, đối tượng được nhận thức, có thể sanh hay không, tiếp đến là Tử tâm (cuticitta), sát-na tâm cuối cùng trong đời hiện tại. Có người hiểu lầm là đời sống kế tiếp bị định đoạt chi phối bởi Tử tâm cuối cùng này. Sự thật chính Tốc hành tâm mới chi phối đời sống đời sau. Khi tử tâm diệt, sự chết mới thiệt bắt đầu. Bắt đầu từ đây, không có một sắc nào do tâm tạo và do ăn uống tạo được tạo ra (cittaja và àhàraja rùpa). Chỉ có các sắc do khí nóng tạo ra (utuja) được tạo ra cho đến khi thi thể trở thành tro bụi.
Sau khi Tử tâm đã diệt, một Kiết sanh thức (Patisandhi) được sanh trong một đời sống mới. Tiếp theo là mười sáu tâm sát-na bhavanga. Tiếp đến là Ý môn hướng tâm (manodvàràvajjana) và năm tâm sát-na Javana (Tốc hành), phát sanh tâm ưa thích đối với đời sống mới (bhava-nikànti-Javana). Rồi tâm bhavanga khởi và diệt và dòng tâm thức trôi chảy như một dòng nước. Trong trường hợp Vô sắc giới, sẽ không có hadayavatthu (đoàn tâm).
KIẾT SANH THỨC VÀ ÐỐI TƯỢNG CỦA NGƯỜI SẮP CHẾT
I. PÀLI VĂN.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
Như vậy, khi tái sanh ở Dục giới, Kammanimitta (nghiệp tướng) nhận thức bởi một trong sáu căn môn hay gatinimitta (Thú tướng) có thể quá khứ hoặc hiện tại nhưng Kamma (nghiệp) được nhận thức bởi ý môn chỉ thuộc về một đối tượng quá khứ. Tất cả những đối tượng này phải được xem là thuộc về tiểu pháp (Dục giới).
I. PÀLI VĂN.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Ðối tượng của Kamma nimittam khi tái sanh ở Sắc giới thuộc về khái niệm vì đây là patibhàganimitta (quan tướng). Jìvitanavaka gồm có Ðịa, thủy, hỏa, phong, sắc, hương, vị, ojà (Dưỡng chất) và mạng căn (Jìvitindriya).
TOÁT YẾU
I. PÀLI VĂN.
Paramàruppasandhì ca tathà kàmatihetukà.
Rùpàvacaracutiyà aheturahità siyum.
Sabbà kàmatihetumhà, kàmesveva panetarà.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Với ba nhân là với vô tham, vô sân và vô sĩ. Một người vô nhân là những người sinh ra ngu đần, sanh ra đã mù hay điếc hay sinh ra ở cõi ác thú.
DÒNG TÂM THỨC
I. PÀLI VĂN.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
IV. THÍCH NGHĨA.
- Patisandhi, Bhavanga và cuti của một đời sống là giống nhau vì chúng cùng một đối tượng. Các tâm sở của ba tâm này giống nhau. Chúng chỉ khác nhau về danh từ và công tác. Liền sau đó, Kiết sanh thức (patisandhi). Hữu phần (bhavanga) khởi lên. Trong đời sống, khi không có sự diễn tiến lộ trình của tâm, Hữu phần tâm này tiếp tục trôi chảy. Trong một đời sống, vô số Bhavanga (Hữu phần tâm) được khởi lên.
SỰ LIÊN TỤC CỦA DÒNG TÂM THỨC
I. PÀLI VĂN.
Puna sandhi bhavangamiccayam parivattati cittasantati.
Patisankhàya panetamaddhuvam adhigantvà padamaccutam budhà.
Susamucchinnasinehabandhanà samamessanti ciràya subbatà.
II. THÍCH VĂN.
III. VIỆT VĂN.
Người có trí, tự khéo điều phục trong một thời gian lâu dài, suy tư đến lẽ vô thường, sẽ chứng ngộ sự bất diệt, và hoàn toàn cắt bỏ triền phược của tham ái, chứng ngộ thanh tịnh.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.30/11/2016.
No comments:
Post a Comment