Monday, May 31, 2021

LỜI DẠY CỦA ÐỨC PHẬT VỀ HÒA BÌNH. Tổng kết 45 năm thuyết pháp của Ngài, đức Phật tuyên bố rõ ràng là Ngài chỉ dạy hai vấn đề: Khổ và diệt khổ, ngoài ra không dạy gì nữa. Chiến tranh đem đến đau khổ. Hòa bình nghĩa là chấm dứt khổ đau. Do vậy Ngài được tôn xưng là "vị Sứ giả hòa bình". Ngài khuyến khích các đệ tử của Ngài du hành để thuyết pháp và giải thích đời sống Phạm hạnh, vì hạnh phúc và an lạc của quần sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc của chư Thiên và loài Người. Ðức Phật nêu rất rõ ràng mục đích thuyết pháp của Ngài là không tranh luận với các nhà lãnh đạo tôn giáo khác và không cạnh tranh với các lý thuyết đối nghịch. Không có sự tranh chấp trong sự thuyết pháp của Ngài. Ngài chỉ trình bày con đường dẫn đến giác ngộ, và giải thoát mọi khổ đau. Ðức Phật luôn luôn tràn đầy lòng từ bi đối với tất cả loài hữu tình. Cho đến khi nằm nghỉ, Ngài cũng "Tâm từ, thương chúng sanh" và Ngài có thuyết pháp cũng chỉ vì tình thương của Ngài đối với mọi loài. * * * "Này các Tỷ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ". (Trung Bộ I. 140) "Này các Tỷ-kheo, hãy du hành, vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc, cho chư Thiên và loài Người. Chớ có đi hai người một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Hãy tuyên thuyết Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn, thanh tịnh". (Tương Ưng I. 128) "Này các Tỷ-kheo, Ta không tranh chấp với đời. Chỉ có đời tranh chấp với Ta. Này các Tỷ-kheo, người nói pháp không tranh chấp với một ai ở đời". (Tương Ưng III. 165) "Bạch Thế Tôn, con nghe như sau: "Cao thượng thay, an trú lòng từ". "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn diện kiến thân chứng cho con điểm này. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn an trú lòng từ" - "Này Jìvaka, cái gọi là tham, là sân, là si do đó sân hận khởi lên, tham ấy, sân ấy, si ấy được Như Lai đoạn trừ, chặt cho đến tận gốc, làm cho như thân cây ta- la, khiến không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Này Jìvaka, nếu như vậy là ý nghĩa Ông muốn nói, thời Ta đồng ý với Ông". - "Bạch Thế Tôn, như vậy thật là ý nghĩa con muốn nói". (Trung Bộ II. 370A-370B) "Khi thức không lo âu, Khi ngủ chẳng sợ hãi Ngày đêm không khởi lên, Phiền não bận lòng Ta. Ta không thấy tai hại, Một chỗ nào trên đời. Do vậy, Ta nằm nghỉ, Tâm từ, thương chúng sanh". (Tương Ưng I. 136) "Này Sàriputta, những ai nói một cách chơn chánh sẽ nói như sau: "Một vị hữu tình không bị si chi phối, đã sanh ra ở đời vì hạnh phúc cho số đông, vì an lạc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người". Vị ấy sẽ nói về Ta một cách chơn chánh như sau: "Một vị hữu tình không bị si chi phối, đã sanh ra ở đời, vì hạnh phúc cho số đông, vì an lạc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người". (Trung Bộ I. 83) "Ngài hiểu biết tất cả, Ngài trình bày Chánh pháp. Vì lòng thương, từ mẫn, Ðối với mọi chúng sanh. Ngài vén mở bức màn, Bậc có mắt mọi nơi. Không cấu uế, thanh tịnh. Ngài chói toàn thế giới". (Kinh tập. Kệ 378) * * * CHƯƠNG HAI TRÍCH DỊCH VỀ LỜI DẠY CỦA ÐỨC PHẬT PHẨM 1 : ÐẤU TRANH VÀ HÒA HỢP Thế Tôn chỉ cho chúng ta rõ các dục là nguồn gốc của đấu tranh, kháng tranh, xung đột và chiến tranh. "Một nguyên nhân nữa của đấu tranh và xung đột là sự so sánh giữa mình và người, xem các người khác là bằng mình, hay hơn mình hay thua mình". Một phương pháp làm lắng dịu các tranh luận là sự ý thức, chính tại đây, "trong tranh luận này, chúng ta đều tàn hại". Có một trường hợp này thật là bẽ bàng, như đức Phật đã nêu rõ, là một người đến phỉ báng người không có phỉ báng, nhiếc mắng người không có nhiếc mắng, gây sự với người không có gây sự. Tất cả sự phỉ báng, nhiếc mắng ấy tự nhiên trở lui lại cho người đã nhiếc mắng. Cũng như đồ ăn được đưa mời mà người được mời không chấp nhận, thời món ăn sẽ trở lại với người chủ của nó. Thái độ đức Phật đối với tranh luận rất rõ ràng. Ngài không có tranh luận với ai ở đời. Ngài thuyết pháp chỉ với mục đích nêu lên con đường chấm dứt khổ đau. Ngài không bao giờ tự cho chỉ có Pháp của Ngài là sự thật, ngoài ra đều là hư vọng. Ngài giải thích Pháp của Ngài rõ ràng cho mọi người đến để xem để thấy và để tự mình phê phán. Phương pháp hay nhất để tránh xa các tranh luận và xung đột, đức Phật khuyên chúng ta, là đừng có khởi lên các hý luận, vọng tưởng, các tà kiến. Và trong trường hợp chúng có khởi lên, thời thái độ tốt nhất là chớ hoan hỷ, đón mừng và chấp thủ chúng. Thái độ này sẽ chấm dứt đấu tranh, xung đột, chiến tranh và các pháp bất thiện. Chiến tranh nào cũng đem đến đau khổ vô lượng vô biên. Chiến thắng sanh thù oán, bại trận nếm khổ đau. Cho nên phương pháp hay nhất là đừng dùng chiến tranh để giải quyết các xung đột, nhưng phải tìm mọi phương tiện hòa bình để chấm dứt các bất đồng ý kiến và các xung đột. Do vậy các bậc Thánh đã từ bỏ gia đình, sẽ không tạo nên các trói buộc mới. Các vị này chấm dứt mọi tranh luận, bất cứ với một ai. * * * "Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lỵ tranh đoạt với Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn tranh đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ; mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ; cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha; anh em tranh đoạt với anh em; anh tranh đoạt với chị; chị tranh đoạt với anh; bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi chúng dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt, chúng tấn công nhau bằng tay, chúng tấn công nhau bằng gạch đá, chúng tấn công nhau bằng gậy gộc, chúng tấn công nhau bằng đao kiếm. Ở đây, chúng đi đến tử vong, đi đến đau khổ gần như tử vong". (Trung Bộ I. 87) "Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, chúng cầm mâu và thuẫn, chúng đeo cung và tên, chúng dàn trận hai mặt và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Chúng bắn, đâm nhau bằng tên, chúng quăng, đâm nhau bằng đao, chúng chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây, chúng đi đến tử vong, đi đến đau khổ gần như tử vong". (Trung Bộ I. 87A) "Bằng, thắng hay thua Ta, Nghĩ vậy đấu tranh khởi, Cả ba không dao động, Bằng, thắng không khởi lên". (Tương Ưng I. 15) "Người khác không hiểu biết, Chúng ta đây (Trong tranh luận này) suy vong. Ai hiểu biết chỗ ấy, Tranh luận được lắng êm". (Pháp Cú. 6) "Phẫn nộ, không hoan hỷ, Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói những lời không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn. Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja: -"Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Các thân hữu bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm Ông không?" - "Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng các thân hữu bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm tôi" - "Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm và các loại đồ nếm không?" - "Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng tôi sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm và các loại đồ nếm". - "Nhưng này Bà-la-môn, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về ai?" - "Thưa Tôn giả Gotama, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về lại chúng tôi". "Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng, nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng, xỉ vả chúng tôi là người không xỉ vả, chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông. Này Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại Ông. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, xỉ vả lại khi bị xỉ vả, thời như vậy, này Bà-la-môn, người ấy được xem là đã hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn chúng tôi không cùng hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không cùng san sẻ việc ấy với Ông, thời này Bà-la-môn, tất cả sự việc ấy về lại với Ông và tất cả sự việc ấy chỉ về lại Ông mà thôi". (Tương Ưng I. 199) "Này Hiền giả, theo lời dạy của Ta, trong thế giới với chư Thiên, Mara và Phạm thiên, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, không có tranh luận với ai ở đời". (Trung Bộ I. 109A) "Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, nếu ở đây không có gì đáng hoan hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thời như vậy là sự đoạn tận tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn tận kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu ái tùy miên, sự đoạn tận vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở nơi đây, những ác bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn". (Trung Bộ I. 110) "Thắng trận sanh thù oán, Bại trận nếm khổ đau, Ai bỏ thắng, bỏ bại, Tịch tịnh hưởng an lạc". (Tương Ưng I. 102) "Bậc Thánh bỏ gia đình, Du hành không trú xứ; Ðối với dân trong làng, Không tác thành hệ lụy. Tuyệt không các dục vọng, Không ước vọng hão huyền, Chấm dứt mọi tranh luận, Bất cứ với một ai". (Tương Ưng III. 14) * * * PHẨM 2 : SÂN HẬN VÀ NHU HÒA Sân hận hành động như một cái kềm siết chặt những ai rơi vào sự chi phối của sân hận, và được xem là gây tai hại cho người đời. Cho nên, tốt hơn là đừng nói lời thô ác đối với bất cứ ai, vì lời nói thô ác đem lại những lời thù hận và cho đến đao trượng chạm người. Cho đến thiên chủ Ðế Thích cũng khuyên chớ nên phẫn nộ, vì phẫn nộ nghiền người ác, như núi đá nghiền người. Do vậy, bậc có trí "nhiếp phục giận với không giận". Những ai xứng đáng với danh xưng Bà-la-môn, phải thân thiện giữa thù địch, ôn hòa giữa hung hăng. Ai chận được cơn giận đang nổi lên mới xứng đáng là bậc đánh xe, còn kẻ khác không làm được vậy, chỉ đáng gọi là người cầm cương hờ. Thiên chủ Ðế Thích khuyên chư Thiên chớ để phẫn nộ nhiếp phục, chớ để lòng sân chống đối sân hận, vì không phẫn nộ thì không làm hại mình, hại người, hại cả hai. Bậc trí đã nhổ tận gốc phẫn nộ xứng đáng được tôn xưng là bậc Hiền thiện. Người không phẫn nộ thật sự là người hòa bình. Tệ hơn cả hai là người bị mắng, lại mắng trả. Vị chiến thắng cả hai, chiến thắng mình và chiến thắng người, khi vị ấy tự chế, không mắng lại. * * * "Lửa nào bằng lửa tham, Chấp nào bằng sân hận, Lưới nào bằng lưới si, Sông nào bằng sông ái". (Pháp Cú. 251) "Cỏ làm hại ruộng vườn, Sân hận hại người đời, Bố thí người lìa sân, Do vậy được quả lớn". (Pháp Cú. 357) "Chớ nói lời ác độc, Nói ác, bị nói lại, Khổ thay lời phẫn nộ, Ðao trượng phải chạm người". (Pháp Cú. 133) "Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, thiên chủ Ðế Thích tại Thiện pháp đường, muốn làm lắng dịu chư Thiên ở cõi Ba mươi ba, lúc ấy nói lên bài kệ này: "Hãy nhiếp phục phẫn nộ, Giữ tình bạn không phai, Không đáng mắng, chớ mắng, Không nên nói hai lưỡi, Phẫn nộ nghiền người ác, Như núi đá nghiền người". (Tương Ưng I. 305) "Lấy không giận thắng giận, Lấy thiện thắng không thiện, Lấy thí thắng xan tham, Lấy chơn thắng hư ngụy". (Pháp Cú. 223) "Thân thiện giữa thù địch, Ôn hòa giữa hung hăng, Không nhiễm giữa nhiễm trước, Ta gọi Bà-la-môn". (Pháp Cú. 406) "Ai chận được cơn giận, Như dừng xe đang lăn, Ta gọi người đánh xe, Kẻ khác, cầm cương hờ". (Pháp Cú. 222) Này các Tỷ-kheo, thuở xưa thiên chủ Ðế Thích, tại Thiện pháp đường, muốn làm lắng dịu chư Thiên ở cõi Ba mươi ba, lúc ấy nói lên bài kệ này: "Chớ để lòng phẫn nộ, Nhiếp phục chi phối ông. Chớ để lòng sân hận, Ðối trị với sân hận. Không phẫn nộ, vô hại, Bậc Thánh thường an trú. Phẫn nộ nghiền người ác, Như núi đá nghiền người". (Tương Ưng I. 305) "Chỉ ai đã cắt tiệt, Nhổ tận gốc, đoạn trừ, Người trí ấy diệt sân, Ðược gọi người Hiền thiện". (Pháp Cú. 263) "Với vị không phẫn nộ, Phẫn nộ từ đâu đến? Sống chế ngự, chánh mạng, Giải thoát nhờ chánh trí, Vị ấy sống như vậy, Ðời sống được tịch tịnh. Bị mắng phỉ báng lại, Tệ hơn cả hai người, Những ai bị phỉ báng, Không phỉ báng chống lại, Người ấy đủ thắng trận, Thắng cho mình, cho người Vị ấy tìm lợi ích, Cho cả mình và người. Và kẻ đã phỉ báng, Tự hiểu, lắng nguôi đầu". (Tương Ưng I, 200) * * * PHẨM 3: LÀM HẠI VÀ KHÔNG LÀM HẠI Hại người không làm hại ai, chẳng khác ngược gió tung bụi, với kết quả là tự mình phải chịu kết quả hành động của mình. Ðức Phật trong khi quan sát tâm trí của mọi loài chúng sanh đã tuyên bố rằng, mọi loài thương tự ngã của mình là tối thượng. Nếu chúng ta thương tự ngã của chúng ta, chớ có làm hại tự ngã của người. Mọi loài cầu an lạc. Hại người để cầu an lạc cho mình thật là hạ sách. Ðừng hại người mới là thượng sách đem lại hạnh phúc cho mình. Ðối với đức Phật, chỉ những ai thật sự không làm hại một ai, mới xứng danh là vị "Bất hại". Bậc Thánh, bậc có trí không hại một chúng sanh nào. Hành động các vị ấy, thân nghiệp, khẩu nghiệp hay ý nghiệp hoàn toàn bất hại. Ðó là lý do tại sao các vị ấy được gọi là các bậc Thánh. * * * "Vì nghĩ đến tư lợi, Nên mới cướp hại người, Khi người khác cướp hại; Bị hại, lại hại người. Người ngu nghĩ như vậy, Khi ác chưa chín muồi; Khi ác đã chín muồi, Người ngu chịu khổ đau. Sát người bị người sát; Thắng người bị người thắng; Mắng người, người mắng lại; Não người, người não lại. Do nghiệp lực diễn tiến, Bị hại, lại hại người". (Tương Ưng I. 103) "Không xúc, không có chạm, Có xúc thời có chạm, Nếu hại người không hại, Tức có xúc, có chạm. Ai hại người không hại, Người tịnh không ô nhiễm, Kẻ ngu hái quả ác, Như ngược gió tung bụi". (Tương Ưng I. 16) "Tâm ta đi cùng khắp. Tất cả mọi phương trời, Cũng không tìm thấy được, Ai thân hơn tự ngã. Tự ngã đối mọi người, Quá thân ái như vậy, Vậy ai yêu tự ngã, Chớ hại tự ngã người". (Tương Ưng I. 92) "Chúng sanh cầu an lạc, Ai dùng trượng hại người, Tìm an lạc cho mình, Ðời sau không được lạc". (Pháp Cú. 131) "Chúng sanh cầu an lạc, Không dùng trượng hại người, Tìm an lạc cho mình, Ðời sau được hưởng lạc". (Pháp Cú. 132) Bà-la-môn Ahimsaka thưa với đức Phật: "Con là Ahimsaka, thưa Tôn giả Gotama. Con là Ahimsaka, thưa Tôn giả Gotama". Ðức Phật nói lên bài kệ với Bà-la-môn: "Danh phải tương xứng người, Người phải là bất hại. Ai với thân, khẩu, ý, Không làm hại một ai. Ai không hại người khác, Người ấy thật Bất hại". (Tương Ưng I. 203) "Còn sát hại sinh linh, Ðâu được gọi Hiền Thánh. Không hại mọi chúng sanh, Mới được gọi Hiền Thánh". (Pháp Cú. 270) "Ai sống tự trang sức, Nhưng an tịnh nhiếp phục. Sống kiên trì Phạm hạnh, Không hại mọi sanh linh. Vị ấy là Phạm chí, Hay Sa-môn, khất sĩ". (Pháp Cú. 142) "Bậc Hiền không hại ai, Thân thường được chế ngự, Ðạt được cảnh bất tử, Ðến đấy không ưu sầu". (Pháp Cú. 225) * * * PHẨM 4 : HẬN THÙ VÀ THÂN HỮU Ðức Phật tuyên bố rất rõ ràng rằng, một tâm đầy những hận thù và thù địch, người như vậy không thể hiểu một cách tốt đẹp, không thể nói một cách tốt đẹp. Một người ôm ấp nuôi dưỡng sự bất mãn và uất hận sẽ không làm dịu bớt hận thù của mình. Với niệm một mình, hận thù không có thể trừ diệt. Chỉ với một tâm tư ngày đêm thích thú trong bất hại và với lòng từ mẫn đối với tất cả loài hữu tình, người như vậy mới có thể chấm dứt hận thù. "Ðịnh luật ngàn thu xác định hận thù không thể trừ diệt hận thù. Chỉ có tình thương mới trừ diệt được hận thù. Do vậy, sung sướng thay là đời sống của chúng ta, nếu chúng ta sống không hận thù giữa những người thù hận". Một người biết cách tự nhiếp phục mình để chấm dứt mọi hận thù, mọi thù địch, người như vậy đạt được Niết-bàn, vì rằng ở Niết-bàn sẽ không có hận thù. Ðức Phật, với lòng từ thương tưởng mọi chúng sanh sẽ không thích thú trong hận thù. Cho nên Ngài sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để làm vơi bớt, nhẹ bớt và chấm dứt mọi thù địch và hận thù trong thế giới này. * * * "Tâm Ông thật ô uế, Và đầy những thù hận, Làm sao biết tốt đẹp? Làm sao nói tốt đẹp? Ai nhiếp phục thù hận, Nhiếp phục tâm chống đối, Từ bỏ mọi hận tâm, Vị ấy biết tốt đẹp, Vị ấy nói tốt đẹp". (Tương Ưng I. 222) "Nó thắng tôi, đánh tôi, Nó thắng tôi, diệt tôi". Ai ôm niềm hận ấy, Hận thù không thể nguôi". (Pháp Cú. 3) "Nó mắng tôi, đánh tôi, Nó thắng tôi, diệt tôi". Không ôm niềm hận ấy, Hận thù được tự nguôi". (Pháp Cú. 4) Dạ xoa Manibhadda đi đến Thế Tôn và nói lên bài kệ này: "Lành thay, thường chánh niệm, Nhờ niệm, lạc tăng trưởng. Có niệm, ngày mai đẹp, Hận thù được giải thoát!" (Thế Tôn) : "Lành thay, thường chánh niệm, Nhờ niệm, lạc tăng trưởng. Có niệm, ngày mai đẹp, Hận thù chưa giải thoát. Với ai, trọn ngày đêm, Tâm ý lạc, bất hại. Từ tâm, mọi hữu tình, Vị ấy không thù hận". (Tương Ưng I. 260) "Hận thù diệt hận thù, Ðời này không có được, Không hận diệt hận thù Là định luật ngàn thu". (Pháp Cú. 5) "Vui thay, chúng ta sống, Không hận giữa hận thù, Giữa những người thù hận, Ta sống, không hận thù". (Pháp Cú. 197) "Không hận, hết bổn phận, Trì giới, không tham ái, Nhiếp phục thân cuối cùng, Ta gọi Bà-la-môn". (Pháp Cú. 400) "Nếu tự mình yên lặng, Như chiếc chuông bị bể, Ông đã chứng Niết-bàn, Ông không còn sân hận". (Pháp Cú. 134) * * * PHẨM 5: SÁT SANH VÀ TÔN TRỌNG SỰ SỐNG Thế Tôn kính trọng sự sống, bất cứ sự sống nào, cho đến sự sống của côn trùng và sự sống của cỏ cây. Ngài tự mình thực hành, không đổ các đồ ăn dư thừa của mình trên đám cỏ xanh, hay nhận chìm trong nước có các loại côn trùng nhỏ. Ðức Phật khuyên các đệ tử chớ có sát sanh để cúng dường đức Phật và các đệ tử của Ngài, vì nếu làm vậy, chúng tích lũy nhiều phi công đức. Ngài trình bày rõ ràng rằng, sát sanh đưa tới tái sanh trong địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ và quả báo nhẹ nhất của sát sanh là sanh ra làm người với tuổi thọ ngắn. Lại nữa, sát hại chúng sanh đem đến sự sợ hãi và hận thù trong hiện tại và trong tương lai và làm sanh khởi tâm khổ, tâm ưu. Do vậy, đức Phật khuyên chớ nên sát sanh vì rằng mọi chúng sanh sợ hãi hình phạt, đối với mọi loài hữu tình sự sống là quý nhất trên đời. Giới thứ nhất của một cư sĩ phải thọ trì là kính trọng sự sống, không sát hại chúng sanh. Và một Bà-la-môn xứng đáng với danh xưng, một vị Thánh xứng đáng với Thánh vị, phải thực hiện sự kính trọng đời sống này một cách toàn diện và đầy đủ. * * * "Và còn lại đồ ăn thừa này của Ta cần phải quăng bỏ. Nếu các Ông muốn, hãy ăn. Nếu các Ông không muốn ăn; Ta sẽ quăng bỏ đồ ăn ấy tại chỗ không có cỏ xanh, hay Ta sẽ nhận chìm trong nước không có các loại côn trùng". "Này Jìvaka, nếu người nào vì Như Lai, hay vì đệ tử Như Lai, giết hại sinh vật, người ấy sẽ chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân. Khi người ấy nói như sau: "Hãy đi và dắt con thú này đến" đó là nguyên nhân thứ nhất, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Con thú ấy khi bị bắt đi, vì bị lôi kéo nơi cổ, nên cảm thọ khổ ưu, đó là nguyên nhân thứ hai, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi nó nói như sau: "Hãy đi và giết con thú này", đó là nguyên nhân thứ ba, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi con thú ấy bị giết cảm thọ khổ ưu, đây là nguyên nhân thứ tư, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Khi người ấy cúng dường Như Lai hay đệ tử Như Lai một cách phi pháp, đó là nguyên nhân thứ năm, người ấy chất chứa nhiều phi công đức. Này Jìvaka nếu người nào vì Như Lai hay đệ tử Như Lai giết hại sinh vật, người ấy sẽ chất chứa nhiều phi công đức do năm nguyên nhân này". (Trung Bộ II. 371A) "Này các Tỷ-kheo, nếu sát sanh được thực hiện, được luyện tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, sẽ đưa đến loài bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ (sabbalahuso) của sát sinh, là được làm người với tuổi thọ ngắn". (Tăng Chi III A. 230) "Này Jìvaka, những ai nói như sau: "Vì Sa-môn Gotama, chúng giết hại các sinh vật. Và Sa-môn Gotama, tuy biết vẫn dùng các loại thịt được giết vì mình, được làm cho mình", những người ấy không nói chính lời của Ta, chúng xuyên tạc Ta, không như chân, không như thật. Này Jìvaka Ta nói trong ba trường hợp, thịt không được thọ dụng: Thấy, nghe và nghi (vì mình mà giết). Ta nói ba trường hợp nầy thịt không được thọ dụng. Này Jìvaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt được thọ dụng: Không thấy, không nghe, không nghi (vì mình mà giết). Này Jìvaka, Ta nói trong ba trường hợp này, thịt được thọ dụng". (Trung Bộ II. 370) "Này gia chủ, sát sanh, do duyên sát sanh tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến tâm cảm thọ khổ ưu. Từ bỏ sát sanh, không tạo ra sợ hãi hận thù trong hiện tại, không tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, không khiến tâm cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ sát sanh làm lắng dịu sợ hãi hận thù này". (Tăng Chi III B. 176) "Mọi người sợ hình phạt, Mọi người sợ tử vong. Lấy mình làm ví dụ, Không giết, không bảo giết". (Pháp Cú. 129) "Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán đoạn tận sát sinh, từ bỏ sát sinh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Hôm nay, đêm này và ngày này. Ta cũng đoạn tận sát sanh, từ bỏ sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Với chi phần này, ta theo gương vị A-la-hán, ta sẽ thực hành ngày trai giới". (Tăng Chi III. 232) "Bỏ trượng đối chúng sanh, Yếu kém hay kiên cường, Không giết, không bảo giết, Ta gọi Bà-la-môn". (Pháp Cú. 405) "Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử đoạn tận sát sinh, từ bỏ sát sinh. Này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ sát sinh, đem (sự) không sợ hãi cho vô lượng chúng sinh, đem (sự) không hận thù cho vô lượng chúng sinh, đem (sự) không hại cho vô lượng chúng sinh; sau khi cho vô lượng chúng sinh, không sợ hãi, không hận thù, không hại, vị ấy sẽ được san sẻ vô lượng không sợ hãi, không hận thù, không hại. Này các Tỷ-kheo, đây là bố thí thứ nhất, là đại bố thí, được biết là tối sơ, được biết là lâu ngày, không bị những Sa-môn, Bà-la-môn có trí khinh thường". (Tăng Chi III. A. 229) * * * CHƯƠNG BA TRÍCH DỊCH VỀ TĂNG GIÀ Khi đức Phật thành lập đoàn Tăng-già đầu tiên, Ngài chú ý bận tâm nhất là chế đặt một số giới luật căn bản để bảo đảm một đời sống thật sự hòa hợp nhất trí giữa các chúng Tăng. Do vậy, Ngài dạy sáu pháp cần phải ghi nhớ hay sáu phép hòa kỉnh. Ngài khuyên các đệ tử của Ngài sống với nhau trong tinh thần hòa hợp hoan hỷ với nhau như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt đầy thiện cảm. Khi các Tỷ-kheo ở Kosambi cãi vã nhau, lời khiển trách của đức Phật thật nghiêm khắc và thẳng thắn. Thiên chủ Ðế Thích có sự kính trọng lớn đối với chúng Tăng, vì chúng Tăng tượng trưng cho thành phần "không chiến giữa giao chiến, trầm tĩnh giữa dao gậy". Ðế Thích xem những hạng người này là thắng trận hai lần, thắng trận đối với mình, thắng trận đối với người khác, những người, khi bị mắng nhiếc, không mắng nhiếc lại. Ðức Phật khuyên các Tỷ-kheo nên làm cho Pháp Luật khéo giảng này được chói sáng với hạnh kham nhẫn và nhu hòa của mình; nên sống đời sống thanh thoát và an tịnh, một đời sống thật sự hạnh phúc, khi tâm tư của chư vị đạt được hòa bình, hòa bình trên chính mình, hòa bình trên thế giới. * * * Rồi Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp nhất trí. Thế nào là sáu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú từ thân hành đối với các vị đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Lại nữa, này các Tỷ- kheo, Tỷ-kheo an trú từ khẩu hành... an trú từ ý hành đối với các vị đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp nhất trí. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các tài vật nhận được đúng pháp, hợp pháp, cho đến những tài vật thâu nhận chỉ trong bình bát, Tỷ-kheo không phải là người không san sẻ các tài vật nhận được như vậy, phải là người san sẻ dùng chung với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức. Pháp này... (như trên) ... đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các giới luật không có vi phạm, không có tỳ vết, không có vẩn đục, không có uế tạp, giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp trước, đưa đến Thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu trong các giới luật ấy với các vị đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này... (như trên)... hòa hợp, nhất trí. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các tri kiến, thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau, Tỷ-kheo sống thành tựu tri kiến như vậy, cùng với các vị đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp này, cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí". (Trung Bộ I. 321 B) "Này các Anuruddhà như thế nào các Ông sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm?" - "Bạch Thế Tôn ở đây chúng con nghĩ như sau: "Thật lợi ích thay cho ta! Thật khéo lợi ích thay cho ta, khi ta được sống với các vị đồng phạm hạnh như vậy?" Bạch Thế Tôn, do vậy đối với các vị đồng phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ khẩu nghiệp trước mặt và sau lưng,con khởi lên từ ý nghiệp trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy chúng con nghĩ như sau: "Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này. Và bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con khác thân nhưng giống như đồng một tâm". (Trung Bộ I. 206) "Này các Tỷ - kheo, các Thầy nghĩ thế nào? Trong khi các Thầy sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi, trong khi ấy các Thầy có an trú từ thân hành đối với các vị đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không? Các Thầy có an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng không? Các Thầy có an trú từ ý hành đối với các vị đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không?" - "Bạch Thế Tôn, không". Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy đã chấp nhận rằng, trong khi các Thầy sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi, trong khi ấy không an trú từ thân hành đối với các vị đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng, không an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng, không an trú từ ý hành đối với các vị đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Như vậy, này các kẻ ngu kia, do biết gì, do thấy gì các Thầy sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với những binh khí miệng lưỡi, và các Thầy không tự thông cảm nhau, không chấp nhận hòa giải. Như vậy, này các kẻ ngu kia, các Thầy sẽ phải chịu bất hạnh, đau khổ trong một thời gian dài ". (Trung Bộ I. 321A-321B) (Ðế Thích): "Chư Thiên chiến Tu-la, Loài Người cùng gây chiến, Không chiến giữa gây chiến. Trầm tĩnh giữa đao gậy, Không chấp giữa chấp trước, Vậy ta kính lễ chúng ". (Tương Ưng I. 299 - 300) Sakka vua các chư Thiên nói lên những câu kệ này: "Người đầy đủ sức mạnh, Chịu nhẫn người yếu kém, Nhẫn ấy gọi tối thượng, Thường nhẫn kẻ yếu hèn. Sức mạnh của kẻ ngu, Ðược xem là sức mạnh, Thời sức mạnh kẻ mạnh Ðược gọi yếu hơn sao? Người mạnh hộ trì pháp, Không nói lời phản ứng. Bị mắng, nhiếc mắng lại, Ác hại nặng nề hơn. Bị mắng, không mắng lại Ðược chiến thắng hai lần, Thắng mình và thắng người ". (Tương ưng I. 280-281) "Bà-la-môn tịch tịnh, Luôn luôn sống an lạc, Không đèo bòng dục vọng, Thanh lương, không sanh y, Mọi ái trược đoạn diệt, Tâm khổ não điều phục, Tịch tịnh sống an lạc, Tâm tư đạt hòa bình ". "Như Lai, bậc Giác ngộ, Thương xót mọi hữu tình, Ai không chịu chấp nhận, Tội lỗi được phát lộ, Nội phẫn, ưa sân hận, Hận thù càng kiên chặt. Ta không thích hận thù, Ta nhận tội các Ông". * * * CHƯƠNG BỐN LỜI DẠY VỀ CÁC HẠNG NGƯỜI THIÊN VỀ CHIẾN TRANH VÀ HẠNG NGƯỜI THIÊN VỀ HÒA BÌNH. PHẨM 1: NGƯỜI ÁC VÀ NGƯỜI THIỆN. Nói một cách tổng quát, có hai hạng người ở đời. Hạng người thiên về cãi lộn, ưa thích gây sự và có xu hướng chiến tranh. Có hạng người thiên về sống hòa thuận, hoan hỷ trong tình bạn và có xu hướng hòa bình. Trong hạng người đầu, có thể phân loại hạng người độc ác, hạng người ngu si và hạng người sống phóng đãng. Trong hạng người thứ hai được xếp loại hạng người hành thiện, hạng người có trí, hạng người biết sống chế ngự điều phục. Ðức Phật đã phân loại rõ ràng giữa thiện và ác khuyên tất cả đệ tử của mình không làm ác, làm các hạnh lành và giữ tâm ý trong sạch. Ngài biết rằng làm ác thì dễ, làm lành khó hơn, nhưng các đệ tử của Ngài phải biết lựa chọn giữa ác và thiện, vì kẻ ác phải đi xuống địa ngục và chịu rất nhiều khổ đau; còn bậc Thiện sẽ được lên cõi Trời và hưởng thọ hạnh phúc. Ngoài ra bậc Thiện chói sáng như núi Tuyết với hành động thiện của mình. Còn kẻ ác thời màn đen bao phủ như tên bắn đêm đen. Do vậy, đức Phật khuyên chúng ta không nên làm bạn với kẻ ác, chỉ thân thiện với bạn lành. Ngài nêu rõ rằng, nếu chúng ta muốn sống, chúng ta phải tránh ác như tránh thuốc độc, vì một bàn tay không thương tích có thể cầm thuốc độc mà không có hại gì. Pháp của bậc Thiện không mất, nhưng đi theo người làm lành đến chỗ các hạnh lành dắt dẫn đến. Các hạnh lành đón chào người làm lành khi đi từ thế giới này qua thế giới khác, như bà con đón chào người thân yêu đi xa mới trở về. Như vậy, vấn đề đặt ra rất rõ ràng và dứt khoát. Ác và thiện đều do tại mình tạo ra. Ác đưa đến cãi nhau, gây hấn và chiến tranh. Còn thiện đưa đến hòa thuận, thân hữu và hòa bình. * * * "Không làm mọi điều ác, Thành tựu các hạnh lành, Tâm ý giữ trong sạch, Chính lời chư Phật dạy ". (Pháp Cú. 183) "Dễ làm các điều ác, Và các điều tự hại, Còn việc lợi và tốt, Thật tối thượng khó làm ". (Pháp Cú. 163) "Ác hạnh không nên làm, Làm xong chịu khổ lụy. Thiện hạnh ắt nên làm, Làm xong, không ăn năn ". (Pháp Cú, 314) "Một số sinh bào thai. Kẻ ác sinh địa ngục. Người thiện lên cõi Trời, Vô lậu chứng Niết-bàn ". (Pháp Cú. 126) "Người lành dầu ở xa, Sáng tỏ như núi Tuyết, Kẻ ác dầu ở đây, Cũng không hề được thấy, Như tên bắn đêm đen". "Ai dùng các hạnh lành, Làm xóa mờ nghiệp ác, Sẽ chói sáng đời này, Như trăng thoát mây che ". "Chớ thân với bạn ác, Chớ thân kẻ tiểu nhân, Hãy thân người bạn lành, Hãy thân bậc thượng nhân ". "Ít bạn đường, nhiều của, Người buôn tránh đường hiểm, Muốn sống, tránh thuốc độc, Hãy tránh ác như vậy ". "Bàn tay không thương tích, Có thể cầm thuốc độc, Không thương tích tránh độc, Không làm, không có ác ". "Như xe vua lộng lẫy, Cuối cùng bị hư già, Thân này rồi sẽ già. Chỉ có pháp bậc Thiện, Khỏi bị nạn già nua. Như vậy bậc Chí Thiện Nói lên cho bậc Thiện ". "Khách lâu ngày tha hương, An ổn từ xa về, Bà con cùng thân hữu, Hân hoan đón chào mừng". "Cũng vậy, các phước nghiệp, Ðón chào người làm lành, Ðời này đến đời kia, Như thân nhân đón chào ". "Tự mình điều ác làm, Tự mình làm nhiễm ô. Tự mình ác không làm, Tự mình làm thanh tịnh. Thanh tịnh, không thanh tịnh, Ðều do tự chính mình, Không ai thanh tịnh ai ". * * * PHẨM 2: NGƯỜI NGU VÀ BẬC TRÍ. Ðức Phật thấy rõ thái độ khác nhau của kẻ ngu và bậc trí đối với thế giới này. Kẻ ngu tham đắm, si mê và trở thành nô lệ cho thế giới này. Nhưng người trí không có đắm say, không có luyến ái, và xử sự như người chủ nhân đối với đời. Nhưng lời tuyên bố của đức Phật, sợ hãi, thất vọng tai họa chỉ khởi lên cho người ngu, không khởi lên cho người trí, là một cảnh cáo nghiêm khắc cho tất cả chúng ta. Rồi đức Phật tiếp đến tuyên bố rằng người ngu xử sự một cách khiến cho tự ngã trở thành kẻ thù. Và khi danh vọng đến với kẻ ngu, kẻ ngu phải chịu bất hạnh và đau khổ. Bậc trí có hành động khác hẳn. Bậc trí tinh cần giữa những người phóng dật, tỉnh thức giữa những người mê ngủ, bước tới như con ngựa phi, bỏ sau những kẻ ngu si yếu hèn. Bậc trí chinh phục Ma và Ma quân, uốn nắn tâm chánh trực, thực hành Thiền định, kiên trì tinh tấn và nhờ vậy hưởng được hạnh phúc Niết-bàn. Với trí tuệ của mình, bậc Trí chói sáng đời này gồm có những phàm phu mù quáng và ngu si. Bậc Trí đứng thẳng như một hoa sen thơm hương và đẹp sắc, sanh ra từ đống rác quăng bỏ trên đường lớn. Hạnh phúc Niết-bàn và hạnh phúc Hòa bình chỉ đến với bậc Trí, không bao giờ đến với kẻ ngu. * * * "Hãy đến nhìn đời này, Như xe vua lộng lẫy, Người ngu mới tham đắm, Kẻ trí nào đắm say ". "Này các Tỷ-kheo, nếu có sợ hãi gì khởi lên, chúng khởi lên cho người ngu, chớ không phải cho người trí. Nếu có thất vọng gì khởi lên, chúng khởi lên cho người ngu, chớ không phải khởi lên cho người trí. Nếu có tai họa gì khởi lên, chúng khởi lên cho người ngu, chớ không phải cho người trí". "Người ngu si thiếu trí, Tự ngã là kẻ thù. Làm ác nghiệp không thiện, Phải chịu quả đắng cay". "Tự nó chịu bất hạnh, Khi danh đến kẻ ngu, Vận may bị tổn hại, Não đầu bị nát tan ". "Tinh cần giữa phóng dật, Tỉnh thức giữa quần mê, Người trí như ngựa phi, Bỏ sau con ngựa hèn". "Như chim thiên nga bay, Thần thông liệng giữa trời. Chiến thắng Ma, Ma quân, Bậc trí thoát đời này". "Tâm hoảng hốt dao động, Khó hộ trì, khó nhiếp, Người trí làm tâm thẳng, Như thợ tên, làm tên". "Người hằng tu Thiền định, Thường kiên trì tinh tấn, Bậc Trí hưởng Niết-bàn, Ách an ổn, vô thượng". "Như giữa đống rác nhớp, Quăng bỏ trên đường lớn, Chỗ ấy hoa sen nở, Thơm sạch đẹp ý người" "Cũng vậy giữa quần sanh, Uế nhiễm, mù, phàm tục, Ðệ tử bậc Chánh trí, Sáng ngời với tuệ trí". * * * PHẨM 3: NGƯỜI PHÓNG DẬT VÀ BẬC TỰ ÐIỀU. Ðức Phật biết rõ tâm tư xu hướng của chúng sanh. Ngài biết rằng người ngu si chuyên sống đời phóng túng, buông lung, còn người có trí thời không phóng dật, như giữ gìn tài sản quí. Do vậy Ngài khuyên người có trí với nỗ lực, không phóng dật, khéo chế ngự, tự mình xây dựng một hòn đảo mà nước lụt không thể ngập tràn. Ai trước kia sống phóng đãng nay sống không phóng dật sẽ chói sáng đời này như trăng thoát mây che. Ðối với đức Phật, một người chiến thắng ngàn quân địch ở chiến trường không thể so sánh với một người đã tự chiến thắng mình, vì rằng tự chiến thắng mình là chiến thắng tối thượng. Một người tự điều phục mình thường sống chế ngự. Và một tự ngã khéo chế ngự và khéo điều phục trở thành một điểm tựa có giá trị và đáng tin cậy, thật khó tìm được. Người nào ngồi nằm một mình, độc hành không buồn chán, biết tự điều phục, người như vậy có thể sống thoải mái trong rừng sâu. Người như vậy sẽ là bậc Ðạo Sư đáng tin cậy, vì rằng tự khéo điều phục mình rồi mới dạy cho người khác khéo điều phục. Do vậy đức Phật khuyên mỗi người hãy tự điều phục mình. Chỉ những người khéo tự điều, những người không phóng dật mới biết con đường chấm dứt tranh luận, cãi vã, gây hấn và biết sống hòa hợp, thân ái và sống hạnh phúc trong hòa bình. * * * "Chúng ngu si, ác trí, Chuyên sống đời phóng túng. Người trí không phóng dật, Như giữ tài sản quý". "Nỗ lực, không phóng dật, Tự điều, khéo chế ngự, Kẻ trí xây hòn đảo, Nước lụt khó ngập tràn". "Ai trước sống buông lung, Sau sống không phóng dật, Sẽ chói sáng đời này Như trăng thoát mây che". "Dầu tại bãi chiến trường, Thắng ngàn ngàn quân địch, Tự thắng mình tốt hơn, Thật chiến thắng tối thượng". "Tự thắng tốt đẹp hơn, Hơn chiến thắng người khác. Người khéo điều phục mình, Thường sống tự chế ngự". "Tự mình nương tựa mình, Nào có điểm tựa khác. Nhờ khéo điều phục mình Ðược điểm tựa khó được". "Tự mình che chở mình, Tự mình nương tựa mình. Vậy hãy tự điều phục, Như thương khách ngựa hiền". "Ai nằm ngồi một mình, Ðộc hành, không buồn chán, Tự điều phục một mình. Người ấy sống thoải mái, Trong rừng sâu thanh vắng". "Hãy tự làm cho mình, Như điều mình dạy người. Khéo tự điều, điều người, Khó thay, tự điều phục". "Người trị thủy dẫn nước, Kẻ làm tên nắn tên, Người thợ mộc uốn ván, Bậc tự điều, điều thân". HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.1/6/2021.
Buddha is rice. A Zen monk came to ask the Venerable: - Could you give me a brief sentence, "What is Buddha?" so that I can enlighten and teach the masses. The Venerable replied: - Buddha is rice. Three days later, the monk came to see the Venerable Master, saying: - I don't understand anything. The Venerable said: - Think about it for three more days. Three days later, the monk came to the Venerable Master: - I still don't understand. The Venerable said: - Think for three more days. Three days later the monk came to see the Venerable Master. The Venerable asked: - Have you eaten yet? The monk replied: - Eaten. Where is the meal now? - The rice is in the stomach. What does rice turn into? - To nourish the body. Do you still see rice? - Yes, no. Hearing that answer, the Venerable Master said: - For more questions, I beat thirty times. After saying that, the monk fell and rolled. At that moment the monk attained enlightenment. The writer's interpretation: What is the great monk enlightened to? - If we say, "Buddha is a great enlightened being" then Buddha is just a word and we don't know how Buddha became enlightened. - If we say, "Buddha is a person with 32 good characteristics", it is like going to a beauty contest, only seeing the outer appearance but not seeing the depths of that person. - If we contemplate the Buddha image to imagine the Buddha, it is only the Buddha made of jade, gold, copper or wood or stone. That is "dead Buddha". - If we listen to Buddhist scriptures to understand Buddha, Buddha is just sound. Many times reading and chanting like a machine in the end "wherever it goes". Then we will forever remain just sentient beings immersed in samsara. Relying on those things, Buddha is still Buddha, I am still me. And if "Buddha is rice", then when "haven't eaten rice", ie not enlightened, Buddha is Buddha, I am me. When "eating rice" means that the Buddha has entered us, this Buddha turns into the life force of our body, feeding our body and mind. Then how much scum, uncleanness, and defilements are thrown out. Zen Buddhism or the old Zen masters did not stop at worshiping the Buddha or praising the Buddha, but sought to transform themselves into a Buddha. Zen Buddhism or Zen masters not only praise (praise) the Buddha but attain enlightenment and then practice Zen to enjoy the Buddha's attainment of peace, freedom, and freedom. Zen Buddhism or Zen masters do not ask the Buddha to save them but save themselves. Self-liberation and self-liberation are the weak points and strength of Zen Buddhism. Therefore, it can be said that Zen Buddhism is formidable, respectable and terrifying. We must not despise Zen and play with it. Through meditating on koans, Zen is a sect that brings Buddhism to life, making Buddhism more than just a ritual religion, recite, pray, and beg like other religions. Relying only on these things, believers and even monks will become inert, vicious in lust and reincarnation, and then wait for the cardinal to save him when he dies. The principle of Zen Buddhism is to "light the torch and walk" to be like Buddha. In Zen Buddhism, you have to understand first and then practice. Not being enlightened, but saying that practicing Zen is bad, like someone who borrows the king's robe to wear it but is not a king, ie not a Zen master. But what is enlightenment? It is to suddenly see in a wonderful or desperate moment "Buddha nature" or "Buddha truth" manifesting right in your mind. Those who only listen to or listen to lectures about Buddha nature but do not intuitively see Buddha nature right in their own person will fail to practice any dharma, let alone practice Zen. Cultivators who have not yet seen the Buddha-nature manifest vividly, like the blood circulating in the body, like the breath, like the pulse of life in the mind… but cultivating… is like a person digging for gold without seeing the gold ore in the ground, it will be in vain. That's why Zen masters who seek the way, even though they've been beaten by the Patriarchs, kicked a few feet, pinched their noses, yelled in the face or said "useless stuff"... but suddenly burst out laughing because they were so suddenly great. enlightenment. Contemplation of koans is the gateway to Zen. In Master Suzuki's Zen Treatise (Tue Si's translation), "Without a koan, the Zen consciousness loses its guide (guide) and will never have a state of enlightenment." If you want to know the vividness of Buddhism, the wonderful courage, the fierceness, the hardships of the Zen masters, please see Dong Son's koan "Buddha is three pounds of thorns". Then anecdotally, a monk asked Nam Vien, "What is Buddha?" The Master then asked, "What is not Buddha?" Then another time he replied, "I don't know him." Then another time he said, "I'll tell you when there is a Buddha." Then Ma To's powerful tricks have not yet preached the Dharma (upper court) but finished the sermon (lower court) to teach his disciples a vivid image, appearing in front of the eyes of "Form means emptiness". But seeing "Form means No". (not reading, chanting, or just talking) means that he has attained the wisdom of Bat Nha. In Christianity there is no such thing as becoming a God. In Islam there is no practice to become Allah In Hinduism there is no practice to become God (Brahma) Only in Buddhism can anyone become a Buddha. That's why Buddha taught that there are "Hang Ha Sa number of Buddhas" and "I am the Buddha who has attained. Sentient beings will become Buddhas.” Therefore, I firmly believe that from an early ancestor like Kassapa.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).GOLDEN AMITABHA MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.1/6/2021.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.
Phật là cơm. Một ông tăng tu Thiền tới hỏi Hòa thượng: - Xin Hòa thượng cho một câu ngắn gọn “Phật Là Gì?” để con tỏ ngộ và giảng dạy cho đại chúng. Hòa thượng đáp: - Phật là cơm. Ba ngày sau ông tăng đến gặp Hòa thượng, thưa: - Con không hiểu gì cả. Hòa thượng nói: - Về suy nghĩ thêm ba ngày. Ba ngày sau vị tăng đến bạch Hòa thượng: - Con vẫn chưa hiểu. Hòa thượng nói: - Suy nghĩ thêm ba ngày nữa. Ba ngày sau vị tăng đến gặp Hòa thượng. Hòa thượng hỏi: - Đã ăn cơm chưa? Vị tăng đáp: - Ăn rồi. Giờ cơm ở đâu? - Cơm ở trong bụng. Cơm giờ biến thành gì? - Thành dưỡng trấp nuôi cơ thể. Còn thấy cơm nữa không? - Dạ không. Nghe trả lời thế, Hòa thượng nói: - Còn hỏi nữa ta đánh ba mươi hèo. Nói xong đạp vị tăng té lăn cù. Ngay lúc đó vị tăng đại ngộ. Kiến giải của người viết: Vị tăng đại ngộ cái gì đây? - Nếu chúng ta nói, “Phật là vị đại giác ngộ” thì Phật chỉ là ngôn từ và chúng ta không biết Phật giác ngộ như thế nào. - Nếu chúng ta nói, “Phật là người có 32 tướng tốt” thì cũng giống như đi xem thi sắc đẹp, chỉ thấy hình tướng bên ngoài mà chẳng thấy sâu thẳm bên trong của con người đó. - Nếu ta chiêm ngưỡng tượng Phật để hình dung ra Phật thì đó chỉ là ông Phật bằng ngọc, vàng, đồng hay gỗ, đá. Đó là “ông Phật chết”. - Nếu chúng ta nghe kinh Phật để hiểu Phật thì Phật cũng chỉ là âm thanh. Nhiều khi đọc tụng như một cái máy rốt cuộc “đâu vẫn hoàn đó”. Rồi chúng ta muôn đời vẫn chỉ là chúng sinh ngụp lặn trong sinh-tử luân hồi. Trụ vào những thứ đó thì Phật vẫn là Phật, ta vẫn là ta. Còn nếu “Phật là cơm” thì khi “chưa ăn cơm” tức chưa giác ngộ thì Phật là Phật, ta là ta. Còn khi đã “ăn cơm” tức Phật đã vào trong ta thì ông Phật này biến thành sức sống của cơ thể, nuôi sống thân ta, tâm trí ta. Rồi bao nhiêu cặn bã, uế trược, phiền não được tống ra ngoài. Thiền tông hay các thiền sư thuở xưa không dừng ở chỗ thờ Phật hay tán dương Phật mà tìm cách biến mình thành Phật. Thiền tông hay các thiền sư không chỉ tán thán (ca ngợi) Phật mà giác ngộ rồi hành Thiền để hưởng ngay chỗ chứng đắc của chư Phật là an nhiên, tự tại, không vướng mắc. Thiền tông hay các thiền sư không cầu xin Phật cứu độ mà tự độ. Tự độ, tự giải thoát là yếu chỉ và sức mạnh của Thiền Tông. Do đó có thể nói Thiền Tông thật ghê gớm, thật đáng nể và đáng sợ. Chúng ta chớ coi thường Thiền và đùa rỡn với Thiền. Qua nghiền ngẫm các công án, Thiền là một tông phái khiến Phật Giáo trở nên sống động, khiến Đạo Phật không phải chỉ là tôn giáo đầy lễ nghi, tụng đọc, cầu nguyện, van xin như các tôn giáo khác. Chỉ trụ ở những thứ này thì tín đồ và ngay cả tu sĩ sẽ trở nên ù lì, luẩn quẩn trong tham dục và sinh tử luân hồi, rồi chờ giáo chủ cứu rỗi khi chết. Tôn chỉ của Thiền Tông là “tự thắp đuốc lên mà đi” để được như Phật. Ở Thiền Tông, phải ngộ trước rồi mới tu. Chưa giác ngộ mà nói tu Thiền là hỏng, giống như người mượn áo của vua mặc vào nhưng không phải là vua, tức không phải Thiền sư. Nhưng nói ngộ là ngộ cái gì? Là chợt thấy trong một phút giây tuyệt vời hay tuyệt vọng nào đó “Phật tánh” hay “chân lý Phật” hiển lộ ngay trong tâm trí mình. Người nào chỉ nghe nói, hay nghe giảng thuyết về Phật tánh mà không trực giác thấy Phật tánh ở ngay trong con người mình thì tu pháp môn gì cũng hỏng chứ đừng nói tu Thiền. Người tu mà chưa thấy Phật tánh hiển lộ một cách sống động, như máu tuần hoàn trong cơ thể, như hơi thở, như mạch sống trong tâm mình… mà tu… thì cũng giống như người đi đào vàng mà không nhìn thấy quặng vàng ở dưới đất, sẽ uổng công vô ích. Chính vì thế mà các Thiền sư cầu đạo dù bị Tổ đập cho mấy hèo, đạp cho mấy đạp, bẹo mũi, la hét vào mặt hoặc nói thẳng “đồ vô dụng”…mà bỗng cười lên ha hả vì nhờ đó hốt nhiên đại ngộ. Nghiền ngẫm công án là cửa ngõ để bước vào Thiền. Trong Thiền Luận của Đại Sư Suzuki (bản dịch của Tuệ Sĩ), “Không có công án, ý thức Thiền mất điềm chỉ viên (người hướng dẫn) và sẽ không bao giờ có trạng thái chứng ngộ.” Muốn biết sự sống động của Đạo Phật, sự dõng mãnh tuyệt vời, sự quyết liệt, gian khổ của các Thiền sư, xin xem thêm công án ‘Phật là ba cân gai” của Động Sơn. Rồi giai thoại, có một ông tăng hỏi Nam Viện, “Thế nào là Phật?” Sư bèn hỏi lại, “Cái gì không là Phật?”. Rồi một lần khác sư lại đáp, “Tôi không quen ông ta.” Rồi một lần khác lại nói, “Chờ lúc nào có Phật tôi sẽ nói cho nghe.” Rồi thủ đoạn quyền nghi của Mã Tổ chưa thuyết pháp (thượng tòa) mà đã nói thuyết pháp xong (hạ tòa) để dạy đệ tử hình ảnh sống động, hiện ra trước mắt của “Sắc tức thị Không”. Mà nhìn thấy “Sắc tức thị Không”. (chứ không phải đọc tụng, hay nói suông) tức đã chứng đắc trí tuệ Bát Nhã. Trong Thiên Chúa Giáo không có chuyện tu để trở thành Chúa. Trong Hồi Giáo không có chuyện tu để trở thành đấng Allah Trong Ấn Giáo không có chuyện tu để trở thành Thượng Đế (Brahma) Chỉ trong Phật Giáo mới có chuyện bất cứ ai cũng có thể trở thành Phật. Cho nên Phật dạy rằng có “Hằng Hà sa số chư Phật” và “Ta là Phật đã thành. Chúng sinh là Phật sẽ thành.” Do đó tôi tin chắc rằng từ sơ tổ như Ca Diếp, Mã Minh…xuống tới Lục Tổ Huệ Năng và rất nhiều Thiền sư lừng danh của Trung Hoa và cả đức Vua Trần Nhân Tông của Việt Nam…đều đã thành Phật.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.1/6/2021.
The miracles in the life of the late Venerable Hai Hien.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH. The 20-year-old monk Hai Hien left home, his master only taught him a sentence "Amitabha Buddha". Teach him to always recite, he is really old, listens, really does, this Buddha's name has been recited for 92 years. The Venerable Master Truyen Gioi - Master of Venerable Hai Hien - after saving him, said to him one sentence: "'Namo Amitabha Buddha', you should always recite like this." Then added a sentence: "Once you understand it, don't talk nonsense, don't wave your arms and legs." What is the meaning of this "understood" sentence of the old Venerable Truyen Gioi? Is just enlightenment. After enlightenment, you know everything, but you can't say it. The gentle Venerable Hai obeyed, he really did, really had wisdom, really had magical powers, but he didn't reveal anything, there were no traces. If a person's mind is pure and his mind is pure, and even a false thought does not arise, he will understand everything in the face of the outer world, not only understand the immediate world, but also the past and future realms. Everyone understands, this is the so-called magic of money. Magical powers are based on the method of meditation practice, which has the effect of being free from obstacles, transcending the human world. The old monk had wisdom, some said he had supernatural powers, but the old monk did not reveal it even a little bit. Shaman An Chi said that the old monk did not think he had magical powers. In the end, does the Venerable Master have supernatural powers? Even if His miraculous powers appeared, people would not know. If someone asked Him, He would not admit it! This is a real old man, do you have to let others know? By the time everyone knew, he had already been reborn in the Land of Ultimate Bliss. After the Venerable Master passed away, Shaman An Chi thought back to his master's things that made him unable to understand. Shaman An Chi left home not long ago, at that time there was still a mustard garden in front of the monastery, now that garden has planted a row of fresh flowers. The cabbage in the garden is growing very well, but because there is no rain for many days, plus the high temperature for many days, the leaves are scorched by the sun. People in the village drying wheat in front of the monastery said that on television, it was forecasted that there would be no rain in the next few days. In the afternoon of that day, suddenly the old Master asked the magicians An Chi and An Vinh to dig a sewer together in the vegetable garden. How does Venerable Tinh Khong recite Buddha's name? Shaman Yin Zhi said: "Master, the weather is still short, the drought is about to die, what do you dig to drain the water?" The Venerable Master simply replied, "You dig." Shaman An Vinh also did not understand, thinking in his heart: It's so hot, there is no rain in drought, why dig a sewer? Shaman Yin Zhi said at a loss: "Master says to dig, then dig." Although the Indian shaman felt very reluctant, he did not want to make the old monk angry, so he also complied. So everyone grabbed a shovel and started digging. The farmers next to him saw and laughed at the shaman An Vinh, who was too stupid, and went to listen to the old monk's nonsense. Unexpectedly, on the afternoon of the first day, the sewer was dug, and in the afternoon of the second day, it rained heavily, continuously raining for several hours. Fortunately, the preventive work was done, the vegetable garden and the new monastery were not filled with water. It was a drought, so everyone had to dig the sewers, but the second day it really rained. Shaman An Chi admires the Venerable Master from the bottom of his heart! He felt that the Venerable Master was really talented, rich in experience, and very proficient in whatever he did. This time, the shaman An Chi is truly convinced, not like the previous times. The shaman An Vinh was still a bit confused about this, but his heart also increased his admiration for the old Venerable. In the summer of 2012, a few strangers came to Vien Minh Temple, hoping to stay here (that is, stay overnight). At that time, the old Venerable Hai Hien was also at Vien Minh Pagoda. Those people heard that in the monastery there was a high monk over a hundred years old, and they all wanted to go to see him. At this time, the old monk was lying on the bed resting, seeing that there were guests coming, he did not get up. If as usual, the old monk must be very happy to sit up and greet the guests, but this time his attitude was very cold. He lay there motionless, talking slowly: "My age is already grown, this monastery only has one person, An Vinh, but also a female, so our place is not hospitable, can't spend the night." The Venerable Master's actions made Dharma Master An Vinh extremely surprised, he really did not understand why the old Master had such an unusual attitude today. Then the layman who knew the situation well told the shaman An Vinh, who were spreading heresy. Outside the Vien Minh pagoda, there is an empty piece of land, where some vegetables and crops are grown, sometimes people walking on the street carelessly step on cabbage sprouts. Shaman An Vinh wanted to fill that road, at the right time there were two empty rice rollers next to him, so he pushed it over there. But the rice roller was too heavy, causing His feet to slip several times, the rice roller still motionless. After the old Venerable Hai Hien saw it, went over there, only to see him stooping down, just trying to move the rice roller to the side of the road. How does Master have such great strength? All of the Venerable's movements made him find it difficult to understand, magician An Vinh really did not know how to do it right. He and Dharma Master An Chi were the same, really did not think that the Venerable Master had magical powers, he just felt that the Venerable Master had rich experience and was deeply impressed. There was also one time, the old Venerable was able to help the layman Hoang avoid the calamity of prison. The layman Hoang protected the Indian shaman for many years. One day of 20 years ago, layman Hoang went to Lai Phat temple to visit old monk Hai Hien, old monk kept layman Hoang at the monastery for one night, but layman Hoang refused, saying he couldn't stay, layman Hoang had to stay. hurry home to take him to the army. The old monk said: "It is not a child in the house, and it can't be lost, why do you keep asking to take it away?" Old Venerable Master in any case prevented the layman Hoang from leaving, this was the only time in his life the old Master prevented others. It turned out that there was a murder case in Dong Bach district, the perpetrator was acquainted with layman Hoang, that day ran to layman Hoang's house to hide, seeing that there was no layman Hoang at home, he went to Chi Thu's house. On the second day, the police department caught the perpetrator, Chi Thu, who was a harborer of the crime, was also arrested, fined all eight thousand, and still had to spend a year in prison. If layman Hoang stays at home, the consequences need not be said. There were still a few times when the old monk himself was close to danger, finally turning danger into safety. After the Venerable Master passed away, once the shaman Dien Cuong said to the shaman An Vinh: "You don't know the obstacles he went through! We ordinary people can't even see the wonderful robes of the true Buddha!" The points that the old Venerable Hai Hien is better than others are that he is real, obedient, and real, so he accomplishes very quickly. Based on a saying that the Buddha's name is one-pointed, there is no disturbance, so he knows everything, but he does not say it. Why not say? No one can hear and understand, no one can do like Him. Therefore, He completely performed in daily life, those who can see can see, those who cannot see are useless to talk to Him, only causing trouble for themselves.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).GOLDEN AMITABHA MONASTERY VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.1/6/2021.
Những điều vi diệu trong cuộc đời của cố Hòa thượng Hải Hiền. Hòa thượng Hải Hiền 20 tuổi xuất gia, sư phụ chỉ dạy Ngài một câu “A Di Đà Phật”. Dạy Ngài phải luôn niệm, Ngài lão thật, nghe lời, thật làm, câu Phật hiệu này đã niệm 92 năm. Lão Hòa thượng Truyền Giới – sư phụ của Hòa thượng Hải Hiền – sau khi thế độ cho Ngài xong, nói với Ngài một câu: “‘Nam Mô A Di Đà Phật’, phải luôn niệm như vậy.” Sau đó lại bổ sung một câu: “Hiểu rõ rồi thì không được nói lung tung, không được khua tay múa chân.” Câu “hiểu rõ rồi” này của lão Hòa thượng Truyền Giới là có ý gì? Là chỉ khai ngộ. Khai ngộ rồi thì cái gì cũng biết, nhưng mà không được nói. Hòa thượng Hải hiền nghe lời, Ngài thật làm, thật sự có trí tuệ, thật sự có thần thông, mà lại không để lộ chút gì, vết tích cũng không có. Nếu như một người tâm địa thanh tịnh, một vọng niệm cũng không sanh, thì đối mặt với cảnh giới bên ngoài cái gì cũng hiểu rõ, không những hiểu rõ cảnh giới trước mắt, đối với cảnh giới của quá khứ và vị lai thảy đều hiểu rõ, đây chính là cái gọi là thần thông hiện tiền. Thần thông là dựa vào phương pháp tu thiền định mà được tác dụng là vô ngại tự tại, siêu vượt nhân gian. Lão Hòa thượng có trí tuệ, có người nói Ngài có thần thông, nhưng lão Hòa thượng một chút cũng không tiết lộ. Pháp sư Ấn Chí nói, lão Hòa thượng không cho rằng mình có thần thông. Rốt cuộc lão Hòa thượng có thần thông hay không? Cho dù thần thông của Ngài hiện ra, mọi người cũng không biết. Nếu có người hỏi Ngài, Ngài không thừa nhận! Đây là gọi lão thật, hà tất phải cho người khác biết? Đến khi mọi người đều biết, Ngài đã vãng sanh Thế giới Cực Lạc rồi. Sau khi lão Hòa thượng vãng sanh, Pháp sư Ấn Chí đã nghĩ lại những việc của sư phụ khiến cho bản thân không thấu suốt. Pháp sư Ấn Chí xuất gia không lâu, lúc đó phía trước tự viện vẫn là một vườn cải, bây giờ vườn cải đó đã trồng một hàng hoa tươi. Cải trong vườn trồng được rất tốt, nhưng mà bởi vì nhiều ngày không có mưa, cộng thêm nhiệt độ cao trong nhiều ngày liền, lá cải bị nắng chiếu đến khô héo. Những người trong thôn phơi lúa mì ở trước cửa tự viện nói là trên tivi dự báo, vài ngày gần đây sẽ không có mưa. Buổi chiều ngày hôm đó, đột nhiên lão Hòa thượng kêu pháp sư Ấn Chí, Ấn Vinh cùng nhau đào cái cống thoát nước ở vườn rau. Hòa thượng Tịnh Không niệm Phật như thế nào? Pháp sư Ấn Chí nói: “Sư phụ, trời còn hạn lâu, sắp hạn chết rồi, đào cái gì thoát nước vậy?” Lão Hòa thượng chỉ trả lời nhẹ nhàng, đơn giản: “Con đào đi.” Pháp sư Ấn Vinh cũng không hiểu, trong lòng nghĩ: Trời nóng như vậy, lại hạn không có mưa, còn đào cống thoát nước gì chứ? Pháp sư Ấn Chí không biết làm sao mà nói: “Sư phụ kêu đào, vậy thì đào đi.” Tuy rằng pháp sư Ấn Chí cảm thấy rất miễn cưỡng, nhưng mà không muốn làm cho lão Hòa thượng giận, nên cũng làm theo. Vậy là mọi người đều cầm lấy cái xẻng bắt đầu đào. Những người nông dân bên cạnh nhìn thấy còn cười pháp sư Ấn Vinh quá ngốc, lại đi nghe lời nói nhảm của lão Hòa thượng. Không ngờ chiều ngày thứ nhất đào xong cái cống thoát nước, chiều ngày thứ hai thì mưa như trút nước, liên tục mưa mấy tiếng đồng hồ. May mà đã làm việc phòng bị xong, vườn rau và tự viện mới không bị tích nước. Trời đang hạn hán, nhất định để mọi người đào cống thoát nước, kết quả ngày thứ hai thật sự đã mưa xuống. Pháp sư Ấn Chí bội phục lão Hòa thượng tận đáy lòng! Ngài cảm thấy lão Hòa thượng thật sự rất tài ba, kinh nghiệm phong phú, bất kể làm việc gì cũng rất là tinh thông. Lần này pháp sư Ấn Chí là thực lòng tin phục, không còn giống như những lần trước nữa. Pháp sư Ấn Vinh đối việc này vẫn còn chút không thấu, nhưng trong lòng cũng đã tăng thêm bội phục đối với lão Hòa thượng. Mùa hè năm 2012, có vài người lạ đến chùa Viên Minh, họ hy vọng có thể ở đây trọ lại tự viện (tức là ngủ qua đêm). Lúc đó lão Hòa thượng Hải Hiền cũng ở chùa Viên Minh. Những vị đó nghe nói trong tự viện có vị cao Tăng hơn trăm tuổi, đều muốn đi bái kiến. Lúc này lão Hòa thượng đang nằm trên giường nghỉ ngơi, nhìn thấy có khách đến Ngài cũng không ngồi dậy. Nếu như thường ngày, lão Hòa thượng nhất định rất hoan hỷ mà ngồi dậy chào hỏi khách, không ngờ lần này thái độ của Ngài rất lạnh nhạt. Ngài nằm ở đó không động đậy, miệng nói chuyện từ tốn: “Tuổi tác tôi đã lớn rồi, tự viện này chỉ có một người là Ấn Vinh, mà còn là nữ chúng, cho nên chỗ này của chúng tôi không hiếu khách, không thể qua đêm.” Việc làm của lão Hòa thượng làm cho Pháp sư Ấn Vinh vô cùng kinh ngạc, Ngài thật sự không hiểu vì sao hôm nay lão Hòa thượng lại có thái độ khác thường như vậy. Sau đó vị cư sĩ biết rõ tình hình nói với pháp sư Ấn Vinh, những người đó là người truyền bá tà giáo. Ngoài chùa Viên Minh có miếng đất trống, ở đó trồng một ít rau cải và hoa màu, có khi có người đi đường không cẩn thận giẫm lên mầm cải. Pháp sư Ấn Vinh muốn lấp lại con đường đó, đúng lúc bên cạnh đó có hai trục lăn lúa để không, nên Ngài qua đó đẩy nó. Nhưng trục lăn lúa quá nặng, làm chân Ngài cũng trượt mấy lần, trục lăn lúa vẫn bất động. Sau khi lão Hòa thượng Hải Hiền nhìn thấy, đi qua đó, chỉ thấy Ngài khom lưng xuống, vừa ra sức thì đã dịch chuyển được trục lăn lúa đến bên đường. Sư phụ làm sao có được sức lực lớn như vậy? Tất cả những cử động của lão Hòa thượng đều làm Ngài thấy khó hiểu, pháp sư Ấn Vinh thật sự không biết phải làm sao cho đúng. Ngài và Pháp sư Ấn Chí như nhau, thật sự không cho rằng lão Hòa thượng có thần thông, Ngài chỉ cảm thấy lão Hòa thượng có kinh nghiệm phong phú, trong lòng vô cùng bội phục. Còn có một lần, lão Hòa thượng lại có thể giúp đỡ cư sĩ Hoàng tránh khỏi tai họa lao tù. Cư sĩ Hoàng hộ trì pháp sư Ấn Sanh nhiều năm. Một ngày của 20 năm trước, cư sĩ Hoàng đến chùa Lai Phật thăm lão Hòa thượng Hải Hiền, lão Hòa thượng giữ cư sĩ Hoàng ở tự viện một đêm, nhưng cư sĩ Hoàng từ chối, nói không thể ở, cư sĩ Hoàng phải về nhà gấp để đưa cháu đi lính. Lão Hòa thượng nói: “Nó cũng đâu phải là con nít trong nhà, lại không mất được, cậu cứ đòi đưa nó đi làm gì?” Lão Hòa thượng bất luận thế nào cũng ngăn cản không để cư sĩ Hoàng đi, đây là lần duy nhất trong đời người lão Hòa thượng ngăn cản người khác. Thì ra huyện Đồng Bách xuất hiện một án giết người, hung thủ có quen biết với cư sĩ Hoàng, hôm đó chạy đến nhà của cư sĩ Hoàng trốn, thấy không có cư sĩ Hoàng ở nhà, thì đi qua nhà của Chi Thư. Ngày thứ hai, cục công an bắt được hung thủ, Chi Thư là người chứa chấp tội phạm cũng bị bắt, phạt hết tám ngàn, còn phải ngồi tù một năm. Nếu như cư sĩ Hoàng ở nhà, hậu quả không cần nói cũng biết. Còn có mấy lần là bản thân lão Hòa thượng gần với nguy hiểm, cuối cùng cũng là chuyển nguy thành an. Sau khi lão Hòa thượng vãng sanh, có lần pháp sư Diễn Cường nói với pháp sư Ấn Vinh: “Cô không biết những cửa ải mà Ngài đã trải qua! Phàm phu chúng ta đây cũng không nhìn ra áo diệu của chân Phật đâu!” Những điểm mà lão Hòa thượng Hải Hiền hơn người khác chính là lão thật, nghe lời, thật làm, vì vậy Ngài thành tựu rất nhanh. Dựa vào một câu Phật hiệu được lý nhất tâm bất loạn, cho nên điều gì Ngài cũng biết, nhưng mà Ngài không nói. Tại sao không nói? Không có ai nghe hiểu được, không có ai làm được giống Ngài. Vì vậy, Ngài hoàn toàn biểu diễn trong sinh hoạt thường ngày, người biết nhìn có thể nhìn thấy được, người không biết nhìn nói với Ngài cũng vô dụng, chỉ rước phiền phức cho chính mình.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY=1/6/2021.
Buddha's filial piety.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH. Although the World-Honored One did not often take care of and support his parents and relatives, but he devotedly took care of their spiritual life, making them spiritually sublimated, attaining Sainthood, and liberated and happy. This is the pinnacle of piety. Buddhism is the path of liberation and enlightenment. In terms of filial piety, Buddhism is also known as filial piety, and the Buddha himself is the most representative of the spirit of filial piety. However, Shakyamuni Buddha's life sacrificed almost completely for sentient beings, he only spent a very small part of his time with his parents and relatives in his family and clan. And, with concern towards that very small secular family, the Buddha did a very wonderful thing, helping his relatives to learn to be free from the suffering of birth and death. Although the World-Honored One did not often take care of and support his parents and relatives, but he devotedly took care of their spiritual life, making them spiritually sublimated, attaining Sainthood, and liberated and happy. When hearing the news that Prince Siddhartha had crossed over into the monastic life, the whole city of Kapilavatthu was shocked at that time, but the most suffering was King Suddhodana, his mother Maha Pajàpati Gotami and Princess Yasodhara. Can't suffer when the crown prince is the hope of the royal family and the nation of Kapilavatthu. He left the city and did not set a date to return, leaving a huge void for everyone in the kingdom that nothing could fill. Of course, Prince Siddhartha knew the grief and disappointment of his loved ones, but for the sake of liberation and enlightenment for himself and especially for all sentient beings, he was determined to find the way. Until he attained Supreme Enlightenment under the Bodhi tree, became a Buddha, a famous and famous teacher, converted Brahmins, kings and all peoples to return to the right path but the way back to the old district of Kapilavatthu. Buddha is still far away. During the 45 years of traveling and spreading the word, the Blessed One returned several times to Kapilavatthu with the Sangha. But the focus of these visits is to spread the Dharma, not just a regular visit. After the burial of King Suddhodana's father finished, the Buddha discussed with the royal family, the agenda of bringing Mahanama, the eldest son of Prince Sukkodana to the throne to succeed King Suddhodana. On his first return to Kapilavatthu, after finishing his second summer retreat at Veluvana, in addition to visiting relatives, the Buddha taught his father Suddhodana and his courtiers to understand the basic foundation of the Dharma. The Tathagata and helped his father enter the Holy Order, attaining the First Fruit of Tu Da Hoan. Mahā Pajàpati Gotami, Princess Yasodhara also enjoy the liberating teachings. During this first return, princes such as Nanda, Prince Rahula gave rise to ordination. When he heard that his father Suddhodana was old and very ill, the Blessed One together with the Sangha once again personally returned to Kapilavatthu after the fifth retreat in Vesali. At that time, King Suddhodana was 81 years old, knowing that he was about to accept the world of impermanence, so he sent the great minister Mahanama, the son of Prince Sukkodana (White Brahma King) to invite the Buddha to Kapilavatthu so that the king could see his face one last time. In an emergency situation, the Blessed One took a horse-drawn vehicle (most of the Buddha's spiritual journeys throughout India were on foot) quickly returned to Kapilavatthu. Before the death of his father, King Suddhodana, he was able to listen to the mysterious Dharma talk on impermanence and not-self, attaining the fruit of arahantship, completely liberated from birth and death. After the burial of King Suddhodana's father finished, the Buddha discussed with the royal family, the agenda of bringing Mahanama, the eldest son of Prince Sukkodana to the throne to succeed King Suddhodana. At this time, the deceased mother Mahà Pajàpati Gotami and Princess Yasodhara and 500 Shakyamuni, after many times of applying for ordination but not being accepted by the Buddha, cut their hair, put on rough clothes, and walked with the Buddha to Vesali. After many trials, the Buddha finally accepted, the nuns formed and always stood side by side with the monks to propagate the Dharma. Those in the Buddha's relatives were taught by him to practice and achieve liberation. During the seventh season of residence in Samkassa village, upstream of the Ganga River, the Blessed One went to the Dao Loi heaven to preach the Dharma to his mother, Queen Maya. At that time, Queen Maya was reborn as a fairy in the Dao Loi heaven. The goddess Maya together with the celestial assembly heard the Abhidhamma and the Earth Store Sutra from the Buddha's mouth and achieved liberation. Thus, those of the Buddha's relatives were taught by him to practice and achieve liberation. Although the World-Honored One did not often take care of and support his parents and relatives, but he devotedly took care of their spiritual life, making them spiritually sublimated, attaining Sainthood, and liberated and happy. This is the pinnacle of filial piety. The Sangha Division I, the Buddha taught: "Bhikkhus, anyone who has no faith in their parents, encourages, guides, and settles them in faith; for parents who follow the evil world, encourage, guide, and settle them in the good world; for parents who are not greedy, encourage, guide, and stay in almsgiving; for parents who follow evil wisdom, encourage, guide, and dwell in wisdom. That's enough to do and repay enough for mom and dad." The ordained disciples of the Buddha, accepting sentient beings in the ten directions as their parents, devoted their entire lives to living beings, also repaying the kindness of their parents and grandparents in this spirit.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).GOLDEN AMITABHA MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.1/6/2021.
Hạnh hiếu của Đức Phật. Dù rằng, Thế Tôn không chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ cùng thân quyến như thế thường nhưng Ngài đã tận tình chăm dưỡng đời sống tinh thần, khiến cho họ thăng hoa tâm linh, chứng đắc Thánh quả, giải thoát an vui. Đây mới chính là đỉnh cao của sự hiếu đạo. Đạo Phật là đạo giải thoát, giác ngộ. Ở phương diện hiếu thảo, đạo Phật còn được gọi là đạo hiếu, và chính Đức Phật là biểu trưng nhất cho tinh thần chí hiếu. Tuy nhiên, cuộc đời Phật Thích Ca lại hy sinh gần như trọn vẹn cho chúng sinh, Ngài chỉ dành một phần thời gian rất nhỏ cho cha mẹ và những người thân trong gia đình, dòng tộc. Và, với sự quan tâm hướng về gia đình thế tục vô cùng nhỏ nhoi ấy, Đức Phật đã làm được điều rất kỳ diệu là trợ duyên cho thân tộc tu học giải thoát khỏi khổ đau sinh tử luân hồi. Dù rằng, Thế Tôn không chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ cùng thân quyến như thế thường nhưng Ngài đã tận tình chăm dưỡng đời sống tinh thần, khiến cho họ thăng hoa tâm linh, chứng đắc Thánh quả, giải thoát an vui. Khi hay tin thái tử Siddhartha vượt thành xuất gia, cả kinh thành Kapilavatthu bấy giờ ai nấy đều bàng hoàng, nhưng đau khổ nhất là vua Suddhodana, di mẫu Mahà Pajàpati Gotami và công chúa Yasodhara. Không đau khổ sao được khi thái tử là niềm hy vọng của hoàng gia và cả quốc dân xứ Kapilavatthu. Ngài vượt thành ra đi và không hẹn ngày về đã để lại một khoảng trống to lớn cho tất cả mọi người trong vương quốc mà không điều gì có thể bù đắp. Hẳn nhiên, thái tử Siddhartha biết rõ sự đau buồn và thất vọng của người thân nhưng vì sự nghiệp giải thoát, giác ngộ cho tự thân và nhất là cho hết thảy chúng sinh nên Ngài quyết chí ra đi tìm đạo. Đến khi Ngài chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng giác dưới cội Bồ đề, thành Phật, một bậc đạo sư tiếng tăm lừng lẫy, hóa độ các Bà la môn, vua chúa và muôn dân quay về chánh đạo nhưng lối về cố quận Kapilavatthu của Phật vẫn còn xa. Trong suốt 45 năm du phương hoằng hóa, hữu duyên mấy lần Thế Tôn trở về Kapilavatthu cùng với Tăng đoàn. Nhưng trọng tâm của những lần trở về cố hương ấy là để hoằng pháp chứ không phải chỉ đơn thuần là thăm viếng thông thường. Sau khi an táng vua cha Suddhodana xong, Đức Phật đã cùng hoàng tộc bàn bạc, nghị sự đưa Mahanama, con trưởng của hoàng thân Sukkodana lên ngôi kế vị vua Suddhodana. Trong lần đầu tiên trở về Kapilavatthu, sau khi mãn mùa an cư kiết hạ thứ hai tại Veluvana, ngoài sự thăm viếng những người thân, Đức Phật đã thuyết giảng cho vua cha Suddhodana cùng triều thần hiểu được nền tảng cơ bản của giáo pháp Như Lai và giúp vua cha thể nhập dòng Thánh, chứng đắc Sơ quả Tu đà hoàn. Di mẫu Mahà Pajàpati Gotami, công chúa Yasodhara cũng đều được ân hưởng giáo pháp giải thoát. Trong lần trở về đầu tiên này, các hoàng thân như Nanda, vương tử Rahula đã phát tâm xuất gia. Khi nghe tin vua cha Suddhodana đã già yếu và bệnh nặng, Thế Tôn cùng với Tăng đoàn lại một lần nữa thân hành trở về Kapilavatthu sau mùa an cư thứ năm tại Vesali. Bấy giờ, vua Suddhodana đã 81 tuổi, biết mình sắp thuận thế vô thường nên đã sai đại thần Mahanama, con hoàng thân Sukkodana (Bạch Phạn vương) đi thỉnh Phật về Kapilavatthu để vua được thấy mặt lần cuối. Trong tình huống khẩn cấp, Thế Tôn đã phương tiện ngồi xe ngựa (hầu hết các hành trình hoằng hóa của Đức Phật trên khắp xứ Ấn Độ đều đi bộ) cấp tốc trở về Kapilavatthu. Trước khi vua cha Suddhodana băng hà đã kịp nghe pháp thoại nhiệm mầu về vô thường và vô ngã, chứng đắc Thánh quả A la hán, giải thoát hoàn toàn sanh tử luân hồi. Sau khi an táng vua cha Suddhodana xong, Đức Phật đã cùng hoàng tộc bàn bạc, nghị sự đưa Mahanama, con trưởng của hoàng thân Sukkodana lên ngôi kế vị vua Suddhodana. Thời điểm này, di mẫu Mahà Pajàpati Gotami và công chúa Yasodhara cùng 500 Thích nữ sau nhiều lần xin xuất gia mà không được Phật chấp nhận đã tự xuống tóc, đắp y thô, đi bộ theo Phật đến Vesali. Sau nhiều thử thách, cuối cùng thì Đức Phật đã chấp thuận, Ni đoàn hình thành và luôn sát cánh với chư Tăng để hoằng dương Chánh pháp. Những người trong thân tộc của Đức Phật đều được Ngài giáo hóa tu tập và thành tựu giải thoát. Trong mùa an cư thứ bảy tại làng Samkassa, thuộc thượng lưu sông Ganga, Thế Tôn đã lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho thân mẫu, hoàng hậu Maya. Bấy giờ, hoàng hậu Maya đã tái sanh làm vị tiên trên cõi trời Đao Lợi. Thiên nữ Maya cùng với thiên chúng được nghe Vi Diệu pháp (Abhidhamma) và kinh Địa Tạng từ kim khẩu Thế Tôn mà thành tựu giải thoát. Như vậy, những người trong thân tộc của Đức Phật đều được Ngài giáo hóa tu tập và thành tựu giải thoát. Dù rằng, Thế Tôn không chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ cùng thân quyến như thế thường nhưng Ngài đã tận tình chăm dưỡng đời sống tinh thần, khiến cho họ thăng hoa tâm linh, chứng đắc Thánh quả, giải thoát an vui. Đây mới chính là đỉnh cao của sự hiếu đạo. Kinh Tăng Chi Bộ I, Phật dạy: “Này các Tỷ kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với cha mẹ theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với cha mẹ xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào bố thí; đối với cha mẹ theo ác tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào trí tuệ. Như vậy là làm đủ và trả ơn đủ cho mẹ và cha”. Chư vị đệ tử xuất gia của Đức Phật, nhận mười phương chúng sinh làm cha mẹ, suốt một đời tận hiến cho chúng sanh cũng báo hiếu ân đức sanh dưỡng của ông bà cha mẹ của mình theo tinh thần này.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.1/6/2021.
Ten Tales of Patience in the Pali Canon- Story 1: CIDDAMANAVIKà denounces the Buddha for meddling.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH. Forbearance is the most wonderful thing because the Buddha's son who practices patience maturely, can eliminate anger and harm mind, is an important factor for practitioners to achieve liberation from the mind of liberation and compassion. On the other hand, those who, out of compassion for sentient beings, practice patience (no anger, no harm), can achieve the Bodhisattva's great compassion. Often follow loving-kindness Let go of thoughts of anger Great compassion for sentient beings Heartbroken tears Tu makes a great body To me, also attain the Dharma Help with morality That is Bodhisattva Hanh. (Sutra of Goodwill) Forbearance, forbearance, with many people Italy is not angry, everything is fun Virtue of true cultivation, seeking liberation Everyone learns Buddha, rings for life . In Buddhism, patience is not melancholy, weakness, cowardice, patience is a very clear positive attitude led by wisdom, when facing failures, do not despair, achieve success. Not arrogant, that's the meaning of the ring "In the religious life, be arbitrary Peace of mind, no worries Outside the six worlds without attachment Be calm inside, let's be calm Thoughts arise and immediately let go Peace of mind, peace of mind That's the truth for life Don't be bothered by the crazy scene CHAPTER I – HAPPINESS WITH slander and defamation STORY FIRST - CIDDAMANAVIKA ACCEPTED TO THE Buddha ABOUT COMMUNICATION. This story the Master told while staying in Jetavana about Ciddamânavikà (who had falsely accused the Buddha of cheating). When the Ten Powers attained Unsurpassed Perfect Enlightenment, then this group of disciples became more numerous, countless gods and humans were born in the heavenly world, and the seeds of good conditions spread everywhere, so he gained fame and fame. splendor and noble offerings. The pagan pagans are like fireflies after dawn, they no longer have fame, profit, and offerings; They went out into the middle of the street shouting loudly at the crowd: - Hey, is the recluse Gotama an Enlightened One? We are also Enlightened Ones. Only the offerings made to him bring great results? Our offerings also bring great results to you. So will you make offerings to us, serve us too? But no matter how much they cried, they did not get any fame and benefit. Then they secretly met together, and discussed the next question: - How can I disgrace the recluse Gotama in public to put an end to his fame and gain? At that time at Savatthi there was a certain girl named Cincamânavikà, of great beauty, graceful and slender, like a goddess, light as if radiating from her body. There are people who plot evil schemes as follows: - Thanks to Cincamânavikà's help, I can dishonor the recluse Gotama and put an end to the fame and gain he enjoys. - Yes, we all agree. We have to do it that way. When she went to the practice of the pagans, bowed to them, and stood still, the evil gurus said nothing to her. She asked: - Did you do something wrong? I have greeted the Venerables three times already. Again she said: - Venerables, why don't you say anything to me? They replied: - Hey, sister, do you know that the recluse Gotama is traveling through here and harming us, losing all the fame and benefits that we have enjoyed before? - Venerables, I don't know that, but what can I do? - Hey, sister, if you want us to be good, let yourself dishonor the recluse Gotama to put an end to the fame and gain he enjoys. She replied: - Well, venerable sirs, please leave that to me. With that, she said goodbye and left. Then she used all the tricks of women to deceive people. When the people at Savatthi finished listening to the Dharma and left from Ky Vien, she would often go to Ky Vien again, wearing a robe dyed in red yenchi, holding a fragrant wreath in her hand. When someone asked her: - Where to go at this hour? She replied: - What do you have to do with my departure, I asked when I came back? She stayed at night in the retreat of those evil masters, close to Ky Vien, and then in the morning, when the lay followers of the Sangha from the capital came to pay their respects to the Sangha in the morning, she often met them as if she had stayed the night at Ky Vien and then went back to the capital. If anyone asked her where she had stayed, she would answer: - Where do I stay, what's wrong with you? But after about six weeks she replied: - I stayed the night at Ky Vien with the recluse Gotama in the Huong room. The heathens began to wonder if that was true. After about three or four months, she wrapped several layers of cloth around her belly again, pretending to be pregnant, and put on her red robe. Then she announced that she was pregnant with the recluse Gotama, causing the blind fools to believe him. After about eighty-nine months, she tied up pieces of wood rolled up into bundles, covered her with a red coat, beat the bones of the cow's jaws against the limbs to swell, and made a tired appearance. One afternoon when the Tathagata was sitting on a throne preaching the Dharma, she entered the assembly, stood in front of the Tathagata and said: - This Great Samana, indeed he is preaching to many assemblies; His voice is so gentle, but He has made me pregnant and the due date is near, yet He has not arranged a room for me to give birth, He does not give me fresh butter or cooking oil at all. The things that he himself did not want to do, he did not ask a lay person to do instead, such as King Kosala, Mr. Alone or a female attendant Visakha. Why don't you tell one of them to do what is needed for me? He knows how to enjoy sensual pleasures, but he doesn't know how to take care of the results that will arise from it! So she slandered the Tathagata in public like a person trying to throw mud to stain the moon. The Tathagata stopped preaching and shouted like a lion's roar resounding everywhere: - Hey, sister, what you just said is right or wrong, only you and I know. She replied: - Yes, indeed, how this happened, only you and I know. At that moment, the throne of Sakka (Imperial Lord) was burning hot. Upon closer examination, he clearly saw the reason: "She Cincamânavikà is slandering the Tathagata about an unreal thing." He decided to clarify the matter, and went there with the four Angels. The Angels disguised as field mice immediately bit the rope that tied the bundle of wood, and then a gust of wind blew over her red dress, the bundle was exposed and fell on her feet, her toes were all severed. . The masses shouted: - A witch is slandering the Perfectly Enlightened One. The crowd immediately spat on her head, took sticks and rocks to chase her out of the Ky Vien Monastery. When she was out of sight of the Tathagata, the great earth opened its mouth in a huge fissure, and flames rose from the lowest hell, enclosing her in flames as if in a wedding cardinal. that her friends would cover her, then she would fall to the lowest hell, and be reborn there. The fame and gain of the evil masters still dissipated, but the fame and gain of the Ten Powers increased even more. The next day, the Sangha discussed in the Dharma hall: "Friend, bhikkhu, the lady Cincamânavikà slandered the Buddha of Perfect Enlightenment with great merit worthy of all offerings, and she was horribly damned! The Master came in and asked the Sangha what they were talking about while sitting here. The public presented to Him. He said: - It is not only now that this woman falsely accused Me and was tragically destroyed, but also in the past. Having finished speaking, He told a story from the past. * Once upon a time, when King Brahmadatta. Reigning over Benares, the Bodhisatta was born as the son of the right queen. Seeing that the bodhisattva's face was full of blessings like a blooming lotus, the king named him Paduma-Kumara, which means Prince of Lotus. When he grew up, he was fully taught all academic disciplines. At that time, the chief queen died, the king ordained another queen and made him viceroy. Then the king was about to set out to quell the rebellion at the border, and said to the queen: - Hey, dear, please stay here while I go to clear the border. But she replied: - My Lord, it can't be, I don't want to stay but I ask to follow the Lord. The king then pointed out to her the dangers of the battlefield and added: - Please stay here, don't worry, because until I return to the palace, I will entrust Prince Paduma to take care of everything that needs to be done for you and then I will go. Having said that, the king went on his way. When he had defeated the enemy and pacified the country, he returned to camp outside the capital. When the Bodhisattva heard that his father had returned, he immediately decorated the royal capital in a brilliant way, then guarded the palace carefully, and then went alone to meet his father. The queen observed his handsome appearance and fell in love with him. When he said goodbye to the queen, he said: - Madam, what can the king do for his mother? She said: - He called me a queen mother? Then she stood up and took his hands and said: - Please lie on the bed of the concubine. - For what? He asked. - Let's enjoy the pleasures of sex until the king returns. - Dear mother, the mother is the mother of the gods, and the mother still has a father here. I have never heard of a woman, a stepmother, breaking the morality of following carnal lusts like that. How could a god child commit such an unclean sin against his mother? She begged him two or three times, he still refused, she said: - So you won't do as I say? - Indeed, the child does not accept! - Then I will report to the king's father for an order to cut off your head! Bodhisattva said: - Please do as the queen wishes. Then He left, leaving her there, full of shame and shame. Then, in the midst of her horror, she thought: "If the prince goes to talk to the king before me, I will not live. Then I must take care of telling him first." So she did not touch the good things, but put on a stained royal robe, scratched her whole body with her fingernails, and ordered the palace maid: - Whenever the king asks where the queen is, tell her that she is ill. Then she lay down, pretending to be sick. At that time, the king majestically paraded around the city in the right direction and entered the palace. When he did not see her, he asked: - Where's the chieftain? They replied: - Ma'am, she's sick. He immediately entered the palace and asked her: - Is there something wrong with the queen? She acted as if she didn't hear anything. The king asked two or three times before she replied: - Your Majesty, what do you ask? Please, King, be quiet: women who get married have to suffer like concubines. - Who has offended the queen? King said: - Speak quickly and then I will order to cut off its head. - Who did the Great King leave in place of the Great King in this city, when the Great King left? - Prince Paduma. She continued: - And so the prince entered the concubine's room, and the concubine asked: "Don't do this, prince, I am the queen's mother." But the prince exclaimed: "No one is the king here but me. Then I will bring her back to my palace and have sex with her." Then the prince grabbed my hair and pulled it out again and again, and because I did not comply with the prince's wishes, the prince severely beat me and left. The king did not need to investigate the matter, but became angry like a snake, and immediately ordered the soldiers: "Now go and tie up Prince Paduma and bring it to me. They immediately went to his palace, flocked through the city, tied him up, beat him, tied his hands behind his back, wrapped around his neck a red garland of a condemned man, and led him to his house. He came to the palace, and beat him while walking. He knew well that this was caused by the queen, so while he was walking, he cried aloud: - Hey guys, I have done nothing against the king. You are innocent. The whole city resounded with bad news: "They say the king is going to execute a corpse on the orders of a woman!" The people rushed to kneel at the prince's feet and cried loudly: - My God! He doesn't deserve to be punished like this! Finally they brought him before the king. Immediately seeing his face, the king could not suppress what was stored in his heart, so he shouted: "This man is not a king, but he has done his father's work perfectly, he is my son, but he offended the queen." Now drag him by the neck, and drop him into the abyss of thieves and let him die. But the prince said: - Father, I have not committed that crime. Please don't kill me for a woman's word. The king still did not listen to him, and then all the sixteen thousand concubines in the harem cried loudly: "Oh dear Prince Paduma, mighty Prince Paduma, you don't deserve to be treated like this. Then all the generals and the lords, and the ministers, cried out: - My Lord, the prince is a good and virtuous man, still keeping the tradition of his lineage, the successor on the throne. Please don't kill him on the advice of a woman who won't listen to anything. It is the duty of an ally to act with great care. Having said that, the assembly immediately recited the verse: 1. King should not punish criminals tội Without listening to clear arguments, Nor do you think carefully Every aspect, no matter how big or small, is sincere. 2. The general punishes mistakes Before being brought to trial, Like one born blind, Eat all bones and flies. 3. Whoever punishes the innocent, Let the guilty pass, Nothing more than a blind man The dust on the highway is too rough. 4. The reviewer looks at the whole thing In matters big and small, very well, Rule the country that way Worthy of the throne among the students. 5. Someone in a high position Dealing shouldn't be so easy, Don't be too harsh, either. Do both sides at the same time. 6. Too easy or scorned, Rigorous is often angry, Between these two things need to be understood And keep the main line right. 7. You are angry, O King, Talking as much as a dishonest man, And so not for women, Kill the king to continue the lineage. But despite everything they said, the courtiers still could not convince the king to follow their words. The Bodhisatta too, used all his words of begging, but did not become the king's father and listened to him; no, the king was foolish and blind and said: - Drag it by the neck and drop it into the abyss reserved for thieves. Then the king recited the eighth stanza: 8. This whole country is standing on one side, The other side is alone and loving, To her, however, I cling, Release it into the cave, get out! Hearing these words, no one among the sixteen thousand concubines could stand still while all the subjects raised their hands to tear their hair and cry and wail. King said: - Don't let these guys get in the way of throwing that guy into the abyss. Then in the midst of the courtiers, and the people gathered around weeping, the king kept giving orders to grab the prince and throw him somersaults into the abyss. At that time the deity residing on that hill used his benevolent power to comfort the prince, saying: - O Paduma, please don't be afraid. The deity reached out to meet him with both hands, held him close to his lap, transmitted through his body a wondrous emotion, bringing him into the abode of snakes of eight kinds, under the king's authority. The king of snakes welcomed the Bodhisatta into the snake's den, but gave him half of the glorious mountain, and he stayed there for a full year. Then he said: I want to return to the human world. They ask: - To where? - Go to Tuyet Son, where I want to live a monastic life. The Snake King approved, took him to the place where humans passed, gave him all the necessary items of the religious life, and then returned to his old place. So he went to the Tuyet Son area, followed a pious life, cultivated the power of Meditation to bring peace, and there he fed himself with forest fruits and vegetables. At that time a forest ranger in Benares, went to that place, and recognized the Great Being. Guy said: - My Lord, are you the great Prince Paduma? He replied: - That's right, sir. The other paid homage to him and stayed for a few days. Then he returned to Ba La Complaint, reported to the king: - Dear Lord, the prince has followed the life of a monk in the Tuyet Son region, currently living in the am la. I went there to stay with you and returned here. King asked: - Have you seen the prince with your own eyes? - Oh my God, that's right. The king immediately went there with a crowd of entourage, camped at the edge of the forest, and then went with a few courtiers to pay homage to the Great Being who was sitting in the doorway of the am in all splendor, while the king sat down to one side; The courtiers also bowed to him with very cordial words, and then sat to one side. As for the Great Being, he invited the king to use the fruit of the forest and talked happily with the king. Then the king asked: - Hey, king, you were dropped by me into the abyss, how can you still survive? And the king recited the ninth verse to ask about it: 9. I was dropped into the abyss, On the steep side of the mountain, the high pass slope No one to help, thick coconut forest, How are you still at peace? The following are the remaining verses consisting of five alternating rhymes: three chanted by the Bodhisattva and two by the king. Prince: 10. That one piece of snake is powerful enough Born underground in the forest, Catching a snake wrapped in a snake, I am at peace, free from death. Father king: 11.I will take you, children, Go back to your father's palace, What else do you do in the mountains, Your happiness will now reign. Prince: 12. Whoever swallowed the bait hook, When the hook was pulled out, red blood gushed out, If you can pull the hook, then you will be happy, My heart is very happy and high. Father king: 13. Why do you talk about hooks? Why do you say that to peach blood? What do you say about the hook? What do you want to know now? Prince: 14. Greed is the main hook, bait, You say the horse and the elephant, the blood is dug, I withdraw by leaving the world, I need to know that, sir. - Dear Great King, so being a king means nothing to me at all. But the Great King must pay attention not to violate the Ten Kings of Law, but to give up evil deeds and truly govern the people. The Great Being encouraged his father through these words. The king mourned as he left, and on the way back to the capital, the king asked his courtiers: - For whom should I part with such a virtuous son? The congregation replied: - Because of the queen. The king immediately ordered the queen to be dropped into the abyss for thieves, then entered the city to rule according to the Dharma. * When the Master ended this Dharma talk, he said: "Thus, bhikkhus, this woman has slandered me in the past, and is subject to painful destruction. Then he identified the Forerunner by reciting the last verse: 15. My successor is Cinkah, Devadatta, that is his father, I am that Crown Prince Lien Hoa, And the young god at that time was Shariputra is now Elder, Good snake lord Ananda, And, Sangha, I declare End that Predecessor of mine.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).GOLDEN AMITABHA MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.1/6/2021.
Mười câu chuyện về hạnh nhẫn nhục trong kinh tạng Pali- Chuyện 1: CIDDAMÀNAVIKÀ VU CÁO ĐỨC PHẬT VỀ VIỆC THÔNG GIAN. Nhẫn nhục là thù diệu nhất vì người con Phật thực hành hạnh nhẫn nhục thành thục, thì có thể trừ được sân tâm và hại tâm, là nhân tố quan trọng để hành giả thành tựu từ tâm giải thoát và bi tâm giải thoát. Ngược lại những ai vì lòng bi thương hữu tình thực hành hạnh nhẫn nhục (không sân, không hại), thì có thể thành tựu tâm đại bi của Bồ Tát Thường làm theo tâm từ Từ bỏ tưởng giận hại Đại bi thương chúng sanh Quặn lòng rơi nước mắt Tu làm thân đại hỷ Với mình cũng đắc pháp Cứu giúp bằng đạo lý Ấy là Bồ Tát Hạnh. Nhẫn thân, nhẫn khẩu, với nhiều người Ý nhẫn không sân, mọi việc vui Đức hạnh chân tu, cầu giải thoát Mọi người học Phật, nhẫn soi đời . Trong Phật giáo nhẫn nhục không phải là sự bi lụy, yếu đuối, hèn hạ, nhẫn là một thái độ tích cực rất sáng suốt do trí tuệ dắt dẫn, khi vấp phải những thất bại không chán nản tuyệt vọng, đạt được thành công không kiêu căng tự đắc, đó là ý nghĩa của nhẫn “Ở đời sống đạo hãy tùy duyên Tâm trí an vui chẳng lụy phiền Ngoại cảnh sáu trần không dính mắc Nội tâm bát thức hãy điềm nhiên Niệm tưởng khởi lên liền buôn xả Chân tâm vắng lặng thấy bình yên Ấy là chân thật cho cuộc sống Không bị lụy phiền cảnh đảo điên --------------------------------- CHƯƠNG I – HẠNH NHẪN NHỤC VỚI LỜI VU KHỐNG VÀ PHỈ BÁNG CHUYỆN THỨ NHẤT - CIDDAMÀNAVIKÀ VU CÁO ĐỨC PHẬT VỀ VIỆC THÔNG GIAN. Chuyện này bậc Đạo Sư kể trong khi trú tai Kỳ Viên về Ciddamànavikà (người đã vu cáo đức Phật về việc thông gian). Khi đấng Thập Lực mới đạt Vô thượng Chánh Đẳng Giác, sau đó chúng đệ tử này càng đông đảo, vô số chư Thiên và loài người đã được sinh lên Thiên giới, hạt duyên lành gieo rắc khắp nơi, nên Ngài được uy danh lừng lẫy và lễ vật cúng dường cao trọng. Bọn ngoại đạo tà giáo chẳng khác nào bầy đom đóm sau buổi bình minh, họ chẳng còn danh vọng, lợi dưỡng cúng dường nữa; họ liền ra giữa đường hét lớn vào đám dân chúng: - Này sao, Sa-môn Gotama là bậc Giác Ngộ à? Chúng ta cũng là những bậc Giác Ngộ. Chỉ có các lễ vật cúng dường cho vị ấy mới mang lại kết quả lớn sao? Những vật cúng dường cho chúng ta cũng mang lại kết quả lớn cho các ngươi. Vậy các ngươi hãy cúng dường cho chúng ta, phục vụ chúng ta nữa chứ? Song dù họ kêu gào mãi, họ cũng chẳng hưởng được danh vọng lợi dưỡng nào cả. Sau đó họ bí mật họp nhau lại, và bàn bạc vấn kế: - Làm thế nào ta có thể gây ô nhục cho sa môn Gotama trước mặt công chúng để chấm dứt danh vọng lợi dưỡng cúng dường của ông ấy đây? Lúc bấy giờ tại Xá-vệ có một cô gái kia tên là Cincamànavikà, vẻ đẹp tuyệt trần, dáng kiều diễm mảnh mai, như một nữ thần, ánh sáng như tỏa ra từ thân thể nàng. Có người bày mưu kế ác độc như sau: - Nhờ Cincamànavikà giúp sức, ta có thể gây ô nhục cho Sa-môn Gotama và chấm dứt danh vọng lợi dưỡng mà ông đang hưởng. - Phải lắm, cả bọn đồng ý. Ta phải làm cách ấy đấy. Khi nàng ấy đến chỗ tu hành của bọn ngoại đạo tà giáo, đảnh lễ họ rồi đứng yên, bọn tà đạo sư không nói gì với nàng cả. Nàng hỏi: - Con có lỗi gì chăng? Con đã chào các Tôn giả ba lần rồi. Nàng lại bảo: - Thưa các Tôn giả, tại sao các vị không nói gì với con? Họ đáp: - Này chị, chị có biết Sa-môn Gotama đang du hành qua đây và làm hại chúng ta, làm mất hết mọi danh vọng và lợi dưỡng cúng dường mà chúng ta đã được hưởng trước kia chăng? - Thưa các Tôn giả, con không biết việc đó, nhưng con có thể làm gì được? - Này chị, nếu chị muốn chúng ta được tốt lành thì hãy tự mình gây ô nhục cho Sa-môn Gotama để chấm dứt danh vọng lợi dưỡng mà vị ấy đang hưởng. Nàng đáp: - Thưa các Tôn giả, được lắm, xin để việc ấy cho con đừng lo lắng gì nữa. Nói vậy xong nàng từ giã ra đi. Sau đó nàng dùng mọi xảo thuật của nữ nhân để đánh lừa người đời. Khi dân chúng ở Xá-vệ nghe Pháp xong và ra về từ Kỳ Viên, nàng lại thường đi về phía Kỳ Viên, khoác chiếc y nhuộm màu đỏ yên chi, tay cầm vòng hoa thơm ngát. Khi có ai hỏi nàng: - Đi đâu vào giờ này? Nàng thưởng trả lời: - Các vị có liên quan gì đến việc tôi đi, tôi về mà hỏi? Nàng cứ ở lại ban đêm trong am thất của bọn tà đạo sư ấy, sát gần Kỳ Viên, rồi đến sáng sớm mai, khi các cư sĩ cận sự của Tăng chúng từ kinh thành đến đảnh lễ Tăng chúng buổi sáng, nàng thường hay gặp gỡ họ như thể nàng đã ở lại ban đêm tại Kỳ Viên rồi đi về kinh thành. Nếu có ai hỏi nàng đã ở lại nơi đâu, nàng liền trả lời: - Tôi ở lại nơi đâu thì có việc gì đến các vị? Song sau chừng sáu tuần lễ, nàng đáp: - Tôi ở ban đêm tại Kỳ Viên với Sa-môn Gotama trong Hương phòng. Các người ngoại đạo bắt đầu thắc mắc không biết việc ấy có đúng chăng. Sau chừng ba bốn tháng, nàng lại quấn nhiều lớp vải quanh bụng, làm vẻ như thể nàng đang có thai, và khoác áo choàng đỏ ra ngoài. Rồi nàng tuyên bố là nàng có thai với Sa-môn Gotama khiến cho đám người ngu si mù quáng tin theo lời. Sau chừng tám chín tháng nàng cột quanh người những miếng gỗ cuộn thành bó, khoác áo đỏ phủ lên, lấy xương hàm của bò đập vào tay chân thân thể cho sưng phồng to, và làm ra dáng mệt mỏi. Một buổi chiều khi đức Như Lai đang ngồi trên bảo tọa thuyết Pháp, nàng bước vào giữa hội chúng, đứng trước mặt đức Như Lai và nói: - Này Đại sa-môn, quả thực Ngài đang thuyết Pháp cho nhiều hội chúng; giọng nói của Ngài thật êm ái, nhưng Ngài đã làm cho tiện thiếp có thai và ngày sanh đã gần kề, tuy thế Ngài không sắp đặt phòng bảo sanh cho thiếp, Ngài không cho thiếp bơ tươi hay dầu ăn gì cả. Những việc tự Ngài không muốn làm, Ngài cũng không nhờ một người cư sĩ nào làm thay thế, như vua Kosala, Ông Cấp Cô Độc hay nữ cận sự Visàkhà. Tại sao Ngài không bảo một người trong các vị ấy làm những việc cần cho thiếp? Ngài biết cách hưởng dục lạc, song lại không biết cách chăm sóc cái kết quả sẽ phát sinh từ đó! Thế là nàng ta phỉ báng đức như Lai giữa đại chúng như một người cố ném bùn làm vấy bẩn mặt trăng. Đức Như Laingưng thuyết giảng và thét lên như tiếng rống sư tử vang dội khắp nơi: - Này chị, những điều chị vừa nói đúng hay sai, chỉ mình Ta và chị biết thôi. Nàng đáp: - Đúng thế, quả thực vậy, việc này xảy ra như thế nào, chỉ mình Ngài và thiếp biết thôi. Ngay lúc ấy chiếc ngai vàng của Sakka (Đế Thích) Thiên chủ nóng rực lên. Khi xem xét kỹ, ngài thấy rõ lý do: "Nàng Cincamànavikà đang vu cáo đức Như Lai về một việc không có thực." Ngài quyết định làm sáng tỏ vấn đề này, liền cùng bốn Thiên thần đi đến đó. Các Thiên thần giả dạng bầy chuột đồng lập tức cắn sợi dây cột bó gỗ kia, rồi một cơn gió thổi tốc lên chiếc y đỏ nàng mặc, bó gỗ lộ ra và rơi xuống chân nàng, các ngón chân nàng đều bị đứt lìa cả. Đại chúng la lớn: - Một con mụ phù thủy đang vu cáo bậc Chánh Đẳng Giác. Đại chúng liền khạc nhổ lên đầu nàng, lấy gậy gộc, đất đá xua đuổi nàng ra khỏi Tinh xá Kỳ Viên. Khi nàng đi khuất tầm mắt của đức Như Lai, đại địa liền há miệng ra thành một đường nứt khổng lồ, đám lửa từ dưới địa ngục thấp nhất bốc lên khiến nàng bị bao vây giữa đám lửa như thể trong chiếc hồng y hôn lễ mà đám bạn sẽ phủ lên nàng, rồi nàng rơi xuống tầng địa ngục thấp nhất, và tái sinh tại đó. Danh vọng và lợi dưỡng của đám tà sư vẫn tiêu tan, còn danh vàlợi dưỡng của đấng Thập Lực lại tăng trưởng dồi dào hơn nữa. Ngày hôm sau, Tăng chúng bàn luận trong Chánh pháp đường: - Này hiền hữu Tỷ-kheo, cô ả Cincamànavikà đã vu cáo đức Phật Chánh Giác với công đức cao cả xứng đáng mọi lễ vật cúng dường, và cô ả đã bị đọa đày khủng khiếp! Bậc Đạo Sư đi vào và hỏi Tăng chúng đang nói chuyện gì khi ngồi tại đây. Đại chúng trình với Ngài. Ngài bảo: - Không phải chỉ bây giờ nữ nhân này mới vu cáo Ta rồi bị tiêu diệt thảm khốc, mà ngày xưa cũng vậy. Nói xong, Ngài kể một chuyện quá khứ. * Ngày xưa, khi vua Brahmadatta. trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát sinh làm vương tử của chánh hậu. Vì thấy dung mạo của Bồ-tát đầy đủ phước lành như đóa sen nở, vua đặt tên Ngài là Paduma-Kumara nghĩa là vương tử Liên Hoa. Khi lớn lên ngài được dạy đầy đủ mọi ngành học thuật. Lúc đó bà chánh hậu qua đời, vua lại sắc phong một vương hậu khác và phong cho ngài làm phó vương. Sau đó vua sắp sửa lên đường đi dẹp loạn ở biên địa liền phán bảo vương hậu: - Này ái khanh, hãy ở lại đây trong lúc trẫm đi dẹp loạn biên cương. Song nàng đáp: - Tâu Chúa thượng, không được đâu, thiếp không muốn ở lại mà thiếp xin đi theo hầu Chúa thượng. Vua liền chỉ cho nàng thấy nỗi nguy hiểm ở chiến trường và nói thêm: - Nàng hãy ở lại đây đừng lo buồn vì cho đến khi trẫm hồi cung, trẫm sẽ giao phó thái tử Paduma trọng trách chăm sóc mọi việc cần làm cho ái khanh rồi trẫm sẽ đi. Nói vậy xong vua lên đường. Khi ngài đã đánh tan kẻ thù, bình định đất nước, ngài trở về cắm trại ngoài kinh thành. Bồ-tát biết tin vua cha trở về liền trang hoàng kinh thành thật rực rỡ, rồi canh phòng cẩn mật cung điện, xong xuôi một mình ngài lên đường đón phụ vương. Vương hậu quan sát diện mạo khôi ngô của ngài, liền đem lòng say mê ngài. Khi giã từ vương hậu, ngài bảo: - Tâu mẫu hậu, vương nhi có thể làm gì cho mẫu hậu được chăng? Nàng bảo: - Chàng gọi thiếp là mẫu hậu ư? Rồi nàng đứng lên nắm hai tay ngài bảo: - Chàng hãy nằm trên vương sàng của thiếp. - Để làm gì? Ngài hỏi. - Chúng ta hãy tận hưởng lạc thú ái ân cho đến khi đức vua trở về. - Tâu mẫu hậu, mẫu hậu là mẹ của thần nhi, và mẫu hậu đang còn có phụ vương đây. Chưa bao giờ thần nhi nghe chuyện một nữ nhân, một kế mẫu, lại phá bỏ đạo lý đi theo dục lạc xác thịt như thế. Làm sao thần nhi có thể phạm tội lỗi ô uế như vậy với mẫu hậu được? Nàng nài nỉ ngài hai ba lần, ngài vẫn từ chối, nàng liền bảo: - Thế ngươi không chịu làm như ta bảo ư? - Quả thật thần nhi không chịu! - Vậy thì ta sẽ tâu trình vua cha ra lệnh chém đầu ngươi đi! Bồ-tát bảo: - Xin cứ làm như ý mẫu hậu. Rồi Ngài bỏ đi, để nàng lại đó, lòng đầy hổ thẹn nhục nhã. Rồi trong lúc qua kinh hoàng, nàng suy nghĩ: "Nếu vương tử đi nói chuyện với vua cha trước ta thì ta sẽ không sống nổi đâu. Vậy chính ta phải lo nói trước với ngài." Thế là nàng không đụng tới các món ngự thiện, mà khoác vào chiếc hoàng y lấm lem, lại lấy móng tay cào sướt cả người, rồi ra lệnh cho cung nữ: - Hễ giờ nào đức vua hỏi vương hậu ở đâu thì hãy tâu là lệnh bà bị bệnh. Rồi nàng nằm xuống, giả vờ đau ốm. Lúc bấy giờ vua uy nghi diễu quanh kinh thành theo hướng bên hữu rồi vào cung thất. Khi ngài không thấy nàng, ngài hỏi: - Chánh hậu đâu rồi? Chúng đáp: - Muôn tâu, lệnh bà đang bị bệnh. Ngài liền vào nội cung, hỏi nàng: - Ái hậu có việc gì bất an chăng? Nàng cứ làm như thể không nghe gì cả. Vua hỏi đến đôi ba lần nàng mới đáp: - Tâu Đại vương, ngài hỏi làm gì thế? Xin Đại vương hãy im lặng: phụ nữ xuất giá đều phải chịu cảnh như thân thiếp cả. - Ai đã làm phiền lòng ái hậu? Vua bảo: - Nói nhanh lên rồi trẫm sẽ hạ lệnh chém đầu nó. - Thế Đại vương đã để lại kẻ nào thay Đại vương trong kinh thành này, khi Đại vương ra đi? - Vương tử Paduma. Nàng nói tiếp: - Và thế là vương tử vào phòng của thiếp, thiếp liền hỏi: "Này vương nhi đừng làm vậy, ta là mẫu hậu của vương nhi". Nhưng vương tử kêu lên: "Không ai là đức vua ở đây trừ ta. Vậy ta sẽ đưa nàng về cung thất của ta và hưởng ái ân với nàng". Rồi vương tử nắm lấy tóc thiếp cứ kéo nhổ ra mãi, và do thiếp không chiều theo ý vương tử nên vương tử đánh đập thiếp trọng thương rồi bỏ đi. Vua không cần điều tra sự việc mà nổi cơn thịnh nộ lên như con mãnh xà, liền ra lệnh cho quân sĩ: - Bây đâu đi trói vương tử Paduma rồi đem lại đây cho trẫm. Họ liền đi đến cung thất của ngài, đông đảo lũ lượt kéo qua kinh thành, trói ngài lại, đánh đập, cột chặt hai tay ngài ra sau lưng, quấn quanh cổ ngài một vòng hoa đỏ của một tên tử tội, rồi dẫn ngài đến cung, vừa đi vừa đánh đập. Ngài biết rõ việc này là do vương hậu gây ra, nên trong khi ngài vừa đi, ngài vừa kêu lớn: - Này các ngươi, ta không làm tội gì chống lại đức vua cả. Ta vô tội. Cả kinh thành vang dội tin dữ: "Chúng bảo vua sắp hành hình thài tử theo lệnh một nữ nhân đấy!" Dân chúng ùa tới quỳ dưới chân thái tử mà kêu khóc vang lừng: - Chúa công ơi! Ngài không đáng bị trừng phạt như thế này! Cuối cùng họ đem ngài đến trước vua. Vừa chợt thấy mặt ngài, vua không đè nén được những gì đang chất chứa trong lòng, liền kêu lớn: - Kẻ này không phải là vua, song đã làm thế công việc của vua cha rất hoàn hảo, đó là vương nhi của ta, tuy vậy nó đã xúc phạm vương hậu. Bây hãy lôi cổ nó đi, đem thả xuống vực của bọn trộm cướp cho nó chết đi. Nhưng vương tử tâu: - Tâu phụ vương, con không hề phạm tội ấy. Xin đừng giết con vì lời của một nữ nhân. Vua vẫn không nghe theo ngài, rồi toàn thể mười sáu ngàn cung phi ở chốn hậu cung đồng cất tiếng khóc than vang dội: - Ôi vương tử Paduma thân yêu, vương tử Paduma hùng dũng, ngài không đáng bị đối xử như thế này. Kế đó tất cả các tướng quân và các lãnh chúa, cùng các vị đại thần đều kêu lớn: - Tâu Chúa thượng, vương tử là người hiền thiện và đức hạnh, vẫn giữ đúng truyền thống của dòng dõi ngài, là bậc kế vị trên ngai. Xin đừng giết ngài theo lời một nữ nhân mà không chịu nghe tâu trình gì cả. Phận sự một minh quân là phải hành động hết sức cẩn trọng. Nói vậy xong, hội chúng liền ngâm bảo vần kệ: 1. Vua chẳng nên trừng phạt tội hình Mà không nghe lý lẽ phân minh, Cũng không tự xét suy cho kỹ Mọi mặt, dù to, nhỏ thật tình. 2. Tướng quân trừng phạt lỗi lầm sai Trước lúc đem ra xử hẳn hòi, Giống kẻ sinh ra mù cặp mắt, Ăn toàn xương xẩu lẫn đàn ruồi. 3. Ai phạt kẻ không có tội gì, Để người có tội lọt qua đi, Khác gì hơn một người mù mắt Bụi trên đường cái quá gồ ghề. 4. Người xét xem toàn thể sự tình Trong việc dù to, nhỏ thật rành, Cai trị nước nhà theo cách ấy Xứng ngôi chúa tể giữa quần sinh. 5. Người nào ở địa vị cao sang Xử sự không nên quá dễ dàng, Cũng chẳng nên làm khe khắt quá, Song song thực hiện cả đôi đàng. 6. Quá dễ dàng hay bị miệt khinh, Khắt khe thường nổi trận lôi đình, Giữa hai điều ấy cần thông hiểu Và giữ đường trung chính hợp tình. 7. Người đang nổi giận, hỡi Quân vương, Cũng nói nhiều như kẻ bất lương, Và thế là đừng vì phụ nữ, Giết vương nhi nối dõi tông đường. Song dù nói hết mọi cách, quần thần vẫn không thuyết phục được vua theo lời họ. Bồ-tát cũng vậy, đã dùng hết mọi lời lẽ van xin nhưng không làm vua cha nghe theo ngài; không, vua thật ngu si mù quáng phán bảo: - Lôi cổ nó đi thả xuống vực sâu dành cho bọn trộm cướp. Rồi vua ngâm vần kệ thứ tám: 8. Cả nước này đang đứng một bên, Bên kia ái hậu một mình riêng, Với nàng, tuy vậy, ta khăng khít, Thả nó vào hang, hãy cút liền! Nghe các lời lẽ ấy, không ai giữa đám mười sáu ngàn phi tần đứng yên được trong khi toàn thể thần dân đưa tay lên vò đầu bứt tóc và kêu than khóc lóc. Vua phán: - Đừng để bọn này cản trở việc quẳng tên kia xuống vực sâu. Rồi giữa đám quần thần, và dân chúng vây quanh than khóc, vua cứ ra lệnh tóm lấy vương tử quẳng lộn nhào xuống vực sâu. Lúc ấy vị thần trú ngụ ở trên đồi ấy dùng uy lực nhân từ an ủi vương tử, bảo: - Hỡi Paduma, xin ngài đừng sợ hãi. Vị thần đưa cả hai tay ra đón lấy ngài, ôm chặt ngài vào lòng mình, truyền qua thân thể ngài một niềm xúc động kỳ diệu, đem ngài vào nơi cư trú của bầy rắn gồm tám loại, dưới quyền của vị Xà vương. Vị rắn chúa đón Bồ-tát vào hang rắn, song lại chia cho ngài một nửa giang sơn vinh hiển, và ngài ở đó một năm tròn. Rồi sau đó ngài bảo: - Ta muốn trở về cõi nhân gian. Chúng hỏi: - Đến nơi đâu? - Đến Tuyết Sơn, nơi ta muốn sống đời tu hành. Xà vương chấp thuận, mang ngài đi đến tận nơi có loài người đi qua lại, trao cho ngài đủ mọi vật dụng cần thiết của đời tu hành, rồi trở về chốn cũ. Thế là ngài tiến lên vùng Tuyết Sơn, đi theo cuộc đời đạo hạnh, tu tập năng lực Thiền định đem đến an lạc, ngài ở đó nuôi sống mình bằng các thứ củ quả rừng. Lúc bấy giớ có một người kiểm lâm ở Ba la nại, đi đến chốn ấy, và nhận ra bậc Đại Sĩ. Gã bảo: - Tâu Chúa công, có phải chăng ngài là thái tử Paduma vĩ đại? Ngài đáp: - Chính phải, thưa tôn ông. Kẻ kia đảnh lễ ngài và ở lại chơi vài ngày. Sau đó y trở về Ba la nại, trình với vua: - Tâu Chúa thương, thái tử đã theo cuộc đời tu hành ở vùng Tuyết Sơn, hiện đang sống trong am lá. Hạ thần đã đến tận đó ở với ngài và trở về đây. Vua hỏi: - Ngươi chính mắt trông thấy thái tử chăng? - Tâu Chúa thượng, chính phải. Vua liền cùng đám đông tùy tùng đến đó, đóng trại ở ven rừng rồi cùng vài cận thần đi đến đảnh lễ bậc Đại Sĩ lúc ấy đang ngồi ở ngưỡng cửa am trong mọi vẻ uy nghi rực rỡ, còn vua ngồi xuống một bên; các cận thần cũng đảnh lễ ngài với lời lẽ rất thân ái, xong cùng ngồi một bên cả. Về phần bậc Đại Sĩ, ngài mời vua dùng trái rừng và đàm đạo rất vui vẻ với vua. Sau đó vua hỏi: - Này vương nhi, con bị ta thả xuống vực sâu, làm cách nào mà còn sống sót được? Và vua ngâm vần kệ thứ chín để hỏi chuyện đó: 9. Con bị thả vào miệng vực sâu, Bên sườn núi dựng, dốc đèo cao, Chẳng ai cứu giúp, rừng dừa rậm, Con vẫn bình an bởi cách nào? Sau đây là những câu kệ còn lại gồm năm vần xen kẽ nhau: ba vần do Bồ-tát ngâm và hai vần do vua ngâm. Vương tử: 10. Một mãnh xà kia đủ lực hùng Sinh ra sống dưới đất trong rừng, Bắt con cuộn lấy trong mình rắn, Con được bình an, thoát tử thần. Vua cha: 11.Cha sẽ đưa con, hỡi thiếu nhi, Quay về cung điện của cha đi, Con làm gì nữa trong rừng núi, Hạnh phúc con nay sẽ trị vì. Vương tử: 12. Kẻ nào đã nuốt móc mồi câu, Khi kéo móc ra, máu đỏ trào, Kéo được móc rồi là hạnh phúc, Lòng con hỷ lạc tuyệt thanh cao. Vua cha: 13. Sao con nói đến móc mồi câu? Con nói vậy sao đến máu đào? Con lại nói sao về rút móc? Cha nay muốn biết việc kia nào? Vương tử: 14. Dục tham là chính móc mồi câu, Con nói ngựa voi, chính máu đào, Con rút ra nhờ lìa thế tục, Cha cần biết chuyện ấy, muôn tâu. - Tâu Đại vương, như vậy việc làm vua không có nghĩa gì đối vối con cả. Song Đại vương phải chú tâm đừng vi phạm Thập vương pháp mà phải từ bỏ các ác nghiệp và trị dân thật chân chính. Bậc Đại Sĩ khuyến giáo vua cha qua những lời đó. Vua vừa than khóc vừa từ giã ra đi, và trên đường về kinh, vua hỏi các cận thần: - Vì ai mà ta phải chia lìa với một người con đức độ như thế? Hội chúng đáp: - Chính vì vương hậu. Vua liền ra lệnh băt vương hậu thả xuống vực sâu dành cho bọn trộm cướp, rồi vào thành cai trị theo đúng Chánh pháp. * Khi bậc Đạo Sư chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo: - Này các Tỷ-kheo, như vậy nữ nhân này đã vu cáo Ta thuở xưa, và phải chịu hủy diệt thương đau. Rồi Ngài nhận diện Tiền thân bằng cách ngâm vần kệ cuối cùng: 15. Kế mẫu ta là ả Cin-ca, Đề-bà-đạt, ấy chính vua cha, Ta là thái tử Liên Hoa nọ, Còn vị thần non thuở ấy là Xá-lợi-phất giờ đây Trưởng lão, Thiện xà chúa nọ A-nan-đà, Và này Tăng chúng, Ta tuyên bố Kết thúc Tiền thân ấy của ta.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.1/6/2021.