Thursday, April 22, 2021

Từ ngữ Pāḷi trong bài kinh Chuyển-Pháp-Luân * Bài kệ khai kinh Chuyển-Pháp-Luân pañcavaggīnaṃ: nhóm 5 vị tỳ-khưu là Ngài Đại-Trưởng-lão Koṇḍañña, Ngài Trưởng-lão Vappa, Ngài Trưởng-lão Bhaddiya, Ngài Trưởng- lão Mahānāma, Ngài Trưởng-lão Assaji. Isipatana nāmake: tên gọi Isipatana là nơi mà Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác, chư Đức-Phật Độc- Giác đã từng từ trên hư không đáp xuống tụ hội tại đây. Migadāye: khu rừng phóng sinh nai dhammavaraṃ: chánh-pháp cao thượng nibbānapāpakaṃ: dẫn đến chứng ngộ Niết-bàn Sahampati nāmakena: tên gọi Sahampati Mahābrahmena: Đại-phạm-thiên yācito: cầu xin Catusaccaṃ: tứ Thánh-đế Pakāsento: trình bày, giảng giải Lokanātho: Đức-Phật là nơi nương nhờ của tất cả mọi chúng-sinh adesayi: thuyết-pháp Nanditaṃ: vô cùng hoan hỷ sabbavedehi: tất cả chư-thiên sabbasampatti sādhakaṃ: thành tựu mọi tam- giới thiện-pháp và siêu-tam-giới thiện-pháp Sabbalokahitatthāya: để đem lại sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an-lạc cho toàn thế giới chúng-sinh Dhammacakkaṃ: kinh Chuyển-pháp-luân bhaṇāma: chúng tôi tụng he: Này chư vị thiện-trí! Kinh Chuyển-Pháp-Luân 1- Bhante Kassapa: kính bạch Ngài đại- trưởng-lão Mahākassapa Idaṃ suttaṃ: bài kinh Chuyển-pháp-luân này Evaṃ: đúng như vậy tôi: với Ānanda ở đó sutaṃ: được lắng nghe trực tiếp từ Đức-Thế- Tôn bài kinh Chuyển-pháp-luân này ekaṃ samayaṃ: một thuở nọ Bhagavā: Đức-Thế-Tôn Bārāṇasiyaṃ: gần kinh-thành Bārāṇasī viharati: ngự ở Isipatane: tên gọi Isipatana migadāye: trong khu rừng phóng sinh nai Tatra kho: khi ấy Đức-Thế-Tôn ngự tại khu rừng phóng sinh nai tên gọi Isipatana Bhagavā: Đức-Thế-Tôn pañcavaggiye bhikkhū: nhóm 5 vị tỳ-khưu là Ngài Đại-Trưởng-lão Koṇḍañña, Ngài Trưởng- lão Vappa, Ngài Trưởng-lão Bhaddiya, Ngài Trưởng-lão Mahānāma, Ngài Trưởng-lão Assaji āmantesi: truyền gọi Hai pháp thấp hèn 2- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! Dve ime antā: 2 pháp thấp hèn thuộc về biên kiến này pabbajitena: bậc xuất gia na sevitabbā : không nên thực-hành theo Katame dve? Hai pháp thấp hèn thuộc về biên kiến ấy như thế nào? * Yo cāyaṃ antā: pháp-hành thấp hèn thuộc về biên kiến nào kāmesu: trong ngũ-dục kāmasukhallikānuyogo: thường thụ hưởng dục lạc trong ngũ-dục với tâm tham-ái hợp với thường-kiến, hīno: pháp thấp hèn gammo: pháp của người tại gia pothujjaniko: thường hành của hạng phàm-nhân anariyo: không phải pháp-hành của bậc Thánh-nhân anatthasaṃhito: không đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa * Yo cāyaṃ antā: pháp-hành thấp hèn thuộc về biên kiến nào attakilamathānuyogo: thường tự ép xác hành khổ thân với tâm sân có đoạn-kiến Dukkho: đau khổ anariyo: pháp-hành khổ-hạnh của tu-sĩ ngoại đạo, không phải là pháp-hành của bậc Thánh-nhân anatthasaṃhito: không đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa Pháp-hành trung-đạo (majjhimapaṭipadā) 3- bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! Ete kho ubho ante: 2 pháp-hành thấp hèn thuộc 2 biên kiến ấy anupagamma: không thiên về 2 biên kiến majjhimā paṭipadā: thực-hành pháp-hành trung-đạo ở giữa kāmasukhallikānuyogo và attakilamathānuyogo Tathāgatena: Như-lai abhisambuddhā: chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế cakkhukaraṇī: làm cho tuệ-nhãn thấy rõ chân- lý tứ Thánh-đế ñāṇakaraṇī: làm cho trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ chân-lý tứ Thánh-đế upasamāya: để làm vắng lặng phiền-não nghĩa là chứng ngộ Niết-bàn abhiññāya: để làm cho trí-tuệ-thiền-tuệ đặc biệt chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế sambodhāya: để làm cho trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế nibbānāya: để chứng ngộ Niết-bàn giải thoát khổ saṃvattati: phát sinh Bhikkhave: Này chư tỳ-khưu! Katamā ca: như thế nào? sā majjhimā paṭipadā: pháp-hành trung-đạo ấy Tathāgatena: Như-lai abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya nibbānāya saṃvattati. Ayameva maggo ariyo: Thánh-đạo này aṭṭhaṅgiko: có 8 chánh Seyyathidaṃ: 8 chánh đó là Sammādiṭṭhi: chánh-kiến sammāsaṅkappo: chánh-tư-duy sammāvācā: chánh-ngữ sammākammanto: chánh-nghiệp sammā-ājivo: chánh-mạng sammāvāyamo: chánh-tinh-tấn sammāsati: chánh-niệm sammāsamādhi: chánh-định Bhikkhave: Này chư tỳ-khưu! Ayaṃ kho sā majjhimā paṭipadā: bát-chánh- đạo này đó là pháp-hành trung-đạo Tathāgatena: Như-lai abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya nibbānāya saṃvattati. 1- Khổ-Thánh-đế (dukkha ariyasacca) 4- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! Idaṃ kho pana dukkhaṃ ariyasaccaṃ: khổ- Thánh-đế là chân-lý mà bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ đó là Jātipi dukkhā: tái-sinh kiếp sau là khổ jarāpi dukkhā: già là khổ byādhipi dukkho: bệnh là khổ maraṇaṃpi dukkhaṃ: chết là khổ appiyehi sampayogo dukkho: phải gần gũi thân cận với người không thương yêu là khổ piyehi vippayogo dukkho: phải xa lìa với người thương yêu là khổ yampicchaṃ na labhati, tampi dukkhaṃ: mong muốn đừng có sinh, đừng có già, đừng có bệnh, đừng có chết mà không thể nào được như ý, điều ấy là khổ saṃkhittena: tóm lại pañcupādānakkhandhā dukkhā: ngũ-uẩn chấp- thủ là khổ 2- Nhân sinh khổ-Thánh-đế (dukkhasamudaya ariyasacca) 5- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! Idaṃ kho pana dukkhasamudayaṃ ariya- saccaṃ: nhân sinh khổ-Thánh-đế là chân-lý mà bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ Yāyaṃ taṇhā: tham-ái nào Ponobbhavikā: dắt dẫn tái-sinh kiếp sau nandirāgasahagatā: hợp với hoan-hỷ, tham dục tatratatra: trong mỗi kiếp, trong mỗi đối-tượng abhinandinī: vô cùng hài lòng hoan-hỷ Seyyathidaṃ- tham-ái đó là Kāmataṇhā: tham-ái trong 6 đối-tượng dục bhavataṇhā: tham-ái trong 6 đối-tượng dục hợp với thường-kiến hoặc tham-ái trong các bậc thiền sắc-giới, vô-sắc-giới và trong cõi sắc-giới, cõi vô-sắc-giới vibhavataṇhā: tham-ái trong 6 đối-tượng dục hợp với đoạn-kiến 3- Diệt khổ-Thánh-đế (dukkhanirodha ariyasacca 6- Bhikkhave:- Này chư tỳ-khưu! Idaṃ kho pana dukkhanirodhaṃ ariya- saccaṃ: diệt khổ-Thánh-đế là chân-lý mà bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ tassāyeva taṇhāya: tham-ái có 3 loại ấy mà thôi yo asesavirāganirodho: Niết-bàn nào diệt tận được 3 loại tham-ái không còn dư sót yo cāgo: Niết-bàn nào xả ly … yo paṭinissaggo: Niết-bàn nào từ bỏ … yā mutti: Niết-bàn nào giải thoát khổ … yo anālayo: Niết-bàn nào không còn luyến ái 4- Pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế (dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasacca) 7- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! Idaṃ kho pana dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ: pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế là chân-lý mà bậc Thánh-nhân đã chứng ngộ Ayameva maggo ariyo: Thánh-đạo này aṭṭhaṅgiko: hợp đủ 8 chánh Seyyathidaṃ: 8 chánh đó là Sammādiṭṭhi: chánh-kiến sammāsaṅkappo: chánh-tư-duy sammāvācā: chánh-ngữ sammākammanto: chánh-nghiệp sammā-ājivo: chánh-mạng sammāvāyamo: chánh-tinh-tấn sammāsati: chánh-niệm sammāsamādhi: chánh-định Tứ Thánh-đế luân chuyển theo tam-tuệ-luân 1- Khổ-Thánh-đế luân chuyển theo tam-tuệ-luân – Saccañāṇa: trí-tuệ-học trong tứ Thánh-đế – Kiccañāṇa: trí-tuệ-hành phận sự trong tứ Thánh-đế – Katañāṇa: trí-tuệ-thành hoàn thành xong phận sự tứ Thánh-đế 1.1- Saccañāṇa trong khổ-Thánh-đế 8- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! “Idaṃ dukkhaṃ ariyasaccan”ti: rằng: “khổ- Thánh-đế này” đó là ngũ-uẩn chấp-thủ là khổ- Thánh-đế me: Như-lai pubbe: trong thời-kỳ trước khi chưa trở thành Đức-Phật ananussutesu: chưa từng nghe dhammesu: trong các pháp khổ-Thánh-đế cakkhuṃ udapādi: tuệ-nhãn có khả năng thấy rõ, biết rõ khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh ñāṇaṃ udapādi: trí-tuệ biết rõ khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh paññā udapādi: trí-tuệ biết rõ chi tiết khổ- Thánh-đế đó là tái-sinh kiếp sau là khổ, già là khổ, v.v… ngũ-uẩn chấp-thủ là khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh vijjā udapādi: trí-minh diệt vô-minh, biết rõ thấu suốt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh āloko udapādi: ánh sáng trí-tuệ diệt được màn vô-minh tăm tối bao trùm phủ kín khổ- Thánh-đế ấy đã phát sinh 1.2- Kiccañāṇa trong khổ-Thánh-đế 9- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! “Taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ pariññeyyan”ti rằng:“khổ-Thánh-đế này là pháp nên biết rõ bằng trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới” me: Như-lai pubbe: trong thời-kỳ trước khi chưa trở thành Đức-Phật ananussutesu: chưa từng nghe dhammesu: trong các pháp khổ-Thánh-đế cakkhuṃ udapādi: tuệ-nhãn có khả năng thấy rõ, biết rõ khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh ñāṇaṃ udapādi: trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới thấy rõ, biết rõ khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh paññā udapādi: trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới thấy rõ, biết rõ chi tiết khổ-Thánh-đế đó là tái- sinh kiếp sau là khổ, già là khổ, v.v… ngũ-uẩn chấp-thủ là khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh vijjā udapādi: trí-minh diệt vô-minh, thấy rõ, biết rõ thấu suốt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh āloko udapādi: ánh sáng trí-tuệ-thiền-tuệ tam- giới diệt được màn vô-minh tăm tối bao trùm phủ kín khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh 1.3- Katañāṇa trong khổ-Thánh-đế 10- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! “Taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ pariññātan”ti rằng: “Khổ-Thánh-đế này là pháp nên biết rõ bằng trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới thì đã biết rõ xong bằng Thánh-đạo-tuệ.” me: Như-lai pubbe: trong thời-kỳ trước khi chưa trở thành Đức-Phật ananussutesu: chưa từng nghe dhammesu: trong các pháp khổ-Thánh-đế cakkhuṃ udapādi: tuệ-nhãn có khả năng thấy rõ, biết rõ khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh ñāṇaṃ udapādi: trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới thấy rõ, biết rõ khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh paññā udapādi: trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam- giới thấy rõ, biết rõ chi tiết khổ-Thánh-đế đó là tái-sinh kiếp sau là khổ, già là khổ, v.v… ngũ- uẩn chấp-thủ là khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh vijjā udapādi: trí-minh đã diệt tận được vô- minh, thấy rõ, biết rõ thấu suốt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh āloko udapādi: ánh sáng trí-tuệ-thiền-tuệ siêu- tam-giới đã diệt tận được màn vô-minh tăm tối bao trùm phủ kín khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh 2- Nhân sinh khổ-Thánh-đế luân chuyển theo tam-tuệ-luân 2.1- Saccañāṇa trong nhân sinh khổ-Thánh-đế 11- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! “Idaṃ dukkhasamudayaṃ ariyasaccan”ti rằng:“nhân sinh khổ-Thánh-đế này” đó là tham- ái là nhân sinh khổ-Thánh-đế. me: Như-lai pubbe: trong thời-kỳ trước khi chưa trở thành Đức-Phật ananussutesu: chưa từng nghe dhammesu: trong các nhân sinh khổ-Thánh-đế cakkhuṃ udapādi: tuệ-nhãn có khả năng thấy rõ, biết rõ nhân sinh khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh ñāṇaṃ udapādi: trí-tuệ biết rõ nhân sinh khổ- Thánh-đế ấy đã phát sinh paññā udapādi: trí-tuệ biết rõ chi tiết các nhân sinh khổ-Thánh-đế có 108 loại tham-ái đó là 3 loại taṇhā là kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā nhân với 6 loại đối-tượng là sắc- ái, thanh-ái, hương-ái, vị-ái, xúc-ái, pháp-ái thành 18 loại tham-ái, rồi nhân với 2 bên là bên trong của mình và bên ngoài mình của người khác thành 36 loại, rồi nhân với 3 thời là thời quá-khứ, thời hiện-tại, thời vị-lai gồm có 108 loại tham-ái là nhân sinh khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh vijjā udapādi: trí-minh diệt vô-minh biết rõ thấu suốt nhân sinh khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh āloko udapādi: ánh sáng trí-tuệ diệt được màn vô-minh tăm tối bao trùm phủ kín nhân sinh khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh 2.2- Kiccañāṇa trong nhân sinh khổ-Thánh-đế 12- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! “Taṃ kho panidaṃ dukkhasamudayaṃ ariya- saccaṃ pahātabban”ti rằng:“nhân sinh khổ- Thánh-đế này là pháp nên diệt bằng trí-tuệ- thiền-tuệ tam-giới.” me: Như-lai pubbe: trong thời-kỳ trước khi chưa trở thành Đức-Phật ananussutesu: chưa từng nghe dhammesu: trong các nhân sinh khổ-Thánh-đế cakkhuṃ udapādi: tuệ-nhãn có khả năng thấy rõ, biết rõ nhân sinh khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh ñāṇaṃ udapādi: trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới thấy rõ, biết rõ nhân sinh khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh paññā udapādi: trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới thấy rõ, biết rõ chi tiết nhân sinh khổ-Thánh-đế có 108 loại tham-ái đó là 3 loại taṇhā là kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā nhân với 6 loại đối- tượng là sắc-ái, thanh-ái, hương-ái, vị-ái, xúc-ái, pháp-ái thành 18 loại tham-ái, … gồm có 108 loại tham-ái là nhân-sinh khổ-Thánh-đế đã phát sinh vijjā udapādi: trí-minh diệt vô-minh, thấy rõ, biết rõ thấu suốt nhân sinh khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh āloko udapādi: ánh sáng trí-tuệ-thiền-tuệ tam- giới diệt được màn vô-minh tăm tối bao trùm phủ kín nhân sinh khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh 2.3- Katañāṇa trong nhân sinh khổ-Thánh-đế 13- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! “Taṃ kho panidaṃ dukkhasamudayaṃ ariya- saccaṃ pahīnan”ti rằng: “nhân sinh khổ-Thánh- đế này là pháp nên diệt bằng trí-tuệ-thiền-tuệ tam- giới thì đã diệt tận xong bằng Thánh-đạo-tuệ.” me: Như-lai pubbe: trong thời-kỳ trước khi chưa trở thành Đức-Phật ananussutesu: chưa từng nghe dhammesu: trong các nhân sinh khổ-Thánh-đế cakkhuṃ udapādi: tuệ-nhãn có khả năng thấy rõ, biết rõ nhân sinh khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh ñāṇaṃ udapādi: trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam- giới thấy rõ, biết rõ nhân sinh khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh paññā udapādi: trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới thấy rõ, biết rõ chi tiết các nhân sinh khổ-Thánh- đế có 108 loại tham-ái đó là 3 loại taṇhā là kāmataṇhā, bhavataṇhā, vibhavataṇhā nhân với 6 loại đối-tượng là sắc-ái, thanh-ái, hương-ái, vị- ái, xúc-ái, pháp-ái thành 18 loại tham-ái … gồm có 108 loại tham-ái là nhân-sinh khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh vijjā udapādi: trí-minh diệt vô-minh, thấy rõ, biết rõ thấu suốt nhân sinh khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh āloko udapādi: ánh sáng trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới đã diệt tận được màn vô-minh tăm tối bao trùm phủ kín nhân sinh khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh 3- Diệt khổ-Thánh-đế luân chuyển theo tam- tuệ-luân 3.1- Saccañāṇa trong diệt khổ-Thánh-đế 14- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! “Idaṃ dukkhanirodhaṃ ariyasaccan”ti rằng: “diệt khổ-Thánh-đế này” đó là Niết-bàn là diệt khổ-Thánh-đế me: Như-lai pubbe: trong thời-kỳ trước khi chưa trở thành Đức-Phật ananussutesu: chưa từng nghe dhammesu: trong các pháp diệt khổ-Thánh-đế cakkhuṃ udapādi: tuệ-nhãn có khả năng biết rõ diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh ñāṇaṃ udapādi: trí-tuệ biết rõ diệt khổ- Thánh-đế ấy đã phát sinh paññā udapādi: trí-tuệ biết rõ chi tiết các pháp diệt khổ-Thánh-đế có 2 loại đó là sa upādisesanibbāna, anupādisesanibbāna, có 3 loại đó là animittanibbāna, appaṇihitanibbāna, suññatanibbāna là diệt khổ-Thánh-đế đã phát sinh vijjā udapādi: trí-minh diệt vô-minh, biết rõ thấu suốt diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh āloko udapādi: ánh sáng trí-tuệ diệt được màn vô-minh tăm tối bao trùm phủ kín diệt khổ- Thánh-đế ấy đã phát sinh 3.2- Kiccañāṇa trong diệt khổ-Thánh-đế 15- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! “Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhaṃ ariya- saccaṃ sacchikātabban”ti rằng: “diệt khổ-thánh- đế này là pháp nên chứng ngộ bằng trí-tuệ- thiền-tuệ tam-giới.” me: Như-lai pubbe: trong thời-kỳ trước khi chưa trở thành Đức-Phật ananussutesu: chưa từng nghe dhammesu: trong các pháp diệt khổ-Thánh-đế cakkhuṃ udapādi: tuệ-nhãn có khả năng thấy rõ, biết rõ diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh ñāṇaṃ udapādi: trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới thấy rõ, biết rõ diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh paññā udapādi: trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới thấy rõ, biết rõ chi tiết các pháp diệt khổ-Thánh-đế có 2 loại đó là sa upādisesanibbāna, anupādisesa- nibbāna, có 3 loại đó là animittanibbāna, appaṇihitanibbāna, suññatanibbāna là diệt khổ- Thánh-đế đã phát sinh vijjā udapādi: trí-minh diệt vô-minh, thấy rõ, biết rõ thấu suốt diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh āloko udapādi: ánh sáng trí-tuệ-thiền-tuệ tam- giới diệt được màn vô-minh tăm tối bao trùm phủ kín diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh 3.3- Katañāṇa trong diệt khổ-Thánh-đế 16- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! “Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhaṃ ariyasaccaṃ sacchikatan”ti rằng: “diệt khổ- Thánh-đế này là pháp nên chứng ngộ bằng trí- tuệ-thiền-tuệ tam-giới thì đã chứng ngộ xong bằng Thánh-đạo-tuệ.” me: Như-lai pubbe: trong thời-kỳ trước khi chưa trở thành Đức-Phật ananussutesu: chưa từng nghe dhammesu: trong các pháp diệt khổ-Thánh-đế cakkhuṃ udapādi: tuệ-nhãn có khả năng thấy rõ, biết rõ diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh ñāṇaṃ udapādi: trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới thấy rõ, biết rõ diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh paññā udapādi: trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới thấy rõ, biết rõ chi tiết các pháp diệt khổ-Thánh-đế có 2 loại đó là sa upādisesanibbāna, anupādisesa- nibbāna, có 3 loại đó là animittanibbāna, appaṇihitanibbāna, suññatanibbāna là diệt khổ- Thánh-đế đã phát sinh vijjā udapādi: trí-minh diệt vô-minh, thấy rõ, biết rõ thấu suốt diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh āloko udapādi: ánh sáng trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới đã diệt tận được màn vô-minh tăm tối bao trùm phủ kín diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh 4- Pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế luân chuyển theo tam-tuệ-luân 4.1- Saccañāṇa trong pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế 17- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! Idaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariya- saccan”ti rằng: “pháp-hành dẫn đến diệt khổ- Thánh-đế này” đó là pháp-hành bát-chánh-đạo là pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế me: Như-lai pubbe: trong thời-kỳ trước khi chưa trở thành Đức-Phật ananussutesu: chưa từng nghe dhammesu: trong các pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế cakkhuṃ udapādi: tuệ-nhãn có khả năng biết rõ pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh ñāṇaṃ udapādi: trí-tuệ biết rõ các pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh paññā udapādi: trí-tuệ biết rõ chi tiết các pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế đó là pháp-hành bát-chánh-đạo hợp đủ 8 chánh là chánh-kiến, chánh-tư-duy, chánh-ngữ, chánh- nghiệp, chánh-mạng, chánh-tinh-tấn, chánh- niệm, chánh-định là pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế đã phát sinh vijjā udapādi: trí-minh diệt vô-minh, biết rõ thấu suốt các pháp-hành dẫn đến diệt khổ- Thánh-đế ấy đã phát sinh āloko udapādi: ánh sáng trí-tuệ diệt được màn vô-minh tăm tối bao trùm phủ kín các pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh 4.2- Kiccañāṇa trong pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế 18- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! “Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhagāminī paṭi- padā ariyasaccaṃ bhāvetabban”ti rằng: “pháp- hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế này là pháp nên tiến hành bằng trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới.” me: Như-lai pubbe: trong thời-kỳ trước khi chưa trở thành Đức-Phật ananussutesu: chưa từng nghe dhammesu: trong các pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế cakkhuṃ udapādi: tuệ-nhãn có khả năng thấy rõ, biết rõ pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh ñāṇaṃ udapādi: trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới thấy rõ, biết rõ pháp-hành dẫn đến diệt khổ- Thánh-đế ấy đã phát sinh paññā udapādi: trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới thấy rõ, biết rõ chi tiết các pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế đó là pháp-hành bát-chánh-đạo hợp đủ 8 chánh là chánh-kiến, chánh-tư-duy, chánh-ngữ, chánh-nghiệp, chánh-mạng, chánh- tinh-tấn, chánh-niệm,chánh-định là pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế đã phát sinh vijjā udapādi: trí-minh diệt vô-minh, thấy rõ biết rõ thấu suốt các pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh āloko udapādi: ánh sáng trí-tuệ-thiền-tuệ tam- giới diệt được màn vô-minh tăm tối bao trùm phủ kín các pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh- đế ấy đã phát sinh 4.3- Katañāṇa trong pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế 19- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! “Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ bhāvitan”ti rằng: “Pháp- hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế này là pháp nên tiến hành bằng trí-tuệ-thiền-tuệ tam-giới thì đã tiến hành xong bằng Thánh-đạo-tuệ.” me: Như-lai pubbe: trong thời-kỳ trước khi chưa trở thành Đức-Phật ananussutesu: chưa từng nghe dhammesu: trong các pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế cakkhuṃ udapādi: tuệ-nhãn có khả năng thấy rõ, biết rõ pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh ñāṇaṃ udapādi: trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam- giới thấy rõ, biết rõ pháp-hành dẫn đến diệt khổ- Thánh-đế ấy đã phát sinh paññā udapādi: trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới thấy rõ, biết rõ chi tiết các pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế đó là pháp-hành bát-chánh- đạo hợp đủ 8 chánh là chánh-kiến, chánh-tư- duy, chánh-ngữ, chánh-nghiệp, chánh-mạng, chánh-tinh-tấn,chánh-niệm,chánh-định là pháp- hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế đã phát sinh vijjā udapādi: trí-minh diệt vô-minh, thấy rõ, biết rõ thấu suốt các pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh āloko udapādi: ánh sáng trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới đã diệt tận được màn vô-minh tăm tối bao trùm phủ kín các pháp-hành dẫn đến diệt khổ-Thánh-đế ấy đã phát sinh Chưa hoàn thành tam-tuệ-luân, chưa khẳng định 20- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! Yāvakīvañca: cho đến khi nào me: Như-lai imesu catūsu ariyasaccesu: tứ Thánh-đế này evaṃ: như vậy tiparivaṭṭaṃ: tam-tuệ-luân dvādasākāraṃ: 3×4 thành 12 loại trí-tuệ yathābhūtaṃ: đúng như thật-tánh ñāṇadassanaṃ: trí-tuệ-thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ na suvisuddhaṃ: chưa hoàn toàn trong sạch thanh-tịnh ahosi: phát sinh Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! Tāva: trí-tuệ-thiền-tuệ chưa hoàn toàn trong sạch thanh-tịnh cho đến khi nào ahaṃ: Như-lai Sadevake: cùng với 5 cõi trời dục-giới loke: trong cõi-giới samārake: cõi trời dục-giới vasavatti (thứ 6) sabrahmake: các tầng trời sắc-giới phạm-thiên sassamaṇabrahmaṇiyā: cùng với sa-môn bà- la-môn pajāya: cõi-giới chúng sinh sadevamanussāya: Đức-vua và toàn thể dân chúng “anuttaraṃ: vô thượng sammāsambodhiṃ: Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác abhisambuddho’ti: rằng: đã chứng đắc thành neva paccaññāsiṃ: chưa khẳng định. Hoàn thành tam-tuệ-luân rồi, mới khẳng định 21- Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! Yato ca kho: khi nào me: Như-lai imesu catūsu ariyasaccesu evaṃ tiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ suvisuddhaṃ: hoàn toàn trong sạch thanh-tịnh ahosi: đã phát sinh Bhikkhave: – Này chư tỳ-khưu! Atha: khi ấy ahaṃ: Như-lai sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrahmaṇiyā pajāya sadevamanussāya " anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisam- buddho 'ti paccaññāsiṃ." Trí-tuệ quán triệt 22- Me: đối với Như-lai Ñāṇañca pana dassanaṃ: trí-tuệ quán triệt udapādi: đã phát sinh rõ ràng akuppā: không bao giờ hư hại cả me: của Như-lai vimutti: A-ra-hán Thánh-quả-tuệ ayamantimā jāti: sinh kiếp chót natthi: không còn dāni: kiếp hiện-tại này punabbhavo: tái-sinh kiếp sau (không còn nữa) iti ñāṇadassanaṃ: trí-tuệ quán triệt như vậy Nhóm 5 tỳ-khưu vô cùng hoan hỷ 23-Idamavoca Bhagavā: Đức-Thế-Tôn thuyết giảng bài kinh Dhammacakkappavattanasutta này Attamanā pañcavaggiyā bhikkhū Bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti: Nhóm 5 tỳ-khưu vô cùng hoan hỷ lời giáo huấn của Đức-Thế-Tôn, đồng thanh thốt lời hoan-hỷ Sādhu! Sādhu! Lành thay! Lành thay! Ngài Đại-Trưởng-lão Koṇḍañña trở thành bậc Thánh Nhập-lưu 24- Imasmiṃ ca pana veyyākaraṇasmiṃ: bài kinh văn xuôi này bhaññamāne: khi đang thuyết giảng āyasmato Koṇḍaññassa: đối với Ngài Đại- Trưởng-lão Koṇḍaññassa virajaṃ: đại-thiện-tâm trong sạch khỏi bụi dơ phiền-não vītamalaṃ: diệt tận được 2 loại phiền-não là tà-kiến và hoài-nghi không còn dư sót dhammacakkhuṃ: pháp-nhãn đó là Nhập-lưu Thánh-đạo-tuệ chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế udapādi: phát sinh rõ ràng “yaṃ kiñci: tất cả pháp-hữu-vi nào trong tam-giới samudayadhammaṃ: có trạng-thái sinh lên rồi sabbaṃ taṃ: tất cả pháp-hữu-vi ấy nirodhadhammaṃ: đều có trạng-thái diệt Chư-thiên phạm-thiên đồng tán dương ca tụng 25- Pavattite ca pana: thuyết giảng Bhagavatā: Đức-Thế-Tôn Dhammacakke: kinh Chuyển-pháp-luân bhummā devā: chư-thiên trên mặt đất saddam: lời tán dương ca tụng anussāvesuṃ: đồng thời thốt lên lời tán dương ca tụng etaṃ dhammacakkaṃ: kinh Chuyển-pháp- luân ấy Bhagavatā: Đức-Thế-Tôn Bārāṇasiyaṃ: gần kinh-thành Bārāṇasī Isipatane migadāye: trong khu rừng phóng sinh nai gọi Isipatana anuttaraṃ dhammacakkaṃ: kinh Chuyển- pháp-luân vô thượng pavattitaṃ: được thuyết giảng appaṭivattiyaṃ: không thể thuyết giảng được kenaci samaṇena vā: hoặc không có sa-môn nào kenaci brahmaṇena vā: không có bà-la-môn nào kenaci devena vā: hoặc không có vị chư-thiên nào kenaci mārena vā: hoặc không có mara nào kenaci brahmunā vā: không có vị phạm-thiên nào kenaci vā: không có vị nào lokasmiṃ: trong toàn cõi-giới chúng sinh iti anussāvesuṃ: cùng đồng thanh tán dương ca tụng như vậy * Bhummānaṃ devānaṃ: của toàn thể chư- thiên trên địa cầu saddaṃ: lời tán dương ca tụng sutvā: sau khi lắng nghe cātumahārājikā devā: toàn thể chư-thiên cõi trời tứ Đại-Thiên-vương saddaṃ: lời tán dương ca tụng anussāvesuṃ: cũng đồng thanh tán dương ca tụng theo rằng: “Etaṃ Bhagavatā Bārāṇasiyaṃ Isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakka pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇema vā brahmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin" ti. * Cātumahārājikānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā tāvatiṃsā devā saddamanussāvesuṃ: toàn thể chư-thiên cõi trời Tam-thập-tam-thiên lắng nghe lời tán dương ca tụng của toàn thể chư- thiên cõi trời tứ-Đại-Thiên-vương, cũng đồng thanh tán dương ca tụng theo rằng: “Etaṃ Bhagavatā Bārāṇasiyaṃ Isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakka pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇema vā brahmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin" ti. * Tāvatiṃsānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā yāmā devā saddamanussāvesuṃ: toàn thể chư- thiên cõi trời Dạ-ma-thiên lắng nghe lời tán dương ca tụng của toàn thể chư-thiên cõi trời Tam-thập-tam-thiên, cũng đồng thanh tán dương ca tụng theo rằng: “Etaṃ Bhagavatā Bārāṇasiyaṃ Isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakka pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇema vā brahmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin" ti. * Yāmānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā tusitā devā saddamanussāvesuṃ: toàn thể chư-thiên cõi trời Đâu-suất-đà-thiên lắng nghe lời tán dương ca tụng của toàn thể chư-thiên cõi trời Dạ-ma-thiên, cũng đồng thanh tán dương ca tụng theo rằng: “Etaṃ Bhagavatā Bārāṇasiyaṃ Isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakka pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇema vā brahmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin" ti. * Tusitānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā nimmānaratī devā saddamanussāvesuṃ: toàn thể chư-thiên cõi trời Hoá-lạc-thiên lắng nghe lời tán dương ca tụng của toàn thể chư-thiên cõi trời Đâu-suất-đà-thiên, cũng đồng thanh tán dương ca tụng theo rằng: “Etaṃ Bhagavatā Bārāṇasiyaṃ Isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakka pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇema vā brahmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin" ti. * Nimmanaratīnaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā paranimmitavasavattī devā saddamanussāvesum: toàn thể chư-thiên cõi trời Tha-hoá-tự-tại-thiên lắng nghe lời tán dương ca tụng của toàn thể chư-thiên cõi trời Hoá-lạc-thiên, cũng đồng thanh tán dương ca tụng theo rằng: “Etaṃ Bhagavatā Bārāṇasiyaṃ Isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakka pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇema vā brahmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin" ti. * Paranimmitavasavattīnaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā brahmakāyikā devā saddamanussāvesuṃ: toàn thể phạm-thiên trên các tầng trời sắc-giới phạm-thiên lắng nghe lời tán dương ca tụng của toàn thể chư-thiên cõi trời Tha-hoá-tự-tại-thiên, cũng đồng thanh tán dương ca tụng theo rằng: “Etaṃ Bhagavatā Bārāṇasiyaṃ Isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakka pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇema vā brahmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmin" ti. Itiha: lời tán dương ca tụng vang dội toàn cõi- giới chúng-sinh tena khaṇena: ngay thời khắc ấy tena layena: ngay lúc ấy tena muhuttena: ngay tích-tắc ấy yāva brahmalokā: đến tận tầng trời sắc-giới phạm-thiên tột đỉnh Sắc-cứu-cánh-thiên. saddo: lời tán dương ca tụng abbhuggacchi: vang dội lên 10 ngàn toàn cõi-giới chuyển động 26- Ayañca dasasahassilokadhātu: 10 ngàn toàn cõi-giới chúng-sinh saṃkampi: chuyển động lên xuống, sampakampi:chuyển động nhấc lên nhấc xuống sampavedhi: chuyển động bên này bên kia Hào quang lan tỏa 27- Appamāṇo ca: không có giới hạn, vô biên uḷāro: lan tỏa rộng khắp mọi nơi obhāso: ánh sáng hào quang loke: trong toàn cõi-giới chúng-sinh pāturahosi: phát sinh rõ ràng atikkamma: gấp bội devānaṃ: của toàn chư-thiên, chư phạm-thiên devānubhāvanti: oai lực của chư-thiên, chư phạm-thiên cả thảy Đức-Thế-Tôn thốt lời khen 28- Atha kho Bhagavā: Khi ấy, Đức-Thế-Tôn imaṃ udānaṃ: lời khen udānesi: tự thốt lên “Aññāsi vata bho Koṇḍañño! – Này chư vị! Quả thật Koṇḍañña đã chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế rồi! Aññāsi vata bho Koṇḍañño!” – Này chư vị! Quả thật Koṇḍañña đã chứng ngộ chân-lý tứ Thánh-đế rồi! Iti hi: lời tán dương ca tụng như vậy āyasmato Koṇḍaññassa: của Ngài Đại- Trưởng-lão Koṇḍañña “Aññāsikoṇḍañño” tveva nāmaṃ ahosi: Aññāsikoṇḍañña là tên mới của Ngài Koṇḍañña Ngài Đại-Trưởng-lão Aññāsikoṇḍañña xin xuất gia 29- Atha kho: Sau khi trở thành bậc Thánh Nhập-lưu ấy āyasmā Aññāsikoṇḍañño: Ngài Đại-Trưởng- lão Aññāsikoṇḍañña diṭṭhadhammo: có chánh-kiến thấy rõ, biết rõ chân-lý tứ Thánh-đế pattadhammo: chứng đạt được chân-lý tứ Thánh-đế viditadhammo: biết rõ được chân-lý tứ Thánh-đế pariyogāḷhadhammo: đã thấu suốt chân-lý tứ Thánh-đế bằng trí-tuệ-thiền-tuệ siêu-tam-giới tiṇṇavicikiccho: đã vượt qua khỏi mọi hoài- nghi vigatakathaṃkatho: không còn nghi ngờ thế này thế kia nữa vesārajjappatto: đạt đến tâm dũng cảm vững chắc aparappaccayo: do nhân-duyên tự mình chứng ngộ, nên không còn tin nơi người khác nữa satthusāsane: có đức-tin vững chắc trong lời giáo huấn của Đức-Thế-Tôn Bhagavantaṃ: với Đức-Thế-Tôn etaṃ vacanaṃ: lời xin phép xuất gia avoca: kính bạch Bhante: Kính bạch Đức-Thế-Tôn, ahaṃ: con là Aññāsikoṇḍañña Labheyya: xin được phép Bhagavato: nơi Đức-Thế-Tôn santike: đến hầu gần với Đức-Thế-Tôn pabbajjaṃ: trở thành sa-di labheyyaṃ: xin được phép upasampadaṃ: trở thành tỳ-khưu Trở thành tỳ-khưu theo cách gọi Ehi Bhikkhu 30- Bhagavā avoca: Đức-Thế-Tôn truyền dạy: “Ehi bhikkhu” – Này tỳ-khưu! Ehi: Con hãy đến với Như-lai “svākkhāto dhammo, cara brahmacariyaṃ sammā dukkhassa antakiriyāyā”: Chánh-pháp mà Như-lai đã thuyết dạy hay ở phần đầu, phần giữa, phần cuối, con hãy nên thực-hành phạm- hạnh cao thượng đó là chứng đắc 3 Thánh-đạo, Thánh-quả bậc cao cuối cùng, để giải thoát khỏi khổ tử sinh luân-hồi trong tam-giới Sau khi Đức-Thế-Tôn truyền dạy như vậy tassa āyasmato: của Ngài Đại-Trưởng-lão Aññāsikoṇḍañña Sāva upasampadā ahosi: trở thành tỳ-khưu theo cách gọi Ehi Bhikkhu như vậy (Xong phần từ ngữ trong bài Kinh Chuyển- Pháp-Luân).HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.23/4/2021.

No comments:

Post a Comment