Monday, October 1, 2018

PHÁP HOA
TẠI SAO KINH NẦY CÓ TÊN LÀ: KINH HOA SEN DIỆU PHÁP (Saddharma-pundarĩka sũtra, sanscrit)
oOo

oOo    
A-NGHIÊN CỨU MỘT
Trước tiên chúng ta thử tìm hiểu các từ ngữ: Diệu, Pháp, Diệu PhápHoa Sen sau đó là KINH HOA SEN DIỆU PPHÁP.
I-DIỆU
1-LÝ THẬT TƯỚNG
Diệu: thông thường có nghĩa là tốt đẹp, sáng láng, ngon ngọt, sạch sẽ, tinh tế, nhiệm mầu. Những ý nghĩa ấy diễn tảkhôn cùng, nói không thể hết ý, nghĩ bàn không cùng tột...Tức là cái lý thật tướng. Diệu trái nghĩa với Thô, Trược. Diệu tức là thoát khỏi phiền nãongũ dục của phàm phu, sau đó có được Ngũ Diệu của Thánh Giả. Năm cảnh tịnhdiệu như: Sắc, Thinh, Hương, Vị, Xúc, tất cả đều tịnh diệu, cho nên gọi là Năm Diệu. Đó là năm đức tịnh diệu ở cõiCực Lạc. Năm Diệu là từ dùng để chỉ cõi Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.
Chư Phật và chư Đại Bồ Tát có rất nhiều chỗ Diệu. Như: cảnh diệu, trí diệu, hạnh diệu, vị(ngôi vị)diệu, pháp diệu, cảm ứng diệu, thần thông diệu, thuyết pháp diệuquyến thuộc diệulợi ích diệu, lại thêm bổn nhơn diệu, bổn quà diệu,quốc độ diệu,thọ mạn diệu, Niết Bàn diệu v.v...  
2-TUYỆT ĐỐI KHÔNG CÓ GÌ SO SÁNH ĐƯỢC
Diệu là một thuật ngữ. Phiên âm theo tiếng Phạn là Mạn Nhũ, Tát, Tô.
Diệu có nghĩa là tuyệt đối, không gì có thể so sánh được. Pháp Hoa Huyền Nghĩa quyển 1 viết: “Diệu có nghĩa là tinh vi thâm viễn”. Đại Nhật Kinh Sớ quyển 1 viết: “Diệu có nghĩa là không gì sánh bằng, không gì hơn thế”. Pháp Hoa Huyền Tán quyển 1 viết: “Tát có nghĩa là chính diệu” . Bí Tạng Ký quyển cuối viết: “Tô có nghĩa là Diệu”...  
3-KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
Diệu còn có ý nghĩa là không thể nghĩ bàn. Kinh điển thù thắng gọi là Diệu Điểnđặc biệt chỉ cho kinh Pháp HoaĐạo lý sâu xa mầu nhiệm gọi là Diệu LýCảnh giới bất khả tư nghì gọi là Diệu Cảnh. Pháp không thể nghĩ bàn, không thểso sánh gọi là Diệu Pháp. Quả nhờ Diệu NhânDiệu Hạnh mà chứng được gọi là Diệu Quả, quả Phật.
Tham khảoĐại Nhật Kinh Sớ quyển 1. Pháp Hoa Huyền Nghĩa quyển 1. Pháp Hoa Dụ Ý. Pháp Hoa Huyền Tánquyển 1. Phạm Ngữ Tạp DanhBí Tạng Ký quyển cuối. Thập Diệu v.v...   
II-PHÁP
1-NGHĨA THÔNG THƯỜNG
Pháp: tiếng sanscrit là Dharma. Tiếng Pali là: Dhamma. Nghĩa là bất kỳ việc gì dù nhỏ hay lớn, hửu hình hay vô hình, tốt hoặc xấu, hửu vi hay vô vi, chơn thật hay hư vọng đều có thể gọi là Pháp. Và từ những nguyên tắc, những lẽ thường, lý nhỏ cho đến tôn giáo, luật chung bao gồm vũ trụhư không... cũng gọi là Pháp. Nhưng trong Phật học từ Pháp còn có nghĩa là Phật Pháp.
2-“PHÁP” TRONG CÁC BỘ LUẬN
Luận Đại Trí Độ viết: “Tất cả Pháp chia ra làm 3: Hửu Vi PhápVô Vi PhápBất Khả Thuyết Pháp. Ai có đủ ba món Pháp ấy thì có tất cả Pháp”.
Theo Duy Thức Luận giải thích chữ Pháp như sau: “Tự thể nhậm trì và quỉ sinh vật giải”. Tự thể nhậm trì có nghĩa là có khả năng duy trì bảo hộ tự thể. Như trúc có tự thể của trúc. Mai có tự thể của mai. Vật hửu hình có tự thể hửu hình. Vật vô hình có tự thể vô hình. Mỗi một sự vật hiện tượng đều duy trì bảo hộ tự thể của mình. “Quỉ sinh vật giải” là mỗi sự vật đã có tự thể của nó đều là trạng thái duy trì bảo hộ tự thể nhưng chỉ hạn chế ở những sự vật hiện tượng có thật thể, chứ không bao gồm những khái niệm không có thực thể, tức là bao quát hết tất cả.
Tham khảoNhân Minh Luận Sớ Minh Đăng Sao, Q.2. Nhân Minh Luận Sớ Thụy Nguyên Ký, Q. 2. Luận Đại Tỳ Bà Sa, Q.73. Luận Câu Xá , Q.1. Pháp Uẩn Túc Luận, Q. 10. Luận Đại Trí Độ, Q. 48. V.v...
3-“PHÁP” TRONG KINH ĐIỂN           
Trong Kinh Kim Cương Đức Phật dạy chư tỳ kheo rằng: “Đối với Pháp, chớ nên chấp có, mà cũng chớ nên chấp không. Hãy giữ cho tự nhiên. Pháp mà Đức Phật thuyết để độ chúng sanh chẳng khác chiếc bè. Hễ giác ngộ rồi, thì chẳng còn nương vào Pháp nữa.”
Kinh Vô Lượng Thọ nói: Bồ Tát giác ngộ và hiểu rỏ rằng các Pháp, mọi sự mọi vật như mộng, như trò ảo thuật, như tiếng dội. Lại biết rằng Pháp như điện chớp, như ảnh trong gương. Rốt cuộc thì được đạo Bồ Tát, có đủ các công đứccăn bản, được thọ ký thành Phật.Tất cả các ngài đều thông đạt Vô Ngã.
Trong kinh Du Già quyển 71 có nói về 5 thứ Pháp: Giáo PhápHành Pháp, Nhiếp Pháp, Thọ PhápChứng Pháp.
Tham khảo: Kinh Tạp A Hàm, Q. 31. Kinh Chư Pháp Bản trong Trung A Hàm, Q. 28. Kinh Đại Phẩm Bát Nhã, Q. 4.Kinh Đại Thừa Lăng Già, Q.5. Kinh Đại Bảo Tích, Q. 52. V.v...
III-HOA SEN
1-HOA SEN TẠI ẤN ĐỘ
Tại Ấn Độ hoa sen có 4 loại:
1/-Utpala- Ưu Bát La hoa – màu xanh
2/-Kumuda- Câu Vật Đầu hoa – màu vàng
3/-Padma- Ba Đầu Ma hoa – màu đỏ 
4/-Pundarika- Phân Đà Lị – trắng 
Thêm một loại nữa là Nilotpala- Ni Lư Bát La là năm.
Năm loại nầy dịch chung là Hoa Sen. Nhưng thông thường gọi hoa sen là chỉ loại hoa sen Phân Đà Lị màu trắng. Loại hoa nầy có 3 thời. Khi chưa nở gọi là Mukula, Khuất Ma La. Khi nở rồi và khi sắp tàn gọi là Ca Ma La, Kamala. Đang độ nở đẹp thì gọi là Phân Đà Lị, Pundarika.
Tham khảoPháp Hoa Du Ý. Pháp Hoa Huyền Tán, Q. 1. Đại Nhật Kinh Sớ, Q. 15. V.v...
2-Ý NGHĨA HOA SEN
Hoa Sen tiếng sanscrit gọi là Padmâ. Hoa Sen có tiếng là trong sạch nhất, thơm tho nhất trong các loại hoa. Có 4 đặc tính như sau:
1/-Ở nơi bùn lầy mà không dính dơ
2/-Hoa cùng quả kết thành một lúc
3/-Loài bướm không đáp xuống mà nút lấy mùi thơm được
4/-Hàng phụ nữ không dùng hoa sen trang điểm mà giắt lên đầu.
Các Kinh thường nói trong ao thất bảo ở cõi Cực Lạc có đủ 4 loại hoa sen ấy. Mùi rất thơm diệu và tinh khiết.
Trong Kinh Bốn Mươi Hai Chương Đức Phật dạy rằng: Bậc Sa Môn sấn mình vào cõi ô trược nầy, phải giữ như hoa sen mọc dưới bùn mà chẳng dính dơ. Đối với phụ nữ phải có tư tưởng đứng đắn như sau: Già thì coi như mẹ, lớn tuổi hơn thì coi như chị ruột, ngang bằng tuổi xem như anh em ruột, nhỏ tuổi xem như con gái mình. Bởi Hoa Sen là hoa chẳng nhiểm ô trược, cho nên Phật lấy đó làm biểu hiệu, để hiện tỏ Chánh Giác tự nhiên của Ngài: Ngài sanh ở thế gian, cũng như hoa sen chẳng dính bùn dù mọc lên từ trong bùn.
Tịnh Độ Tông cũng lấy hoa sen làm chỗ ở: Những người vãng sanh về cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, đều do nơihoa sen mà sinh ra.
Chư Phật và chư Bồ Tát đều lấy hoa sen làm chỗ đứng, ngồi. Ấy cũng vì lấy cái ý nghĩa hoa sen hàm tàng thế giới, từ nơi thế gian mà ra khỏi thế gian.
Cũng theo nghĩa hoa sen là hoa thanh khiết, không nhiễm trược nên lấy hoa sen đặt tên cho áo Cà SaLiên Hoa Y, tức là áo thanh tịnh, khng nhiễm dơ.
3-NELUMBO NUCIFERA – HOA SEN
Đó là tên khoa học của hoa senHoa sen thuộc họ thực vật nảy nầm từ củ của năm trước, mọc ở các đầm lầy hoặc ao hồ. Mùi hoa thơm thường nở vào mùa hạ, màu sắc rất đẹp. Tuy sinh ra từ bùn nhơ nhưng hoa rất thanh khiết. Người Ấn Độ, từ ngàn xưa rất quí hoa nầy. Theo sử thi Mahãbhãrata, ma ha bà la đa, của Ấn Độ, khi trời đất mới nở thì ngay rốn của Visnu, Tì Thấp Nô, mọc lên một hoa sen, giữa hoa có Phạm Thiên ngồi kiết giàsáng tạo ra muôn vật. Tì Thấp Nô và vị thần phối ngẫu của mình đều dùng hoa sen làm biểu tượng.
Còn có thuyết cho rằng hoa sen là một trong bày thứ báu của trời Kubera, Đa VănPhật Giáo cũng quí hoa sen như Phật và Bồ Tát dùng hoa sen làm tòa.
Theo luận Nhập Đại Thừa quyển hạ, Bồ Tát Thập Địa sinh ở cung trời Ma Hê Thủ La ngồi trên tòa Bảo Liên Hoa Vương mà thành Phật.
Kinh Quán Vô Lượng Thọ viết: Đức Phật A Di Đà, các Bồ Tát Quan Âm và Thế Chí đều ngồi trên tòa hoa sen báu. Những chúng sanh nào được sinh về Tịnh Độ Phương Tây, khi lâm chungĐức Phật A Di Đà và các vị Bồ Tát cầm đài sen đến đón.
Tại Ấn Độhoa sen được chia làm hai loại chính:
1/-Padma, theo tiếng Pãli, Hoa Bát Đầu Ma, cũng gọi là Bát Đàm Ma hoaBát Đặc Ma hoa, Bát Nỗ Ma hoa, Ba Đàm hoa, Ba Mộ hoa.
Tên khoa học là Nymphaea alba, tức là hoa sen màu đỏ.
2/-Utpala, theo tiếng sanscrit; Uppala, theo tiếng Pãli. Tức là hoa Ưu Bát La. Cũng gọi là Ưu Bát hoa, Ô Đát Bát La hoa, Ưu Bạt La hoa. Tên khoa học là Nymphaea Terragona. Tức là hoa sen màu xanh.
Theo Nhiếp Đại Thừa Luận Thích, quyển 15, bản dịch đời Lương thì hoa sen có 4 đặc tính là: Thơm, sạch, mềm mại,dễ thương được dùng để ví dụ 4 đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của pháp giới chân như. Trong Mật Giáo hoa sen được ví dụ cho trái tim của con người, để biểu thị ý nghĩa chúng sinh vốn có tâm trong sạch như hoa sen, tức là Tịnh Bồ Đề Tâm.
Tham khảo: Kinh Trung A Hàm, Q.23. Kinh Hoa Thủ, Q.1. Kinh Đại Nhật, Q.5. Luận Đại Trí Độ, Q.9. Pháp Hoa KinhHuyền Nghĩa, Q.7. Phật Giáo Mỹ Thuật Nghiên CứuMạn Đồ La Chi Nghiên Cứu. The Buddhism of Tibet của L. A Waddell. V.v...
IV-HOA SEN DIỆU PHÁP
Hoa Sen Diệu Pháp là giáo pháp được thuyết giảng trong Kinh Pháp HoaQuang Trạch giải thích Diệu Pháp là nhân của đạo Nhất Thừa, là quả của đạo Nhất Thừa. Mười bốn phẩm đầu nói về nhân của Nhất Thừa. Mười bốn phẩm cuối nói về quả của Nhất Thừa. Gọi Nhân quả của Nhất Thừa là Diệu Pháp, pháp tinh diệu. Để đối lại với Thô Pháp,Pháp không tinh diệu của Tam ThừaLiên Hoahoa sen, là thí dụ. Cánh sen và hạt sen đồng thời tồn tại biểu trưng cho nhân và quả của Nhất Thừa đồng thời.
Tông Thiên Thai giải thích Diệu Pháp là Pháp Quyền, Thực của 10 giới, mười như. Mười như của 9 giới là Quyền. Mười như của Phật giới là Thực. Pháp quyền thực nầy đều là thực tướng “Tức Không”, “Tức Giả”, “Tức Trung” cho nên gọi là Diệu, mầu nhiệmHoa sen ví với mối quan hệ giữa Quyền và Thực: cánh sen là Quyền, hạt sen là Thực. 
Đức Phật từ sau ngày thành Phật đến nay, tức lúc giảng Kinh Pháp Hoa, chỉ mới nói các Quyền Pháp, pháp tạm thời, làm phương tiện để giờ đây thật sự muốn nói về Thực Pháp, Giáo Pháp Chân Thực. Cũng ví như các cánh sen, vì hạt sen mà nở ra. Điều nầy có nghĩa là vì muốn hiển thực pháp mà tạm thời nói Quyền Pháp.
Kế đến là nói rõ tất cả quyền pháp được nói từ trước đến giờ đều chỉ là phương tiện để hiển bày thực pháp Nhất Thừa. Cũng ví như các cánh sen nở ra để hiển bày hạt sen. Điều nầy có nghĩa là “Hoa nở hạt hiện”. Khi thực phápNhất Thừa đã hiển hiện rõ ràng thì ngoài Thực Pháp không có quyền pháp. Tất cả quyền pháp đều là Thực Pháp. Cũnhg ví như hạt đã thành thì cánh sen rụng. Điều nầy có nghĩa là “Hoa rụng hạt thành”. 
Như vậy hoa sen được dùng để biểu trưng sự thi thiết quyền pháp để mở bày Thực Pháp.
Theo Từ Ân thì giải thích “Diệu Pháp” là Nhân Quả Nhất ThừaHoa sen có hai  ý nghĩa là nhô lên khỏi mặt nước và mở bung ra. Dùng nghĩa nhô lên khỏi mặt nước để biểu trưng chân lý “Sở Thuyên”, chân lý được giải thích rõ ràng, đã nhô lên khỏi mặt nước của Nhị Thừa. Còn dùng nghĩa mở bung ra để biểu trưng giáo pháp “Năng Thuyên”, giáo phápgiải thích, có khả năng mở bày chân lý. Đây là theo nghĩa trong luận Pháp Hoa của ngài Thiên Thân. Còn ngài Gia Tường thì giải thích “Diệu Pháp” là Pháp Nhất Thừa
Tham khảoPháp Hoa Quang Trạch Sớ. Pháp Hoa Huyền Nghĩa. Luận Pháp HoaKhuy Cơ Pháp Hoa Huyền Tán.Pháp Hoa Huyền Luận. V.v...
V-KINH HOA SEN DIỆU PHÁP               
Tiếng Sanscrit đọc là Saddharmapundarika Sũtra. Ngài Cưu Ma Thập vâng lệnh nhà vua dịch ra chữ Hán khoản năm 400 Tây lịch. Tông Thiên Thai và Tông Pháp Hoa dùng kinh nầy làm kinh căn bản cho tông phái mình để nghiên cứu,tu tập
Đại khái nội dung Kinh: Tất cả chúng sinh đều có Phật Tánh. Tuy tạm thời còn mờ ám, sa ngã hoặc bị đọa lạc nhưng nếu biết tu tập họ sẽ trở nên giác ngộ. Như thế những chúng sinh dù hiện tại đang còn trong đường sinh tử mê lầmnhưng tất cả đều có khả năng tu hành đi đến giác ngộ hoàn toànthành Phật.
Trong phẩm 21, Như Lai Thần Lực, trong lời chúc lụy của Đức Phật với chư Bồ Tát, Phật dạy rằng: Kinh Hoa SenDiệu Pháp công đức vô lượng vô biên kể không xiết. Bao nhiêu những pháp của Phật, bao nhiêu những sự cao thượng của Phật, bao nhiêu những lực thần thông của Phật, bao nhiêu những mật pháp cao siêu của Phật, bao nhiêu những pháp thậm thâm vi diệu của Phật, ta đều có dạy vắn tắt trong Kinh Hoa Sen Diệu Pháp nầy...
Trong phẩm thứ 23, Đức Phật có giảng về công hiệu của kinh nầy như sau: Kinh nầy tức là Phật Như Lai. Luôn che chởbảo hộ cho chúng sanh khỏi các tai ách, giải thoát cho chúng sanh khỏi các phiền não. Nó như nguồn nướctrong sạch đối với kẻ khát. Như hệ thống sưởi ấm đối với người đang bị lạnh. Như áo quần đối với kẻ rách. Như đoàn trẩy buôn đối với thương khách. Như mẹ hiền đối với bầy con thơ. Như chiếc ghe đối với người muốn qua sông. Như thầy thuốc đối với người đang bị bệnh. Như đèn sáng đối với người trong tối. Như châu ngọc đối với người muốn giàu sang ...
Trong phẩm Phổ Hiền Bồ Tát thứ 28, Đức Phật dạy rằng: các thiện namtín nữ nào được 4 pháp như dưới đây đều có thể thọ trì Kinh Hoa Sen Diệu Pháp:
1/-Người ấy phải được chư Phật độ hộ (ai phát tâm tu trì đều được chư Phật độ hộ)
2/-Người ấy phải sanh nảy căn lành cội đức nơi mình
3/-Người ấy phải có lòng chánh định chắc quyết
4/-Người ấy phải nhận thấy mình có quả Phật vì muốn cứu vớt chúng sanh.
Kinh Hoa Sen Diệu Pháp do E. Burnouf dịch ra tiếng Pháp từ chữ Phạn dưới tên là “Lotus de la Bonne Loi” in tại Paris năm 1852. Phần kinh là 283 trang, kể cả phần chú thích là 434 trang. Sách đã trở thành một áng văn rất có giá trịtrong .HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/10/2018.

No comments:

Post a Comment