Friday, June 4, 2021
Trung Bộ Kinh
Majjhima Nikaya
7. Kinh Ví dụ tấm vải
(Vatthùpama sutta)
Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo". --"Bạch Thế Tôn", các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
-- Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía - vải ấy sẽ được màu nhuộm không tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm không sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải không được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi ác chờ đợi một tâm cấu uế. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải thanh tịnh, trong sạch, một người thợ nhuộm nhúng tấm vải ấy vào thuốc nhuộm này hay thuốc nhuộm khác - hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc tía, vải ấy sẽ được màu nhuộm tốt đẹp, sẽ được màu nhuộm sạch sẽ. Vì sao vậy? Này các Tỷ-kheo, vì tấm vải được trong sạch. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cõi thiện chờ đợi một tâm không cấu uế.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những cấu uế của tâm? Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm, sân là cấu uế của tâm, phẫn là cấu uế của tâm, hận là cấu uế của tâm, hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo, quá mạn, kiêu, phóng dật là cấu uế của tâm.
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào nghĩ rằng: "Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm" và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ tham dục, tà tham cấu uế của tâm; nghĩ rằng: "Sân là cấu uế của tâm", và sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ sân, cấu uế của tâm; phẫn... hận... hư ngụy... não hại, tật đố, xan tham, man trá, khi cuống... ngoan cố... cấp tháo... mạn... quá mạn... kiêu; nghĩ rằng: "Phóng dật là cấu uế của tâm" thì sau khi biết vậy, vị ấy đoạn trừ phóng dật, cấu uế của tâm.
Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo biết được: "Tham dục, tà tham là cấu uế của tâm", tham dục, tà tham cấu uế của tâm được diệt trừ, ... sân... phẫn... hận... hư ngụy... não hại... tật đố... xan tham... man trá... khi cuống... ngoan cố... cấp tháo... mạn... quá mạn... kiêu; khi nào Tỷ-kheo biết được: "Phóng dật là cấu uế của tâm", phóng dật, cấu uế của tâm được diệt trừ, Tỷ-kheo ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Phật: Ngài là bậc Thế Tôn, A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Ðiều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng Sĩ, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp: Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí chứng hiểu.
Vị ấy thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với chúng Tăng: Diệu hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Như lý hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn; Chánh hạnh là chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám vị. Chúng Tăng, đệ tử Thế Tôn, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.
Ðến giai đoạn này, đối với vị ấy có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly. Vị ấy tự nghĩ: "Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Thế Tôn", và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
Vị ấy tự nghĩ: "Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Pháp", và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
Vị ấy tự nghĩ: "Ta thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với Tăng", và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan hỷ sanh; từ hỷ, thân được khinh an, thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
Vị ấy tự nghĩ: "Ðến giai đoạn này, đối với Ta, có sự từ bỏ, có sự diệt trừ, có sự giải thoát, có sự đoạn trừ, có sự xả ly", và chứng được nghĩa tín thọ, chứng được pháp tín thọ, chứng được hân hoan liên hệ đến pháp; từ hân hoan, hỷ sanh; từ hỷ, thân khinh an; thân khinh an, cảm giác được lạc thọ; với lạc thọ, tâm được Thiền định.
Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy, - nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy. Này các Tỷ-kheo, như một tấm vải cấu uế, nhiễm bụi, nếu bỏ trong nước sạch, trở thành thanh tịnh sạch sẽ, như bỏ vào lò lửa trở thành thanh tịnh sạch sẽ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo, giới như vậy, pháp như vậy, tuệ như vậy, - nếu có ăn đồ khất thực với gạo thơm, hạt đen được vất đi, với các món canh, với các món ăn khác, cũng không vì vậy trở thành một chướng ngại cho vị ấy.
Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
Vị ấy an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi... (như trên)... với tâm câu hữu với hỷ... (như trên)... biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân.
Vị ấy biết: "Có cái này, có cái hạ liệt, có cái cao thượng, có sự giải thoát vượt qua các tưởng".
Do vị ấy biết như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là Tỷ-kheo đã được tắm rửa với sự tắm rửa nội tâm.
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja đang ngồi không xa Thế Tôn. Rồi Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja bạch Thế Tôn:
-- Tôn giả Gotama có đi đến sông Bahuka để tắm rửa không?
-- Này Bà-la-môn, sông Bahuka là gì? Sông Bahuka có làm được lợi ích gì?
-- Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng giải thoát. Tôn giả Gotama, sông Bahuka được nhiều người xem là có khả năng đem lại công đức. Và nhiều người đã gội sạch các ác nghiệp trong sông Bahuka.
Rồi Thế Tôn nói lên những bài kệ sau đây cho Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja:
Trong sông Bàhukà
Tại Adhikakkà,
Tại cả sông Gayà
Và Sundarikà,
Tại Sarassatì
Và tại Payàna,
Tại Bàhumatì,
Kẻ ngu dầu thường tắm,
Ác nghiệp không rửa sạch.
Sông Sundarikà
Có thể làm được gì?
Payàga làm gì?
Cả sông Bàhukà?
Không thể rửa nghiệp đen
Của kẻ ác gây tội.
Ðối kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày tốt,
Với kẻ sống thanh tịnh,
Ngày nào cũng ngày lành,
Các tịnh nghiệp thanh tịnh,
Luôn thành tựu thiện hạnh.
Này vị Bà-la-môn,
Chỉ nên tắm ở đây,
Khiến mọi loài chúng sanh,
Ðược sống trong an ổn.
Nếu không nói dối trá,
Nếu không hại chúng sanh,
Không lấy của không cho,
Có lòng tín, không tham,
Ði Gayà làm gì,
Gayà một giếng nước?
Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày. Nay con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tăng. Mong con được xuất gia với Tôn giả Gotama! Mong con được thọ đại giới!
Bà-la-môn Sundarika Bharadvaja được xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới. Trong thời gian ngắn sau khi thọ đại giới, Tôn giả Bharadvaja sống độc cư, không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần và không bao lâu sau khi tự thân chứng ngộ với thượng trí, chứng đắc và an trú ngay trong hiện tại, vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này các Thiện nam tử xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy đã thắng tri: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". Như vậy, Tôn giả Bharadvaja trở thành một vị A-la-hán nữa.
Majjhima Nikaya 7
1. Như vậy tôi đã nghe nói. Một lần Đức Thế Tôn đang ở tại Savatthi , trong Jeta Grove, tu viện của Anathapindika . Ở đó, ông đã nói với các nhà sư như vậy: "Các nhà sư." - "Thưa ngài đáng kính", họ đáp. Đức Thế Tôn nói thế này:
2. "Này các nhà sư, giả sử một tấm vải bị ố và bẩn, và một người thợ nhuộm nhúng nó vào một thứ thuốc nhuộm nào đó, dù là xanh lam hay vàng hay đỏ hay hồng, thì thuốc nhuộm sẽ xấu đi và có màu không tinh khiết. Và tại sao lại như vậy? Vì tấm vải không sạch, cũng vậy, các Tỳ-kheo, khi tâm bị ô uế, [ 1 ] có thể mong đợi một điểm đến bất hạnh [trong một kiếp tương lai].
"Các nhà sư, giả sử một tấm vải sạch và sáng, và một người thợ nhuộm nhúng nó vào một loại thuốc nhuộm nào đó, dù là xanh lam hay vàng hay đỏ hay hồng, thì nó sẽ nhuộm tốt và có màu thuần khiết. Và tại sao vậy? Bởi vì Cũng vậy, các Tỳ kheo, khi tâm không bị ô uế, có thể mong đợi một điểm đến hạnh phúc [trong một kiếp tương lai].
3. "Và hỡi các Tỳ kheo, có phải là cấu uế của tâm không? [ 2 ] (1) Tham lam và lòng tham bất chính là cấu uế của tâm; (2) ác ý là cấu uế của tâm; (3) Sân hận là một ô uế tâm trí; (4) thù địch ... (5) gièm pha ... (6) độc đoán ... (7) đố kỵ ... (8) ghen tị ... (9) đạo đức giả ... (10) lừa đảo ... (11) cố chấp ... (12) cho rằng ... (13) tự phụ ... (14) kiêu ngạo ... (15) phù phiếm ... (16) cẩu thả là sự ô uế của tâm trí. [ 3 ]
4. “Biết rõ, này các Tỳ-kheo, lòng tham muốn và lòng tham bất chính làm cấu uế của tâm, người xuất gia bỏ chúng. [ 4] Biết ác ý là một cấu uế của tâm, anh ta từ bỏ nó. Biết tức giận là một cấu uế của tâm, anh ta từ bỏ nó. Biết thù địch là một sự ô uế của tâm trí, anh ta từ bỏ nó. Biết sự phủ nhận là một cấu uế của tâm trí, anh ta từ bỏ nó. Biết độc đoán là một cấu uế của tâm, anh ta từ bỏ nó. Biết ghen tị là một cấu uế của tâm trí, anh ta từ bỏ nó. Biết ghen tị là một cấu uế của tâm trí, anh ta từ bỏ nó. Biết đạo đức giả là một cấu uế của tâm trí, anh ta từ bỏ nó. Biết gian lận là một sự ô uế của tâm trí, anh ta từ bỏ nó. Biết cố chấp là một cấu uế của tâm trí, anh ta từ bỏ nó. Biết cho rằng đó là một cấu uế của tâm trí, anh ta từ bỏ nó. Biết tự phụ là một cấu uế của tâm trí, anh ta từ bỏ nó. Biết kiêu ngạo là ô uế của tâm, anh ta từ bỏ nó. Biết sự phù phiếm là một cấu uế của tâm trí, anh ta từ bỏ nó. Biết sơ suất là cấu uế của tâm, anh ta bỏ nó.
5. "Khi ở trong người xuất gia, người biết rằng tham lam và tham lam bất chính là cấu uế của tâm, thì tham lam và tham lam bất chính này đã được bỏ đi; khi ở trong người biết thiện ý đó là cấu uế của tâm, thì ác ý này. đã bị bỏ rơi; ... khi trong người biết rằng sơ suất là một cấu uế của tâm, thì sơ suất này đã bị bỏ rơi - [ 5 ]
6. - Người ấy nhờ đó mà đạt được niềm tin vững chắc nơi Đức Phật [ 6 ]: 'Như vậy quả thật là Đức Thế Tôn: Ngài đã thành tựu, giác ngộ hoàn toàn, được phú cho nhãn quan [rõ ràng] và hạnh kiểm [đức hạnh], siêu phàm, biết thế giới. , người dẫn đường có một không hai của những người đàn ông thông minh, thầy của các vị thần và loài người, giác ngộ và ban phước. '
7. - Người ấy đạt được niềm tin vững chắc nơi Giáo Pháp: 'Được Đức Thế Tôn tuyên bố tốt đẹp là Giáo Pháp, có thể thực hiện được ở đây và bây giờ, có kết quả tức thì, hãy trả giá cho bạn đến xem, có thể tiếp cận và biết được một cách riêng lẻ bởi người khôn ngoan.
8. - Người ấy đạt được niềm tin vững chắc nơi Tăng đoàn như vậy: 'Tăng đoàn của các đệ tử của Đức Thế Tôn đã bước vào con đường tốt, bước vào con đường thẳng, đã bước vào con đường chân chính, đã bước vào con đường thích hợp; nghĩa là bốn cặp đàn ông, tám loại người; Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn này đáng được quà tặng, đáng được tiếp đãi, đáng được cúng dường, đáng được cung kính chào đón, là lĩnh vực công đức vô song đối với thế gian. '
9. "Khi anh ta đã từ bỏ, từ bỏ, buông bỏ, từ bỏ và từ bỏ [phiền não] một phần, [ 7 ] anh ta biết: 'Tôi có lòng tin vững chắc nơi Đức Phật ... trong Giáo pháp ... trong Tăng đoàn; và anh ta có được lòng nhiệt thành đối với mục tiêu, có được sự nhiệt tình đối với Giáo pháp, [ 8 ] đạt được sự vui mừng khi kết nối với Giáo pháp. Khi anh ta vui mừng, niềm vui sẽ sinh ra trong anh ta; vui vẻ trong tâm trí, thân thể anh ta trở nên yên bình; yên tĩnh, anh ta cảm thấy hạnh phúc; và tâm trí của người đang hạnh phúc trở nên tập trung. [ 9 ]
10. "Anh ta biết: 'Tôi đã từ bỏ, từ bỏ, buông bỏ, từ bỏ và từ bỏ [các phiền não] một phần'; và anh ta có được lòng nhiệt thành đối với mục tiêu, có được sự nhiệt tình đối với Giáo pháp, có được sự vui mừng kết nối với Giáo pháp. Khi nào. người đó vui mừng, niềm vui được sinh ra trong người đó; vui trong tâm trí, thân thể anh ta trở nên yên tĩnh; khi thân thể anh ta yên tĩnh, anh ta cảm thấy hạnh phúc; và tâm trí người vui vẻ trở nên tập trung.
11. “Nếu, này các Tỳ kheo, một vị tu sĩ có đức hạnh, định lực và trí tuệ như vậy [ 10 ] ăn thức ăn khất thực gồm gạo đồi chọn lựa cùng với các loại nước sốt và cà ri, thì điều đó cũng không có gì trở ngại đối với vị ấy. [ 11 ]
"Giống như tấm vải bị vấy bẩn và bẩn thỉu trở nên sạch sẽ và sáng sủa với sự trợ giúp của nước tinh khiết, hoặc giống như vàng trở nên sạch sẽ và sáng sủa với sự trợ giúp của lò nung, cũng vậy, nếu một tu sĩ có đức hạnh như vậy, định lực và trí tuệ như vậy. ăn thực phẩm bố thí bao gồm gạo đồi lựa chọn cùng với các loại nước sốt và cà ri, thậm chí điều đó sẽ không có gì trở ngại đối với anh ta.
12. "Ngài an trụ, với tâm từ bi tràn ngập [ 12 ] một hướng của thế giới, tương tự như vậy thứ hai, tương tự như vậy thứ ba, tương tự như vậy thứ tư, và như vậy trên, dưới, xung quanh và khắp mọi nơi, và với tất cả như đối với chính mình; anh ta tiếp cận toàn thể vũ trụ với lòng từ bi, với tâm trí trở nên vĩ đại, cao cả, vô biên và không có thù hận và ác ý.
"Người ấy an trụ, tràn ngập tâm từ bi ... niềm vui thông cảm ... an nhiên về một hướng của thế giới, tương tự như vậy, hướng thứ hai, tương tự hướng thứ ba, tương tự như vậy hướng thứ tư, và như vậy trên, dưới, xung quanh và khắp mọi nơi, và đối với tất cả như đối với chính mình; anh ta cư xử với toàn thể vũ trụ một cách bình đẳng, với một tâm trí trở nên vĩ đại, cao cả, vô biên và không có thù hận và ác ý.
13. "Anh ấy hiểu điều gì tồn tại, điều gì thấp kém, điều gì xuất sắc, [ 13 ] và đâu là lối thoát khỏi lĩnh vực nhận thức [toàn bộ] này. [ 14 ]
14. "Khi anh ta biết và thấy [ 15 ] theo cách này, tâm anh ta trở nên giải thoát khỏi cái hộp của dục vọng, được giải thoát khỏi cái hộp của sự trở thành, được giải thoát khỏi cái hộp của vô minh. [ 16 ] Khi được giải thoát, có tri thức: 'Đó là giải thoát'; và anh ta biết: 'Sinh đã hết, đã sống đời thanh tịnh, nhiệm vụ đã xong, không còn việc này nữa.' Một tu sĩ như vậy được gọi là 'một người được tắm bằng sự tắm rửa bên trong. "[ 17 ]
15. Lúc bấy giờ bà la môn Sundarika Bharadvaja [ 18 ] đang ngồi cách Đức Thế Tôn không xa, và ông nói với Đức Thế Tôn như vậy: "Nhưng Đạo sư Gotama có đi đến sông Bahuka để tắm không?"
"Tốt gì, thưa bà la môn, sông Bahuka là gì? Sông Bahuka có thể làm gì?"
"Quả thật, thưa Đạo sư Gotama, nhiều người tin rằng sông Bahuka đem lại sự thanh lọc, nhiều người tin rằng sông Bahuka đem lại công đức. Vì trong sông Bahuka nhiều người đã rửa sạch những việc ác mà họ đã làm."
16. Sau đó Đức Thế Tôn nói với Bà la môn Sundarika Bharadvaja trong những khổ thơ này: [ 19 ]
Bahuka và Adhikakka , [ 20 ]
Gaya và Sundarika ,
Payaga và Sarassati ,
Và dòng suối Bahumati -
Một kẻ ngốc có thể ở đó mãi mãi tắm rửa, Tuy nhiên sẽ không thanh tẩy những việc làm đen của mình.
Sundarika có thể mang gì để vượt qua?
Payaga và Bahuka có thể làm gì?
Họ không thể thanh tẩy một kẻ làm ác,
Một kẻ thực hiện những hành động tàn bạo và độc ác.
Người trong sạch có tấm lòng hơn bao giờ hết Ngày
lễ Thanh tẩy [ 21 ] và Ngày Thánh; [ 22 ]
Người có tấm lòng trong sạch làm việc thiện
Có sự quan sát của người ấy hoàn hảo cho mọi thời đại.
Hỡi bà la môn, chính tại đây, con nên tắm rửa [ 23 ]
Để biến mình thành nơi nương tựa an toàn cho tất cả chúng sinh.
Và nếu bạn nói không đúng sự thật,
Cũng không có tác hại gì cho hơi thở,
Cũng không nhận lấy những gì không được cung cấp,
Với đức tin và không hám lợi,
Để Gaya ra đi, nó sẽ làm gì cho bạn?
Hãy để Gaya của bạn được tốt!
17. Khi điều này được nói ra, Bà la môn Sundarika Bharadvaja đã nói như vậy:
"Thật tuyệt vời , thưa Đạo sư Gotama! Thật tuyệt vời , thưa Đạo sư Gotama! Giáo pháp đã được Đạo sư Gotama giảng dạy rõ ràng theo nhiều cách, như thể Ngài đang chiến đấu với kẻ bị lật đổ, tiết lộ điều ẩn giấu, chỉ đường cho kẻ bị lạc, hoặc đang cầm một ngọn đèn. trong bóng tối cho những người có thị lực nhìn thấy các hình thức.
18. "Tôi đến với Sư phụ Gotama để quy y, và đến với Giáo pháp, và Tăng đoàn. Xin cho tôi được thọ giới [thọ giới đầu tiên] dưới thời Sư phụ Gotama, xin cho tôi được nhận đầy đủ!
19. Và bà la môn Sundarika Bharadvaja đã nhận [thọ giới đầu tiên] xuất gia dưới quyền của Đức Thế Tôn, và ông đã được nhận đầy đủ. Và không lâu sau khi nhập học đầy đủ, ở một mình, ẩn dật, siêng năng, hăng hái và kiên quyết, Bharadvaja đáng kính bằng sự chứng ngộ của chính mình đã hiểu và đạt được trong đời này, mục tiêu tối cao của cuộc sống thanh tịnh, mà những người đàn ông có gia đình tốt sẽ xuất thân. cuộc sống quê hương thành vô gia cư. Và ông đã trực tiếp tri thức như vậy: "Sinh đã kiệt, sinh mệnh thuần túy đã sống, nhiệm vụ đã xong, không còn việc này nữa".
Và Bharadvaja đáng kính đã trở thành một trong những vị A-la-hán.
Ghi chú
1 . “Cũng vậy, này các Tỳ kheo, nếu tâm bị ô uế ...” Comy: “Có thể hỏi tại sao Đức Phật lại cho ví dụ về tấm vải bẩn này. Ngài làm như vậy để chứng tỏ rằng nỗ lực mang lại kết quả to lớn. đó là chất bẩn (tức là đến từ bên ngoài; agantukehi malehi), nếu nó được giặt lại có thể trở nên sạch sẽ vì độ tinh khiết tự nhiên của vải. Nhưng trong trường hợp vải có màu đen tự nhiên, chẳng hạn như lông dê (đen), thì cần cố (rửa nó) sẽ là vô ích. Tương tự như vậy, tâm quá là bẩn bởi những ô nhiễm ngẫu nhiên (agantukehi kilesehi). Nhưng ban đầu, ở các giai đoạn của sự tái sinh (-consciousness) và (tiềm thức) kiếp, nó là tinh khiết trong suốt(pakatiya pana sakale pi patisandhi-bhavanga-vare pandaram eva). Như người ta đã nói (bởi Đấng Giác ngộ): 'Này các Tỳ-kheo, tâm sáng ngời, nhưng nó trở nên vấy bẩn bởi những phiền não bất chợt ' ( AN I.49 ). Nhưng bằng cách làm sạch nó người ta có thể làm cho nó sáng hơn, và công sức trong đó không phải là vô ích." [ Trở lại ]
2 . "Phiền não của tâm" (cittassa upakkilesa). Comy: "Khi giải thích về các phiền não tinh thần, tại sao Đức Thế Tôn lại đề cập đến tham lam trước? Bởi vì nó phát sinh trước. lòng tham phát sinh do ham muốn hiện hữu (bhava-nikanti).Khi đó các phiền não khác sẽ xuất hiện, được sản sinh tùy theo hoàn cảnh. Tuy nhiên, phiền não của tâm không chỉ giới hạn trong mười sáu sự được đề cập trong bài giảng này. Nhưng người ta nên hiểu rằng, bằng cách chỉ ra ở đây phương pháp, tất cả các phiền não đều được bao gồm. "Sub.Comy. Đề cập đến các phiền não bổ sung sau: sợ hãi, hèn nhát, vô liêm sỉ và thiếu thận trọng, thiếu kiên nhẫn, tham vọng xấu xa, v.v. [ Quay lại ]
3 . Mười sáu phiền não của tâm:
1. abhijjha-visama-tâm tham, tham lam và tham lam bất chính
2. byapada, bệnh sẽ
3. kodha, tức giận
4. upanaha, thù địch hoặc ác ý
5. makkha, phỉ báng hay gièm pha; khinh thường
6. palasa, độc đoán hoặc cho rằng
7. Issa, đố kỵ
8. macchariya, ghen tị, hoặc hám lợi; ích kỷ
9. maya, đạo đức giả hoặc lừa dối
10. satheyya, lừa đảo
11. thambha, cố chấp, tắc trách
12. sarambha,sự giả định hoặc sự ganh đua; sự dũng cảm
13. mana, tự phụ
14. atimana, kiêu ngạo, ngạo mạn
15. mada, vanity hoặc kiêu hãnh
16. pamada, cẩu thả hoặc không chú ý; trong ứng xử xã hội, điều này dẫn đến sự thiếu cân nhắc.
4 . “Biết tham lam, tham sân si bất chánh làm ô uế tâm, vị tỳ kheo bỏ chúng”.
Biết (viditva). Sub.Comy .: "Đã biết nó qua trí tuệ sơ khai (pubbabhaga-pañña của thế giới, tức là, trước khi đạt đến Nhập lưu) hoặc thông qua trí tuệ của hai con đường thấp hơn (Nhập lưu và Một lần trở lại). Vị ấy biết các phiền não về bản chất, nguyên nhân, sự chấm dứt và các phương tiện dẫn đến sự chấm dứt của chúng. " Việc áp dụng công thức của Tứ Diệu Đế đối với các phiền não đáng được chú ý.
Từ bỏ chúng (pajahati). Comy: "Anh ta từ bỏ phiền não tương ứng thông qua (sự đạt được) con đường cao quý nơi có 'từ bỏ bằng cách diệt trừ' (samucchedappahana-bìnhna ariya-maggena), " theo Sub.Comy. là "sự từ bỏ cuối cùng" (accantappahana). Trước khi đạt được các con đường cao thượng, mọi sự "từ bỏ" phiền não chỉ có tính chất tạm thời. Xem Nyanatiloka Thera, Từ điển Phật học, sv pahana.
Theo Comy., Mười sáu ô nhiễm cuối cùng đã được loại bỏ bởi các con đường cao quý (hoặc các giai đoạn của sự thánh thiện) theo thứ tự sau:
“Theo con đường Nhập lưu (sotapatti-magga) là từ bỏ: (5) gièm pha, (6) độc đoán, (7) đố kỵ, (8) ghen ghét, (9) đạo đức giả, (10) lừa đảo.
“ Bằng con đường Không trở lại (anagami-magga): (2) ác ý, (3) giận dữ, (4) ác tâm, (16) sơ suất.
" Theo con đường A-la-hán (arahatta-magga): (1) tham lam và tham lam bất chính, (11) cố chấp, (12) cho rằng, (13) tự phụ, (14) kiêu ngạo, (15) phù phiếm."
Nếu, trong nhóm thuật ngữ cuối cùng, lòng tham được hiểu theo nghĩa hạn chế là chỉ sự thèm muốn đối với năm đối tượng giác quan, thì cuối cùng nó bị bỏ rơi bởi con đường Không quay trở lại; và đây là theo Comy. ý nghĩa ở đây. Tuy nhiên, tất cả lòng tham, kể cả ham muốn vật chất tốt đẹp và phi vật chất, chỉ bị diệt trừ trên con đường A-la-hán; do đó phân loại theo thứ hai trong danh sách trên.
nhiều lần nhấn mạnh rằng bất cứ nơi nào trong văn bản của chúng tôi đề cập đến "sự bỏ rơi", thì tham chiếu đến Người không quay trở lại (anagami); vì cũng trong trường hợp các phiền não được khắc phục khi Nhập dòng (xem ở trên), các trạng thái tâm tạo ra các phiền não đó chỉ bị loại bỏ bằng con đường Không quay trở lại. [ Quay lại ]
5 . Comy. nhấn mạnh mối liên hệ của đoạn này với đoạn sau, nói rằng những tuyên bố về mỗi ô trong số mười sáu ô nhiễm phải được kết nối với các đoạn tiếp theo, ví dụ, "khi trong anh ta ... ý chí bị bỏ rơi, anh ta sẽ đạt được niềm tin vững chắc. .. "Do đó cấu trúc ngữ pháp của đoạn Pali gốc - mặc dù khá vụng về bằng tiếng Anh - đã được giữ lại trong bản dịch này.
Kinh nghiệm trực tiếp của người đệ tử về việc được giải thoát khỏi điều này hay sự nhiễm ô kia đối với anh ta trở thành một thử thách sống động về lòng tin tưởng trước đây vẫn chưa được chứng minh của anh ta đối với Đức Phật, Pháp và Tăng. Giờ đây, sự tin tưởng này đã trở thành một niềm tin chắc chắn, một niềm tin không thể lay chuyển, dựa trên kinh nghiệm. [ Quay lại ]
6 . “Niềm tin vững vàng” (aveccappasada). Comy: "niềm tin không thể lay chuyển và bất biến." Sự tự tin về bản chất đó không đạt được trước khi Nhập dòng bởi vì chỉ ở giai đoạn đó thì cuối cùng mới loại bỏ được kiềng xích của sự nghi ngờ đầy hoài nghi. Niềm tin vững chắc nơi Đức Phật, Giáo pháp và Tăng đoàn là ba trong bốn phẩm chất đặc trưng của một người chiến thắng Dòng chảy (sotapaññassa angani); thứ tư là đạo đức không gián đoạn, có thể được coi là ngụ ý trong Sec. 9 trong bài diễn văn của chúng tôi đề cập đến việc từ bỏ các phiền não. [ Quay lại ]
7 . "Khi anh ta đã từ bỏ ... (các phiền não) một phần" (yatodhi): nghĩa là, mức độ mà các phiền não tương ứng được loại bỏ bằng các con đường của sự tôn nghiêm (xem Chú thích 4 ). Odhi: giới hạn, giới hạn. yatodhi = yato odhi; cách đọc khác: yathodhi = yatha-odhi.
Tỳ khưu Ñanamoli dịch đoạn này như vậy: "Và bất cứ điều gì (từ trong số những sự không hoàn hảo đó), theo giới hạn (đặt ra bởi bất kỳ con đường nào trong ba con đường đầu tiên mà anh ta đã đạt được), đã bị từ bỏ, đã (vĩnh viễn) bị vứt bỏ, hãy buông bỏ, bị bỏ rơi, bị từ bỏ. "
Trong Vibhanga của Abhidhamma Pitaka, chúng ta đọc ở chương Jhana-vibhanga: "Ông ấy là một Tỳ khưu vì ông ấy đã từ bỏ các phiền não một cách có giới hạn; hoặc bởi vì ông ấy đã từ bỏ các cấu uế một cách không giới hạn" (odhiso kilesanam pahana b Tỳ-kheo; anodhiso kilesanam pahana b Tỳ-kheo). [ Quay lại ]
8 . “Đạt được sự nhiệt tình đối với mục tiêu, đạt được sự nhiệt tình đối với Giáo pháp” (labhati atthavedam labhati dhammavedam).
Comy .: "Khi xem xét (paccavekkhato) * sự từ bỏ các phiền não và lòng tin vững vàng của mình, niềm vui mạnh mẽ nảy sinh trong Người không trở lại trong ý nghĩ: 'Những phiền não như vậy và như vậy bây giờ đã được tôi từ bỏ.' Nó giống như niềm vui của một vị vua khi biết rằng một cuộc nổi loạn ở vùng biên cương đã được dẹp yên ”.
Nhiệt huyết (veda). Theo Comy., Từ veda xuất hiện trong các văn bản Pali với ba ý nghĩa: 1. Kinh điển ( Vệ Đà) (gantha), 2. niềm vui (somanassa), 3. tri thức (ñana). "Ở đây nó biểu thị niềm vui và kiến thức được kết nối với niềm vui đó."
Attha (được viết ở đây là "mục tiêu") và dhamma là một cặp thuật ngữ thường xuyên xuất hiện rõ ràng là nhằm bổ sung cho nhau. Thông thường chúng có nghĩa là chữ cái (dhamma) và tinh thần (hoặc ý nghĩa: attha) của giáo lý; nhưng điều này hầu như không phù hợp ở đây. Hai thuật ngữ này cũng xuất hiện trong bốn loại kiến thức phân tích (patisambhida-ñana; hay kiến thức về phân biệt giáo lý). Attha-patisambhida được giải thích là kiến thức phân biệt về "kết quả của một nguyên nhân"; trong khi dhamma-patisambhida quan tâm đến nguyên nhân hoặc điều kiện.
Comy. Bây giờ áp dụng cách giải thích tương tự cho đoạn văn bản hiện tại của chúng ta, nói rằng: "Attha-veda là lòng nhiệt thành nảy sinh trong người xem xét sự tự tin vững vàng của mình; dhamma-veda là sự nhiệt tình nảy sinh trong người xem xét 'sự từ bỏ một phần phiền não', đó là nguyên nhân của sự tự tin vững vàng đó ... "Do đó, hai thuật ngữ này đề cập đến" niềm vui có đối tượng của nó là niềm tin vững chắc nơi Đức Phật, v.v.; và niềm vui vốn có trong sự hiểu biết (về sự từ bỏ; somanassa -maya ñana). "
9 . Các khoản tương đương Pali cho loạt các cụm từ này * là: 1. pamojja (vui mừng), 2. piti-hỷ (vui mừng hay sung sướng), 3. passaddhi (tĩnh lặng), 4. sukha (hạnh phúc), 5. Ðịnh (nồng độ). Số 2, 3, 5 là yếu tố của sự giác ngộ (bojjhanga).Chức năng của sự tĩnh lặng ở đây là làm dịu bất kỳ sự bất ổn nhẹ nào về thể xác và tinh thần do niềm vui cuồng nhiệt, và do đó chuyển hóa sau này thành hạnh phúc thanh thản sau đó là sự hấp thụ thiền định. Đoạn văn thường xuyên xảy ra này minh họa tầm quan trọng được đưa ra trong Lời dạy của Đức Phật đối với hạnh phúc như một điều kiện cần thiết để đạt được sự định tâm và của sự tiến bộ tâm linh nói chung.
* [Ở đây các dạng danh từ được đưa ra, trong khi bản gốc, trong một số trường hợp, các dạng động từ.] [ Quay lại ]
10 . "Của đức hạnh như vậy, định như vậy, trí tuệ như vậy" (evam-silo evam-dhammo evam-pañño). Comy .: "Điều này đề cập đến (ba) phần (của Bát Chánh Đạo), đó là đức hạnh, định lực và trí tuệ (sila-, samadhi-, pañña-kkhandha), được liên kết (ở đây) với con đường Không quay trở lại . " Comy. chỉ đơn thuần ám chỉ dhammo đến phạm trù con đường của sự tập trung (samadhi-kkhandha). Phần phụ. trích dẫn một đoạn song song "evam-dhamma ti Bhagavanto ahesum," được tìm thấy trong Mahapadana Sutta (Digha 14), Acchariya-abbhutadhamma Sutta (Majjh. 123), và Nalanda Sutta của Satipatthana Samyutta. Digha Comy. giải thích về samadhi-pakkha-dhammanhư là "các trạng thái tinh thần thuộc về sự tập trung." [ Quay lại ]
: “Không có gì trở ngại,” tức là đối với việc đạt được con đường và quả vị (quả vị A-la-hán). Đối với một Người không quay trở lại, người đã loại bỏ xiềng xích của dục vọng, thì không có chấp trước vào thức ăn ngon. [ Quay lại ]
12 . "Với tâm Từ Bi" (metta-sahagatena cetasa). Điều này, và những điều sau đây, đề cập đến bốn Thần trú ẩn (brahma-vihara). Trên các mục này, xem Bánh xe số 6 và 7.[ Quay lại ]
13 . "Anh ấy hiểu cái gì hiện hữu, cái gì thấp kém, cái gì xuất sắc" (so 'atthi idam atthi hinam atthi panitam ...' pajanati).
Comy: "Sau khi chứng kiến sự thiền định của Người không quay trở lại về Thiên lý, Đức Thế Tôn giờ đây thể hiện sự thực hành minh sát (vipassana) của ngài, nhắm đến quả vị A-la-hán; và ngài chỉ ra sự đạt được nó bằng những lời:" Ngài hiểu những gì hiện hữu, 'v.v ... Người Không quay trở lại này, đã phát sinh từ sự thiền định về bất kỳ nơi nào trong bốn Thiên sở, được định nghĩa là' tâm ' (nama) chính những trạng thái của Thần ở và các yếu tố tinh thần liên quan đến chúng. Sau đó anh ta định nghĩa là' vật chất ' (sắc) tâm căn (hadaya-vatthu) là sự hỗ trợ vật chất (của tâm trí) và bốn yếu tố, về phần chúng, là sự hỗ trợ của nền tảng trái tim. Theo cách đó, ông định nghĩa là 'vật chất' các yếu tố và hiện tượng vật chất bắt nguồn từ chúng (bhutupadayadhamma). Khi định nghĩa 'tâm trí và vật chất' theo cách này, 'anh ta hiểu những gì đang tồn tại' (atthi idan'ti; lit. 'Có cái này'). Bằng cách đó, một định nghĩa về sự thật của đau khổ đã được đưa ra. "
"Sau đó, khi hiểu được nguồn gốc của sự đau khổ đó, anh ấy hiểu 'điều gì là thấp kém.' Qua đó, chân lý về nguồn gốc của đau khổ đã được xác định. Hơn nữa, bằng cách điều tra các phương tiện từ bỏ nó, anh ta hiểu "điều gì là tuyệt vời. Nhờ đó, chân lý của con đường đã được xác định." [ Quay lại ]
14 . "... và điều gì thoát khỏi lĩnh vực nhận thức (toàn bộ) này" (atthi uttari imassa saññaga-tassa nissaranam). Comy: "Anh ấy biết: 'Có Nibbana như một lối thoát ngoài nhận thức về Thần thông mà tôi đã đạt được." Do đó, chân lý của sự chấm dứt đã được xác định. " [ Quay lại ]
15 . Comy: "Khi nào, bằng tuệ giác (vipassana), anh ta biết được Tứ Diệu Đế theo bốn cách này (tức là 'cái gì tồn tại', v.v.); và khi anh ta nhìn thấy chúng bằng con đường trí tuệ (magga- pañña). [ Quay lại ]
16 . Kamasava bhavasava avijjasava. Việc đề cập đến sự giải thoát khỏi những kẻ ăn cắp (asava) chỉ ra sự đạt được quả vị A-la-hán của tu sĩ mà còn được gọi là "sự kiệt quệ của những kẻ ăn cắp" (asavakkhaya). [ Quay lại ]
17 . "Tắm bằng sự tắm trong" (sinato antarena sinanena). Theo Comy., Đức Phật đã sử dụng cụm từ này để đánh thức sự chú ý của Bà la môn Sundarika Bharadvaja, người đang ở trong hội đồng và người tin vào sự thanh lọc bằng nghi lễ tắm rửa. Đức Phật thấy trước rằng nếu ngài ca ngợi "sự thanh lọc bằng cách tắm rửa", thì người Bà la môn sẽ cảm thấy hứng thú để thọ giới theo ngài và cuối cùng đạt đến quả vị A-la-hán. [ Quay lại ]
18 . Bharadvaja là tên thị tộc của bà la môn. Sundarika là tên của dòng sông mà người Bà la môn đó gán cho quyền năng thanh tẩy. Xem thêm Kinh Sundarika-Bharadvaja trong Kinh Nipata. [ Quay lại ]
19 . Dựa trên phiên bản của Tỳ Kheo Ñanamoli, với một vài thay đổi. [ Quay lại ]
20 . Ba là pháo đài; bốn cái còn lại là sông.
21 . Văn bản có Phaggu là một ngày thanh tẩy brahminic trong tháng Phagguna (tháng Hai-tháng Ba). Ñanamoli dịch nó là "Lễ hội của mùa xuân."
22 . Uposatha.
23 . " Nó ở đây, 0 brahmin, mà bạn nên tắm." Comy: tức là, trong Khoảnh khắc của Đức Phật, trong vùng nước của Bát Chánh Đạo.
Trong Thi thiên về các chị em (Therigatha), nữ tu Punnika nói với một bà la môn như sau:
Bây giờ, ai, kẻ ngu dốt đến ngu dốt,
Hath đã nói với ngươi điều này: rằng phép rửa bằng nước
Từ nghiệp ác có thể được giải thoát?
Tại sao sau đó những con cá và những con rùa,
Những con ếch, những con thuyền buồm, những con cá sấu
Và tất cả những gì ám ảnh nước thẳng đến thiên đường
Sẽ đi. Phải, tất cả những ai nghiệp ác làm việc - Đồ
tể của cừu và lợn, người đánh cá, thợ săn trò chơi,
Kẻ trộm, kẻ giết người - vì vậy họ nhưng tự dội nước vào mình
, đều không có nghiệp xấu!HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.5/6/2021.
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment