Câu chuyện Phật giáo: Công đức xuất gia.

Công đức xuất gia tu hành thật không thể nghĩ bàn. Thực hành quán niệm (chỉ cần một trong mười niệm) sẽ thành tựu công đức, phước báo vô lượng.

1. Công đức xuất gia: xuất gia học đạo, không vào địa ngục
Một thời Phật ở Tỳ-xá-ly, bên ao Di-hầu, cùng với năm trăm chúng đại Tỳ-kheo.
Khi ấy Thế Tôn đến giờ đắp y, ôm bát, cùng A-nan vào thành Tỳ-xá-ly khất thực. Bấy giờ trong thành Tỳ-xá-ly có đại trưởng giả tên Tỳ-la-tiên. Người này giàu có, nhiều tài sản chẳng thể tính kể. Nhưng lại keo kiệt tham lam không có lòng bố thí, chỉ hưởng phước cũ, không tạo thêm phước mới. Lúc đó trưởng giả ấy đang cùng các dâm nữ ở hậu cung đàn hát, ca xướng vui chơi.
Thế Tôn đi đến hướng ấy, Ngài biết mà vẫn hỏi Tôn giả A-nan:
– Nay ta nghe tiếng hát xướng, kỹ nhạc là ở nhà nào?
A-nan bạch Phật:
– Đó là ở nhà trưởng giả Tỳ-la-tiên.
Phật bảo A-nan:
– Trưởng giả này sau bảy ngày sẽ chết và sanh trong địa ngục Thế Khốc. Vì sao thế? Đó là lẽ thường. Nếu người đoạn căn lành thì lúc mạng chung đều sanh trong địa ngục Thế Khốc. Nay trưởng giả này phước cũ đã hết, lại không chịu tạo phước mới.
A-nan bạch Phật:
– Có nhân duyên nào khiến trưởng giả này sau bảy ngày không chết chăng?
Phật bảo A-nan:
– Chẳng có nhân duyên nào mà làm ông ta không chết được. Những hạnh ông ta gieo trồng ngày xưa, hôm nay đã hết. Điều này không thể tránh khỏi.
A-nan bạch Phật:
– Có cách nào khiến trưởng giả này không sanh vào địa ngục Thế Khốc chăng?
Phật bảo:
– A-nan! Có cách này có thể khiến trưởng giả không vào địa ngục.
A-nan bạch Phật:
– Những nhân duyên nào khiến trưởng giả không vào địa ngục?
Phật bảo A-nan:
– Nếu trưởng giả này chịu cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia học đạo thì có thể khỏi tội này được…
2. Công đức xuất gia : Đại Ca Diếp quy y
Có một hôm, Đức Phật thị hiện tướng bệnh, ngài lặng lẽ nghỉ ngơi tịnh dưỡng. Vua Tần Bà Sa La nghe tin ấy, vội gọi ngự y là Kỳ Bà đi gặp Thế Tôn để trị bệnh cho Ngài.
Khi Đức Phật đã lành bệnh, ngự y Kỳ Bà cứ muốn đem một lễ vật nào để cúng dường Ngài. Nhưng nghĩ tới nghĩ lui, ông không biết phải tặng lễ vật nào mới thích hợp. Cuối cùng, ông nhớ đã có lần chữa bệnh cho vua nước láng giềng, và vị vua này đã đền ơn ông bằng cách tặng một bộ quần áo thượng hảo hạng. Loại quần áo này ngoài những bậc đế vương ra thì duy chỉ có Đức Phật mới xứng đáng mặc mà thôi. Ông đem bộ quần áo nói trên dâng lên Đức Phật và nói:
– Thế Tôn, từ khi con bái kiến Như Lai cho đến nay, trong lòng cứ thắc mắc một chuyện. Thế Tôn thường nói, trên thế gian này thân thể của chúng ta đáng quý trọng. Thế nhưng con thấy các vị đệ tử của Thế Tôn thường mặc quần áo rách rưới, dơ bẩn. Đứng trên cương vị của một y sĩ, con thấy có giải thích như thế nào đi nữa, làm như thế vẫn không hợp vệ sinh. Bộ quần áo này là do vua nước láng giềng thưởng tặng cho con. Xin cho con được đem cúng dường Phật, cho con được trồng chút ít hạt giống phúc đức. Con cũng cúi xin Thế Tôn hãy nói với chư tỳ-kheo, từ nay đừng mặc quần áo dơ bẩn rách rưới nữa.
Đức Phật không hề cố chấp vào một điều gì, nên đón nhận ý kiến của Kỳ Bà một cách vui vẻ. Và cho người đi truyền nói với chư đệ tử tỳ-kheo rằng:
– Mặc quần áo, không cần biết cũ hay mới, đều phải đơn sơ và sạch sẽ. Và nhất định phải được khử trùng bằng ánh sáng mặt trời. Nếu như tham đắm ưa thích những bộ quần áo đẹp đẽ sang trọng là một điều không phải, thì mặc y phục dơ bẩn rách rưới để tỏ ra mình là người học đạo cũng không đúng pháp.
Lời đức Phật được truyền ra rồi, dân chúng thành Vương Xá bèn tranh nhau may rất nhiều quần áo đem cúng dường chư tỳ-kheo. Người cúng dường đức Phật và chư tỳ-kheo rất đông. Nên tin đồn ấy truyền đến tai một vị đại phú hào.
Vị phú hào ấy tên là Đại Ca Diếp, ở thôn Ma Ha Sa La Dà cách thành Vương Xá không xa lắm. Ông thông minh học rộng, giàu có nhất thiên hạ, là nhân vật xuất chúng nhất của giai cấp Bà-la-môn. Mỗi khi đức Phật thuyết pháp tại tinh xá Trúc Lâm, ông đều đến nghe giảng. Cuối cùng tâm ông từ từ thâm nhập những lời giảng của Như Lai. Ông còn nghĩ đến việc xuất gia theo Phật nữa.
Một hôm trên đường về, ông vừa đến gần tháp Đa Tử ở thành Vương Xá, trong một vùng có rất nhiều gốc cây to cành lá xum xuê giao nhau. Thì lạ thay, đức Phật cũng đang ngồi ngay tại đấy mà tĩnh tọa. Ông nhìn mãi đức Phật trang nghiêm, uy nghi dường ấy, và thấy rằng không thể không đến lễ lạy Ngài. Ông đến trước toà Như Lai chắp tay đảnh lễ xong, khẩn khoản cảm động mà nói:
– Bạch Thế Tôn, bậc Thầy của con! Xin chấp nhận cho Đại Ca Diếp này quy y, từ nay Đại Ca Diếp là đệ tử của Phật.
Đức Phật thấy rõ tín tâm của Đại Ca Diếp nên nói:
– Đại Ca Diếp, ông là đệ tử của ta, ta là thầy của ông. Trên thế gian này, nếu ai chưa chứng được Chính đẳng Chính giác thì không thể thu nhận ông làm đệ tử. Ông hãy đi cùng ta.
Đức Phật lẳng lặng đứng dậy, hướng về phía tinh xá Trúc Lâm mà đi. Đại Ca Diếp đi sau lưng đức Phật một cách cung kính mà nước mắt ròng ròng tuôn xuống. Đức Phật quay đầu lại nhìn Đại Ca Diếp rồi nói:
– Hôm nay ta biết cơ duyên được độ hóa của ông đã đến. Tốt lắm, sau này việc lưu truyền Phật Pháp sẽ cần đến ông rất nhiều.
Đức Phật hóa độ Đại Ca Diếp rồi, Phật Pháp tại thành Vương Xá đã có cơ sở vững chắc, tinh xá ở núi Linh Thứu cũng đã được thành lập vào thời điểm này. Vua chúa, người trí thức đến quy y rất đông, và sự giáo hóa của đức Phật càng được phổ biến thêm…

3. Chuyện công đức xuất gia
Một thời đức Phật ở trong nước Tỳ-xá-ly, đến giờ thọ trai đức Phật vào thành khất thực.
Bấy giờ, trong thành Tỳ-xá-ly có một Lê-xa tên Tỳ-la-tiễn-na (ý dịch Dũng quân). Vương tử này và các thể nữ ở trên lầu vui chơi, đắm đuối trong sắc dục. Khi ấy, đức Thế Tôn dùng Nhất thiết trí nghe âm thanh ấy rồi bảo A-nan:
– Ta biết người này tham đắm ngũ dục lạc, sau bảy ngày nữa thì mạng chung. Như vậy, anh ta sẽ xa lìa hạnh phúc bên người thân, nhất định phải chết. A-nan! Nếu người này không bỏ dục lạc, không xuất gia thì khi mạng chung có thể bị đọa địa ngục.
Bấy giờ, vâng lời chỉ dạy của Phật, muốn lợi ích cho vương tử này, nên A-nan đi đến nhà anh ta. Vương tử nghe A-nan ở bên ngoài liền đi ra nghênh đón, với lòng tôn kính thỉnh A-nan vào nhà an tọa. A-nan vừa an tọa thì vương tử khởi tâm cung kính thưa với A-nan
– Quý thay, người bạn tốt đã đến đây! Hôm nay, thật đúng lúc, tôi gặp được tôn giả hết sức vui mừng. Nếu tôn giả hoan hỷ có thể dạy bảo cho tôi về giáo pháp của Phật, giúp cho tôi được an lạc
Vương tử thưa thỉnh như vậy ba lần. A-nan muốn vương tử được nhiều lợi ích nên im lặng không nói. Vương tử lại thưa:
– Tỳ-na-a-mâu-ni-đại-tiên, lợi ích cho tất cả chúng sanh, có hiềm hận gì mà mặc nhiên không nói? Không thấy nói gì đến lần thứ ba. Thầy là người giữ Phật Pháp lợi ích cho thế gian.
A-nan đau buồn nói:
– Hãy lắng nghe đây, sau bảy ngày nữa bạn sẽ chết. Nếu bạn ở trong ngũ dục không giác ngộ, không xuất gia, thì mạng chung bạn sẽ đọa địa ngục. Phật là bậc Nhất thiết trí, chánh ngữ chánh thuyết đã nói về bạn như thế. Ví như ngọn lửa thiêu đốt mọi vật, thảy đều không sai. Bạn nên suy nghĩ cho kỹ.
Vương tử nghe nói vậy quá lo sợ, buồn rầu, sầu muộn không vui nói:
– Theo lời chỉ dạy của A-nan tôi phải xuất gia nhưng tôi muốn thọ hưởng khoái lạc thêm 6 ngày nữa. Đến ngày thứ bảy tôi sẽ giã từ người thân quyết định xuất gia.

A-nan hài lòng. Đến ngày thứ bảy Tỳ-la-tiễn-na sợ sinh tử cầu Phật xuất gia, đức Phật liền đồng ý. Qua một ngày một đêm Tiển-na tu trì tịnh giới rồi mạng chung. Sau khi hỏa thiêu hương khói xong, A-nan cùng họ hàng của Tiễn-na đến hỏi Phật:
– Kính thưa Thế Tôn! Tỳ-kheo Tỳ-la-tiễn-na ấy nay đã mạng chung thần thức sinh về đâu?
Đức Phật Thế Tôn bảo A-nan:
– Này A-nan! Tỳ-kheo Tỳ-la-tiễn-na ấy sợ chết sinh vào địa ngục khổ nên đã xả dục xuất gia, trong một ngày một đêm trì tịnh giới xả bỏ cõi đời này sinh về trời Tứ thiên vương, làm con Tỳ-sa môn Thiên-vương ở phương Bắc. Tâm phóng túng thọ ngũ dục khoái lạc, tham thọ ngũ dục với các thể nữ, cùng chung vui chơi thọ 500 tuổi.
Khi Tiễn-na hết 500 tuổi mạng chung sinh về cõi trời 33 làm con Đế-thích hưởng thụ đầy đủ ngũ dục, sung sướng nhất cõi trời. Tiễn-na cùng thể nữ đẹp trên trời tuổi thọ kéo dài 1000 tuổi, tận số sinh về Diệm-thiên làm vương tử Diệm-thiên. Tự phóng túng thọ hưởng sắc, thanh, hương, vị, xúc trên trời, tâm khoái dục lạc, thọ 2000 tuổi trên trời, mạng chung sinh về cung trời Đâu-suất làm vương tử. Tâm thoải mái thọ ngũ dục khi mắt thấy tướng dục, tâm tự nhàm chán, thường nói pháp ngữ, trí tuệ giải thoát.
Ở trong cõi trời tuổi thọ hơn hết, đủ 4000 tuổi mạng chung sinh lên Tự-tại-thiên làm con Thiên-vương, thọ hưởng đủ loại ngũ dục khoái lạc ở trong các thể nữ, ứng hóa kéo dài 8 ngàn tuổi thọ. Hết 8000 tuổi mạng chung sinh về trời Tha-hóa-tự tại, làm con Thiên-vương.
Cõi trời thứ 6 này, dục lạc trong đó năm tầng trời phía dưới không thể so sánh. Sinh vào trong đó rồi, trong những cái vui thọ cái vui tối diệu. Khi thọ dục lạc ở đó tâm quá say mê, hưởng đầy đủ dục lạc thắng diệu thọ một vạn sáu ngàn tuổi. Thọ lạc như vậy qua lại bảy lần trong 6 cõi trời dục.
Tỳ-la-tiễn-na này do một ngày một đêm xuất gia nên mãn 20 kiếp, không đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh; thường sinh thiên, nhơn, thọ phước tự nhiên. Trong loài người kiếp cuối cùng sinh vào nhà giàu có sung sướng, tài sản phong phú, chân bảo đầy đủ.
Khi tuổi tráng niên đã qua, các căn đau yếu lo sợ họa hoạn sinh lão bệnh tử nên Tiển-na nhàm chán ở đời. Xuất gia cạo bỏ râu tóc, thân khoác pháp phục, siêng tu tinh tấn, giữ 4 oai nghi, thường hành chánh niệm. Quán ngũ-âm, Khổ, Không, Vô ngã, hiểu pháp nhân duyên, thành Bích-chi Phật hiệu là Tỳ-lưu-đế. Lúc ấy Ngài phóng hào quang lớn có nhiều chư thiên. Nhân loại sinh thiện căn và giúp các loài chúng sanh trong ba thừa được giải thoát.
Bấy giờ, A-nan chắp tay bạch Phật:
Kính thưa Thế Tôn! Nếu có người độ người xuất gia, người ấy xuất gia gánh vác mọi việc thì được bao nhiêu phước đức? Nếu lại có người hủy phá chuyện người khác xuất gia thì thọ tội báo gì? Xin thỉnh Thế Tôn chỉ bảo cho con được tường tận.
Phật bảo:
– Này A-nan! Nếu ông có sống đủ 100 tuổi để hỏi ta việc này, thì ta cũng lấy trí tuệ vô tận vì ông nói rộng theo đúng 100 năm, trừ giờ ăn uống. Người này công đức không thể nói hết, họ hằng sinh thiên, hay trong loài người thường làm quốc vương, thọ hưởng hạnh phúc nhơn, thiên. Nếu họ giúp người xuất gia vào trong pháp Sa-môn này, vì chuyện giúp đỡ cuộc sống xuất gia đó, thì họ dù ở trong sinh tử cũng hưởng khoái lạc. Dù ta có đủ 100 tuổi để nói công đức người đó cũng không hết được. Như vậy, A-nan! Ông có mãn trăm tuổi kéo dài tuổi thọ để hỏi ta, còn ta sống đến khi Niết-bàn, nói công đức này không bao giờ hết.
Phật lại bảo A-nan:
– Nếu lại có người phá hoại chuyện người khác xuất gia thì người đó bị cướp mất kho tàn vô tận thiện tài phước báu, và hủy hoại nhân 3bảy trợ Bồ-đề Niết-bàn. Nếu có ý muốn phá hoại nhân duyên xuất gia phải khéo quán sát chuyện như vậy. Vì sao, vì tội báo đó sẽ đọa địa ngục, thường bị mù mắt, thọ khổ cùng cực.
Nếu làm súc sinh, khi sinh ra cũng bị mù mắt bẩm sinh. Nếu sinh trong ngạ quỷ, sinh ra cũng mù bẩm sinh, đọa trong 3 đường ác khổ không biết bao giờ giải thoát. Nếu sanh làm người, ở trong bụng mẹ thọ thai lại bị mù. Ông có sống một trăm tuổi thường hỏi nghĩa đó, còn ta có đủ một trăm tuổi lấy trí tuệ vô tận giải thích tội báo cũng không thể hết.
Nếu thấy người xuất gia tu trì tịnh giới hướng đến chỗ giải thoát, phá công việc xuất gia của người ấy, làm việc ngăn cản, có nhân duyên đó sinh ra bị mù, không thấy Niết-bàn là do hủy hoại người xuất gia.
Người xuất gia đã thấy ngũ – ấm, 20 ngã – kiến, nhân gian, chánh-đạo, mà cái nhân phá xuất gia như là hủy hoại chánh – kiến. Do đó sinh ra thường mù mắt, không thấy chánh – đạo. Người xuất gia đã thấy tất cả pháp tu thiện, pháp trú xứ, đã thấy pháp thân thanh tịnh chư Phật. Mà phá chuyện người khác xuất gia nên sinh ra bị mù mắt, không thể trông thấy pháp thân Phật.
Do người xuất gia đã đầy đủ tướng mạo Sa-môn, hạt giống Phước điền Phật đạo. Và giữ gìn giới thanh tịnh. Nên nguyên nhân phá người xuất gia thì ở trong thiện pháp bị đoạn tất cả hy vọng.
Người có trí tuệ là biết người xuất gia sẽ thành tựu thiện pháp như thế, không nên phá hoại nhân duyên thiện pháp đó. Như vậy sẽ không bị tội. Ai hủy phá chuyện người khác xuất gia là vị Sa-môn chánh kiến, thì mãi mãi không thấy cung thành Niết-bàn, sinh ra thường bị mù.
Người nào điên đảo hành dâm chị em nữ, không phải chỗ hành dâm, bị chống cự rồi sinh ra căm ghét, thì tội báo đó không thể tính hết. Nếu lại có người tư duy đúng, có tâm xuất gia, có người khác phá hoại chuyện xuất gia người này không để họ mãn nguyện, thì nhân duyên tội báo đó bắt đầu tăng trưởng cho đến trăm kiếp.
A-nan bạch Phật:
– Kính thưa Thế Tôn! Tỳ-la-tiễn-na này nhờ hạt giống thiện căn sinh chỗ tôn quý, thọ hưởng phước lạc vì quá khứ cũng có hành thiện. Hôm nay chỉ nhờ công đức xuất gia một ngày một đêm mà thọ hưởng nhiều phước như thế.
Phật bảo A-nan:
– Ông không cần quan sát nhân duyên quá khứ, đối với một ngày một đêm ấy thanh tịnh xuất gia được thiện căn. Trong 6 cõi trời dục bảy lần qua lại thọ phước. Trong 20 kiếp thường chịu cảnh sanh tử. Trong loài người sau cùng ở thế gian hưởng cảnh hạnh phúc nhất, sinh trong nhà giàu có. Khi tuổi tráng niên qua, các căn yếu dần, thì sợ cái khổ sinh lão bệnh tử nên Tỳ-la-tiễn-na xuất gia trì giới thành Bích-chi Phật.
Phật lại bảo A-nan:
– Ta sẽ nói ví dụ, ông khéo lắng nghe. Tỉ như thiên hạ: Đông-phất-bà-đề, Nam-diêm-phù-đề, Tây-cù-da-ni, Bắc-uất-đan-việt, các bậc A-la-hán trong 4 cõi ấy nhiều như lúa cỏ rừng rậm. Nếu có người nào ở trong đó đủ 100 tuổi tận tâm cúng dường những vị A-la-hán này cho đến sau khi các vị ấy Niết-bàn, lại xây dựng tháp miếu, đủ loại chân bảo, dùng những câu kệ tụng tán thán, cúng dường thì đắc được công đức.
Còn người nào vì Niết-bàn mà xuất gia thọ giới, chỉ một ngày một đêm tạo công đức, thì công đức này được 16 phần. Công đức trước chỉ một phần. Theo nhân duyên như vậy, thiện nam tử nên xuất gia tu trì tịnh giới.
Này các thiện nam tử! Những người cần công đức, cầu thiện pháp, tự thọ pháp thì không được ngăn cản chuyện người xuất gia ấy phải cầu phương tiện khuyến khích giúp họ thành tựu.
Khi ấy, cả đại chúng nghe Phật thuyết pháp không ai mà không nhàm chán cảnh đời. Họ xuất gia trì giới, có người đắc Tu-đà-hoàn. Thậm chí có người đắc quả vị A-la-hán. Có người gieo hạt giống Bích-chi Phật, có người phát tâm Vô-thượng Bồ-đề. Mọi người rất vui mừng đảnh lễ phụng hành.
Từ những câu chuyện về công đức xuất gia, Phật tử nên dành thời gian phát tâm tham dự các khóa tu, nhất là khóa tu xuất gia gieo duyên ngắn hạn. Hành nhiều việc thiện, phước mới được tạo thêm, công đức được vun bồi.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRAIA,SYDNEY.21/7/2020.
No comments:
Post a Comment