KINH PHÁP MÔN CĂN BỔN.
Có bốn hạng người ở trên đời:
I. Hạng vô văn phàm phu II. Hạng Tỷ-kheo hữu học, tâm chưa thành tựu, đang cần cầu sự an tịnh khỏi các triền ách III. Hạng Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn IV. Như Lai là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác Về các pháp ấy, có những cách nhận thức khác nhau tùy theo trình độ tu học: lối nhận thức sai lầm của phàm phu gọi là tưởng tri, của người biết qua sách vở là thức tri, của bậc Thánh hữu học là thắng tri, của A la hán là tuệ tri. Và cuối cùng, cái biết của Phật là liễu tri. Chúng sinh, nghĩa là tất cả sinh vật dưới cõi trời Tứ thiên vương. Chư thiên: sáu cõi trời dục giới. Phạm thiên hay Ðại phạm - Mahàbramhma, vị trời sinh ra trước nhất trong mỗi đại kiếp, thọ mạng ngang bằng với thọ mạng vũ trụ trong đại kiếp ấy. Các vị tu chứng sơ Thiền cũng tái sinh vào cõi này. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm (10 HẠNH CỦA VỊ THÁNH, XEM D III,269), đã đặt gánh nặng xuống (UẨN, PHIỀN NÃO VÀ HÀNH ĐƯA ĐẾN TÁI SANH), đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử (10 KIẾT SỬ), chánh trí giải thoát (TÂM GIẢI THOÁT VÀ NIẾT BÀN).
KINH TẤT CẢ LẬU HOẶC
Thế Tôn tuyên bố chỉ người biết người thấy, mới đoạn trừ tất cả lậu hoặc, và nói các lậu hoặc được đoạn trừ do 7 pháp môn khác nhau. Các lậu hoặc do tri kiến được đoạn trừ. 1. Thái độ của kẻ phàm phu đưa đến già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. a. Đối với bậc chân nhân và pháp bậc chân nhân, đối với bậc Thánh và pháp bậc Thánh. b. Không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, các pháp không cần phải tác ý, nên các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng. c. 12 phi như lý tác ý về quá khứ, vị lai, hiện tại. d. 6 tà kiến. III. Các lậu hoặc do phòng hộ được đoạn trừ: Như lý giác sát sự phòng hộ của 6 căn. IV. Các lậu hoặc do thọ dụng được đoạn trừ: Như lý giác sát khi thọ dụng y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bịnh. V. Các lậu hoặc do kham nhẫn được đoạn trừ Kham nhẫn lạnh nóng, đói khát, xúc chạm ruồi muỗi, gió, sức nóng, các loài bò sát, lời nói mạ lỵ phỉ báng, các khổ thọ về thân. VI. Các lậu hoặc do tránh né được đoạn trừ: Tránh né các thú dữ, gai góc, hố sâu, những chỗ ngồi, những trú xứ không xứng đáng, những bạn bè độc ác. VII. Các lậu hoặc do trừ diệt được đoạn trừ: Đoạn trừ dục niệm, sân niệm, hại niệm, các ác bất thiện pháp. VIII. Các lậu hoặc do tu tập được đoạn trừ: Tu tập 7 giác chi. IX. Vị Tỷ-kheo y theo 7 pháp môn này đoạn diệt các lậu hoặc, được xem là đã giải thoát, đoạn tận khổ đau. Lậu hoặc hay ô nhiễm gồm ba loại: dục lậu, hữu lậu, và vô minh lậu. Loại 1 trói buộc con người vào khoái lạc giác quan, loại 2 vào tư tưởng quan niệm, và loại 3 vào sinh tử luân hồi nói chung. HOẶC: CÓ 4 LẬU HOẶC: DỤC LẬU LÀ THAM ÁI 5 TRẦN, HỮU LẬU LÀ HIỆN HỮU, THAM ÁI SẮC GIỚI VÀ VÔ SẮC GIỚI, KIẾN LẬU LÀ CHẤP TRƯỚC TÀ KIẾN, VÔ MINH LẬU LÀ VÔ MINH, KHÔNG HIỂU 4 SỰ THẬT -CÓ NHƯ LÝ TÁC Ý LÀ THẤY VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ, KHỔ, BẤT TỊNH LÀ VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ, KHỔ, BẤT TỊNH.
KINH THỪA TỰ PHÁP
I. Lời thuyết giảng của Đức Phật.
1. Hãy thừa tự chánh pháp của Ngài, đừng thừa tự tài vật.
2. Đức Phật kể câu chuyện 2 Tỷ-kheo, một vị thừa tự chánh pháp được Đức Phật tán thán, một vị thừa tự tài vật nên bị chê.
II. Lời giải thích của Tôn giả Sriputta.
1. Ba trường hợp các Trưởng lão, trung niên và tân học Tỷ-kheo bị quở trách.
a. Vị đạo sư sống viễn ly, các đệ tử không tùy học viễn ly.
Viễn ly gồm ba là: thân viễn ly, tức cư trú nơi núi rừng; tâm viễn ly là thiểu dục tri túc; hữu viễn ly là xa lìa tham đắm ba cõi. b. Các pháp bậc Đạo sư dạy nên từ bỏ, các đệ tử không từ bỏ. c. Các đệ tử sống đầy đủ, lười biếng, dẫn đầu về đoạ lạc, từ bỏ gánh nặng viễn ly.
2. Ba trường hợp các trưởng lão, trung niên, tân học Tỷ-kheo được tán thán.
3. Ngài Sriputta kể đến 16 ác pháp và con đường đưa đến đoạn trừ 16 ác pháp ấy.
Các pháp cần từ bỏ gồm 16: Tham, sân, phẫn nộ, hiềm hận, giả dối, não hại, tật đố, xan lẫn, man trá, phản bội, ngoan cố, bồng bột, ngã mạn, tăng thượng, tự kiêu, phóng dật. Từ bỏ chúng, đào luyện tám chính đạo (TRUNG ĐẠO) thì sẽ thành những người thừa tự Pháp của Ngài, hướng đến Niết bàn tịch tịnh.
KINH SỢ HÃI KHIẾP ĐẢM
Sa-môn Gotama nói lên kinh nghiệm của Ngài khi sống trong rừng núi, đối trị với khiếp đảm cho đến khi thành Phật.
I. Ai có 16 tánh bất thiện, không thể sống trong rừng núi mà không khởi lên sợ hãi. Sa-môn không có những đức tánh ấy, nên sống trong rừng núi không có sợ hãi. - 5 TRIỀN CÁI
- không thanh tịnh thân, khẩu, ý, mạng; khen mình chê người, run rẩy sợ hãi, ham lợi;
- lười biếng, thất niệm, tán loạn, ngu đần.
II. Phương pháp Sa-môn Gotama dùng để đối trị sợ hãi và hành trì thiền định. 1. Đối trị sợ hãi.
2. Các đức tánh tu tập.
3. Tu thiền.
III. Sa-môn Gotama chứng được 3 minh và thỉnh thoảng vẫn sống trong rừng núi.
KINH KHÔNG UẾ NHIỄM
Tôn giả Sriputta nói có 4 hạng người ở đời:
1. Hạng có cấu uế và không biết mình có cấu uế,
2. Hạng có cấu uế và biết mình có cấu uế,
3. Hạng không có cấu uế và không biết mình không có cấu uế, quên quán thân bất tịnh, gọi là "tư niệm tịnh tướng"
4. Hạng không có cấu uế và biết mình không có cấu uế.
II. Với câu hỏi của Tôn giả Moggallna, Tôn giả Sriputta giải thích vì sao hạng không như thật biết mình có cấu uế và không có cấu uế là hạ liệt; còn hạng như thật biết mình có cấu uế và biết mình không có cấu uế là ưu thắng.
III. Thế nào là cấu uế? 13 trường hợp cấu uế có thể xảy đến cho vị Tỷ-kheo ở trong chúng.
IV. Tỷ-kheo có cấu uế, dù ở trong rừng, tu hạnh đầu đà... vẫn không được các vị đồng phạm hạnh cung kính. Trái lại, vị Tỷ-kheo sống gần làng mạc, nhưng không cấu uế, vẫn được các vị đồng phạm hạnh cung kính.
Tôn giả Moggallna dùng ví dụ tán thán Tôn giả Sriputta đã khéo rõ biết tâm tư của vị xuất gia không chân chánh và vị xuất gia chân chánh.
KINH ƯỚC NGUYỆN
Thế Tôn đề cao giới hạnh, thuyết 13 ước nguyện của vị Tỷ-kheo và điều kiện để thành tựu 13 ước nguyện ấy (tức là hành trì Giới, Định, Tuệ).
I. 6 ước nguyện về nếp sống giữa chúng Tăng.
II. 2 ước nguyện về Thiền sắc giới và Thiền vô sắc giới.
III. 3 uớc nguyện về quả Dự lưu, Nhất lai, Bất lai.
IV. 6 ước nguyện về 6 thông: Thần túc, Thiên nhĩ, Tha tâm, Túc mạng, Thiên nhãn, Lậu tận. Sáu thông: Thần túc, thiên nhĩ, tha tâm, túc mạng, thiên nhãn và lậu tận; là ba
minh nói rộng.
KINH VÍ DỤ TẤM VẢI
Cõi ác chờ đợi tâm cấu uế, như tấm vải nhơ, được màu nhuộm không tốt đẹp. Cõi lành chờ đợi tâm không cấu uế, như tấm vải sạch được màu nhuộm tốt đẹp.
II. Quá trình hiểu biết cấu uế đưa đến giải thoát giác ngộ.
1. Biết được các cấu uế và đoạn trừ được 16 cấu uế. (bản hán dịch là 21 cấu uế) Những cấu uế của tâm là:
- tham, sân, phẫn, hận,
- hư ngụy, não hại, tật đố, xan tham,
- man trá, khi cuống, ngoan cố, cấp tháo,
- mạn, quá mạn, kiêu, phóng dật
2. Lòng tin bất động đối với 3 ngôi báu.
3. Chứng được nghĩa tín thọ, pháp tín thọ và hướng đến thiền định.
4. Tu 4 vô lượng tâm. 5. Tu tuệ chứng quả A-la-hán.
III. Thế Tôn đọc lên bài kệ để trả lời Bà-la-môn Sundarika.
KINH ĐOẠN GIẢM
A. Duyên khởi:
Tôn giả Mahcunda hỏi làm thế nào đoạn trừ các sở kiến về tự ngã và về thế giới được khởi lên, Thế Tôn trả lời cần phải như thật chánh quán với trí tuệ là “Cái này không phải của tôi, không phải là tôi, không phải là tự ngã của tôi”.
Các quan điểm, đấy là 20 quan điểm về ngã, được kể trong kinh số 44; 8 quan điểm về thế giới, như thường, vô thường, hữu biên vô biên…
B. Chánh kinh:
I. 4 thiền, 4 không, không phải là đoạn giảm, 4 thiền là hiện tại lạc trú, 4 không là tịch tịnh trú.
II. Thế Tôn giảng pháp môn đoạn giảm.
III. Thế Tôn giảng pháp môn khởi tâm.
IV. Thế Tôn giảng pháp môn đối trị.
V. Thế Tôn giảng pháp môn hướng thượng. VI. Thế Tôn giảng pháp môn giải thoát hoàn toàn.
VII. Thế Tôn đúc kết các pháp môn đã được thuyết giảng và khuyên hành thiền. 44 cấu uế: 1. Tác hại; 2. Sát sinh; 3. Lấy của không cho; 4. Tà hạnh; 5. Nói dối; 6. Hai lưỡi; 7. Nói độc ác; 8. Nói phù phiếm; 9. Tham; 10. Sân; 11. Tà kiến; 12. Tà tư duy; 13. Tà ngữ; 14. Tà nghiệp; 15. Tà mạng; 16. Tà tinh tiến; 17. Tà niệm; 18. Tà định; 19. Tà trí; 20. Tà giải thoát; 21. Hôn trầm; 22. Trạo hối; 23. Nghi hoặc; 24. Phẫn nộ; 25. Oán hận; 26. Hư ngụy; 27. Não hại; 28. Tật đố; 29. Xan tham; 30. Man trá; 31. Khi cuống; 32. Ngoan cố; (33. Cấp tháo; 34. Mạn); 35. Quá mạn; 36. Khó nói; 37. Ác hữu; 38. Phóng dật; 39. Bất tín; 40. Vô tàm; 41. Vô quý; 42. Nghe ít; 43. Biếng nhác; 44. Thất niệm; 45. Liệt tuệ; 46. Nhiễm thế tục, cố chấp tư kiến, khó hành xả.
Có thể tóm thâu 44 cấu uế này vào sáu nhóm:
A. Mười bất thiện nghiệp về thân khẩu ý (từ 2 - 11);
B. Bảy phần cuối của 8 phi Thánh đạo (12 - 18);
C. Tà trí, tà giải thoát (19 - 20; tức ngược lại với hai chi cuối trong mười Thánh đạo);
D. Ba triền cái cuối trong năm triền cái (21 - 23);
E. Mười trong 16 cấu uế của tâm đã nói trong kinh số 7 (24 - 35);
F. Bảy thói xấu ngược lại với 7 đức là tín, tàm, quý, đa văn, tinh tấn, niệm, tuệ nói trong kinh
53. KINH CHÁNH TRI KIẾN
Tôn giả giải thích Chánh tri kiến đối với 16 pháp. Nhờ chánh tri kiến đoạn tận các tuỳ miên, chấm dứt các khổ đau.
I. Đối với bất thiện, căn bản bất thiện, đối với thiện và căn bản thiện. Bất thiện là thập bất thiện nghiệp, căn bản bất thiện là Tam độc
II. Đối với 4 thức ăn: Đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực. Thức ăn có bốn loại: đoàn, xúc, tư niệm và thức. Đoàn thực ("đoàn" là nắm cơm, theo kiểu ăn bốc) nuôi thể
xác hay sắc; xúc thực (sự tiếp xúc căn trần) nuôi thọ; tư niệm thực nuôi dưỡng thức; thức thực nuôi dưỡng danh sắc. TẬP: ÁI DIỆT: DIỆT ÁI ĐẠO: BÁT CHÁNH ĐẠO
III. Đối với khổ, khổ tập, khổ diệt, con đường đưa đến khổ diệt. TẬP: ÁI ĐƯA ĐẾN TÁI SANH DIỆT: LY THAM ĐẠO: BÁT CHÁNH ĐẠO IV-XV. Đối với 12 nhân duyên >>HÀNH: chỉ các nghiệp bất thiện và thiện, 8 thiện thuộc về thân, 12 thuộc bất thiện, 20 thuộc về ngữ và 29 thuộc về ý
HÀNH: THÂN HÀNH, KHẨU HÀNH, Ý HÀNH TẬP: VÔ MINH DIỆT: VÔ MINH DIỆT ĐẠO: BÁT CHÁNH ĐẠO >>SÁU NHẬP: còn gọi là sáu căn hay sáu
nội xứ, tức sáu giác quan mắt tai mũi
lưỡi thân ý.
>> DANH SẮC: "Danh" gồm 5 pháp là thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý (5 "tâm sở biến hành" trong Duy thức. "Sắc" gồm tứ đại tạo nên thể xác XVI. Đối với lậu hoặc, lậu hoặc tập khởi, lậu hoặc đoạn diệt, con đường đưa đến lậu hoặc đoạn diệt. Nên hiểu là, vô minh trong một đời nào cũng có cái nhân hay điều kiện là vô
minh từ đời trước đấy. Bởi thế không thể chỉ rõ cái mối đầu của vô minh, và cũng không có mối đầu cho dòng sinh tử.
TIỂU KINH SƯ TỬ HỐNG
I. Thế Tôn dạy các Tỷ-kheo, hãy rống tiếng rống con sư tử, chỉ trong giáo pháp của Thế Tôn mới có 4 hạng Sa-môn. Ngoài ra không thể có Sa-môn.
II. Thế Tôn dạy cách trả lời các câu cật vấn của ngoại đạo và đưa đến kết luận là một người phải thành tựu 8 pháp, mới có thể đạt được cứu cánh giải thoát.
III. Thế Tôn dạy những Sa-môn, Bà-la-môn nào không như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của hai loại tà kiến: hữu và phi hữu, vị ấy sẽ không có được 8 pháp đưa đến cứu cánh giải thoát. Trái lại, vị nào như thật tuệ tri hai loại tà kiến ấy, vị ấy có được 8 pháp đưa đến cứu cánh giải thoát.
IV. Vị Sa-môn, Bà-la-môn nào chưa liễu tri 4 loại chấp thủ, thời trong giáo pháp của vị này, không có thành tựu viên mãn tịnh tín đối với bậc đạo sư, đối với pháp, đối với giới luật, và sự ái kính đối với các pháp hữu. Như Lai là bậc liễu tri 4 loại chấp thủ, nên trong giáo pháp của Như Lai có sự thành tựu viên mãn 4 pháp trên.
V. Bốn loại chấp thủ này cơ bản lấy vô minh làm duyên. Và đoạn trừ vô minh là đoạn trừ được 4 chấp thủ, tự thân chứng được Niết-bàn.
ĐẠI KINH SƯ TỬ HỐNG
I. Thế Tôn phê bình Sunakkhatta là ngu si, nghĩ rằng nói xấu Đức Phật nhưng chính là nói lời tán thán Thế Tôn và không biết 4 tùy pháp về Đức Phật.
II. 10 lực của Như Lai.
III. 4 vô sở uý.
IV. Thế Tôn đi đến 8 hội chúng không có sợ hãi.
V. Thế Tôn đối với: 1. Bốn loại sanh.
2. Năm loại sanh thú. KHÔNG CÓ A TU LA
VI. Thế Tôn khổ hạnh, bần uế, yểm ly, độc cư đệ nhất, đại bất tịnh thực, khổ hạnh đối với thời tiết, hạnh xả ly.
VII. Như Lai đối với 7 tà kiến, giới cấm thủ của ngoại đạo, và nói về trí tuệ của Như Lai lúc 80 tuổi.
VIII. Như Lai đặt tên cho kinh này.
ĐẠI KINH KHỔ UẨN
I. Ngoại đạo không thể trả lời về vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của dục, sắc và các cảm thọ.
II. Thế Tôn giải thích về vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của 3 pháp ấy:
1. Vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các dục. A. Trước hết về dục Vị ngọt là năm pháp tăng trưởng dục:
các sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái do năm giác quan tiếp nhận. Nguy hiểm là: Vì theo đuổi năm thứ ấy mà phải vất vả làm lụng đủ thứ nghề nghiệp….Do dục mà con người làm các ác
hành về thân, ngữ, ý, chết đọa vào các cõi dữ. Sự xuất ly là điều phục lòng tham đối với sắc thanh hương vị xúc, cho đến đoạn tận tham dục.
2. Vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các sắc. B. Về sắc, ở đây là nữ sắc. Vị ngọt là vẻ đẹp nơi thiếu nữ, gợi lên cảm giác hỷ lạc nơi người nhìn. Nguy hiểm là vẻ già xấu, bệnh hoạn nằm một chỗ, đắm mình trong phân tiểu của chính mình khi cô ấy đến tuổi thành bà ngoại. Nguy hiểm nữa là vẻ ghê tởm của xác chết khi bị quăng bỏ nơi nghĩa địa, cho đến khi chỉ còn là những đốt xương rời rạc, tan thành tro bụi. Đó là nguy hiểm của sắc. Sự xuất ly khỏi sắc là điều phục dục tham đối với sắc, cho đến đoạn trừ tham dục. 3. Vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các thọ. Vị ngọt là hỷ lạc do ly dục ở sơ Thiền, hỷ lạc do định ở nhị Thiền, lạc ở tam Thiền, xả niệm thanh tịnh ở tứ Thiền. Đấy là vị ngọt tối thượng của cảm thọ, vì nó vô hại. Nguy hiểm của
cảm thọ này là nó cũng vô thường, biến hoại, nên là khổ. Sự xuất ly các cảm thọ là điều phục dục tham đối với các cảm thọ, đoạn trừ dục tham. Người nào như thật tuệ tri được vị ngọt, nguy hiểm và xuất ly của các dục,sắc, và thọ, thì mới có khả năng giúp người khác như thật tuệ tri các pháp ấy. Liễu tri - parinnà đây có nghĩa là vượt qua, samatikkhama hay từ bỏ, pahàna.
Du sĩ ngoại đạo cho chứng sơ Thiền là liễu tri dục, chứng các vô sắc là liễu tri sắc, chứng Thiền vô tưởng là liễu tri thọ. Trái lại, Phật dạy ở Bất hoàn đạo mới liễu tri các dục, ở A la hán đạo
mới liễu tri sắc và thọ.
TIỂU KINH KHỔ UẨN
A. Duyên khởi:
Mahnama hỏi Thế Tôn vì sao dầu hiểu được lời Thế Tôn dạy tham, sân, si là cấu uế của tâm, tuy vậy, tham, sân, si vẫn khởi lên. Đức Phật trả lời với bài kinh này.
B. Chánh kinh:
I. Đức Phật trả lời, pháp còn tồn tại khiến tham sân si khởi lên là DO SỐNG TRONG GIA ĐÌNH, THỤ HƯỞNG CÁC DỤC, và các dục chỉ có thể do như thật chánh quán các dục và do thiền định mới được trừ diệt. QUÁN SỰ NGUY HIỂM CỦA DỤCSƠ THIỀN (HỶ LẠC DO LY DỤC SANH)LY DỤC. Đây cũng là kinh nghiệm của Đức Phật, khi Ngài chưa thành đạo.
II. Đức Phật giải thích về vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các dục.
III. Cuộc đàm thoại giữa Sa-môn Gotama và các Ni-kiền-tử. 1. Quan điểm diệt khổ của Ntaputta.
2. Hạnh phúc không thể thành tựu nhờ khổ, cũng không thể thành tựu nhờ hạnh phúc, trong nghĩa thọ hưởng các dục, chính phải nhờ thiền để đoạn trừ các dục.
3. Sa-môn Gotama sống hạnh phúc hơn vua Bimbisra vì Ngài trú ở thiền định.
KINH TƯ LƯỢNG
A. Duyên khởi:
Ngài Mục-kiền-liên gọi các Tỷ-kheo và thuyết giảng.
B. Chánh kinh:
I. Những ai là người khó nói, dầu có muốn chúng Tăng nói với mình, cũng không có toại nguyện. Những ai là người dễ nói, thời chúng Tăng sẽ nói chuyện, dầu không có thỉnh nguyện.
II. Tỷ-kheo cần phải tư lượng tự ngã với tự ngã: “Nếu người có 16 ác pháp thời ta không ưa người ấy. Nên ta có 16 ác pháp, người ấy sẽ không ưa ta. Vậy cần phải tự mình đoạn trừ 16 ác pháp ấy.” 16 tật xấu là:
- ác dục, khen mình chê người, phẫn nộ, hiềm hận;
- cố chấp, thốt lời giận dữ, chống đối, chỉ trích;
- chất vấn, nói lãng, không giải thích, hư ngụy não hại;
- xan tham tật đố, lừa đảo, ngã mạn, khó xả.
III. Tỷ-kheo cần phải quán sát tự ngã với tự ngã, nếu có 16 ác pháp, thời phải tinh tấn đoạn trừ. Nếu không có 16 ác pháp, cần phải tu học thiện pháp.
IV. Cần phải quán sát nội tâm, nếu còn có ác bất thiện pháp, thời phải tinh tấn đoạn trừ. Nếu không còn các ác pháp, bất thiện pháp, thời cần phải hoan hỷ ngày đêm tu học thiện pháp.
KINH TÂM HOANG VU
I. Khi nào chưa diệt trừ 5 tâm hoang vu, chưa đoạn trừ 5 tâm triền phược, thời không thể trưởng thành, hưng thịnh trong pháp và luật này.
Năm tâm hoang vu gồm bốn thuộc nghi (si) và một thuộc sân.
Năm tâm triền phược là năm hình thức tham. 1. Thế nào là 5 tâm hoang vu? Năm tâm hoang vu là nghi ngờ, không có tịnh tín đối với: Phật, Pháp, Tăng, các học giới, và thứ năm là phẫn nộ với
bạn đồng tu.
2. Thế nào là 5 tâm triền phược?
II. Khi nào 5 tâm hoang vu được diệt trừ, 5 tâm triền phược được đoạn tận, thời có thể lớn mạnh trong pháp và luật này. Năm tâm trói buộc là: tham khoái lạc giác quan, tham tự thân, tham các sắc pháp, tham ăn ngủ, tham cõi trời (chỉ tu để cầu lên trời).
III. Tỷ-kheo đầy đủ 15 pháp, có khả năng đạt được chánh giác.
1. Đoạn trừ 5 tâm hoang vu. 2. Đoạn tận 5 tâm triền phược.
3. Tu tập 4 thần túc.
4. Nỗ lực tinh cần.
KINH KHU RỪNG
Thế Tôn trình bày 4 loại khu rừng, và loại nào nên bỏ đi, loại nào nên ở lại.
I. Loại rừng thứ nhất: Không đưa đến giải thoát, không có đủ 4 loại vật dụng: nên bỏ đi tức khắc.
II. Loại rừng thứ hai: Không đưa đến giải thoát, nhưng 4 món cúng dường vật dụng đầy đủ: nên từ bỏ ngôi rừng này.
III. Loại rừng thứ ba: Đưa đến giải thoát, không đầy đủ 4 món cúng dường: phải ở lại ngôi rừng này, không được bỏ đi. IV. Loại rừng thứ tư: Đủ điều kiện đưa đến giải thoát và 4 sự cúng dường đầy đủ: cần phải ở lại cho đến trọn đời, không được rời bỏ.
V. Đối với làng, thị trấn, quốc gia hay một người nào cũng theo đúng 4 tiêu chuẩn trên.
1. Không đưa đến giải thoát, không được các vật dụng một cách dễ dàng: bỏ ngay.
2. Không đưa đến giải thoát, tuy vật dụng đầy đủ: cũng phải bỏ đi.
3. Đưa đến giải thoát, vật dụng không đầy đủ: phải ở lại, không được bỏ đi.
4. Đưa đến giải thoát, và vật dụng đầy đủ: phải ở lại trọn đời.
KINH MẬT HOÀN
I. Câu trả lời của Đức Phật: Lời dạy của Đức Phật không đem đến một sự tranh luận bất cứ ở thế giới nào. Vị Bà-la-môn vượt qua các dục, không còn nghi ngờ, diệt các hối quá, không tham ái đối với hữu và phi hữu, sẽ không bị các tưởng ám ảnh chi phối.
II. Theo lời yêu cầu các Tỷ-kheo, Thế Tôn giải thích rộng hơn câu trả lời trên: Nếu do nguyên nhân gì, các hý luận vọng tưởng khởi lên cho một người, nếu ở đây không có sự hoan hỷ đón mừng, thời như vậy là sự đoạn tận 7 tuỳ miên, sự chấm dứt tranh luận, ly gián ngữ. III. Theo lời các Tỷ-kheo yêu cầu, Tôn giả Mahkaccna giải thích rộng rãi câu trả lời của Đức Phật. Khi nào có sự tiếp xúc của 6 căn, 6 trần, 6 thức, thời có xúc, có thọ, có tưởng, có suy tư, có hý luận, vọng tưởng hiện khởi; khi nào không có sự thi thiết của 6 căn, 6 trần, 6 thức, thời không có sự thi thiết của xúc, thọ, tưởng, suy tư, của sự hiện hành hý luận vọng tưởng.
Do hý luận làm nhân, một số hý luận vọng tưởng hiện hữu cho một người trong các sắc pháp do nhãn căn nhận thức quá khứ, vị lai, hiện tại. Hý luận vọng tưởng, papanca - sannà - sankhà, được dịch là "mental proliferation", thiên kiến. Luận giải nguồn gốc của hý luận vọng tưởng là tham (đối với sắc pháp), mạn ("tôi là") và kiến (chấp thường), qua đó tâm thức "trau chuốt" kinh nghiệm bằng cách giảng giải nó theo tiêu chuẩn "tôi" và "của tôi.”
IV. Các Tỷ-kheo trình lời giải thích của Mahkaccna lên Thế Tôn, và Thế Tôn xác chứng là đúng sự giải thích củaMahkaccna.
V. Tôn giả nanda lấy ví dụ bánh mật để tán thán vị ngọt của lời giảng của Thế Tôn và lời giải thích của Mahkaccna và Đức Phật đặt tên cho kinh này là kinh Mật Hoàn.
Kinh Số 19: Song Tầm
Thế Tôn nói lên kinh nghiệm của Ngài về công phu loại bỏ các tư duy về dục, sân và hại, và hướng tư duy về ly dục, vô sân, vô hại. Kinh nghiệm tâm lý có giá trị, rất giá trị, ở đây là: "Khi tâm quan sát nhiều về vấn đề gì thì tâm sanh khuynh hướng về vấn đề ấy". SUY TƯ, QUÁN SÁT QUÁ LÂUMỆT MÕITÂM DAO ĐỘNG, KHÓ ĐỊNH TĨNHTRẤN AN TÂMTÂM ĐỊNH TĨNH
KINH AN TRÚ TẦM
Năm tướng cần được sử dụng để tu tập tăng thượng tâm.
I. Khi tác ý đến tướng nào, các ác bất thiện tầm khởi lên, thời thay tướng ấy bằng một tướng thiện để đoạn diệt các tầm bất thiện. Như người thợ mộc, dùng một cái nêm đánh bật ra cái nêm khác.
II. Dầu làm vậy, các tầm bất thiện vẫn khởi lên, thời phải suy tư đến sự nguy hiểm của các bất thiện tầm ấy. Như một thanh niên ghê tởm xác rắn phải đeo vào cổ.
III. Dầu làm vậy, các tầm bất thiện vẫn khởi lên, thời phải không tác ý, không ức niệm các tầm ấy, như một người có mắt không muốn nhìn thấy sắc ấy, bèn nhìn qua một bên.
IV. Dầu làm vậy, các tầm bất thiện vẫn khởi lên, thời nên suy tư đến hành tướng và sự an trú các tầm ấy, như người đi mau, nghĩ đến đi chậm lại, rồi đứng lại, rồi ngồi và nằm. Quan sát sự sinh diệt của những tư tuởng ấy
V. Dầu làm như vậy, vẫn chưa đem lại kết quả, thời vị Tỷ-kheo cần phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm. Như một người lực sĩ nắm lấy đầu hay vai một người yếu đuối.
VI. Năm pháp môn trình bày tóm tắt lại. Tăng thượng tâm, adhicitta, là tâm trong tám Thiền chứng - bốn Thiền bốn
định, làm căn bản cho tuệ. Được gọi là "tăng thượng" vì nó thù thắng hơn mười thiện tâm thông thường - bất sát bất đạo bất dâm...
Năm tướng có thể hiểu là năm phương pháp trừ tán loạn. Hành giả chỉ nên xử dụng các phương pháp này khi sự tán loạn có vẻ dai dẳng. Bình thường, chỉ cần bám sát đề mục Thiền của mình.
KINH VÍ DỤ CÁI CƯA
A. Duyên khởi:
Moliya Phagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni, nên được Thế Tôn cho gọi lên và khuyên dạy.
a. Moliya Phagguna sống liên hệ với các Tỷ-kheo-ni. Khi nào có người trước mặt Moliya Phagguna nói xấu các Tỷ-kheo-ni, thời Moliya Phagguna phẫn nộ, bất mãn vấn tội, khi nào có người trước mặt các Tỷ-kheo-ni ấy, nói xấu Moliya Phagguna, thì các Tỷ-kheo-ni ấy phẫn nộ, bất mãn, vấn tội ngay.
b. Lời giáo giới của Thế Tôn:
- Thật không xứng đáng cho Moliya sống quá liên hệ với các Tỷ-kheo-ni như vậy.
- Nếu có ai nói xấu các Tỷ-kheo-ni ấy, hãy từ bỏ các dục và các tầm liên hệ đến thế tục, phải học tập, không để tâm bị uế nhiễm, không nói ác ngữ, sống với lòng từ mẫn, không có sân hận.
- Nếu có ai trước mặt ngươi đánh đập các Tỷ-kheo-ni ấy, ngươi phải từ bỏ các dục, các tầm liên hệ đến thế tục, .... không có sân hận.
- Nếu có ai trước mặt ngươi, nói xấu bất cứ ai, phải học tập như trên.
- Nếu có ai đánh đập ngươi, ngươi phải từ bỏ ác dục... không có sân hận.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn thuyết giảng cho các Tỷ-kheo
1. Hãy nhu thuận hoan hỷ vâng theo lời dạy của Thế Tôn.
2. Hãy từ bỏ bất thiện, hãy thành tựu thiện pháp, như vậy mới trưởng thành trong pháp và luật này.
II. Thế Tôn kể câu chuyện của nữ gia chủ Vedehika và giáo giới các Tỷ-kheo theo câu chuyện ấy
1. Vedehika rất là nhu thuận, hiền hòa khi được người nữ tỳ phục vụ tốt. Nhưng khi người nữ tỳ giả làm khinh suất, thời Vedehika nổi nóng, đập người nữ tỳ đến chảy máu đầu.
2. Do vậy Thế Tôn xem một vị Tỷ-kheo thật sự là nhu thuận, hiền hòa khi nào bị những lời nói bất khả ý xúc phạm mà không nổi nóng, sân hận.
3. Thế Tôn chỉ xem một vị Tỷ-kheo là dễ nói, không phải khi vị ấy nhận được sự cúng dường đầy đủ, mà chỉ khi nào vị ấy, vì tôn trọng pháp, cung kính pháp mà trở thành dễ nói.
III. Có 5 loại ngôn ngữ mà vị Tỷ-kheo có thể nói: đúng thời hay phi thời, chơn thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm. Tại đây, các Tỷ-kheo cần phải học tập, giữ tâm không có uế nhiễm, không nói lời ác ngữ, sống với lòng lân mẫn, từ bi, không sân hận đối với người, biến mãn thế giới với tâm từ bi.
IV. Thế Tôn dùng 4 ví dụ, đào đất lớn thành không đất, dùng sơn viết chữ trên hư không, cầm bó đuốc đun nóng sông Hằng, làm một bị da mèo, khéo thuộc chín phát ra tiếng kêu, để khuyên các Tỷ-kheo không nên sân hận, không nên nói lời ác ngữ, phải có tâm từ bi.
V. Đức Phật khuyên các Tỷ-kheo, dù có ai lấy cái cưa cưa xẻ thân mình, cũng không nên khởi tâm sân hận. Vị Tỷ-kheo nào tư duy đến ví dụ cái cưa này, sẽ không còn khởi lên sân hận nữa.
KINH VÍ DỤ CON RẮN
I. Thế Tôn hỏi các Tỷ-kheo đã hiểu đúng lời dạy của Thế Tôn về các dục thế nào và xác chứng lại quan điểm của mình về các dục.
II. Thế Tôn nói đến 2 hạng người học pháp: Một hạng người học sai lạc, nên đi đến tai họa khổ đau. Một hạng người học đúng đắn, không nắm giữ sai lạc, nên đi đến hạnh phúc. III. Phật dạy Phật giảng pháp cho các Tỷ-kheo ví như chiếc bè để vượt qua sông, không phải để nắm giữ lấy, chánh pháp còn phải bỏ đi, huống nữa là phi pháp. CHÁNH PHÁP: THẾ TÔN KHIẾN CHÚNG TA TRỪ THAM ÁI VỚI CHỈ, QUÁN CHỈ: “TA NÓI SỰ TỪ BỎ PHI TƯỞNG, PHI PHI TƯỞNG XỨ” QUÁN: “DẦU CHO CHÁNH KIẾN NÀY CỦA NGƯƠI ĐƯỢC THANH TỊNH, CHỚ CÓ CHẤP TRƯỚC NÓ” PHI PHÁP: NHƯ TÀ KIẾN
IV. 6 kiến xứ, thái độ của kẻ phàm phu và vị đa văn thánh đệ tử đối với 6 kiến xứ
1. Kẻ vô văn phàm phu chấp 6 kiến xứ là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi, nên lo âu phiền muộn.
2. Bậc đa văn thánh đệ tử không chấp 6 kiến xứ là của tôi, là tôi, là tự ngã của tôi, nên không lo âu phiền muộn.
DO THAM, MẠN, TÀ KIẾN V. Các nguy hiểm của 6 kiến xứ
1. Âu lo phiền muộn và không âu lo phiền muộn tuỳ thuộc chấp thủ hay không chấp thủ 6 kiến xứ này.
2. Phàm nắm giữ một sở hữu nào, sở hữu ấy không thường trú được. Phàm chấp ngã luận thủ nào, thì đưa đến sầu bi khổ ưu não. Phàm y chỉ kiến y nào đều đưa đến sầu bi khổ ưu não.
3. Nếu có ngã, thời có ngã sở thuộc, nếu có ngã sở thuộc, thời có ngã. Ngã và ngã sở thuộc là vô thường. VI. Phương pháp đối trị 6 kiến xứ
1. Chấp ngã là ngu si.
2. Quan điểm vô ngã của Đức Phật.
3. Vị Thánh đệ tử quán vô ngã, được giải thoát.
Năm kiến xứ đầu là 5 uẩn tức nội thân, kiến xứ thứ sáu là ngoại giới hay đối tượng của năm uẩn, những gì được thấy, nghe, cảm, biết (kiến văn giác tri) qua sáu giác quan. VII. Những đặc tánh của một vị đã giải thoát
1. Đã vất đi các chướng ngại vật.
2. Đã lấp đầy các thông hào.
3. Đã nhổ lên cột trụ.
4. Đã mở tung các lề khóa.
5. Đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không có gì triền phược.
VIII. Một vị giải thoát như vậy không để lại dấu vết. Do thuyết vô ngã, Thế Tôn bị chỉ trích là chủ trương lý thuyết hư vô, đề cao sự hủy diệt của loài hữu tình. Thái độ của Đức Phật trước những lời chỉ trích.
IX. Lời khuyến giáo của Đức Phật
- Hãy từ bỏ những gì không phải của ngươi
- Từ bỏ như vậy sẽ đem lại hạnh phúc an lạc. X. Lợi ích của thuyết pháp
Đưa các Tỷ-kheo chứng được 4 Thánh quả, tuỳ pháp hành, tuỳ tín hành, đưKINH GÒ MỐI
A. Duyên khởi:
Một vị thiên đi đến Tôn giả Kumarakassapa, khi Tôn giả này ở tại Andhavana. Ca Diếp đồng tử - Kumàrakassapa là con nuôi vua Ba Tư Nặc xứ Kosala, con của một phụ nữ xuất gia làm ni
trong lúc không biết đã mang thai. Vào thời gian thuyết kinh này, ông còn ở địa vị hữu học; và đã đắc quả A la hán sau khi Thiền quán đề tài này. Luận nói vị trời trong kinh này là một vị Bất hoàn ở cõi Tịnh cư, một trong nhóm năm người cùng tu Thiền trên một đỉnh núi.
B. Chánh kinh:
I. Vị Thiên nói lên ví dụ một gò mối ban đêm phun khói, ban ngày chói sáng, và một vị Bà-la-môn nói người có trí, lấy cây gươm lần lượt đào lên 8 đồ vật và dừng lại khi thấy con rắn hổ. Vị Thiên nói với Tôn giả Kumarakassapa nên đến Thế Tôn để hỏi ý nghĩa của ví dụ này. Kẻ trí làm theo lời Bà la môn, tuần tự
đào và lấy lên những vật sau đây: 1. một then cửa; 2. một con nhái; 3. một cái chĩa (đường hai ngã); 4. một cái lọc; 5. một con rùa; 6. một con dao phay; 7. một miếng thịt. Cuối cùng gặp
một con rắn hổ
II. Tôn giả Kumarakassapa đi đến Thế Tôn thuật lại ví dụ ấy và yêu cầu Thế Tôn giải thích.
III. Thế Tôn giải thích vấn đề ấy với các chi tiết, nói lên tiến trình tu hành của một vị hữu học từ khi hành trì cho đến khi chứng quả. Thân tứ đại (công việc ban ngày đến đêm suy tầm rồi ban ngày lại hành)vị tỷ kheo hữu học dùng trí huệ+tinh tấntừ bỏ vô minh, phẫn nộ hiềm hận, nghi hoặc, 5 triền cái, 5 thủ uẩn, 5 dục trưởng dưỡng, hỷ thamvị tỷ kheo diệt trừ lậu hoặc
KINH TRẠM XE
A. Duyên khởi:
Tôn giả Sriputta nghe các Tỷ-kheo và Thế Tôn tán thán hạnh đức của Tôn giả Puṇṇa Mantṇiputta nên muốn đi đến yết kiến, khi nghe đồn Tôn giả Puṇṇa đi đến Svatthỵ và đi vào rừng Andhavana. Tôn giả Xá-lợi-phất đi theo vào và bắt đầu tọa đàm về chánh pháp.
B. Chánh kinh:
I. Tôn giả Sriputta hỏi sống Phạm hạnh là vì mục đích giới thanh tịnh... vì mục đích tri kiến thanh tịnh. Tôn giả trả lời là không phải vậy, mà chỉ vì mục đích Vô thủ trước Niết-bàn. Mặc dù trong Trường Bộ kinh 3, 288, cũng nói đến bảy thanh tịnh và hai
thanh tịnh khác nữa là tuệ và giải thoát, có điều lạ là không chỗ nào khác trong Nikàya đề cập Bảy thanh tịnh. Lạ hơn nữa, cả hai vị đại đệ tử này dường như đều thừa nhận Bảy thanh tịnh là một
pháp số rất quen thuộc, một giáo điều cố định. Bảy thanh tịnh vả lại, cũng là cái sườn của toàn bộ Luận Thanh tịnh đạo, đã định nghĩa mỗi giai đoạn tu tập bằng cách giảng rộng theo truyền thống, về tịnh chỉ và tuệ quán. 1. "Giới thanh tịnh" là tuân giữ
nghiêm túc các học giới đã thọ, mà Thanh tịnh đạo giải thích là "bốn cách làm thanh tịnh giới.”
2. "Tâm thanh tịnh" là trừ năm triền cái nhờ đạt cận hành định và các Thiền.
3. "Kiến thanh tịnh" là tuệ liễu biệt bản chất năm uẩn làm nên một chúng sinh.
4. "Đoạn nghi thanh tịnh" là hiểu rõ duyên sinh.
5. "Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh" là phân biệt đúng giữa tà đạo – kinh nghiệm hỷ lạc xuất thần - với chính đạo, tuệ quán liễu tri vô thường vô ngã.
6. "Đạo tri kiến thanh tịnh" là một loạt tuệ quán cao dần để đạt đến những đạo lộ siêu thế.
7. Và "tri kiến thanh tịnh" là các đạo lộ siêu thế.
II. Tôn giả Sriputta hỏi có phải giới thanh tịnh... tri kiến thanh tịnh là Vô thủ trước Niết-bàn, Tôn giả Puṇṇa trả lời không phải vậy, vì nếu là vậy thời vô thủ trước Niết-bàn là đồng đẳng với hữu thủ trước Niết-bàn. (DO CHẤP THỦ CÒN 1 NHÂN DUYÊN) Còn nếu xem cái gì ngoài các pháp này là Vô thủ trước Niết-bàn, thời kẻ phàm phu có thể chứng được Niết-bàn.
III. Tôn giả Puṇṇa dùng ví dụ trạm xe để nêu rõ ý nghĩa này. Vua Pasenadi muốn đi từ Svatthỵ đến Saketa, 7 trạm xe được sắp đặt cho vua dùng, vua đi từ trạm xe thứ 1 đến thứ 2, tiếp tục cho đến trạm xe thứ 7 và từ đây đi đến Saketa. Cũng vậy, giới thanh tịnh chỉ có mục đích đạt cho được tâm thanh tịnh, tâm thanh tịnh chỉ có mục đích đạt cho được kiến thanh tịnh, cho đến tri kiến thanh tịnh... với mục đích đạt cho được Vô thủ trước Niết-bàn.
IV. Hai Tôn giả hỏi tên nhau, và sau khi được biết tên, liền nói l
I. Thế Tôn dùng ví dụ các người thợ săn, gieo các bẫy mồi và thái độ của 4 đoàn nai đối với các bẫy mồi
1. Mục đích của các người thợ săn khi gieo các bẫy mồi.
2. Thái độ của đoàn nai thứ nhất: Xâm nhập ăn các đồ mồi, say đắm phóng dật và trở thành nạn nhân của thợ săn.
3. Thái độ đoàn nai thứ hai: Rút kinh nghiệm đoàn nai đầu, chạy vào rừng tránh các bẫy mồi, sau vì đói khát phải đi đến các bẫy mồi, xâm nhập, say đắm, phóng dật và trở thành nạn nhân. 4. Thái độ đoàn nai thứ ba: Học được kinh nghiệm của hai đoàn nai đầu, không xâm nhập, không chạy trốn vào rừng, ẩn núp gần các đồ mồi, không xâm nhập, không say đắm ăn các đồ mồi. Nhưng các người thợ săn tìm được chỗ ẩn núp của đoàn nai và cuối cùng đoàn nai ấy cũng trở thành nạn nhân của người thợ săn.
5) Thái độ đoàn nai thứ tư: Học được kinh nghiệm của ba đoàn nai đầu, không xâm nhập, không chạy trốn vào rừng, làm một chỗ ẩn núp mà các người thợ săn không tìm ra tông tích dấu vết, ăn các đồ mồi nhưng không xâm nhập, không say đắm, nên thoát khỏi các người thợ săn.
II. Đức Phật giải thích ví dụ
1. Đồ mồi là 5 dục trưởng dưỡng, người thợ săn là ác ma. Các đoàn nai là đồng nghĩa với các samôn, Bà-la-môn.
2. Thái độ của 4 hạng Sa-môn, Bà-la-môn, đối với các dục trưởng dưỡng. Đàn thứ nhất dụ cho những Sa môn Bà la môn tham đắm ngũ dục thế gian, bị ác ma tóm. Đàn thứ hai là Sa môn Bà la môn do tu khổ hạnh ép xác quá độ nên kiệt sức, không còn tinh tấn; do không còn tinh tấn, tâm giải thoát cũng bị kiệt quệ; do tâm giải thoát bị kiệt quệ, họ cũng sa vào thế lực ác ma như đàn đầu tiên. Đàn thứ ba dụ cho Sa môn Bà la môn không bị phóng dật theo ngũ dục như hai đàn trước, nhưng
lại có tà kiến về thế giới thường vô thường, hữu biên vô biên, Như Lai có, không tồn tại sau khi chết v.v... Tà kiến ấy ví như "một chỗ nấp mà thợ săn có thể tìm thấy.” Như vậy họ cũng không thoát khỏi thế lực ác ma. Đàn thứ tư dụ cho Tỳ kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú bốn Thiền, bốn định vô
sắc, Diệt thọ tưởng, khiến ác ma không tìm thấy được đường đi lối về của mình vì vị ấy không còn tham đắm bất cứ gì trên đời.
III. Thế Tôn giải thích thế nào là ác ma, ác ma quyến thuộc không thể đến được. Có hành thiền, chứng được 4 thiền, 4 không, diệt thọ tưởng định, thời ác ma không thể đến được.
KINH THÁNH CẦU
Theo Luận giải Kinh Trung Bộ, "im lặng như Thánh" là nhị Thiền (không còn tầm tứ)
I. Định nghĩa phi thánh cầu và thánh cầu. Một là trong khi mình đang bị sinh già bệnh chết, khổ sầu, ô nhiễm, lại đi tìm cầu những thứ cũng bị sinh già bệnh chết, khổ sầu, ô nhiễm; đó là vợ con, tôi tớ, vàng bạc, của cải... Hai là khi thấy mình bị già chết, khổ sầu, ô nhiễm, bèn đi tìm những thứ vượt ngoài già chết, khổ sầu, ô nhiễm... đạt đến Niết bàn, thoát khỏi mọi khổ ách.
II. Kinh nghiệm thánh cầu của Đức Phật trước khi thành đạo
1. Cầu đạo, học đạo:
a. Thánh cầu của Thái tử.
b. Học đạo với Alara Kalama. Chỗ chứng đắc cao nhất của vị này là Vô sở hữu xứ. Tuổi thọ ở Vô sở hữu xứ - chỗ tái sinh của Thiền giả chứng Vô sở hữu - là sáu mươi ngàn kiếp, sau đó vẫn phải rơi xuống các cõi thấp và chịu luân hồi sinh tử, chưa thoát khỏi lưới bẫy của Ác ma.
c. Học đạo với Uddaka Ramaputta. PhI tưởng phi phi tưởng xứ cũng chưa phải là Niết bàn.
2. Sa-môn Gotama thành đạo.
3. Đức Phật thuyết pháp:
a. Do dự. Ngài suy nghĩ, Pháp Ngài chứng được thật sâu kín, siêu lý luận, chỉ bậc trí thấu hiểu; đối với quần chúng đam mê
khoái lạc, rất khó thấy pháp Duyên khởi này, rất khó hiểu thấu sự tịnh chỉ tất cả hành, từ bỏ sinh y, đạt đến ái diệt, ly tham, Niết bàn. Pháp, theo Luận giải, chính là Bốn chân lý cao cả. Pháp này gồm hai điểm cốt yếu là Duyên khởi và Niết bàn. Duyên khởi bao gồm Khổ và Tập trong bốn chân lý, Niết bàn là Diệt và Đạo.
b. Phạm thiên thỉnh Đức Phật thuyết pháp. c. Đức Phật quyết định thuyết pháp.
d. Đức Phật thuyết pháp cho 5 vị Tỷ-kheo.
đ. Trên đường đi đến Ba-la-nại. Sự gặp gỡ với Upaka.
4. Đức Phật thuyết pháp cho 5 vị Tỷ-kheo.
III. Bài thuyết pháp về 5 dục trưởng dưỡng
1. Định nghĩa.
2. Nguy hiểm.
3. Giải thoát. Vị ấy có thể tu chứng bốn Thiền, bốn không và Diệt thọ tưởng định, vượt khỏi tầm mắt của Ác ma, như nai không bị sập bẫy, vượt khỏi tầm tay thợ săn, có thể tung tăng trong rừng.
TIỂU KINH DỤ DẤU CHÂN VOI
(Cḷahatthipadopama Sutta)
(M.i, 175)
A. Duyên khởi:
Du sĩ Pilotika mới đi yết kiến Sa-môn Gotama về có lời tán thán trí tuệ của Sa-môn Gotama và nói rằng vì thấy 4 dấu chân của Sa-môn Gotama nên mới có lời tán thán như vậy. Jṇussoṇi nghe xong, đảnh lễ Thế Tôn đi đến gặp Sa-môn Gotama và trình bày câu chuyện lên Sa-môn Gotama.
B. Chánh kinh:
I. 4 dấu tích của 4 loài voi, và dấu tích của con voi tối thượng.
II. 4 dấu tích của Như Lai
1. Dấu tích thứ I: Như Lai thuyết pháp, thiện nam tử nghe pháp, xuất gia, giữ giới.
2. Dấu tích thứ II: Chứng được thiền định.
3. Dấu tích thứ III: Chứng được trí tuệ gồm 3 minh. 4. Dấu tích thứ IV: Giải thoát các lậu hoặc. Theo sử liệu xứ Tích Lan, kinh này là bản kinh đầu tiên mà Thượng tọa Mahinda đã giảng khi Ngài mới đến nước này.
Không đi đến kết luận về Ba ngôi báu, bởi vì bốn Thiền và tuệ thuộc thế gian (túc mạng trí, biết các đời trước của mình, và sinh tử trí, biết việc sống chết của kẻ khác) thì ngoại đạo cũng có nhưPhật giáo. Kinh này hiển thị rằng, chỉ khi vị đệ tử đắc quả A la hán, việc làm đã xong, mới có thể đi đến kết luận thực chính xác về Tam bảo.
ĐẠI KINH DỤ DẤU CHÂN VOI
A. Duyên khởi:
Tôn giả Sripuha thuyết giảng.
B. Chánh kinh:
I. Tất cả thiện pháp đều tập trung trong 4 Thánh đế, như tất cả dấu chân của các loài thú đều tập trung trong dấu chân voi, vì dấu chân này được xem là lớn nhất.
II. Định nghĩa 4 Thánh đế, khổ thánh đế, 5 thủ uẩn, sắc thủ uẩn, 4 đại chủng: Địa, thủy, hỏa, phong.
KHỔ THÁNH ĐẾ: Sanh là khổ, già là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ,
điều gì cầu không được là khổ, tóm lại Năm thủ uẩn là khổ. SẮC THỦ UẨN: Bốn đại và sắc khởi lên từ bốn đại. (KO THẤY NÓI 4 UẨN CÒN LẠI) KHỔ TẬP: Sự tham dục, chấp trước, tham đắm, mê say trongnăm thủ uẩn này tức là khổ tập KHỔ DIỆT: sự nhiếp phục tham dục, sự từ bỏ tham dục tức là sự khổ diệt ĐẠO ĐẾ: KO THẤY NÓI??? III. Địa giới
1. Định nghĩa nội địa giới và ngoại địa giới, quán vô ngã và vô thường. Có nội địa giới, có ngoại địa (KO THẤY NÓI)giới. Chư Hiền, thế nào là nội địa giới? Cái gì thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ, như tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bao tử, phân, và bất cứ vật gì khác thuộc nội thân, thuộc cá nhân, thô phù, kiên cứng, bị chấp thủ. Chư Hiền, như vậy gọi là nội địa giới. Những gì thuộc nội địa giới và những gì thuộc ngoại địa giới đều thuộc về địa giới. Cần phải như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Sau khi như thật quán sát địa giới với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy sanh yểm ly đối với địa giới, tâm từ bỏ địa giới.
2. Sử dụng phép quán khi bị mắng chửi và bị đánh đập. Chư Hiền, nếu những người khác xử sự với Tỷ-kheo không có hoàn hảo, không có tốt đẹp, không có khả ái, hoặc dùng tay xúc chạm, hoặc dùng đá xúc chạm, hoặc dùng gậy xúc chạm, hoặc dùng gươm xúc chạm, vị ấy tuệ tri như sau: "Sự thể của thân này là như vậy, nên tay có thể xúc chạm, đá có thể xúc chạm, gậy có thể xúc chạm, gươm có thể xúc chạm. Thế Tôn đã dạy như sau trong ví dụ cái cưa: "Chư Tỷ-kheo, nếu có kẻ trộm cướp hạ tiện lấy cái cưa hai lưỡi cắt từng phần tay và chân. Nếu ai ở đây sanh ý phẫn nộ, người ấy không làm đúng lời Ta dạy". Ta sẽ tinh cần, tinh tấn, không dải đãi. Niệm được an trú không có loạn niệm, thân thể được khinh an, không dao động, tâm được định tĩnh nhất tâm. Luận giải "niệm Phật" là nhớ lời Phật dạy về ví dụ cái cưa trong kinh số 21; "niệm Pháp" là nhớ lời khuyên của Ngài trong ví dụ cái cưa; "niệm Tăng" là nhớ đến đức nhẫn của vị Tỳ kheo có thể kham nhẫn những sự nhục mạ không phẫn hận. Xả tương ưng với thiện là xả do tuệ, tức thái độ không ưa không ghét trước những đối tượng đáng ưa ghét xuất hiện qua sáu cửa ngõ giác quan. Nói một cách tuyệt đối, xả này chỉ bậc A la hán mới có, vị Tỳ kheo hữu học thì đang hướng về đức tính này. IV. Thủy giới, hỏa giới và phong giới.
V. Sự hiện khởi của 5 thủ uẩn ngang qua 6 căn và lý sự thật áp dụng vào 5 thủ uẩn. SẮC PHÁP: Chư Hiền, như một khoảng trống được bao vây bởi cây gậy, bởi dây leo, bởi cỏ, bởi bùn, được biết là một nhà ở. Cũng vậy, Chư Hiền, một khoảng trống được bao vây bởi xương, bởi dây gân, bởi thịt, bởi da, được biết là một sắc pháp. Chư Hiền, chỉ khi nào nội 6 CĂN không bị hư hại, 6 TRẦN vào trong tầm 6 CĂN, có sự quy tục xúc chạm thích hợp, thì THỨC phần thích hợp có hiện khởi. Bất cứ sắc pháp gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong sắc thủ uẩn; bất cứ cảm thọ gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thọ thủ uẩn; bất cứ tưởng gì được hiện khởi như vậy đều được quy tụ trong tưởng thủ uẩn; bất cứ hành gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong hành thủ uẩn; bất cứ thức gì được hiện khởi như vậy đều quy tụ trong thức thủ uẩn. Vị ấy tuệ tri như sau: "Như vậy, như người ta nói, có sự quy tụ, sự tập hợp, sự hòa hợp của năm thủ uẩn này. Thế Tôn đã nói như sau: "Ai thấy được lý duyên khởi, người ấy thấy được pháp; ai thấy được pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi". Những pháp này do duyên khởi lên chính là năm thủ uẩn. Luận chú thích: "Ai thấy lý duyên khởi thì thấy các pháp do duyên khởi; ai thấy các pháp do duyên khởi thì thấy được lý duyên khởi." Chú giải này tuy rõ hơn (ám chỉ năm thủ uẩn là pháp duyên khởi) song không bao hàm hết ý nghĩa sâu sắc của lời Phật dạy, theo đó có thể hiểu toàn thể của Pháp
là Duyên khởi và toàn thể của Duyên khởi là Pháp.
ĐẠI KINH THÍ DỤ LÕI CÂY
Thế Tôn đề cập đến 5 hạng người tu phạm hạnh.
I. Tu phạm hạnh cành lá: Thế Tôn đề cập đến hạng người xuất gia, được lợi dưỡng và tự mãn, ví như người đi tìm lõi cây lại chặt cành lá đem về. Vị xuất gia này được xem là chỉ thành tựu Phạm hạnh cành lá.
II. Tu Phạm hạnh vỏ ngoài: Tiếp đến Thế Tôn đề cập đến hạng xuất gia, thành tựu giới đức rồi tự mãn, ví như người đi tìm lõi cây chỉ mang vỏ ngoài về.
III. Tu Phạm hạnh vỏ trong: Thành tựu thiền định rồi tự mãn, ví như người đi tìm lõi cây chỉ mang về vỏ trong.
IV. Tu Phạm hạnh giác cây: Thế Tôn đề cập đến hạng xuất gia, thành tựu tri kiến rồi tự mãn, ví như người đi tìm lõi cây chỉ mang về giác cây phạm hạnh. Hạng thứ tư không vì thành tựu Thiền định mà phóng dật, nên có được tri kiến, và do tri kiến nên khen mình chê người
V. Tu phạm hạnh lõi cây: Thế Tôn đề cập đến loại người xuất gia thành tựu thời giải thoát và phi thời giải thoát, ví như người đi tìm lõi cây chặt lõi cây và mang về. Mục đích hành trì phạm hạnh là đạt cho được tâm giải thoát bất động. Hạng thứ năm nhờ có tri kiến nhưng không phóng dật, mà thành tựu giải
thoát tạm thời và giải thoát vĩnh viễn.
Tâm giải thoát bất động này chính là lõi cây, là mục tiêu của đời sống phạm hạnh. Tri kiến theo Luận giải là thiên nhãn, khả năng thấy được những sắc vi tế mà mắt thường không thể trông thấy.
"Thành tựu Thiền định" là điều kiện để đạt tri kiến; tri kiến là căn bản để đắc 4 Thiền 4 định và chứng diệt thọ tưởng -gọi là thời giải thoát, và lậu tận, gọi là phi thời giải thoát.
Thời giải thoát, samayavimokkha: Giải thoát tạm thời, là bốn Thiền, bốn định vô sắc và diệt định.
Phi thời giải thoát, asamayavimokkha, là bốn đạo bốn quả và Niết bàn. Tâm giải thoát bất động là quả vị A la hán. Như vậy, "phi thời giải thoát" có nghĩa rộng hơn là tâm "giải thoát bất
động", được xem là mục đích duy nhất của đời sống phạm hạnh. THỜI GIẢI THOÁT LÀ SỰ GIẢI THOÁT ĐỐI VỚI PHÁP THẾ GIAN, THẾ TỤC VÀ NHỮNG PHÁP TẠM BỢ, TẠM THỜI.
TIỂU KINH THÍ DỤ LÕI CÂY
A. Duyên khởi
Bà-la-môn Pingalakoccha đến hỏi Đức Phật về nhứt thiết trí của 6 ngoại đạo sư. Đức Phật khuyên để một bên vấn đề ấy và thuyết giảng kinh này.
B. Chánh kinh:
I. Có 5 hạng người đi tìm lõi cây:
1. Hạng chặt cành lá đem về.
2. Hạng chặt vỏ ngoài đem về.
3. Hạng chặt vỏ trong đem về.
4. Hạng chặt giác cây đem về.
5. Hạng chặt lõi cây đem về.
II. Có 5 hạng người xuất gia tương đương với 5 hạng người đi tìm lõi cây ở trên: 1. Hạng tự mãn với lợi dưỡng, tôn kính, danh vọng.
2. Hạng tự mãn với giới đức.
3. Hạng tự mãn với thiền định.
4. Hạng tự mãn với thành tựu tri kiến.
5. Hạng thành tựu 4 thiền, 4 không, diệt thọ tưởng định và đoạn tận các lậu hoặc.
III. Mục đích của Phạm hạnh không phải vì lợi ích lợi dưỡng tôn kính danh vọng, thành tựu giới đức, thành tựu thiền định, thành tựu tri kiến. Mục đích phạm hạnh là tâm giải thoát bất động.
TIỂU KINH RỪNG SỪNG BÒ
A. Duyên khởi:
Thế Tôn đến thăm ba Tôn giả Anuruddha, Nandiya và Kimbila, và bắt đầu đàm đạo với ba Tôn giả này.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn hỏi ba câu hỏi về đời sống của ba vị Tôn giả và các vị này trả lời:
1. Sống có được yên vui, khất thực có dễ dàng không.
2. Có sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa.
3. Sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, như nước với sữa như thế nào.
II. Thế Tôn hỏi ba vị Tôn giả, có sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, và sống như thế nào. Ba vị Tôn giả trả lời là có và diễn tả nếp sống không phóng dật của mình.
III. Thế Tôn hỏi ba vị Tôn giả, sống như vậy có chứng được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng, thoải mái an lạc không? Ba vị Tôn giả trả lời có và diễn tả nếp sống chứng ngộ giải thoát của mình.
Tôn giả A Na Luật, với tâm mình biết tâm của hai vị kia, nên đáp rằng họ có thể chứng bốn Thiền cho đến Diệt thọ tưởng, không có lạc trú nào cao hơn nữa. Phật xác nhận họ nói đúng. IV. Thế Tôn thuyết pháp cho ba vị Tôn giả rồi ra về. Tôn giả Anuruddha nhờ tha tâm thông nên biết được quả chứng của hai vị Tôn giả kia và đã trả lời chính xác cho Thế Tôn.
C. Kết luận:
Dạ xoa Parajana đến yết kiến Thế Tôn nói lên lời tán thán ba vị Tôn giả và nói danh tiếng của ba vị Tôn giả này được đồn lên đến Phạm thiên. Thế Tôn xác nhận là đúng và nói lên các công đức tốt đẹp mà ba vị Tôn giả này đã đem lại cho những ai có liên hệ với ba vị Tôn giả này. A Na Luật là em họ của Phật, Nan Đề và Kim Tỳ La là bạn thân của A Na Luật từ khi còn tại gia.
Từ thân nghiệp, ngữ và ý nghiệp là ba trong sáu nguyên tắc sống chung gọi là Lục hòa.
Dạ xoa Luận nói vị này là vua trời trong số 28 tướng Dạ xoa đề cập trong kinh Trường bộ số
32. ĐẠI KINH RỪNG SỪNG BÒ
A. Duyên khởi:
Các Tôn giả Mah Moggallna, Tôn giả Anurudaha, Tôn giả nanda..... đi đến Tôn giả Sriputta để nghe pháp.
B. Chánh kinh:
Tôn giả Sriputta lần lượt hỏi các vị Tôn giả, hạng Tỷ-kheo nào làm chói sáng khu rừng Gosinga. Các vị Tôn giả trả lời theo khả năng hiểu biết của mình.
A Nan trả lời: Hạng đa văn.
Ly Bà Đa: Hạng độc cư Thiền định.
A Na Luật: Hạng có thiên nhãn.
Ca Diếp: Hạng khổ hạnh.
Mục Kiền Liên: Hạng giỏi luận thuyết.
Khi họ hỏi lại quan điểm của Xá Lợi
Phất, Tôn giả trả lời "hạng có khả năng điều phục tâm.”
VII. Sau cuộc đàm luận, cả sáu vị Tôn giả đi đến yết kiến Thế Tôn, tường thuật lại tất cả sáu câu trả lời của 6 vị Tôn giả về hạng Tỷ-kheo có khả năng làm chói sáng khu rừng Gosinga.
VIII. Sau khi nghe xong, Thế Tôn trả lời là 6 vị Tỷ-kheo này đều khéo trả lời trong khả năng hiểu biết và tu tập của mình. Cuối cùng, Đức Phật trả lời vị Tỷ-kheo nào ngồi hành trì thiền định cho đến khi đoạn trừ được các lậu hoặc, vị ấy có thể làm sáng chói ngôi rừng Gosinga. (tức là vị Tỳ kheo đã chứng quả A la hán).
ĐẠI KINH NGƯỜI CHĂN BÒ
A. Duyên khởi:
I. Thế Tôn dạy một người chăn bò không đầy đủ 11 pháp, không thể khiến đàn bò được tăng thịnh. Cũng vậy, một Tỷ-kheo không đầy đủ 17 pháp, không thể lớn mạnh trong pháp và luật này.
B. Chánh Kinh:
II. Thế nào là vị Tỷ-kheo không đầy đủ 11 pháp?
1. Biết sắc, tức biết về bốn đại và sắc do 4 đại tạo.
2. Biết tướng, là biết phân biệt cách hành xử của kẻ ngu và bậc trí.
3. Biết trừ bỏ trứng bọ chét, là biết trừ khử ngay trong mầm mộng các ý niệm dục, sân, hại và những bất thiện khác.
4. Biết băng bó vết thương, là chế ngự tâm khi căn trần xúc đối.
5. Biết xông khói, là thuyết giảng rộng rãi chính pháp đã được nghe.
6. Biết chỗ nước có thể lội qua, là biết cầu học những vị đa văn về ba tạng kinh điển.
7. Biết chỗ nước uống, là tin hiểu Pháp và Nghĩa, có được sự hân hoan liên hệ đến pháp.
8. Biết con đường, là biết Thánh đạo tám ngành.
9. Biết nơi đàn bò có thể ăn cỏ, là biết bốn niệm xứ.
10. Biết giữ sữa, không vắt cho đến khô kiệt, là không lạm dụng sự cúng dường của thí chủ.
11. Biết săn sóc đặc biệt con bò đầu đàn, là biết kính ái bậc tôn túc trưởng lão, sau lưng như trước mặt. Nghĩa tín thọ: tin nhận ý nghĩa của Pháp.
Pháp tín thọ: tin nhận văn tự trình bày
Pháp.
TIỂU KINH NGƯỜI CHĂN BÒ
I. Ảnh dụ người chăm bò:
1. Ví như có kẻ chăn bò vô trí đuổi đàn bò qua chỗ nước không thể lội qua, có những Sa-môn, Bà-la-môn ngu si, không khéo biết đời này, đời sau, ma giới. Bất hạnh và đau khổ lâu dài cho những ai nghĩ cần phải nghe và tin theo những vị này. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn hay Bà-la-môn không khéo biết đời này, không khéo biết
đời sau, không khéo biết ma giới (DỤC GIỚI, SẮC GIỚI,VÔ SẮC GIỚI) không khéo biết phi ma giới (CỬU THỨ ĐỆ ĐỊNH), không khéo biết tử thần giới (ÁI), không khéo biết phi tử thần giới (NIẾT BÀN), những ai nghĩ rằng cần phải nghe, cần phải tin những vị này, thì họ sẽ gặp bất hạnh đau khổ lâu dài.
2. Ví như có người chăn bò có trí đuổi những con bò qua bờ bên kia một cách an toàn, có những Sa-môn hay Bà-la-môn khéo biết đời này, đời sau, ma giới. Hạnh phúc và an lạc lâu dài cho những ai nghĩ cần phải nghe và tin những vị này. III. Các quả vị chứng đắc khi đi theo con đường của bậc trí:
1. Những Tỷ-kheo là những bậc A-la-hán.
2. Những Tỷ-kheo sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử là những bậc Bất lai.
3. Những Tỷ-kheo đã diệt trừ ba kiết sử, làm giảm thiểu tham, sân, si, chứng quả Nhất lai.
4. Những Tỷ-kheo đã diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu.
5. Những Tỷ-kheo là những vị tùy pháp hành, tùy tín hành.
những bậc A la hán, như con bò đầu đàn; A na hàm, như bò đực đã thuận; bậc Nhất lai, như bò con đã lớn; Dự lưu, như bò con còn bú; những bậc tùy pháp hành, tùy tín hành, như bò con mới sinh còn chạy theo mẹ. A la hán có hai hạng: Tâm giải thoát do lúc tu Thiền về Định; Tuệ giải thoát do lúc tu Thiền về Tuệ. Tùy tín hành: người đắc Dự lưu đạo tu nhờ tu quán vô thường. Từ đây trở đi cho đến quả vị A la hán, vị ấy được gọi là bậc Tín giải thoát.
Tùy pháp hành: người đắc Dự lưu đạo nhờ tu quán vô ngã. Ở các địa vị trên
Dự lưu đạo, gọi là bậc Kiến chí. Khi đắc A la hán quả, vị ấy được gọi là bậc Tuệ giải thoát.
TIỂU KINH SACCAKA
A. Duyên khởi:
I. Lời huyênh hoang của Saccaka tự cho là biện luận đệ nhất.
II. Được Tôn giả Assaji trả lời là Sa-môn Gotama giảng dạy các hành là vô thường, các pháp là vô ngã, Saccaka tỏ ý thất vọng và muốn đi đến Sa-môn Gotama để có một cuộc tranh luận. Rồi Saccaka đi đến Sa-môn Gotama và cuộc tranh luận bắt đầu.
B. Chánh kinh:
I. Khi Sa-môn Gotama tuyên bố lời dạy của Ngài là các hành là vô thường, các pháp là vô ngã, Saccaka cật vấn lại, và chủ trương 5 uẩn là tự ngã của ta.
II. Thế Tôn hỏi vặn lại, nếu 5 uẩn là tự ngã của ta, thời ta có quyền hành gì đối với 5 uẩn không. Ban đầu Saccaka tránh né không trả lời, sau bắt buộc phải xác nhận là ta không có quyền hành gì đối với 5 uẩn.
III. Thế Tôn tuyên bố 5 uẩn là vô thường, là khổ, và không thể xem là tự ngã của mình được.
IV. Thế Tôn và Dummukha chỉ trích lời huyênh hoang của Saccaka là trống rỗng.
V. Thế Tôn trả lời cho Saccaka như thế nào đệ tử của mình trở thành bậc tuân phụng giáo điều và thành bậc A-la-hán.
C. Kết luận:
1. Lời hối hận của Saccaka đã dám luận chiến với Sa-môn Gotama.
2. Saccaka mời Thế Tôn đến dùng cơm tại nhà, và nghe Thế Tôn thuyết giảng về công đức bố thí. Ba Vô thượng: Kiến Vô thượng chỉ tuệ thế gian và siêu thế; Vô thượng đạo là sự thực hành tuệ ấy; và Vô thượng giải thoát là kết quả của thực hành. Hoặc có thể giải thích cả ba hoàn toàn siêu thế:
Vô thượng kiến là cái thấy chân chính thuộc A la hán đạo; Vô thượng đạo là bảy địa vị còn lại; Vô thượng giải thoát là quả vị A la hán.
Hoặc 1 là tri kiến Niết bàn; 2 là các yếu tố thuộc đạo; 3 là quả tối cao.
ĐẠI KINH SACCAKA
A. Duyên khởi:
Thế Tôn trú tại Đại Lâm trùng các giảng đường và Saccaka cùng đến tại chỗ ấy. Tôn giả nanda yêu cầu Thế Tôn có cuộc đàm luận với Saccaka vì vị này hay chỉ trích Phật, Pháp, Tăng. Thế Tôn nhận lời và cuộc đàm luận bắt đầu.
B. Chánh kinh:
I. Saccaka trình bày về thân tu tập và tâm tu tập của ngoại đạo và giải thích về thân tu tập.
II. Thế Tôn giải thích về thân không tu tập, tâm không tu tập, thân tu tập và tâm tu tập trong pháp luật của bậc Thánh. Vị ấy không bị lạc thọ chi phối, vì có tu tập về thân. Vị ấy không bị khổ thọ chi phối, vì có tu tập về tâm.
III. Kinh nghiệm về thân tu tập và tâm tu tập của Sa-môn Gotama: 1. Xuất gia.
2. Cầu đạo học đạo.
3. Ba ví dụ.
4. Tu khổ hạnh.
a. Nghiến răng chế ngự tâm.
b. Chỉ tức thiền I, II, III, IV, V.
c. Tuyệt thực, giảm thiểu ăn uống.
d. Ý thức được khổ hạnh không phải con đường giải thoát.
5. Ăn uống lại, tu bốn thiền.
6. Chứng được 3 minh, thành đạo. Để trả lời, Phật kể lại, sau khi thoát ly gia đình, Ngài nhận thấy nếu không xả ly các dục về thân mà tu khổ hạnh, thì cũng vô ích như cọ xát một khúc cây
còn ướt để lấy lửa. Do đó Ngài từ bỏ các dục, khởi sự tu khổ hạnh. Ngài cảm thọ những khổ thọ khốc liệt, nhưng khổ thọ ấy không chi phối được tâm Ngài. Tuy vậy, vì khổ hạnh đã không giúp Ngài chứng được pháp thượng nhân, nên Ngài nhớ lại một kinh nghiệm Thiền lạc mà Ngài đã nếm trải lúc còn thơ ấu. Ngài khởi sự nghĩ không phải tất cả lạc thọ đều đáng sợ, mà còn có
thứ lạc thọ vô hại này, đó là lạc thọ ly dục, ly bất thiện pháp, chứng và trú các Thiền... Nhưng không thể nào chứng được các lạc thọ ấy với một thân thể gầy yếu. Và từ đấy Ngài ăn uống trở lại để tham Thiền, và đã đắc đạo. Như vậy lạc thọ của các Thiền chứng đã khởi lên nơi Ngài nhưng Ngài không bị lạc thọ ấy chi phối.
IV. Thế Tôn giải thích thách thức của Saccaka: ngủ ban ngày không phải là còn si ám đối với vị đã đoạn trừ lậu hoặc.
V. Saccaka tán thán Thế Tôn, trong khi biện luận, không có nổi nóng như các ngoại đạo sư.
TIỂU KINH ĐOẠN TẬN ÁI
A. Duyên khởi
Duyên khởi do Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn thế nào là một vị Tỷ-kheo ái tận giải thoát?
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn trả lời: Vị Tỷ-kheo không thiên chấp tất cả pháp, thắng tri, liễu tri tất cả pháp. Phàm cảm thọ nào khởi lên, quán vô thường, ly tham đoạn diệt, xả ly, không chấp trước, không phiền não dao động, chứng Niết-bàn. Tất cả pháp ở đây là 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới. Chúng được xem là không đáng tham lam chấp thủ (ái và kiến) vì cuối cùng, trên thực tế, chúng hóa ra trái
ngược: Chúng được bám víu vì tưởng là thường, lạc và ngã, nhưng kỳ thực là vô thường, khổ, vô ngã.
II. Cuộc gặp gỡ giữa Tôn giả Moggallna với thiên chủ Sakka.
1. Tôn giả Moggallna lên cõi trời 33 hỏi Sakka về câu kệ vừa được nghe từ Thế Tôn. Thiên chủ Sakka tránh né vấn đề và mời Tôn giả Moggallna đi thăm cung điện Vejayanta. 2. Thiên chủ Sakka khoe khoang vẻ đẹp của lâu đài và tán thán công đức của Kosiya đã làm thời xưa.
3. Tôn giả Moggallna thấy Thiên chủ Sakka quá phóng dật, khoe khoang, nên dùng thần thông làm cho cung điện Vejayanta rung động khiến Thiên chủ Sakka hoảng hốt lo sợ.
4. Tôn giả Moggallna hỏi lại câu hỏi của mình và Thiên chủ Sakka phải nhắc lại câu kệ ái tận giải thoát, đã được nghe từ Thế Tôn.
III. Tôn giả Moggallna về thuật lại với Thế Tôn cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Tôn giả với Thiên chủ Sakka. Thế Tôn xác nhận câu kệ ái tận giải thoát được kể lại là đúng với lời dạy của Thế Tôn. Đế thích gọi Tôn giả Mục Liên là bạn đồng tu phạm hạnh, vì bản thân ông trước kia đã chứng quả Dự lưu – theo kinh Trường bộ số 21, và như vậy trước sau gì ông cũng đạt đến giải thoát như Tôn giả.
ĐẠI KINH ĐOẠN TẬN ÁI
A. Duyên khởi:
Tỷ-kheo Sati khởi lên tà kiến, xem thức là dong ruổi luân chuyển nhưng không đổi khác. Các Tỷ-kheo khuyên Sati nên bỏ tà kiến này, nhưng không được, bèn thưa lên Đức Phật. Đức Phật cho gọi Sati đến và Sati xác nhận có nói như thế.
B Chánh kinh:
I. Thế Tôn xác nhận đúng nghĩa của thức là do duyên sanh, tuỳ duyên mà có tên sai khác. Rồi Ngài đề cập đến sự có mặt, sự tập khởi, sự đoạn diệt của thức và một số vấn đề liên quan đến vấn đề này.
II. TỨ THỰC LẤY ÁI LÀM NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN LÃO, TỬ NHƯ VẬY LÀ SỰ TẬP KHỞI CỦA TOÀN BỘ KHỔ UẨN NÀY
III. Sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn, theo tiến trình duyên sanh.
IV. Sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này theo tiến trình duyên diệt. Này các Tỷ-kheo, các Ông nên biết như vậy, thấy như vậy, có còn chạy theo thời quá khứ, và suy nghĩ:
"Ta có mặt trong thời quá khứ hay không có mặt trong thời quá khứ? Ta có mặt trong thời quá khứ như thế nào? Ta có mặt trong thời quá khứ, hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta có mặt như thế nào trong thời quá khứ"? Tỳ kheo biết như vậy sẽ không truy tầm quá khứ hay theo đuổi vị lai để đi tìm tự ngã. IV. Ích lợi của sự hiểu biết về sự hiện hữu, tập khởi và đoạn diệt của một sinh vật. “Này các Tỷ-kheo, có ba sự hòa hợp mà một bào thai thành hình: ở đây, cha mẹ có giao hợp và người mẹ không trong thời có thể thụ thai, và hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình. Ở đây, cha và mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, nhưng hương ấm (gandhabba) không hiện tiền, như vậy bào thai không thể thành hình. Và này các Tỷ-kheo, khi nào cha mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, và hương ấm có hiện tiền; có ba sự hòa hợp như vậy, thì bào thai mới thành hình.” “Khi thấy sắc bằng mắt, người đó tham ái đối với sắc đẹp, người đó ghét bỏ đối với sắc xấu, người đó sống niệm không an trú trên thân, với một tâm nhỏ mọn. Người đó không như thật tuệ tri tâm giải thoát (THƯỜNG LIÊN HỆ 4 VÔ LƯỢNG TÂM), tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của người đó được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy, đối diện với thân, sơ (thuận, nghịch) (THAM, SÂN)có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, người đó tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước thọ ấy. Vì tùy hỷ, hoan nghênh, tham trước cảm thọ ấy, nên dục sanh hỷ, có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ ấy, nên dục hỷ sanh, có tâm dục hỷ đối với những cảm thọ ấy, tức là chấp thủ. Do duyên thủ nên hữu sanh; do duyên hữu nên sanh sinh khởi; do duyên sanh nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.”
V. Sự tập khởi toàn bộ khổ uẩn của một con người và sự đoạn diệt toàn bộ khổ uẩn của một con người nhờ Như Lai thuyết pháp.
“Khi vị ấy thấy sắc bằng mắt, vị ấy không tham ái đối với sắc đẹp, không ghét bỏ đối với sắc xấu, vị ấy sống an trú niệm trên thân, với tâm vô lượng. Vị ấy như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát, chính nhờ chúng mà các ác bất thiện pháp của vị ấy được trừ diệt, không có dư tàn. Như vậy từ bỏ (thuận nghịch), có cảm thọ nào khởi lên: lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy. Vì vị ấy không tùy hỷ, không hoan nghênh, không tham trước thọ ấy, nếu có dục hỷ nào đối với các cảm thọ, dục hỷ ấy được trừ diệt. Do dục hỷ của vị ấy diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này….”
ĐẠI KINH XÓM NGỰA
Thế Tôn trình bày các pháp tác thành vị Sa-môn.
I. Các pháp tác thành giới học, có 7 pháp:
1. Tàm quý. Tàm (hiri) và quý (otappa): hai đức tính bổ túc cho nhau, trong kinh Tăng chi, được Phật gọi là những vị "hộ trì thế gian" vì đấy là nền tảng của Giới. Tàm có đặc tính là ghê tởm trước điều ác, do một ý thức về tính tự trọng. Tàm được thể hiện là sự tự trách mình. Quý có đặc tính là sợ hãi điều quấy, quan
tâm đến dư luận
2. Thân hành, khẩu hành, ý hành thanh tịnh.
3. Mạng sống thanh tịnh.
4. Hộ trì các căn.
5. Tiết độ trong ăn uống.
6. Chú tâm cảnh giác.
7. Chánh niệm tỉnh giác. II. Các pháp tác thành định học:
1. Đoạn trừ 5 triền cái, 5 ví dụ đoạn triền cái.
2. Chứng 4 thiền, 4 ví dụ chứng 4 thiền.
III. Các pháp tác thành tuệ học:
1. Túc mạng minh.
2. Thiên nhãn minh.
3. Lậu tận minh.
IV. Giải thoát và giải thoát tri kiến, ví dụ.
V. Vị ấy xứng đáng được 7 danh xưng.
1. Sa-môn.
2. Bà-la-môn.
3. Vị đã tắm sạch sẽ.
4. Vị đã biết, đã hiểu rõ.
5. Vị có học.
6. Là bậc Thánh.
7. Là Bậc A-la-hán. Sa môn là người đã "dừng lại các ô nhiễm đáng sợ, đem lại khổ quả tái sinh, già chết trong tương lai"; còn Bà la môn là người "đã tắm rửa sạch sẽ tất cả các ác bất thiện pháp, những ô nhiễm đưa đến tái sinh, già chết."
TIỂU KINH XÓM NGỰA
Thế nào là Tỷ-kheo không thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn. Có 12 ác pháp khiến không đoạn diệt được cấu uế của Sa-môn, đưa vào đoạ xứ. Tham dục, sân hận, phẫn nộ, thù hằn, giả dối, não hại, tật đố, xan lẫn, man trá, xảo quyệt, ái dục, tà kiến.
II. Sa-môn hạnh không tùy thuộc 10 khổ hạnh của vị Sa-môn. Không chỉ nhờ vào 10 khổ hạnh này mà các ác pháp được đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị mang đại y (Sanghati) chỉ tùy thuộc vào mang đại y.
III. Thế nào là vị Tỷ-kheo thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn. Nhờ đoạn 12 ác pháp nên đoạn được cấu uế của Sa-môn và khỏi sanh vào ác thú. IV. Các quả chứng do thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn
1. Do tự ngã được giải thoát các ác pháp nên hân hoan sanh, định sanh.
2. Vị ấy tu tập 4 vô lượng tâm, nội tâm được định tĩnh, dầu xuất gia từ giai cấp nào. Vị ấy thấy tự ngã được gột sạch tất cả những ác, bất thiện pháp và vị ấy thấy tự ngã được giải thoát. Do thấy tự ngã được gột sạch tất cả những ác, bất thiện pháp ấy, do thấy tự ngã được giải thoát nên hân hoan sanh; do tâm hân hoan nên hỷ sanh; do hỷ nên thân được khinh an; do thân khinh an nên lạc thọ sanh; do lạc thọ nên tâm được định tĩnh.
Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận không sân.
Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với bi, quảng đại vô biên, không hận không sân.
Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với hỷ, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với hỷ, quảng đại vô biên, không hận không sân.
Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân sau khi tu tập từ, bi, hỷ, xả, nội tâm được định tĩnh, Ta nói rằng chính nhờ nội tâm định tĩnh, vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn.
3. Nhờ nội tâm định tĩnh, thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, có thể đoạn trừ các lậu hoặc, đạt tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
KINH SĀLEYYA
A. Duyên khởi:
Các gia chủ Bà-la-môn ở làng Sa-la đến hỏi Thế Tôn về nguyên nhân bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục và nguyên nhân được sanh vào thiện thú, Thiên giới. Rồi Thế Tôn thuyết giảng kinh này với mười nghiệp đạo.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn nói vắn tắt về nguyên nhân sanh vào thiện thú và ác thú.
II. Thế Tôn giải thích rộng rãi lời dạy này với mười hạnh nghiệp
1. Mười ác nghiệp đưa đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục:
a. Ba loại thuộc thân hành là sát sanh, trộm cắp, và tà hạnh đối với các dục. , nói thô ác, và nói phù phiếm.
c. Ba loại thuộc ý hành là tham, sân, và điên đảo tưởng.
2. Mười thiện nghiệp đưa đến thiện thú, Thiên giới, đời này:
a. Ba loại thuộc thân hành là từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, và từ bỏ tà hạnh đối với các dục.
b. Bốn loại thuộc khẩu hành là từ bỏ vọng ngữ, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói thô ác, và từ bỏ nói phù phiếm.
c. Ba loại thuộc ý hành là không tham, không sân, và có chánh kiến.
III. Kết quả như ý do hành đúng pháp, đúng chánh đạo.
Có tà kiến "Không có bố thí" nghĩa là tà kiến phủ nhận quả báo của bố thí. "Không đời này, đời sau" phủ nhận tái sinh. "Không mẹ, không cha" phủ nhận quả báo của sự bất hiếu hay có hiếu với cha mẹ. "Không có Sa môn..." phủ nhận hiện hữu của Phật và các bậc A la hán. Đây toàn là những loại chấp "không tưởng" của chủ nghĩa duy vật. "Hành đúng pháp, đúng chính đạo"
được nói trong Kinh, là điều kiện cần để tái sinh vào các cõi trời và diệt tận lậu hoặc, nhưng chưa phải là đủ. Ví dụ, muốn tái sinh vào cõi Phạm thiên trở lên, cần phải đắc các Thiền chứng.
Muốn tái sinh vào các cõi Tịnh cư (ngũ tịnh cư thiên) thì phải đắc quả Bất hoàn. Muốn tái sinh vào các cõi vô sắc, phải đắc các Thiền chứng vô sắc tương ứng, như Không vô biên, Thức vô biên, v.v... Muốn đạt đến Diệt tận lậu hoặc, cần phải thực hành trọn vẹn Thánh đạo tám ngành cho đến A la hán đạo.
ĐẠI KINH PHƯƠNG QUẢNG
TẬP HỢP LỚN CÁC VẤN ĐÁP.
Cuộc đàm luận giữa hai Tôn giả về một số vấn đề.
1. Liệt tuệ và Trí tuệ: Liệt tuệ là không tuệ tri bốn chân lý; Trí tuệ là có tuệ tri 4 chân lý. Trí tuệ là thắng tri, liễu tri và đoạn tận.
2. Khác nhau giữa Tuệ tri và Thức tri:
Tuệ tri là do tu tập và từ bỏ. Thức tri là biết các cảm thọ lạc, khổ và trung tính. Giữa tuệ và thức có tương quan, nghĩa là cái gì thức biết thì tuệ cũng biết, nên rất khó phân biệt.
3. Giữa Thức, tưởng, thọ có tương quan, nên rất khó phân biệt; vì cái gì được cảm tho, cũng được nhận thức, và cái gì được nhận thức thì cũng được liễu biệt.
4. Ý thức biệt lập 5 giác quan thì thế nào: ĐỆ TỨ THIỀN (VÔ SẮC)
5. Các điều kiện (duyên) cho chính tri kiến: có hai, là tiếng người khác, và như lý tác ý. Làm thế nào để chính tri kiến đưa đến hai quả giải thoát - tâm và tuệ giải thoát - cùng công đức của hai giải thoát ấy: cần 5 yếu tố là Giới, Văn, Thảo luận, Chỉ và Quán.
6. Có bao nhiêu hữu: có ba, là dục, sắc và vô sắc.
7. Tái sinh tương lai xảy ra thế nào: do vô minh và tham ái, thích thú chỗ này chỗ kia. Nếu xả ly vô minh và tham ái thì tái sinh không xảy ra.
8. Thiền thứ nhất từ bỏ gì, thành tựu gì: Ly dục, ly bất thiện pháp, từ bỏ 5 triền cái: tham, sân, hôn trầm, trạo hối, và nghi; thành tựu 5 Thiền chi là tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm.
9. Năm căn: có đối tượng sai khác, có ý làm chỗ nương, ý lãnh thọ các cảnh giới của 5 căn, 5 căn lại do duyên tuổi thọ mà trú. Tuổi thọ lại do duyên hơi ấm, và hơi ấm do duyên tuổi thọ, cũng
như do ánh sáng mà thấy tim đèn, do tim đèn mà ánh sáng hiện.
10. Thọ hành và cảm thọ là một hay khác: khác, vì nếu là một thì một vị chứng Diệt thọ tưởng định sẽ chết luôn, nhưng sự thực là vị ấy có thể xuất định và có cảm giác trở lại.
11. Sự chết: Lúc nào thì thân xác được xem là đã chết: lúc ba pháp được từ bỏ: tuổi thọ, hơi ấm và thức. Khác nhau giữa thây chết và Tỳ kheo nhập Diệt thọ tưởng định: nơi Tỳ kheo nhập Diệt thọ tưởng định, tuổi thọ và thức vẫn còn an trú nên còn hơi ấm, nơi người chết, hai thứ ấy đã chấm dứt.
12. Điều kiện để chứng nhập tâm Giải thoát bất khổ bất lạc có 4: xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng trú Thiền thứ tư với xả niệm thanh tịnh.
13. Điều kiện để chứng nhập tâm Giải 442 thoát Vô tướng: có hai, là tác ý vô tướng giới (PHÁP HỮU VI VÀ SỰ VẮNG MẶT) và không tác ý tất cả pháp.
14. Vô lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải thoát, không tâm giải thoát và vô tướng tâm giải thoát: những pháp này có khi khác nghĩa, có khi đồng nghĩa. Khác nghĩa khi nói về nhân tu, như: Vô lượng tâm giải thoát là do tu bốn phạm trú từ bi hỷ xả; Vô sở hữu là CHỨNG THIỀN VÔ SẮC THỨ 3 Không tâm giải thoát là Thiền quán về sự trống rỗng, không có ngã hay ngã sở; Vô tướng tâm giải thoát là do không tác ý tất cả tướng, an trú định vô tướng. CÓ 13 LÀ CHÁNH KIẾN (VÌ TRỪ TƯỚNG THƯỜNG, LẠC, NGÃ), 4 VÔ SẮC ĐỊNH (VÌ KO CÓ SẮC TƯỚNG), 4 ĐẠO VÀ 4 QUẢ (VÌ KO CÓ PHIỀN NÃO TẠO RA CÁC TƯỚNG).
TÂM GIẢI THOÁT VÔ LƯỢNG (GỒM 13 LÀ 4 VÔ LƯỢNG TÂM, 4 ĐẠO VÀ 4 QUẢ, NIẾT BÀN)
Cả bốn tâm giải thoát đồng nghĩa, vì nó là đặc tính của quả chứng, tức tâm giải thoát bất động, không bị động vì tham sân si. Tham sân si là nguyên nhân của giới hạn, nên không tham sân si là tâm giải thoát vô lượng; tham sân si là chướng ngại, nên không tham sân si là Không tâm giải thoát và vô sở hữu tâm giải thoát; tham sân si là cái tạo ra các tướng, nên không tham sân si gọi là giải thoát vô tướng.
Trong Thiền định, thân hành là hơi thở ra vào; khẩu hành là tầm tứ; ý hành là thọ, tưởng. Luận nói, bình thường, các căn bị ô nhiễm vì đối tượng giác quan, như một tấm gương đặt tại ngã tư
đường cái; nhưng các căn của một vị ở trong Diệt định thì trong sáng như một tấm gương đặt trong hộp.
Thọ hành, àyusankhàrà, theo Luận, chỉ sinh khí, khác với cảm thọ, vì nó giữ cho thân xác một vị đã chứng Diệt thọ tưởng vẫn sống. Thiền chứng này, trong đó mọi tâm hành đều ngưng, chỉ
được chứng đắc bởi một vị đã đắc quả Bất hoàn hay A la hán mà đồng thời cũng đã làm chủ tám Thiền về tịnh chỉ.
Tâm giải thoát bất động là quả A la hán. Cả 4 tâm giải thoát đều đồng nghĩa vì chúng đều ám chỉ quả A la hán, và vì bốn tên vô lượng, không, vô tướng, vô sở hữu đều là tên khác của Niết bàn.
TIỂU KINH PHƯƠNG QUẢNG
A. Duyên khởi:
Nam cư sĩ Visakha đến hỏi Tỷ-kheo-ni Dhammadinna một số vấn đề về chánh pháp. Tỷ-kheo-ni trả lời với bài kinh này.
Visàkha là một thương gia giàu có ở thành Vương xá. Dhammadinnà khi còn tại gia, là vợ ông ta. Sau khi xuất
gia làm Tỳ kheo ni, bà đắc quả A la hán, được Phật công bố là đệ tử ni xuất sắc nhất về giảng Pháp.
B. Chánh kinh:
Cuộc đàm luận giữa Tỷ-kheo-ni Dhammadinna với nam cư sĩ Visakha.
I. Thân 5 uẩn, định nghĩa, tập khởi, đoạn diệt, con đường đưa đến thân 5 uẩn đoạn diệt, thủ và 5 uẩn.
II. Thân kiến và không thân kiến. Kiến chấp bản ngã có 20 kiểu. Luận dẫn 4 hình thức chấp ngã liên hệ đến sắc uẩn như sau. Hoặc chấp hình chất là ngã, như ngọn lửa là một với màu sắc ngọn lửa. Hoặc chấp ngã có một hình chất như cây có cái bóng cây. Hoặc chấp hình chất ở trong ngã, như mùi hương ở trong hoa. Hoặc chấp ngã ở trong hình chất, như viên ngọc nằm trong cái hộp.
III. Thánh đạo 8 ngành, hữu vi pháp, phân tích theo giới, định, tuệ.
IV. Có bao nhiêu hành, sự liên hệ giữa các hành với hơi thở vô, hơi thở ra. Tầm tứ, tưởng và thọ.
V. Thế nào là diệt thọ tưởng định. Pháp nào diệt trước, pháp nào diệt sau, cảm giác những cảm xúc nào, và có khuynh hướng gì.
Thứ tự diệt và tái sinh khởi ba hành trong Thiền định: tầm tứ hay khẩu hành diệt trước, trong nhị Thiền; kế đến là hơi thở hay thân hành diệt ở tứ Thiền; và cuối cùng thọ và tưởng hay ý hành diệt khi chứng nhập Diệt định.
VI. Các cảm thọ và các tuỳ miên.
VII. Các cảm thọ và các pháp tương đương.
VIII. Cư sĩ Visakha đi đến Thế Tôn và thuật lại các câu trả lời của Tỷ-kheo-ni Dhammadinna, và Thế Tôn tán thán Tỷ-kheo-ni là bậc hiền trí.
TIỂU KINH PHÁP HÀNH
I. Có 4 loại pháp hành.
1. Hiện tại lạc, quả báo khổ.
Loại 1 là pháp hành của các Sa môn Bà la môn tham đắm dục lạc, tương lai bị quả báo ở ba đường ác.
2. Hiện tại khổ, quả báo cũng khổ.
Loại 2 là khổ hạnh thuộc giới cấm thủ của ngoại đạo.
3. Hiện tại khổ, quả báo lạc.
Loại 3 là những người bẩm sinh nhiều tham sân si, nhưng chịu khó tu hành một cách vất vả, sống phạm hạnh trong sạch, khi thân hoại mạng chung sinh vào cõi lành
4. Hiện tại lạc, quả báo cũng lạc.
Loại 4 là những người bẩm sinh ít tham sân, có Trí tuệ, lại ly dục, ly bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất đến Thiền thứ tư, khi chết sinh thiên giới.
ĐẠI KINH PHÁP HÀNH
I. Kẻ vô văn phàm phu không có trí, không hiểu biết các pháp nên và không nên phục vụ, nên các pháp đau khổ tăng trưởng, các pháp an lạc tiêu diệt.
Trái lại bậc có trí, hiểu biết các pháp như vậy nên các pháp đau khổ được tiêu diệt, các pháp an lạc được tăng trưởng.
II. Có 4 loại pháp hành về quả khổ và lạc trong hiện tại và tương lai
1. Do vô tri 4 pháp hành này, nên các pháp khổ đau tăng trưởng, các pháp an lạc bị tiêu diệt.
2. Do biết rõ 4 pháp hành này, nên các pháp khổ đau được tiêu diệt, các pháp an lạc được tăng trưởng.
III. Định nghĩa 4 loại pháp hành
1. Loại pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo cũng khổ: Với khổ với ưu làm 10 ác nghiệp.
2. Loại pháp hành hiện tại lạc, tương lai quả báo khổ: Với lạc với hỷ, làm 10 ác nghiệp.
3. Loại pháp hành hiện tại khổ, tương lai quả báo lạc: Với khổ với ưu, từ bỏ 10 ác nghiệp.
4. Loại pháp hành, hiện tại lạc, tương lai quả báo cũng lạc: Với lạc với hỷ, từ bỏ 10 ác nghiệp.
IV. Thế Tôn dùng 4 ví dụ để diễn tả 4 pháp hành này.
1. Trái bí đắng có tẩm thuốc độc.
2. Bình đồng đựng nước có sắc, có hương, có vị, nhưng có tẩm thuốc độc.
3. Nước đái quỷ có trộn những thuốc.
4. Mật, thục tô, đường, trộn lẫn với nhau.
KINH TƯ SÁT
A. Duyên khởi:
Thế Tôn dạy các Tỷ-kheo, muốn biết rõ tâm tư của người khác, cần phải tìm hiểu về Như Lai có thật đã chứng Chánh đẳng giác. Theo lời các Tỷ-kheo yêu cầu, Thế Tôn thuyết giảng ý nghĩa này.
B. Chánh kinh:
I. Cần phải tìm hiểu Như Lai ngang qua thấy và nghe những pháp có hay không có hiện khởi ở Như Lai
1. Những pháp uế nhiễm do mắt tai nhận thức.
2. Những pháp tạp lẫn tịnh nhiễm.
3. Những pháp hoàn toàn thanh tịnh.
4. Thiện pháp được thành tựu trong thời gian dài hay ngắn.
5. Khi có danh, có khởi lên những nguy hại gì không.
6. Vị này từ bỏ các dục do vì sợ hãi hay vì không có sợ hãi, không có tham ái.
7. Vị Tôn giả này có khinh bỏ chúng hay không khinh bỏ chúng Tăng.
II. Cần phải tìm hiểu Như Lai hơn nữa
1. Tìm đến Như Lai để Như Lai tự mình xác chứng có hay không có những pháp được đề cập.
2. Đệ tử cần phải đến một bậc đạo sư như vậy để nghe pháp, trải nghiệm để tìm hiểu.
III. Một lòng tịnh tín an trú trên những dữ kiện, bằng chứng như vậy, mới gọi là có đầy đủ các dữ kiện. Như vậy mới gọi là tìm hiểu Như Lai đúng pháp.
KINH KOSAMBĪ
A. Duyên khởi:
Các Tỷ-kheo ở Kosambỵ tranh cãi nhau. Thế Tôn cho gọi chúng Tỷ-kheo ấy đến, quở trách họ là không có lòng từ khi đối xử với nhau. Và Thế Tôn thuyết giảng kinh này.
B. Chánh kinh:
I. Có 6 pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tương kính, đưa đến hòa đồng, vô tranh luận:
1. An trú thân hành với lòng từ cả trước mặt và sau lưng.
2. An trú khẩu hành với lòng từ cả trước mặt và sau lưng.
3. An trú ý hành với lòng từ cả trước mặt và sau lưng.
4. Giới hòa đồng tu.
5. Lợi hòa đồng chia.
6. Đồng thành tựu tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, đưa đến đoạn tận khổ đau. Trong 6 pháp này, tri kiến này là pháp tối thượng, làm giềng mối cho tất cả.
II. Định nghĩa tri kiến này, tức là tri kiến của bậc Dự Lưu, gồm có 7 trí hay 7 chi phần:
1. Trí thứ nhất: Biết nội tâm không có bị 5 triền cái chi phối, không bị thế sự đời nay, đời sau chi phối, không có luận tranh, đấu tranh nhau.
2. Trí thứ hai: Tâm đạt được tịnh chỉ khi tu tập những tri kiến này.
3. Trí thứ ba: Tri kiến được thành tựu này, không có một Sa-môn, Bà-la-môn nào ngoài một tổ chức này, có thể thành tựu được.
4. Trí thứ tư: Nếu có phạm giới tội nào, thì được xuất tội ngay.
5. Trí thứ năm: Bất cứ sự việc lớn nhỏ, cần phải làm cho các vị đồng phạm hạnh, vị này nỗ lực thực hiện, hướng đến tăng thượng giới, định và tuệ học.
6. Trí thứ sáu: Thành tựu sức mạnh, lóng tai nghe pháp, khi pháp được thuyết giảng.
7. Trí thứ bảy: Thành tựu được nghĩa tín thọ, pháp tín thọ và hân hoan tương ưng với pháp.
KINH PHẠM THIÊN CẦU THỈNH
Câu chuyện giữa Đức Phật và Phạm thiên Baka.
I. Đức Phật nghe Phạm thiên Baka khởi lên ác tà kiến và đến khuyên Phạm thiên bỏ đi ác tà kiến ấy.
II. Ác ma can thiệp khuyên Đức Phật chấp nhận những gì Phạm thiên nói, không trái ý Phạm thiên. Đức Phật trả lời đã biết ác ma là ai, và nhấn mạnh các Phạm thiên nằm trong uy lực của ác ma, còn Đức Phật thời không vậy.
III. Cuộc đàm thoại giữa Phạm thiên và ác ma:
1. Phạm thiên nói lên ác tà kiến của mình và khuyên Đức Phật nên theo ý của Phạm thiên.
2. Thế Tôn trả lời:
a. Ngài biết sự quang vinh và sanh thú của Phạm thiên.
b. Thế Tôn thù thắng, vượt trên Phạm thiên.
c. Thế Tôn không lãnh thọ và không tôn trọng 4 đại, không nghĩ 4 đại là của ta.
3. Phạm thiên khoe khoang thần lực của mình nhưng không phô trương được. Thế Tôn thực hiện thần thông lực của mình và được chúng Phạm thiên tán thán.
IV. Ác ma lại can thiệp lần thứ hai, khuyên Thế Tôn chớ có thuyết pháp độ sanh, vì làm vậy sẽ an trú với thân hạ liệt, nếu không thuyết pháp thời được thân thù thắng.
V. Thế Tôn bác bỏ lời cản ngăn của ác ma, nói rằng ác ma sở dĩ khuyên can vậy là sợ
các chúng sanh thoát khỏi tầm tay của ác ma. Thế Tôn đúc kết với lời định nghĩa danh hiệu Như Lai.
KINH HÀNG MA
A. Duyên khởi:
Ác ma hiện vào trong bụng Tôn giả Moggallna, bị Tôn giả biết và đi ra khỏi bụng Tôn giả.
B. Chánh kinh:
Tôn giả Moggallna kể câu chuyện tiền thân của mình và của ác ma.
I. Tôn giả là ác ma Dusi, còn ác ma là con của người chị và như vậy ác ma là cháu của Tôn giả. Thời ấy có Đức Phật Kakusandha có mặt ở đời với hai vị đệ tử Vidhura và Sađjỵva.
II. Ác ma Dusi nhập vào các Bà-la-môn, gia chủ, phỉ báng các Tỷ-kheo có giới hạnh. Do vậy, phần lớn các gia chủ này bị đọa vào đoạ xứ. Thế Tôn Kakusandha khuyên các Tỷ-kheo nên tu 4 vô lượng tâm.
III. Ác ma không hại được các Tỷ-kheo có thiện tánh, bèn nhập vào các gia chủ Bà-la-môn, nhưng lần này là tán thán các vị Tỷ-kheo. Do vậy các gia chủ Bà-la-môn này được sanh thiện thú. Thế Tôn Kakusandha khuyên các Tỷ-kheo nên quán bất tịnh, quán tánh đối nghịch, quán tánh vô thượng để đối trị, và do vậy ác ma không hại được các Tỷ-kheo.
IV. Lần này ác ma Dusi nhập vào một đứa trẻ cầm hòn đá đánh bể đầu Tôn giả Vidhura làm cho chảy máu. Do nhân duyên này, phải đọa vào địa ngục, bị nấu sôi trải qua 10.000 năm với thân con người và đầu con cá.
V. Tôn giả Mục-kiền-liên nói lên bài kệ cho ác ma và Phạm thiên. Với ác ma, Tôn giả nhắc đi nhắc lại 7 lần, ác ma vì đánh Tỷ-kheo nên bị khổ thọ. Với Phạm thiên, Tôn giả nhắc sự tích Tôn giả lên thăm cung điện Vejayanta làm rung chuyển cung điện với ngón chân của mình và trách Phạm thiên sao còn chấp tà kiến Phạm thiên là thường hằng. Cuối cùng Tôn giả Mục-kiền-liên trách ác ma đa đột kích Như Lai, tự mình đốt cháy mình, như kẻ ngu chạm lửa.
C. Kết luận:
Tỷ-kheo chống ác ma ở tại rừng Bhesakaḷ, vị Dạ xoa thất vọng và biến mất tại chỗ ấy.
KINH KANDARAKA
I. Du sĩ Kandaraka tán thán Sa-môn Gotama đã khéo hướng dẫn và huấn luyện chúng Tăng, sau đó hỏi chư Phật quá khứ, tương lai và hiện tại, có được chúng Tăng như vậy không? Thế Tôn xác nhận là có và nói rằng trong chư Tăng hiện tại có những vị đã chứng quả A-la-hán, có những vị hữu học đã tu tập Tứ niệm xứ.
II. Cư sĩ Pessa tán thán Thế Tôn đã dạy pháp môn Tứ niệm xứ cho các đệ tử xuất gia, tại gia tu hành, tán thán Thế Tôn đã hiểu được hạnh phúc và bất hạnh của loài người, xác nhận loài người thật rối ren, các loài thú vật thật cởi mở.
B. Chánh kinh:
I. Đức Phật xác nhận loài người là rối ren; cởi mở là loài thú vật và phân tích 4 hạng người, và hỏi Pessa ưa thích hạng người nào. Pessa trả lời không ưa thích 3 hạng người đầu, chỉ ưa thích hạng người sau và nói rõ lý do. Rồi Pessa mắc việc, từ giã ra đi.
II. Thế Tôn tán thán cư sĩ Pessa và phân tích 4 hạng người kể trên:
1. Hạng người tự hành khổ mình và chuyên tâm hành khổ mình.
2. Hạng người hành khổ người và chuyên tâm hành khổ người.
3. Hạng người tự hành khổ mình và hành khổ người.
4. Hạng người không hành khổ mình, không hành khổ người.
a. Như Lai xuất hiện thuyết pháp, người gia trưởng hay con người gia trưởng, nghe pháp xuất gia, giữ giới.
b. Vị ấy hành trì thiền định.
c. Vị ấy chứng túc mạng minh, thiên nhãn minh và lậu tận minh, cuối cùng được giải thoát và giác ngộ.
KINH BÁT THÀNH
(Aṭṭhakangara Sutta)
(M.i, 349)
A. Duyên khởi:
Gia chủ Dasama đến yết kiến Tôn giả nanda và hỏi, Thế Tôn dạy pháp môn gì để một Tỷ-kheo nhiệt tâm tinh cần có thể được giải thoát và đoạn trừ các lậu hoặc. Tôn giả nanda trả lời với bài kinh này.
B Chánh kinh:
Tôn giả nanda nói 11 pháp giúp vị Tỷ-kheo đoạn trừ các lậu hoặc và được giải thoát.
I. Tu pháp sơ thiền, thiền thứ hai, thiền thứ ba, thiền thứ tư, quán các thiền là pháp hữu vi do suy tư tác thành (tư
tâm sở hay ý hành (volition) là yếu tố
chính.), là vô thường, chịu sự đoạn diệt, nhờ vậy vị Tỷ-kheo có thể chứng quả A-la-hán hay quả Bất lai.
II. Tu 4 pháp vô lượng tâm: từ bi hỷ xả, quán 4 pháp này là hữu vi do suy tư tác thành, là vô thường, chịu sự biến hoại, nhờ vậy vị Tỷ-kheo có thể chứng quả A-la-hán hay quả Bất lai.
III. Tu không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, quán 3 pháp này là hữu vi, do suy tư tác thành, là vô thường, chịu sự hoại diệt, nhờ vậy vị Tỷ-kheo có thể chứng quả A-la-hán hay quả Bất lai.
Mười một cửa bất tử là 4 Thiền, 4 phạm trú, và 3 Thiền chứng Vô sắc: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, được dùng làm cơ sở để phát triển tuệ quán đạt đến A la hán
quả. Phi tưởng phi phi tưởng xứ không được đề cập ở đây, vì nó quá vi tế không thể làm đối tượng cho tuệ quán.
C. Kết luận:
Gia chủ Dasama tán thán Tôn giả nanda với bài pháp, như đi tìm một kho tàng mà được 11 kho tàng, như đi tìm một cửa bất tử mà tìm được 11 cửa bất tử. Rồi gia chủ Dasama phát tâm cúng dường chư Tăng mỗi vị một cặp y, cúng dường Tôn giả nanda ba y, và xây dựng một ngôi tinh xá.
KINH HỮU HỌC
(Sekha Sutta)
(M.i, 353)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn được các vị Sakya mời đến khai trương ngôi giảng đường mới. Thế Tôn đến thuyết pháp cho đến quá nửa đêm, rồi nằm nghỉ, giao cho Tôn giả nanda giảng tiếp về con đường hữu học.
B. Chánh kinh:
I. Tôn giả nanda giảng 6 pháp tác thành hữu học đạo:
1. Thành tựu giới hạnh.
2. Hộ trì các căn.
3. Tiết độ trong ăn uống.
4. Chú tâm cảnh giác.
5. Thành tựu 7 diệu pháp.
6. Lạc trú 4 thiền.
II. Vị Thánh đệ tử thành tựu 6 pháp ấy được gọi là đang đi trên con đường hữu học, có trứng không bị hư hoại, có khả năng phá vỡ, có khả năng giác ngộ, có khả năng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách.
III. Vị Thánh đệ tử với thiền thứ tư chứng được túc mạng minh, thiên nhãn minh và lậu tận minh, chứng đắc vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
IV. Tôn giả nanda phân loại 6 pháp trên thuộc về hạnh đức, ba pháp Ba minh sau thuộc về trí đức và kết thúc với bài kệ minh hạnh trú.
Trong toàn thể
quá trình tu tập, Hạnh đi đôi với Minh
là 3 loại trí. "Minh hạnh túc "chỉ chư
Phật và A la hán.
C. Kết luận:
Thế Tôn ngồi dậy, tán thán Tôn giả nanda đã khéo giảng về hữu học, các vị Sakka hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả giảng.
KINH POTALIYA
(Potaliya Sutta)
(M.i, 359)
A. Duyên khởi:
Gia chủ Potaliya gặp Đức Phật trong rừng, lấy làm phật ý khi Đức Phật gọi là gia chủ. Đức Phật giải thích trong Potaliya có từ bỏ một số nghiệp vụ và một số tục sự nhưng như vậy chưa phải là sự đoạn tận tất cả tục sự trong giới luật của bậc Thánh. Theo Potaliya yêu cầu, Thế Tôn giải thích thế nào là sự đoạn tận các tục sự trong giới luật của bậc Thánh.
B. Chánh kinh:
I. Đức Phật nói đến 8 pháp đưa đến sự đoạn tận tục sự trong giới luật của bậc Thánh và giải thích 8 pháp ấy:
1. Từ bỏ sát sanh.
2. Từ bỏ lấy của không cho.
3. Từ bỏ vọng ngữ.
4. Từ bỏ nói hai lưỡi.
5. Từ bỏ tham dục.
6. Từ bỏ huỷ báng.
7. Từ bỏ phẫn nộ.
8. Từ bỏ quá mạn.
Do thấy rõ chúng là kiết sử, là triền cái(1), có thể gây ra những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não; trong khi đối với người đã từ bỏ chúng (2) thì những lậu hoặc, phiền lao nhiệt não không
II. Đức Phật giải thích thêm thế nào là sự đoạn tận toàn diện các tục sự trong giới luật các bậc Thánh.
Đức Phật dùng bảy ví dụ nói lên vị Thánh đệ tử, sau khi thấy các dục với trí tuệ liền từ bỏ loại xả thuộc đa chủng, tu tiếp loại xả thuộc nhất chủng, hoàn toàn đoạn trừ các thế vật. Phật dạy thêm, tuy vậy đó chưa phải là sự đoạn tận toàn diện các tục sự. Ðoạn
trừ toàn diện là thấy rõ dục (3) như khúc xương, như miếng thịt nơi miệng chim kên, như đuốc ngược gió, như hố than hừng, như mộng, như vật mượn, như cây có nhiều quả chín… khổ nhiều não nhiều, nguy hiểm càng nhiều hơn.
Do thấy như vậy, mọi chấp thủ tài vật được đoạn tận, vị ấy tu xả (4), [Theo Luận giải, "xả căn cứ dị biệt" là xả liên hệ đến 5 dục; "xả căn cứ đồng nhất" là xả ở Thiền thứ 4. ] chứng ba minh.
Sau khi đoạn trừ xả niệm vô thượng này, vị Thánh đệ tử hướng tâm đến túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh, chứng đạt được vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
KINH JĪVAKA
(Jỵvaka Sutta)
(M.i, 368)
A. Duyên khởi:
Jìvaka trình lên Đức Phật lới đồn: “Vì Sa-môn Gotama, chúng giết hại các sanh vật, và Sa-môn Gotama tuy biết vẫn thọ dụng các món ăn ấy”. Đức Phật nói những người nói vậy là xuyên tạc Thế Tôn. Thế Tôn có dạy, thịt không được thọ dụng, trong ba trường hợp: khi thấy, nghe, nghi. Trong ba trường hợp thịt được thọ dụng, khi không thấy, không nghe, không nghi.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn dạy vị Tỷ-kheo an trú 4 vô lượng tâm, thọ dụng các món ăn không có tham đắm, không có lỗi lầm.
II. Thế Tôn dạy một Cư sĩ giết sinh vật để cúng dường Phật và chúng Tăng tạo ra 5 phi công đức.
Jivaka là đứa con bị bỏ rơi của một kỹ nữ được vương tử Vô Úy tìm thấy đem về nuôi. Ông học thuốc ở thành Takkasila và về sau được đề cử làm y sĩ chữa bệnh cho Phật. Ông chứng Dự lưu sau khi nghe Phật thuyết pháp.
2. Ðoạn này nói rõ những quy luật về sự ăn thịt mà đức Phật đã đặt ra cho Tăng chúng. Người ta sẽ thấy rằng Phật không đòi hỏi các Tỳ kheo phải ăn chay, mà cho phép họ ăn thịt khi tin chắc rằng con vật ấy đã không bị giết cốt để cung cấp thịt cho mình. Thịt như vậy gọi là "thanh tịnh ở ba phương diện”, vì nó không được thấy, được nghe, hay được nghi là thịt của 1 con vật bị giết cốt để đãi Tỳ kheo. Giới luật của Phật tử tại gia "không được sát sinh "sẽ ngăn cấm vị ấy giết thịt để cúng dường Tỳ kheo nhưng không cấm mua thịt những con vật đã chết.
3. Ở đây đức Phật chứng tỏ rằng Ngài an trú tâm từ không chỉ vì đã dập tắt ác ý bằng Thiền quán về từ tâm như Phạm thiên, mà Ngài đã tận diệt gốc rễ của sân hận nhờ đã chứng đắc A la hán quả.
4. Thật khó hiểu ở đây là Jivaka xin quy y làm đệ tử tại gia trong khi ông đã chứng quả Dự lưu. Có lẽ công thức này được sử dụng như 1 phương tiện tái xác nhận sự quy y Tam bảo của một người, chứ không chỉ giới hạn vào sự quy y đầu tiên
KINH UPĀLI
(Upli Sutta)
(M.i, 371)
A. Duyên khởi:
Cuộc đối thoại giữa Dỵghatapassi và Sa-môn Gotama. Dỵghatapassi nói lên chủ trương của Ntaputta là phạt, phạt và xem thân phạt là tối thượng để tác thành ác nghiệp. Còn Sa-môn Gotama nói lên chủ trương của mình là nghiệp, nghiệp, và xem ý nghiệp là tối thượng để tác thành ác nghiệp.
B. Chánh kinh:
I. Cuộc đối thoại ấy được Dỵghatapassi tường thuật cho Ntaputta nghe và Ntaputta tán thán Dỵghatapassi đã khéo trình bày quan điểm của phái Ni-kiền-tử. Upli một đệ tử của Ni-kiền-tử cũng xin đi đến luận chiến với Sa-môn Gotama về vấn đề này. Ntaputta khích lệ Upli đi luận chiến còn Dỵghatapassi thời dè dặt sợ Upli sẽ bị chiến bại.
II. Cuộc đàm thoại giữa Sa-môn Gotama với Upli:
1. Sa-môn Gotama kể lại cuộc đối thoại giữa Thế Tôn và Dỵghatapassi, Upli xác nhận ý phạt không thể so sánh với thân phạt.
2. Sa-môn Gotama dùng ba ví dụ để xác nhận ý nghiệp mới là tối trọng để tác thành ác nghiệp.
Có lẽ Phật nói điều này vì trong giáo lý Ngài, thì tâm sở hay ý hành là chất liệu cốt yếu của nghiệp và khi không có ý - nghĩa là trường hợp một thân hành hay ngữ hành không cố ý – thì không tạo nghiệp. Nhưng Luận giải cho rằng khi Phật nói điều này là ám chỉ tà kiến có hậu quả cố định, và dẫn chứng Tăng Chi I như sau: "Này các Tỳ kheo, ta không thấy pháp nào đáng quở trách cho bằng tà kiến. Tà kiến là đáng quở trách nhất trong tất cả các
pháp." Các loại tà kiến được mô tả trong kinh 60.
3. Upli xác nhận với ví dụ đầu tiên, Upli đã thỏa mãn với lời giải thích của Sa-môn Gotama và xin quy y ba ngôi báu, trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama. Thế Tôn khuyên Upli nên suy tư chín chắn trước khi quyết định, nhưng Upli nhất quyết xin trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama.
4. Thế Tôn thuyết pháp cho Upli và Upli chứng được sơ quả.
III. Upli sau khi quy y ba ngôi báu, đã thay đổi thái độ đối xử với Ni-kiền-tử và với đệ tử của Đức Phật khiến Dỵghapassi về báo động với Ntaputta. Ntaputta không tin cùng đi với Dỵghatapassi đến thăm Upli.
IV. Upli đón tiếp Ntaputta và Dỵghatapassi:
1. Thái độ của người gác cửa.
2. Thái độ của Upli đối với Ntaputta.
3. Ntaputta chỉ trích Upli đã bị huyễn thuật của Sa-môn Gotama lôi cuốn.
4. Upli tán thán huyễn thuật của Sa-môn Gotama vì huyễn thuật ấy đem lại an lạc cho mọi người.
5. Upli dùng ví dụ nêu rõ lý thuyết của Sa-môn Gotama được người trí chấp nhận.
V. Upli dùng bài kệ nói lên mình đã trở thành đệ tử của Sa-môn Gotama và tán thán các đức tánh ưu việt của Sa-môn Gotama.
KINH HẠNH CON CHÓ
(Kukkuravatika Sutta)
(M.i, 388)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn trả lời cho Puṇṇa Koliyaputta, theo hạnh con bò, và trả lời cho Seniya, theo hạnh con chó, thế nào là quả báo, sanh thú của người theo hạnh con chó, của người theo hạnh con bò, sanh làm con chó, sanh làm con bò, nếu có tà kiến thì sanh vào địa ngục.
B. Chánh kinh:
Thế Tôn thuyết giảng về 4 loại nghiệp, quả báo, sanh thú 4 loại nghiệp ấy:
I. Nghiệp đen, đưa đến quả báo đen: tạo 3 nghiệp có sân, sanh vào thế giới có sân, cảm xúc có sân, cảm thọ có sân, thuần nhất khổ thọ, như chúng sanh ở địa ngục.
II. Nghiệp trắng đưa đến quả báo trắng: tạo 3 nghiệp không sân, cảm xúc không sân, thuần nhất lạc thọ, như chủ nhân biến tịch.
III. Nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng: tạo 3 nghiệp có sân, không sân, sanh vào thế giới có sân, không sân, cảm xúc có sân, không sân, cảm thọ có sân không sân, có lạc thọ, khổ thọ xen lẫn, như một số loài người, một số chư thiên, một số chúng sanh trong đọa xứ.
IV. Nghiệp không đen trắng đưa đến quả báo không đen trắng, chỗ nào có ý chí đoạn tận nghiệp đen đưa đế quả báo đen, chỗ nào có ý chí đoạn tận nghiệp trắng, đưa đến quả báo trắng, chỗ nào có ý chí đoạn tận nghiệp đen trắng đưa đến quả báo đen trắng. Như vậy là nghiệp đưa đến đoạn tận các nghiệp.
Chính là ý hành thuộc 4 đạo lộ siêu thế mà tột cùng là A la hán quả. Mặc dù vị A la hán cũng làm các hành vi, nhưng những hành vi của vị ấy không còn tác dụng của nghiệp để phát sinh
hiệu hữu mới hoặc để đem lại kết quả ngay trong kiếp này.
KINH VƯƠNG TỬ VƠ Y
(Abhayarjakumra Sutta)
(M.i, 393)
A. Duyên khởi:
Ntaputta bày cách cho Vương tử Vô Úy đến luận chiến với Sa-môn Gotama bằng cách hỏi Sa-môn Gotama có thể nói một lời nói khiến người ta không ưa thích. Nếu Sa-môn Gotama trả lời có, thời Sa-môn Gotama không khác kẻ phàm phu; nếu Sa-môn Gotama trả lời không, thời tại sao Sa-môn Gotama lại nói “Devadatta thế nào cũng đọa vào điạ ngục trong một kiếp, và lời nói ấy khiến Devadatta không hoan hỷ và phẫn nộ”.
B. Chánh kinh:
Cuộc đàm luận giữa Sa-môn Gotama và Vương tử Vô Úy.
I. Vương tử theo lời dặn của Ntaputta đặt câu hỏi như trên với Sa-môn Gotama. Sa-môn
Gotama trả lời khiến Vương tử tường thuật âm mưu của Ntaputta để luận chiến với Sa-môn Gotama.
II. Sa-môn Gotama dùng ví dụ cho Vương tử hiểu, nhiều khi phải dùng hành động va chạm để cứu nguy cho người khác vì lòng từ bi.
III. Sa-môn Gotama nói lên 6 trường hợp trong ấy Sa-môn Gotama nói và không nói:
1. Sa-môn Gotama không nói, nếu lời nói không đúng sự thật, không có lợi ích và người ta không ưa nghe.
2. Sa-môn Gotama không nói, nếu lời nói đúng sự thật, không có lợi ích, và người ta không ưa nghe.
3. Sa-môn Gotama biết thời mà nói, nếu lời nói đúng sự thật, có lợi ích và người ta không ưa nghe.
4. Sa-môn Gotama không nói, nếu lời nói không đúng sự thật, không có lợi ích nhưng người ta ưa nghe.
5. Sa-môn Gotama không nói, nếu lời nói đúng sự thật, không có lợi ích nhưng người ta ưa nghe.
6. Sa-môn Gotama biết thời mà nói, nếu lời nói đúng sự thật, có lợi ích và người ta ưa nghe.
IV. Như Lai có thể trả lời thẳng ngay tại chỗ, không cần suy nghĩ trước vì Ngài hiểu biết pháp giới.
Vô Úy vương tử là con trai vua Bimbisara (Bình Sa) xứ Ma Kiệt Ðà, nhưng không phải là người thừa kế ngai vàng.
Theo Luận giải, pháp giới là ám chỉ trí toàn tri của Phật. Ở đây không nên lầm lẫn pháp giới với danh từ pháp giới dùng để chỉ đối tượng của ý trong 18 giới, cũng không có ý nghĩa nguyên lý vũ trụ bao trùm khắp mọi sự trong Phật giáo Đại thừa.
KINH NHIỀU CẢM THỌ
(Bahuvedaniya Sutta)
(M.i, 397)
A. Duyên khởi:
Tôn giả Udyi và thợ mộc Pađcakanga đàm luận về các cảm thọ. Udyi bảo Thế Tôn thuyết ba thọ, còn thợ mộc nói Thế Tôn thuyết hai thọ. Hai bên không thuyết phục được nhau.
B. Chánh kinh:
I. Tôn giả nanda thuật lại cuộc đàm đạo ấy lên Thế Tôn, Thế Tôn dạy có nhiều phân loại về thọ tùy theo pháp môn 2, 3, 5, 6, 18, 36, 108. Những ai không chấp nhận sự phân loại này thời sẽ luận tranh, khẩu tranh. Còn những ai chấp nhận thời sống hòa hợp.
II. Thế Tôn phân tích có 10 loại lạc thọ cao thấp khác nhau:
1. Dục lạc.
2. Lạc sơ thiền.
3. Lạc thiền thứ hai.
4. Lạc thiền thứ ba.
5. Lạc thiền thứ tư.
6. Lạc không vô biên.
7. Lạc thức vô biên.
8. Lạc vô sở hữu xứ.
9. Lạc phi tưởng phi phi tưởng xứ.
10. Lạc diệt thọ tưởng định.
III. Thế Tôn xác nhận diệt thọ tưởng định vẫn có lạc thọ. ?
Thợ mộc của vua Ba Tư Nặc xứ Kosala là 1 tín đồ thuần thành của Phật. Ông ta còn xuất hiện trong kinh178 và 127.
Ba thọ là 3 loại cảm giác được Ưu Ðà Di đề cập: khổ, lạc, và bất khổ bất lạc.
Năm thọ là thân lạc, tâm hỷ, thân khổ, tâm ưu, và xả.
Sáu thọ là những cảm thọ do xúc sinh qua 6 giác quan.
18 thọ là căn trần tiếp xúc sinh ra 6 loại hỷ, 6 loại ưu và 6 loại xả (xem kinh 137).
36 loại thọ là 6 hỷ, 6 ưu, và 6 xả, mỗi loại gồm hai, là hỷ ưu xả thuộc đờisống tại gia hay hỷ ưu xả trong đời sống xuất gia (xem kinh 137).
108 loại thọ là 36 loại thọ đã nói, phối hợp với ba thì quá khứ, hiện tại, và vị lai.
3. Luận giải nêu lên rằng khi nói về cảm thọ không khổ không lạc của tứ Thiền là 1 loại lạc thọ, đức Phật đã ngầm chấp nhận quan điểm của thợ mộc đưa ra.
4. Cả hai loại lạc được cảm thấy và không được cảm thấy; loại không được cảm thấy tức là lạc liên hệ đến sự chứng đắc diệt định. Ðức Như Lai mô tả cả 2 là lạc thọ với ý nghĩa chúng không có khổ.
KINH KHÔNG GÌ CHUYỂN HƯỚNG
(Apannaka Sutta)
(M.i, 401)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn hỏi các gia chủ ở Sala có vị đạo sư khả ý nào đáng được tin tưởng không. Khi được trả lời là “không”, Thế Tôn dạy họ nên thực hành “con đường chắc thật” (apannaka) để được sống an lạc lâu dài.
B. Chánh kinh:
Thế Tôn giải thích con đường chắc thật này và nói đến 4 hạng người ở đời, hạng người nào đáng làm gương mẫu
I. Thế Tôn trình bày 5 quan điểm song đôi đối nghịch nhau, và người có trí phải lựa chọn những quan điểm nào để thành tựu thiện pháp, từ bỏ các pháp khỏi bị người trí chỉ trích và đưa đến hạnh phúc lâu dài:
1. Học thuyết không có đời sau và có đời sau:
a. Định nghĩa thuyết không có đời sau, các tác hại của lý thuyết ấy và sự phê bình của người có trí.
b. Định nghĩa thuyết có đời sau, các lợi ích của lý thuyết ấy và lời tán thán của người có trí.
2. Hai thuyết không có nghiệp và có nghiệp:
a. Định nghĩa thuyết không nghiệp, các tác hại của lý thuyết ấy và sự phê bình của người có trí.
b. Định nghĩa thuyết có nghiệp, các lợi ích của lý thuyết ấy và lời tán thán của bậc có trí.
3. Hai thuyết không có nhân duyên và có nhân duyên hay thuyết định mệnh và không định mệnh:
a. Định nghĩa thuyết có định mệnh, các tác hại của lý thuyết ấy và sự phê bình của người có trí.
b. Định nghĩa thuyết không có định mệnh, các lợi ích của lý thuyết ấy và lời tán thán của bậc có trí.
4. Hai thuyết không thể có một vô sắc toàn diện và có thể có một vô sắc toàn diện, thái độ của người có trí đối với hai thuyết này và sự lựa chọn của người có trí để thành tựu sự yểm ly, ly tham, diệt tận đối với sắc pháp.
Ðối với lập trường thứ 4 "Không thể có vô sắc toàn diện" (14) người có trí nên suy nghĩ: Người có chủ trương này chỉ khao khát sinh vào cõi chư thiên có sắc (15) do "ý" thành. Còn nếu chủ trương ngược lại, "có thể có một vô sắc toàn diện" thì người này sẽ khao khát sinh vào cõi chư thiên vô sắc do "tưởng" thành (16). Vị ấy nghĩ, nhân cái gì có sắc đều có đấu tranh, nhưng sẽ không có đấu tranh trong một thế giới hoàn toàn vô sắc. Do nghĩ như vậy, vị ấy thành tựu sự yểm ly, ly tham, diệt tận đối với sắc pháp.
5. Hai thuyết không thể có một hữu diệt toàn diện và có thể có một hữu diệt toàn diện, thái độ của người có trí đối với hai thuyết này và sự lựa chọn của người có trí để thành tựu sự yểm ly, ly tham, diệt tận đối với hữu.
Ðối với lập trường thứ 5, "Không thể có Hữu diệt toàn diện" (17) người có trí suy nghĩ: ai chủ trương như vậy sẽ khao khát tái sinh vào cõi vô sắc do tưởng. Còn nếu chủ trương ngược lại,
"Có thể có Hữu diệt toàn diện" thì vị ấy có thể hi vọng nhập Niết bàn ngay hiện tại (18). Quan điểm đầu gần với tham ái, kết sử, chấp thủ, quan điểm sau gần với ly tham, không chấp thủ, gần với ái diệt. Do suy tư như vậy, vị ấy thành tựu yểm ly, ly tham, đoạn diệt đối với các hữu.
II. Có 4 hạng người có mặt ở đời:
1. Hạng người tự hành khổ mình, chuyên tâm tự hành khổ mình.
2. Hạng người hành khổ người, chuyên tâm hành khổ người.
3. Hạng người vừa tự hành khổ mình vừa hành khổ người.
4. Hạng người vừa không tự hành khổ mình vừa không hành khổ người, không tham dục, không khao khát, tịch tịnh, cảm giác mát lạnh, cảm giác lạc thọ.
KINH GIÁO GIỚI LA-HẦU-LA
Ở RỪNG AM-BÀ-LÂM
(Ambalaṭṭhikrhulovda Sutta)
(M.i, 414)
I. Thế Tôn dùng thí dụ nước trong chậu thau và con voi lâm trận để dạy cho Rhula chớ có biết mà nói láo.
1. Ví dụ nước trong chậu thau.
2. Ví dụ con voi lâm trận.
II. Thế Tôn dạy Tôn giả Rhula phải phản tỉnh nhiều lần trước khi VÀ SAU KHI làm ba nghiệp: thân, khẩu, ý.
III. Trong quá khứ, vị lai, và hiện tại, các Sa-môn, Bà-la-môn đã, đang và sẽ tịnh hóa ba nghiệp đều nhờ phản tỉnh ba nghiệp nhiều lần. Thế Tôn khuyên Tôn giả Rhula cần phải phản tỉnh như vậy.
Theo Luận, kinh này được giảng cho La Hầu La lúc 7 tuổi, tức lúc ông vừa thọ giới xuất gia không lâu. Theo kinh 147, Ràhula đắc quả A la hán sau khi nghe Phật thuyết giảng về cách tu tuệ quán.
ĐẠI KINH GIÁO GIỚI LA-HẦU-LA
(Mahrhulovda Sutta)
(M.i, 420)
1. Theo Luận, bài kinh này được giảng cho Ràhula khi ông vừa 18 tuổi, cốt để xua tan những dục vọng liên hệ đến đời sống tại gia.
2. Luận: Trong lúc Ràhula đang theo sau Phật, ông để ý và tán thán vẻ tuyệt mỹ của thân hình đức Đạo sư, và nhớ lại mình, ông nghĩ: "Ta cũng đẹp trai như đức Thế Tôn cha ta. Hình thể của
Phật thật đẹp và hình thể của ta cũng thế." Phật đọc được tư tưởng Ràhula nên đã quở trách ông ngay, để những tư tưởng vô lối như vậy khởi dẫn ông đến rắc rối trầm trọng hơn. Ở đây đức
Phật khuyến cáo với lời dạy hãy quán thân thể này không phải là một tự ngã, cũng không phải sở hữu của một tự ngã (không phải là tôi hay của tôi).
A. Duyên khởi:
Trong khi đi khất thực, Thế Tôn dạy Tôn giả Rhula quán 5 uẩn là vô ngã. Tôn giả được dạy vậy liền về ngồi dưới một gốc cây để hành thiền. Tôn giả Sriputta thấy vậy đi đến Tôn giả Rhula khuyên nên tu tập hơi thở vô, hơi thở ra. Tôn giả Rhula vào buổi chiều đến hỏi Thế Tôn về niệm hơi thở vô hơi thở ra. Thế Tôn thuyết giảng kinh này.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn dạy quán 5 giới: đất, nước, lửa, gió và hư không, là vô ngã.
II. Thế Tôn khuyên tu tập như đất, như nước, như lửa, như gió, như hư không, để đối trị với sắc khả ái và không khả ái.
III. Thế Tôn dạy tu tập tâm Từ để trị sân, tu Bi để trị hại, tu Hỷ để trị bất lạc, tu Xả để trị hận, quán bất tịnh để trị tham ái, quán vô thường để trị kiêu mạn.
IV. Thế Tôn dạy tu tập niệm hơi thở vô, hơi thở ra và giải thích pháp môn này.
Sau hết, Phật dạy pháp niệm hơi thở (7) gồm 4 mục thân, thọ, tâm, pháp, mỗi mục bốn đề tài; và cho biết nếu tu tập niệm hơi thở đến chỗ thuần thục,thì sẽ tỉnh giác khi thở hơi cuối cùng
(8)."
TIỂU KINH MĀLUNKYA
(Cḷamlunkya Sutta)
(M.i, 427)
A. Duyên khởi:
Tôn giả Mlunkyaputta đến yêu cầu Thế Tôn trả lời cho 10 vấn đề nếu Thế Tôn biết, hãy trả lời là biết; nếu Thế Tôn không biết hãy trả lời là không biết.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn nói Ngài không hứa với Mlunkyaputta là sống Phạm hạnh để Thế Tôn trả lời 10 câu hỏi này. Và Mlunkyaputta cũng không đặt điều kiện sẽ sống Phạm hạnh để Thế Tôn trả lời 10 vấn đề này.
II. Thế Tôn nói ai ra điều kiện phải cho biết 10 vấn đề này rồi mới tu Phạm hạnh thời người ấy sẽ chết trước khi được trả lời. Thế Tôn dùng ví dụ người bị bắn tên có tẩm thuốc độc để chứng minh.
III. Thế Tôn dạy đời sống Phạm hạnh không tuỳ thuộc 10 vấn đề này.
IV. Thế Tôn khuyên hãy thọ trì là không trả lời những gì Thế Tôn không trả lời; hãy thọ trì là trả lời những gì Thế Tôn trả lời. Thế Tôn nêu rõ lý do vì sao không trả lời và vì sao có trả lời.
ĐẠI KINH MĀLUNKYAPUTTA
(Mahmlunkyaputta Sutta)
(M.i, 432)
A. Duyên khởi:
Mlunkyaputta thọ trì 5 hạ phần kiết sử, bị ngoại đạo cật vấn với vấn đề đứa con nít và yêu cầu Thế Tôn trả lời câu cật vấn cùng giảng về 5 hạ phần kiết sử.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn dạy kẻ phàm phu bị 5 hạ phần kiết sử chi phối, còn bậc hiền Thánh đã đoạn trừ được 5 hạ phần kiết sử này.
II. Thế Tôn dạy cần phải thực hành con đường đưa đến đoạn trừ 5 hạ phần kiết sử, cần phải phấn khởi, tịnh tín, an trú và hướng đến khi được giải thoát để đoạn trừ 5 hạ phần kiết sử. Đức Phật dùng hai ví dụ để chứng minh.
III. Con đường đưa đến đoạn trừ 5 hạ phần kiết sử, đoạn sanh y, đoạn pháp bất thiện,
đoạn thân ác hạnh, hành 4 thiền, 4 không, quán 5 uẩn là vô thường, khổ, như bịnh, là vô ngã, được tâm giải thoát, chứng được Niết-bàn hay quả Bất lai.
IV. Tôn giả nanda hỏi sự phân biệt giữa chứng đắc tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Thế Tôn trả lời là do tâm sanh.
Năm hạ phần kết sử chỉ được đoạn tận khi chứng quả Bất hoàn. những kiết sử ngay cả khi chúng không hiện hành, vẫn tồn tại ở cấp bực tùy miên khi mà chúng chưa bị tận diệt nhờ tu tập các đạo lộ siêu thế.
Trong số những người tu tịnh chỉ,có Tỳ kheo đặt nặng sự nhất tâm thì khi chứng đắc vị ấy được gọi là tâm giảithoát; có vị đặt nặng về Trí tuệ thì khi chứng đắc được gọi là tuệ giải thoát.
Trong số những người tu tuệ quán, người nào nhấn mạnh Trí tuệ thì được gọi là tuệ giải thoát, người nào nhấn mạnh nhất tâm thì gọi là tâm giải thoát.
Hai đại đệ tử chính của Phật đắc quả A la hán nhờ nhấn mạnh vừa tịnh chỉ vừa tuệ quán, nhưng Tôn giả Xá Lợi Phất trở thành một vị tuệ giải thoát và Tôn giả Mục Kiền Liên trở thành 1 vị tâm giải thoát. Như vậy lý do tên gọi khác nhau là do khả năng của họ khác nhau, giữa sự ưu thắng của định căn hay củatuệ căn.
KINH BHADDLI
(Bhaddli Sutta)
(M.i, 437)
A. Duyên khởi:
Tôn giả Bhaddli vì không thực hành trọn vẹn học giới của Đức Phật, 3 tháng không dám gặp Thế Tôn, sau mới dám gặp và xin sám hối. Thế Tôn quở trách Bhaddli và giảng kinh này.
B. Chánh kinh:
Thế Tôn quở trách Bhaddli và trả lời các câu hỏi của vị này.
I. Danh tiếng của Bhaddli bị tổn hại vì thái độ của mình. Trong khi các bậc hiền thánh chấp hành trọn vẹn học pháp, còn Bhaddali chưa phải là hiền thánh lại không chịu chấp hành.
Ngay cả một Tỳ kheo đã đắc câu phần giải thoát (5), cũng sẽ vâng lời khi Phật bảo lấy thân mình làm ván cho Ngài bước qua vũng bùn (6), huống nữa Tỳ kheo Bhaddàli chưa đạt đến địa vị nào trong bảy vị: tâm giải thoát, tuệ giải thoát, thân chứng, kiến chí, tín thắng giải, tùy pháp hành, tùy tín hành, đã chứng tỏ sự trống rỗng của mình. Bảy danh từ dùng trong đoạn này là cách phân chia 7 hạng Thánh, được giải thích trong kinh 70.
II. Thế Tôn giải thích vị Tỷ-kheo không chấp hành trọn vẹn học giới sẽ không chứng được thượng nhân pháp. Ai chấp hành trọn vẹn sẽ chứng được thượng nhân pháp, chứng 4 thiền, 3 minh, giải thoát.
III. Thế Tôn trả lời hai câu hỏi của Bhaddli:
1. Do nhân gì, duyên gì, chúng Tăng luôn luôn kết tội vị Tỷ-kheo hay không luôn luôn kết tội vị Tỷ-kheo.
2. Do nhân duyên gì xưa học giới ít, các vị nhập chánh trí nhiều hơn, nay học giới nhiều, các vị nhập chánh trí ít hơn.
IV. Thế Tôn dùng ví dụ con ngựa thuần chủng được khéo huấn luyện như thế nào để chỉ cho vị Tỷ-kheo được huấn luyện trong 10 pháp trở thành ruộng phước ở đời. Chính trí là tri kiến thuộc về quả vị
A la hán, chính giải thoát là sự giải
thoát khỏi tất cả ô nhiễm, nơi một vị A
la hán.
KINH VÍ DỤ CON CHIM CÁY
(Latukikopama Sutta)
(M.i, 448)
A. Duyên khởi:
Udyi trong khi độc cư thiền tịnh khởi lên sự tán thán Thế Tôn là bậc đã đoạn trừ khổ pháp đem lại lạc pháp, đã đoạn trừ bất thiện pháp, đã đem lại thiện pháp, nghĩ vậy Udyi về thưa với Đức Phật và do vậy Đức Phật thuyết giảng kinh này.
B. Chánh kinh:
I. Tôn giả Udyi tán thán Thế Tôn và dẫn chứng lời tán thán.
II. Một sự việc gì, do Thế Tôn dạy, nhưng không thể từ bỏ được, thời sự việc ấy là một trói buộc mạnh mẽ. Ví như con chim cáy bị buộc bằng dây leo, bị buộc bằng dây leo ấy đối với con chim cáy là một trói buộc mạnh mẽ vững chắc.
III. Một sự việc gì do Thế Tôn dạy từ bỏ mà từ bỏ được, thời sự việc ấy không phải là một trói buộc mạnh mẽ. Ví như con voi dẫu bị da nịt vững chắc trói buộc, có thể chuyển mình bứt đứt được da nịt ấy, da nịt ấy không có vững chắc đối với con voi.
IV. Thế Tôn dùng hai ví dụ để dẫn chứng cho lời tuyên bố trên của Ngài.
1. Một người nghèo, muốn xuất gia không thể từ bỏ cái chòi hư nát, cái giường hư nát của mình...thời các sự vật ấy là một trói buộc vững chắc mạnh mẽ đối với người ấy.
2. Một người gia chủ giàu có, muốn xuất gia có thể từ bỏ tài sản lớn, ruộng nương, đất đai, thê thiếp của mình, thời các sự vật ấy không là một trói buộc vững chắc mạnh mẽ đối với người gia chủ ấy.
V. Thế Tôn nói có bốn hạng người hướng đến đoạn diệt sanh y, ba hạng người đầu còn bị trói buộc, chỉ hạng người thứ tư không bị trói buộc.
Nghĩ rằng sinh y là nguồn gốc của đau khổ, nên giải thoát khỏi sanh y. Ðây là người không bị trói buộc (7 Sinh y, upadhi có 4 loại: Uẩn sinh y khandh’upadhi; phiền não sinh y kiles’ upadhi; thắng hành sinh y abhisankhàr’upadhi, và dục tăng trưởng sinh y kàmagun’upadhi.
VI. Thế Tôn dạy nên từ bỏ dục lạc hướng đến thiền lạc, và trong cảnh giới thiền cần phải từ bỏ các thiền còn dao động.
Lạc, Sukha ở đây có nghĩa hạnh phúc hơn là khoái lạc. Luận giải Thiền lạc gọi là ly dục lạc, vì từ bỏ các khoái lạc giác quan; là viễn ly lạc vì đem lại hạnh phúc của đời sống độc cư xa lánh
đám đông và xa lìa ô nhiễm; là tịnh chí lạc vì Thiền lạc là để tịnh chỉ các ô nhiễm; là tuệ lạc vì nó có mục đích đạt đến chứng ngộ. Vì các Thiền chứng dĩ nhiên chưa phải là trạng thái giác ngộ.Tất cả các trạng thái tâm ở dưới Thiền thứ 4 đều được xếp vào loại tâm giao động. Trạng thái tâm ở Thiền thứ 4 và cao hơn được gọi là bất động
KINH CATUMĀ
(Ctum Sutta)
(M.i, 457)
A. Duyên khởi:
500 Tỷ-kheo tân học đi đến yết kiến Thế Tôn mà làm ồn nên bị Thế Tôn đuổi đi.
B. Chánh kinh:
I. Các Thích tử ở Ctuma và Phạm thiên Sahampati can thiệp xin Thế Tôn cho phép các Tỷ-kheo được ở lại.
II. Thế Tôn cho phép họ được ở lại, và hỏi Sriputta và Moggallna đã nghĩ gì khi các Tỷ-kheo bị đuổi.
Trong trường hợp này, Tôn giả Xá
Lợi Phất có lỗi khi không nhận trách
nhiệm vì Tăng già là trách nhiệm của 2
vị trưởng lão. Bởi thế Phật quở trách
Xá Lợi Phất nhưng khen Mục Kiền
Liên vì có tinh thần trách nhiệm.
III. Thế Tôn giảng về bốn sự sợ hãi cho những ai xuất gia trong pháp và luật này.
KINH NALAKAPĀNA
(Nalakapna Sutta)
(M.i, 462)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn đang ngồi với chúng Tỷ-kheo và 7 vị đại đệ tử. Thế Tôn hỏi các vị Tỷ-kheo về 7 vị Đại đệ tử ấy có hoan hỷ trong Phạm hạnh không. Các Tỷ-kheo không có trả lời. Thế Tôn quyết định hỏi thẳng 7 vị đại đệ tử.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn hỏi 3 câu hỏi liên hệ tới các đại đệ tử:
1. Có sống hoan hỷ trong Phạm hạnh.
2. Xuất gia trong khi tuổi trẻ với phát tâm chân chánh.
không vì lệnh của vua, của kẻ trộm cướp, không vì nợ nần, không vì sợ hãi, không vì mất kế sinh kế, mà chỉ vì mong chấm dứt toàn bộ khổ uẩn.
3. Xuất gia như vậy cần phải làm gì.
II. Thế Tôn hỏi câu hỏi tiếp về Như Lai là Như Lai còn có hay đã đoạn trừ hoàn toàn các pháp hữu lậu.
III. Thế Tôn nêu ra rằng Như Lai giải thích sự tái sanh của các đệ tử từ trần có phải vì danh lợi không.
Như Lai không vì lường gạt, không vì nịnh hót, không vì lợi dưỡng mà nói lên vấn đề tái sanh. Ngài chỉ vì muốn chúng sanh chú tâm trên như thật, và như vậy đem lại hạnh phúc lâu dài.
KINH GULISSĀṆI
(Gulissṇi Sutta)
(M.i, 469)
A. Duyên khởi:
Tỷ-kheo Gulissani là vị sống ở rừng núi đi đến ở giữa tăng chúng, có những hành động thô tháo, nên Tôn giả Sriputta, nhân vị Tỷ-kheo Gulissani thuyết giảng kinh này.
B. Chánh kinh:
Tôn giả Sriputta dạy một vị Tỷ-kheo sống ở rừng núi, nếu đến trú quán giữa chúng Tăng phải đủ 17 hạnh, nếu không thì bị chỉ trích là sống ở rừng núi không có lợi ích gì:
1. Phải biết tôn trọng cung kính các vị đồng Phạm hạnh.
2. Phải khéo léo về chỗ ngồi, không chiếm chỗ ngồi các vị Thượng tọa, không đổi chỗ ngồi các vị niên thiếu Tỷ-kheo.
3. Không nên vào làng quá sớm, không có trở về ban ngày.
4. Không nên đi đến các gia đình trước bữa ăn hay sau bữa ăn.
Ðiều này bị cấm bởi học giới Ba dật đề 46. Tỳ kheo có thể đến gia đình vào những lúc ấy chỉ khi đã thông báo cho một Tỳ kheo khác ở trong tu viện về ý nghĩ của mình, trừ mùa may y và thí y
5. Không nên trạo cử dao động.
6. Không nên nói nhiều lời và nói tạp nhạp.
7. Phải là người dễ nói và thiện hữu.
8. Phải hộ trì các căn.
9. Phải tiết độ trong ăn uống.
10. Phải chú tâm cảnh giác.
11. Phải tinh cần tinh tấn.
12. Phải an trú niệm.
13. Phải tu tập thiền định.
14. Phải thành tựu trí tuệ.
15. Phải thực tập các thắng pháp, thắng luật.
16. Phải thực tập các pháp tịch tịnh giải thoát vượt sắc giới và vô sắc giới.
17. Phải thực tập các pháp thượng nhân.
C. Kết luận:
Được Tôn giả Mah Moggallna hỏi có phải chỉ có các vị Tỷ-kheo ở rừng núi mới chấp trì và thực hành 17 pháp này hay cả bởi các Tỷ-kheo sống ở giữa thôn làng, Tôn giả Sriputta trả lời là các vị Tỷ-kheo sống ở giữa thôn làng cần phải thực hành chúng nhiều hơn nữa.
KINH KĪṬĀGIRI
(Kỵṭgiri Sutta)
(M.i, 473)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn khuyên các Tỷ-kheo chớ có ăn ban đêm, nhưng Tỷ-kheo Assaji và Punabbasuka không vâng theo nên Thế Tôn thuyết giảng kinh này.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn biết khi cảm thọ một cảm giác nào, thiện pháp bị tổn giảm, bất thiện pháp tăng trưởng. Thế Tôn khuyên nên từ bỏ cảm thọ ấy.
Thế Tôn biết khi cảm thọ một cảm giác nào, thiện pháp tăng trưởng, bất thiện pháp tổn giảm. Thế Tôn khuyên nên cảm giác cảm thọ ấy.
II. Thế Tôn dạy, đối với các bậc vô học, không có sự việc gì cần phải làm nhờ không phóng dật; đối với các vị hữu học, có sự việc cần phải làm nhờ không phóng dật. Thế Tôn dạy có 7 hạng người ở đời, 2 hạng đầu không có sự việc cần phải làm nhờ không phóng dật, 5 hạng sau có sự việc cần phải làm nhờ không phóng dật. Có bảy hạng người (6):
1. Câu phần giải thoát, Câu phần giải thoát có nghĩa là vị ấy
giải thoát thân vật lý nhờ các Thiền chứng vô sắc, và thoát khỏi thân tâm lý nhờ đạo lộ A la hán. Kinh sớ nói bậc Câu phần giải thoát bao gồm những người đắc quả A la hán sau khi xuất một trong 4 định vô sắc, và người đắc quả sau khi xuất diệt tận định.
2. Tuệ giải thoát, vị này bao gồm những người đắc quả A la hán hoặc như một bậc càn tuệ, sukkha - vipassaka, hoặc sau khi xuất một trong 4 Thiền.
3. Thân chứng, hạng này bao gồm sáu hạng người - từ người chứng quả Dự lưu đến A la hán đạo. Người này chứng các Thiền vô sắc và sau đó chứng Niết bàn. Luận nhấn mạnh rằng một Thiền chứng vô sắc kể cả diệt tận định, là cần thiết để gọi là bậc thân chứng. Ðịnh nghĩa pug thay vào tám giải thoát.
4. Kiến đáo, bao gồm 6 người như trên, từ bậc Dự lưu cho đến A la hán đạo, nhưng không chứng các Thiền vô sắc. Pug định nghĩa vị này là người đã hiểu rõ 4 chân lý và đã quán sát với Trí tuệ những giáo lý mà đức Như Lai tuyên thuyết.
5. Tín giải thoát,
Luận nói hạng này cũng bao gồm 6 người như trên. Pug định nghĩa vị này cũng như bậc kiến đáo, nhưng chưa quán sát giáo lý với Trí tuệ như bậc kiến đáo.
6. Tùy pháp hành,
7. Tùy tín hành.
Luận nói hạng tùy pháp và tùy tín là những người trên đạo lộ Dự lưu, hạng đầu đặt nặng Trí tuệ, hạng sau đặt nặng đức tin.
Câu phần giải thoát (7) là vị đã đắc các tịch tịnh giải thoát vượt khỏi các sắc và vô sắc pháp, và sau khi thấy với Trí tuệ, đã tận trừ tất cả lậu hoặc.
Tuệ giải thoát (8) đã tận trừ lậu hoặc nhưng không chứng đắc các tịch tịnh giải thoát.
Thân chứng (9) có chứng đắc các tịch tịnh giải thoát nhưng chỉ đoạn trừ một số lậu hoặc.
Kiến đáo (10) không chứng đắc các tịch tịnh giải thoát, chỉ đoạn trừ một số lậu hoặc.
Tín giải thoát (11) có chứng đắc tịch tịnh, đoạn trừ một số lậu hoặc, lòng tin đối với Như Lai đã được xác định.
Tùy pháp hành (12) có các căn tín, tấn, niệm, định, tuệ nhưng không chứng đắc tịch tịnh giải thoát, lậu hoặc không được đoạn trừ, các pháp do Như Lai tuyên thuyết chỉ được vị này chấp nhận một ít.
Tùy tín hành không chứng đắc tịch tịnh giải thoát, lậu hoặc không được đoạn trừ, nhưng có lòng tin và lòng thương Phật. Năm vị sau này còn có việc phải làm nhờ không phóng dật.
Ở đây sự phân thành 7 hạng Hiền Thánh không chỉ căn cứ trên sự chứng đạo đắc quả như 4 đôi 8 vị, mà theo sự nổi bật của một trong các căn tín tấn niệm định tuệ.
III. Trí tuệ cần phải thành tựu từ từ qua 12 giai đoạn: Tin - đi đến gần phục vụ - lóng tai - nghe pháp - thọ trì pháp - suy tư ý nghĩa - chấp thuận - ước muốn - nỗ lực - cân nhắc - tinh cần - tự thân chứng được sự thật tối thượng-vị ấy thấy.
IV. Sự thuyết trình gồm có bốn phần.
KINH AGGIVACCHAGOTTA
(Aggivacchagotta Sutta)
(M.i, 483)
A. Duyên khởi:
Vacchagotta đến thăm Thế Tôn. Cuộc đàm thoại giữa Thế Tôn và Vacchagotta bắt đầu.
B. Chánh kinh:
I. Vacchagotta hỏi Sa-môn Gotama có tri kiến đối với 10 vấn đề. Đức Phật trả lời là không, vì chúng đều là tà kiến, và nhấn mạnh sự nguy hại trong đó nên Ngài không chấp nhận. Rồi Sa-môn Gotama trình bày cái thấy của Như Lai tức sự đoạn trừ các ảo tưởng, ngã kiến, ngã sở kiến, mạn tuỳ miên.
II. Câu hỏi thứ hai, một Tỷ-kheo được giải thoát như vậy có sanh khởi không. Sa-môn Gotama trả lời là không thể áp dụng. Và khi Vacchagotta tỏ vẻ khó hiểu, Ngài dùng ví dụ ngọn lửa cháy và tắt để giải thích.
Luận nói "không sinh trở lại" có nghĩa vị A la hán không còn trải qua một đời sống mới. Nhưng nếu Vacchagotta nghe lời này, ông ta sẽ hiểu lầm là đoạn diệt, nên Phật phủ nhận.
III. Năm uẩn đã được Như Lai đoạn diệt từ gốc rễ, được giải thoát hoàn toàn, nên nói khởi lên hay không khởi lên, không có áp dụng. “sắc pháp ấy được Như Lai đoạn diệt làm cho không thể sinh khởi trong tương lai. Như Lai đã giải thoát khỏi sắc pháp” Luận nói đây là sắc pháp qua đó người ta mô tả Như Lai là một tự ngã có sắc pháp. Luận thêm sắc pháp đã được từ bỏ nhờ sự từ bỏ những kiết sử liên hệ đến nó, nên nó không thể nào
trở lại trong tương lai.
ĐẠI KINH VACCHAGOTTA
(Mahvacchagotta Sutta)
(M.i, 489)
A.Duyên khởi:
Theo lời yêu cầu của Vacchagotta, Thế Tôn thuyết giảng một cách tóm tắt về các thiện và bất thiện pháp.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn giảng ba pháp thiện và bất thiện, 10 pháp thiện và bất thiện; nói một Tỷ-kheo đoạn tận ái trở thành vị A-la-hán.
II. Với câu hỏi của Vacchagotta, Thế Tôn giải thích đã có hàng trăm Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni chứng quả A-la-hán, có hàng trăm nam cư sĩ, nữ cư sĩ chứng quả Bất lai (rất nhiều nam nữ Cư sĩ
đã đoạn 5 hạ phần kiết sử sống phạm hạnh )và Dự lưu (nhiều nam nữ Cư sĩ hưởng thụ vật dục nhưng chấp nhận giáo huấn, đã đoạn nghi hoặc, chứng vô sở úy). Vacchagotta tán thán đạo sư và bốn hội chúng đều đầy đủ mọi phương diện, cùng đều hướng đến Niết-bàn.
III. Vacchagotta tán thán Thế Tôn xin xuất gia, được chấp nhận và sau khi chứng được trí hữu học, minh hữu học; đến xin Đức Phật dạy cho các pháp thù thắng khác cao hơn.
IV. Đức Phật dạy cho pháp chỉ và quán, nhờ vậy chứng được lục thông. Vacchagotta sau một thời gian tu học trở thành một vị A-la-hán. Sau khi chứng quả, Vacchagotta được Đức Phật ấn chứng là vị đã chứng được ba minh.
Ông gửi lời này đến Phật khi có một nhóm Tỳ kheo đi yết kiến Ngài: "Thế Tôn đã được con hầu hạ, Thiện thệ đã được con hầu hạ
Ðây là một cách gián tiếp tin cho Phật biết ông đã đắc quả A la hán. Các Tỳ kheo không hiểu điều này nên Phật đã giải thích ý nghĩa cho họ.
KINH TRƯỜNG TRẢO
(Dỵghanakha Sutta)
(M.i, 497)
A. Duyên khởi:
Dỵghanakha (Trường Trảo) nêu lên tri kiến của mình rằng: “Tất cả đều không làm cho tôi thích thú”. Sa-môn Gotama nói lên quan điểm của mình về cái tri kiến liên hệ đến quan điểm của Dỵghanakha.
Phạm chí Trường Trảo là cháu của Tôn giả Xá Lợi Phất. Vào lúc ông đến nơi Phật, Tôn giả Xá Lợi Phất chỉ mới xuất gia làm Tỳ kheo 2 tuần, và đang còn là một bậc Dự lưu.
B. Chánh kinh:
I. Có ba tri kiến về thích thú, ảnh hưởng của ba tri này đối với tham dục.
II. Người có trí đối với ba tri kiến này, cố chấp tri kiến thời có đối nghịch, có tranh luận. Do đó, người có trí phải đoạn trừ các tri kiến này.
Tóm lại, có kiến chấp là có đối nghịch, đối nghịch đưa đến tranh
luận, tranh luận đưa đến chống đối, chống đối đưa đến bực mình. Thấy thế, vị này hủy bỏ những tri kiến ấy.
III. Khi quán thân là vô thường, vô ngã thời đoạn được thân dục, thân ái, thân phục tòng.
IV. Khi quán ba thọ là vô thường do duyên sanh, hữu vi, đưa đến yểm ly, ly tham, giải thoát. Với tâm giải thoát, vị Tỷ-kheo không nói thuận theo một ai, chỉ nói theo từ ngữ đã được dùng ở đời, không có chấp thủ.
Luận trích một câu kệ nói rằng một vị A la hán có thể sử dụng danh từ tôi và của tôi nhưng không có kiêu mạn nổi lên, cũng không lầm chúng ám chỉ một tự ngã. Xem thêm Trường Bộ Kinh 9 trong đó Phật nói về những lời phát biểu có sử dụng danh từ tôi: "Ðây chỉ là những tên gọi, thành ngữ, những lối nói, những cách chỉ định thường dùng trong thế gian, mà đức Như Lai sử dụng nhưng không lầm về chúng.
V. Quả chứng do lời Thế Tôn thuyết giảng đưa lại:
1. Tôn giả Xá-lợi-phất chứng quả A-la-hán.
2. Dỵghanakha chứng được pháp nhãn.
KINH MĀGANDIYA
(Mgandiya Sutta)
(M.i, 501)
A. Duyên khởi:
Du sĩ Mgandiya thấy tại nhà của Bà-la-môn Bhradvja có thảm cỏ dành riêng cho Sa-môn Gotama liền bất bình và chỉ trích Sa-môn Gotama là người đã phá hoại sự sống. Bà-la-môn Bhradvja khuyên du sĩ Mgandiya không nên chỉ trích như vậy, vì Sa-môn Gotama được rất nhiều các vị bác học Sát-đế-lợi, Bà-la-môn kính trọng. Du sĩ Mgandiya vẫn khăng khăng chỉ trích Sa-môn Gotama. Thế Tôn biết vậy liền đi đến nhà của Bà-la-môn Bhradvja, và cuộc đàm luận giữa Sa-môn Gotama và du sĩ Mgandiya bắt đầu.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn hỏi Mgandiya có phải vì Sa-môn Gotama khuyên phải phòng hộ 6 căn mà
bị Mgandiya chỉ trích là phá hoại sự sống, Mgandiya xác nhận là đúng như vậy.
II. Thế Tôn hỏi một người trước kia đam mê sáu trần khả ái, sau đoạn được ái sống với nội tâm an tịnh, thời Mgandiya có ý kiến gì, Mgandiya trả lời là không có ý kiến gì.
III. Thế Tôn kể lại kinh nghiệm của Ngài, trước thọ hưởng dục lạc thuộc loài người hết sức đầy đủ, sau từ bỏ nhân lạc ấy, hưởng được thiên lạc do tu thiền, và không còn ham thích dục lạc thấp kém xưa kia nữa.
IV. Thế Tôn dùng bốn ví dụ để chứng tỏ thiền lạc thù diệu hơn dục lạc ở loài người; một khi đã hưởng được thiền lạc, thời không còn ưa hưởng thọ nhân lạc nữa; và thật sự nhân lạc không đem lại hạnh phúc.
1. Ví dụ thứ nhất: một gia chủ trước thọ hưởng 5 dục đầy đủ, sau làm các thiện sự được sanh thiên, hưởng thiên lạc thù diệu hơn, không ham muốn trở lui theo nhân lạc nữa.
2. Ví dụ thứ hai: một người bị bịnh cùi, hơ đốt thân mình trên lửa cho đỡ ngứa, khi được chữa lành bịnh, không còn trở lui hơ đốt thân mình như trước nữa,.Cũng vậy, một vị đã xuất ly khỏi tham ái các thọ, không còn trở lui thọ hưởng các dục lạc nữa vì đã hưởng được thiền lạc.
3. Ví dụ thứ ba: một người bị bịnh cùi hơ đốt thân trên lửa hừng. Sau được chữa lành bịnh, nếu có ai dùng sức mạnh kéo nó đến hố than hừng, nó sẽ chống cự lại, vì sự xúc chạm với lửa là khổ đau, trước cũng vậy, nay cũng vậy. Nhưng trước vì bị bịnh, nên hơ lửa có cảm tưởng là lạc thọ. Cũng vậy trong quá khứ, sự xúc chạm các dục là đau khổ, nhưng vì còn tham ái, nên có cảm tưởng là lạc thọ.
4. Ví dụ thứ tư: một người bị bịnh cùi đang cào rách các vết thương, hơ đốt thân trên lửa đỏ, càng thêm bất tịnh, càng thêm hôi thúi, chỉ có cảm giác gãi ngứa dễ chịu thôi. Cũng vậy, còn bị tham ái chi phối, càng thỏa mãn các dục, càng bị 5 dục thiêu đốt, chỉ có cảm giác dễ chịu do 5 dục trưởng dưỡng mà thôi.
V. Thế Tôn nói rằng không thể có một vị vua, hay vị đại thần thọ hưởng các dục, lại có thể đoạn trừ tham ái, nội tâm tịch tịnh. Chỉ có các vị Sa-môn, Bà-la-môn thấy như chơn sự nguy hiểm của các dục mới ly tham, đoạn ái nội tâm an tịnh.
VI. Khi Thế Tôn đọc câu kệ về vô bịnh và Niết-bàn, Mgandiya nói là các tôn sư ẩn sĩ cũng nói như vậy. Thế Tôn trả lời là các ẩn sĩ như người không có mắt, không thấy, không biết vô bịnh Niết-bàn là gì và người du sĩ tin các du sĩ mà nói vậy thôi. Theo lời yêu cầu của Mgandiya, Thế Tôn giảng câu kệ ấy:
1. Mgandiya không thể hiểu được vô bịnh, không thể hiểu được Niết-bàn chỉ vì tin ngoại đạo nên tưởng là hiểu; nhưng ngoại đạo mù lòa không thể thấy được hai vấn đề trên. Ví dụ người mù lòa, bị người có mắt lừa tấm vải đẹp.
2. Phải có Thánh nhân thấy thân này là bịnh khổ, là cục bướu mới thấy được vô bịnh là tối thắng, Niết-bàn lạc tối thắng.
3. Mgandiya yêu cầu Sa-môn Gotama thuyết pháp. Thế Tôn nói như người mù chữa bịnh mù nhưng không thành công, chỉ làm nhọc lòng vị y sĩ. Cũng vậy, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho Mgandiya, Mgandiya cũng không thấy được, và cũng chỉ làm nhọc mệt Thế Tôn.
4. Thế Tôn nói chỉ khi nào người bị mù được chữa lành bịnh, mới thấy được tấm vải trắng và biết được trước kia mình bị lừa như thế nào. Cũng vậy, chỉ khi nào Thế Tôn thuyết pháp và Mgandiya đoạn trừ được tham dục, chỉ khi ấy Mgandiya mới hiểu mình bị lừa như thế nào.
5. Cuối cùng Thế Tôn dạy cho Mgandiya cách thức để diệt toàn bộ khổ uẩn: thân cận bậc chơn nhân, nghe diệu pháp, không chấp thủ, được giải thoát.
VII. Mgandiya tán thán Thế Tôn xin xuất gia, sau khi xuất gia chứng quả A-la-hán.
KINH MAHĀSAKULUDYI
(Mahsakuludyi Sutta)
(M.ii, 1)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn viếng thăm du sĩ Sakuludyi và cuộc đàm thoại sau đây được khởi lên.
B. Chánh kinh:
I. Mah Sakuludyi so sánh nhân thấy đệ tử của 6 ngoại đạo sư đối xử với đạo sư của mình không có kính trọng như các đệ tử của Sa-môn Gotama đối với bậc đạo sư của mình.
II. Được Sa-môn Gotama hỏi Sakuludyi trả lời là Sa-môn Gotama có 5 pháp, nên các đệ tử của Sa-môn Gotama mới cung kính tôn trọng Sa-môn Gotama.
III. Sa-môn Gotama nói không phải vì Sa-môn Gotama có 5 pháp ấy nên được các đệ tử kính trọng, vì Sa-môn Gotama có những đệ tử thực hành theo 5 pháp ấy một cách trọn vẹn đầy đủ hơn Sa-môn Gotama.
IV. Sa-môn Gotama nói rằng do Sa-môn Gotama có 5 pháp khác mà đệ tử của mình cung kính tôn trọng mình:
1. Thành tựu giới uẩn tối thượng.
2. Có tri kiến vi diệu.
3. Thành tựu tăng trưởng trí tuệ.
4. Sa-môn Gotama làm cho các đệ tử thỏa mãn với các câu trả lời liên hệ đến khổ.
5. Sa-môn Gotama thuyết giảng những con đường, những pháp môn tu hành cho các đệ tử, có tất cả là:
1. 37 phẩm trợ đạo.
2. 8 giải thoát.
3. 8 thắng xứ.
4. 10 biến xứ.
5. 4 thiền.
6. Quán thân này là sắc pháp.
7. Quán xứ hoá hiện của thân do ý làm ra
8. 6 thần thông.
Ngài dạy 8 giải thoát (Luận giải thích giải thoát ở đây có nghĩa sự giải phóng hoàn toàn (nhưng tạm thời) của tâm thức khỏi những pháp đối lập và sự giải phóng hoàn toàn nhưng tạm thời của nó do thích thú với đối tượng. Sự giải thoát đầu là đắc Tứ Thiền có sự dụng một biến xứ xuất phát từ một vật có màu sắc trên cơ thể của mình; thứ hai là sự đắc các Thiền do sử dụng một biến xứ từ một đối tượng bên ngoài; thứ ba có thể hiểu là sự đắc Thiền nhờ một biến xứ thuần tịnh, có màu sắc rất đẹp, hoặc nhờ 4 phạm trú. Những giải thoát còn lại là những định chứng vô sắc và định diệt tận.), 8 thắng xứ [Theo Kinh sớ, những pháp này gọi là Thắng xứ vì chúng vượt lên trên các pháp đối nghịch và các đối tượng, nhờ áp dụng phương pháp đối trị thích hợp và nhờ khởi lên tri kiến. ] , quán nội sắc thấy ngoại sắc có hạn
lượng, và do nhiếp thắng chúng, vị ấy thấy biết, đây là thắng xứ thứ nhất (Theo kinh sớ, Thiền giả làm công việc chuẩn bị với một hình tướng nội tại - ví dụ màu xanh của con mắt cho biến xứ màu xanh, da cho biến xứ màu vàng, máu cho biến xứ màu đỏ, răng cho biến xứ trắng - nhưng khi định tướng xuất hiện thì ở ngoài. Sự "vượt qua các hình tướng" là sự đắc định đồng lúc với tướng khởi lên. Nghĩ rằng tôi biết, tôi thấy là một chướng ngại khởi lên sau khi vị ấy xuất định chứng chứ không phải khi đắc định. Thắng xứ thứ 2 chỉ khác thắng xứ đầu do sự trải rộng tướng từ hữu hạn thành vô hạn.).
Quán nội sắc thấy ngoại sắc vô hạn và nhiếp thắng chúng, vị ấy thấy biết, là thắng xứ thứ hai. Không quán nội sắc, thấy ngoại sắc có hạn lượng là thắng xứ thứ ba (Kinh sớ: thắng xứ thứ 2 và thứ 4 bao hàm công việc chuẩn bị được làm trên một tướng bên ngoài và sự khởi lên tướng ở bên ngoài. Thắng xứ thứ 5 cho đến thứ 8 khác với thứ 3 và thứ 4 về sự thuần tịnh thù thắng và ánh sáng của những màu sắc.); thấy ngoại sắc vô hạn lượng và nhiếp thắng, là thắng xứ thứ tư. Bốn thắng xứ kế tiếp là do quán vô
sắc nội tâm, thấy các ngoại sắc thuần tịnh màu xanh, vàng, đỏ, trắng và sau khi nhiếp thắng chúng, vị ấy thấy biết. Ngài giảng dạy cách tu tập 10 biến xứ (Biến xứ là một đối tượng Thiền quán phát xuất từ một vật làm bằng tứ đại dùng làm cơ sở để đắc "tướng" ở bên trong. Ví dụ một cái đĩa làm bằng đất sét có thể dùng làm đối tượng để thực hành pháp tu biến xứ đất, một bát nước dùng để tu tập biến xứ nước. Các biến 374 xứ được giải thích chi tiết trong Thanh tịnh đạo 4 và 5. Tuy nhiên biến xứ hư không ở đấy được giới hạn vào không gian hữu hạn, và biến xứ thức được thay bằng biến xứ ánh sáng), 4 Thiền. Ly dục ly bất thiện pháp, vị Tỳ kheo chứng trú Thiền thứ nhất có tầm có tứ, với hỉ lạc do ly dục sinh (Những ví dụ về Thiền cũng xuất hiện trong kinh 39, như các thí dụ về 3 loại trí sau cùng.)... cho đến Thiền thứ tư không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Ngài giảng dạy đệ tử tuệ tri (Các đoạn mô tả 8 thắng trí theo kinh Sa Môn Quả, là những kết quả thù thắng của hạnh Sa môn.) thân 369 này là sắc pháp do duyên sinh; trong thân ấy thức nương tựa và bị trói buộc như sợi dây xâu qua những viên ngọc. Ngài thuyết giảng về con đường tu hành để hóa hiện một thân ý sinh, để đắc các thắng trí như biến hình, thiên nhĩ, thiên nhãn, túc mạng, tha tâm, và lậu tận. Ðây là những pháp làm cho đệ tử cung kính tôn trọng và sống nương tựa Ngài.
KINH SAMAṆAMAṆḌIK
(Samaṇamaṇḍikā Sutta)
(M.ii, 23)
A. Duyên khởi:
Pađcakaga, một đệ tử Phật, đi đến thăm du sĩ Uggahamana được du sĩ nói lên lý thuyết của mình là một người thành tựu bốn pháp được xem là thiện cụ túc, thiẹn tối thắng, là bậc Sa-môn vô năng thắng, tức là không làm ác nghiệp về thân, lời, ý và chánh mạng. Pađcakanga về thưa lại với Thế Tôn, Thế Tôn thuyết giảng kinh này.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn bác bỏ thuyết ấy, vì như vậy một đứa con nít thành tựu bốn pháp này cũng là bậc thiẹn cụ túc, thiện tối thắng sao?
II. Thế Tôn xác định thành tựu bốn pháp ấy không thể là vị thiện cụ túc, thiện tối thắng.
III. Thế Tôn chủ trương thành tựu 10 pháp
mới gọi là Thiện Cụ túc, Thiện Tối thắng, là bậc Sa-môn vô năng thắng:
1. Mười giải thoát: 1) Chánh tri kiến... 10) Chánh giải thoát.
2. Chánh tri kiến:
a. Biết về bất thiện giới.
b. Biết về thiện giới.
Thiện giới là thân khẩu ý nghiệp thiện, nếp sống thanh tịnh. Sự sinh khởi của chúng là do tâm không tham, không sân, không si. Thiện giới được trừ diệt không có dư tàn (5) là khi vị Tỳ kheo có giới hạnh nhưng không chấp trước giới và như thật tuệ tri tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Ðoạn này hiển thị A la hán vẫn còn duy trì các thiện hành nhưng không đồng hóa mình với đạo đức xem là tôi và của tôi. Vì những thói quen đạo đức của ông không còn phát sinh nghiệp nên chúng không còn được gọi là thiện.
Kinh sớ nói: cho đến đạo lộ A la hán vị ấy được nói là đang tu tập để chấm dứt thiện tư duy; khi đắc A la hán quả, thiện tư duy chấm dứt. Những ý định tốt lành của A la hán không được gọi là "thiện" (vì không mong chờ quả báo.)
c. Biết về bất thiện tư duy.
Ðây ám chỉ Sơ Thiền thuộc quả Bất hoàn. Bất hoàn đạo tận trừ tham dục và ác ý, nên không còn sinh khởi trong tương lai 3 loại tư duy bất thiện là dục sân và hại.
d. Biết về thiện tư duy.
Theo Kinh sớ, thiện tư duy trừ diệt không dư tàn là ám chỉ nhị Thiền thuộc quả A la hán.
TIỂU KINH THIỆN SANH ƯU-ĐÀ-DI
(Cḷasakuludāyi Sutta)
(M.ii, 29)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn đến thăm Sakuludyi và đại chúng du sĩ. Du sĩ yêu cầu Thế Tôn thuyết pháp khi nêu lên một số vấn đề thảo luận để nghe Thế Tôn thuyết.
B. Chánh kinh:
Bốn vấn đề được Sakuludyi nêu lên và được Thế Tôn phê bình.
I. Vấn đề nhất thiết trí:
1/ Quan điểm của Ntaputta.
2/ Lời vấn nạn của Thế Tôn.
3/ Thế tôn bàn về hiện tại.
II. Vấn đề thứ hai: Sắc này là tối thượng:
1/ Quan điểm của ngoại đạo.
2/ Vấn nạn của Thế Tôn: Có thể chỉ rõ sắc ấy không.
III. Vấn đề thứ ba: Với sắc ấy chói sáng tự ngã là vô bệnh sau khi chết:
1/ Quan điểm của ngoại đạo.
Vô bệnh, arogo thông thường có nghĩa là khỏe mạnh, nhưng ở đây nên hiểu là trường cửu. Theo kinh sớ, ông ta ám chỉ tái sinh vào cõi trời Thiểu Quang thiên, cảnh giới của Thiền thứ 3 mà ông đã nghe đến nhưng chưa thực chứng. Quan điểm này rơi vào loại quan điểm được mô tả trong kinh 102.
2/ Vấn nạn của Thế Tôn: Quang sắc nào vi diệu hơn cả.
IV. Vấn đề thứ tư: Có một thế giới nhất hướng lạc và con đường đưa đến thế giới ấy:
1/ Quan điểm của ngoại đạo.
2/ Vấn nạn của Thế Tôn.
3/ Quan điểm của Đức Phật về vấn đề này.
Theo kinh sớ, sau khi đắc Thiền thứ tư, vị ấy vận thần thông đi đến cõi trời Thiểu quang thiên và nói chuyện với chư thiên tại đấy.
V. Vấn đề thứ năm: Không phải vì nhân duyên chứng đắc thế giới nhất hướng lạc ấy mà các Tỷ-kheo sống Phạm hạnh với Thế Tôn:
1/ Vì các pháp cao thượng hơn.
2/ Các pháp ấy là túc mạng minh, thiên nhãn minh và lậu tận minh.
Ưu Đa Di ca tụng Phật và xin quy y. Ông xin xuất gia thọ đại giới nhưng bị các đệ tử đi theo ông phản đối, nói ông đã là bậc Đạo sư, nay trở thành đệ tử thì cũng như ghè nước tốt bị thủng lỗ chảy nước. Như vậy chính đồ chúng du sĩ đã là một chướng ngại khiến Ưu Đa Di không được sống phạm hạnh dưới Thế Tôn (5). Theo kinh sớ, trong một tiền kiếp, lúc làm Tỳ kheo dưới thời Phật Ca 406 Diếp, vị ấy đã thuyết phục cho một Tỳ kheo bạn hoàn tục để được y bát của vị này. Do nghiệp chướng ấy, trong đời này vị ấy không được xuất gia với Phật Thích Ca. Nhưng Phật giảng cho ông 2 bài kinh dài để tạo điều kiện cho ông chứng đạo về sau. Dưới triều vua A Dục ông đắc quả A la hán, đấy là trưởng lão Assaputta, người thực hành tâm từ đến chỗ viên mãn.
KINH VEKHANASSA
(Vekhanassa Sutta)
(M.ii, 39)
A. Duyên khởi:
Du sĩ Vekhanassa có cuộc đàm luận với Thế Tôn về một số vấn đề.
B. Chánh kinh:
I. Vấn đề thứ nhất: Sắc này là tối thượng:
1. Quan điểm của Vekhanassa.
2. Vấn nạn của thế tôn.
II. Vấn đề thứ hai: Sắc sáng chói khi chết là tối thượng:
1. Quan điểm của Vekhanassa.
2. Vấn nạn của Thế Tôn.
III. Vấn đề thứ ba: Dục, dục lạc, tối thượng lạc:
1. Quan điểm của Thế Tôn về vấn đề này.
2. Phản ứng phẫn nộ của Vekhanassa khi Thế Tôn nói Vekhanassa không thể hiểu được những vấn đề này.
IV. Vấn đề thứ tư: Lập trường của Thế Tôn về vấn đề giải thoát:
1. Những ai chưa chứng túc mạng minh và thiên nhãn minh, chưa hiểu được giải thoát Phật bỏ qua lời nói móc của du sĩ, mà xác nhận ai chưa chứng tự cho đã chứng thì quả là nói láo.
2. Cần ở hiện tại, thực hiện lời Phật thuyết sẽ được giải thoát và sẽ biết được vấn đề này.
C. Kết luận:
Khi được nghe nói vậy, du sĩ Vekhanassa bạch Thế Tôn: “Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!... xin Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng”.
KINH GHAṬĪKĀRA
(Ghaṭīkāra Sutta)
(M.ii, 45)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn đang du hành ở Kosala, bước xuống đi đến một địa điểm rồi mỉm cười. Trả lời câu hỏi của Tôn giả nanda, Thế Tôn nói địa điểm này trước đây là thị trấn Vebhalinga, là tu viện của Thế tôn Kassapa, vị này tại đây thuyết pháp cho hội chúng.
B. Chánh kinh:
Thế Tôn kể câu chuyện thời Thế Tôn Kassapa về Ghṭỵkra, đệ tử đàn tín của Thế Tôn Kassapa, và Jotipla, người bạn của Ghṭỵkra.
I. Thế Tôn Kassapa có người đàn tín tên Ghṭỵkra, và vị này có người bạn thân tên Jotipla. Ghṭỵkra, sau nhiều lần khích lệ mới đưa được Jotipla đến yết kiến Thế Tôn Kassapa. Sau khi nghe pháp, Jotipla xin xuất gia.
Ở Ðông phương, một người thuộc giai cấp dưới mà sờ đầu người thuộc giai cấp trên là điều tối kỵ. Kinh sớ giải thích, thợ gốm sẵn sàng đánh liều vi phạm quy luật để làm cho thanh niên Jotipala phải đến gặp Phật.
II. Thế Tôn Kassapa đi đến Ba-la-nại, gặp vua Kikỵ nước Kasi, được mời thọ trai và an cư, Thế Tôn từ chối không an cư ở Ba-la-nại, được vua bảo trợ, vì đã nhận lời an cư ở Vebhalinga. Tại đây có người đàn tín tên là Ghṭỵkra.
III. Thế Tôn tán thán 13 đức tánh và hạnh nguyện của Ghṭỵkra.
IV. Vua Kikỵ tán dương thợ gốm Ghṭỵkra và đem tặng phẩm tặng cho Ghṭỵkra.
C. Kết luận:
Đức Phật xác nhận thanh niên Jotipla là tiền thân của Ngài. Tôn giả nanda hoan hỷ thọ trì kinh này. Ở đoạn cuối kinh này, Phật cho biết Jotipàla thời ấy chính là Ngài. Trong kinh Tiểu bộ, vị trời Thợ Gốm đến thăm Phật và nhắc lại tình bạn cũ với Ngài.
KINH RAṬṬHAPĀLA
(Raṭṭhapāla Sutta)
(M.ii, 55)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn đi đến Thullakoṭṭhita và quần chúng đến nghe pháp, trong ấy có thiện nam tử Raṭṭhapla. Raṭṭhapla nghe xong, xin Thế Tôn xuất gia, nhưng Thế Tôn từ chối vì chưa được phép của cha mẹ.
1. Phật công bố vị này là bậc nhất trong những vị xuất gia với lòng tin, vì ông đã sẵn sàng liều chết để được cha mẹ cho phép đi tu. Có những vần thơ của ông trong Trưởng lão kệ 769-793.
B. Chánh kinh:
I. Raṭṭhapla xin cha mẹ xuất gia, và bị cha mẹ từ chối. Raṭṭhapla quết định tuyệt thực, cuối cùng cha mẹ phải cho phép nhưng dặn Raṭṭhapla phải về thăm nhà sau khi được xuất gia tu hành.
II. Raṭṭhapla sau khi được phép mẹ cha, liền xin Thế Tôn cho xuất gia. Xuất gia không được bao lâu, Raṭṭhapla tinh tấn tu hành, chứng được A-la-hán. Sau khi chứng quả, Raṭṭhapla xin phép Thế Tôn về thăm nhà như đã hứa trước với cha mẹ, Thế Tôn cho phép.
Mặc dù kinh nói "Chẳng bao lâu" nhưng theo Kinh sớ, Lại Tra Hòa La phải mất 12 năm mới đắc quả A la hán. Ðiều này có vẻ đúng khi ta xét sự kiện rằng thân phụ không nhận ra ông khi ông vừa trở về.
III. Raṭṭhapla, ban đầu cha mẹ không nhận ra nên bị sỉ nhục, sau đó được tiếp đón tử tế; và bị cha mẹ tìm mọi cách để Raṭṭhapla hoàn tục. Nhưng mọi cố gắng của cha mẹ đều thất bại. Cuối cùng Raṭṭhapla thuyết pháp cho gia đình và ra đi.
IV. Raṭṭhapla đi vào rừng Lộc uyển, được vua Koreyya yết kiến và hỏi vì sao Raṭṭhapla lại xuất gia, khi không bị bốn suy vong: già, bịnh, tài sản, thân tộc.
V. Raṭṭhapla trả lời là do nghe, biết và thấy bốn thuyết giáo mà Raṭṭhapla đã xuất gia: Thế giới là vô thường, đi đến hủy diệt; thế giới là vô hộ, vô chủ; thế giới là vô sở hữu; thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái.
C. Kết luận:
1. Người đời vì tham ái, chạy theo dục vọng, chinh phục đất đai, ái chưa ly đã phải mệnh chung.
2. Khi đã chết, phải bị thiêu đốt, tiền của để lại không được mang đi, chỉ đi theo nghiệp của mình.
3. Kẻ ngu, bậc trí đối với cuộc đời.
4. Những nguyên nhân chính khiến Raṭṭhapla xuất gia.
KINH MADHURĀ
(Madhurā Suta)
(M.ii, 85)
A. Duyên khởi:
Vua Madhur đến yết kiến Tôn giả Kaccana và hỏi ý kiến Tôn giả về quan điểm của các Bà-la-môn rằng chỉ có Bà-la-môn là giai cấp tối thượng.
1. Tôn giả Ca Chiên Diên được Phật xem là xuất sắc trong sự triển khai ý nghĩa một lời pháp vắn tắt. Kinh số 133 và 138 cũng do Ngài diễn lời Phật dạy.
B. Chánh kinh:
Tôn giả Mah Kaccana trả lời và phê bình quan điểm của các Bà-la-môn.
I. Đây chỉ là một âm thanh, một quan điểm không có thực chất.
II. Mah Kaccana dùng 5 dẫn chứng để chứng tỏ 4 giai cấp là đồng đẳng:
1. Dẫn chứng thứ nhất: Giai cấp nào giàu có có thể dùng người giai cấp khác để hầu hạ mình.
2. Dẫn chứng thứ hai: Giai cấp nào nếu làm 10 điều ác nghiệp, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đoạ xứ, địa ngục.
3. Dẫn chứng thứ ba: Giai cấp nào nếu không làm 10 ác nghiệp đều có thể sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
4. Dẫn chứng thứ tư: Giai cấp nào ăn cướp, ăn trộm, tư thông vợ người đều bị vua trừng phạt, với các hình phạt giống nhau.
5. Dẫn chứng thứ năm: Giai cấp nào xuất gia sẽ được nhà vua cung kính tôn trọng.
KINH BỒ ĐỀ VƯƠNG TỬ
(Bodhirājakumāra Sutta)
(M.ii, 91)
A. Duyên khởi:
Vương tử Bồ Đề mời Thế Tôn đến thọ trai ở nhà, sau bữa thọ trai, Vương tử Bồ Đề mở đầu cuộc đàm đạo với Thế Tôn về một số vấn đề.
Theo kinh sớ, vương tử Bồ đề không con, mong muốn có một con trai. Ông nghe nói cúng Phật thì có thể thỏa mãn ước nguyện, nên trải một tấm vải trắng và nguyện: nếu Phật dẫm lên tấm vải, ta sẽ có con trai. Nếu Phật không dẫm lên tấm vải, ta sẽ không có con. Phật biết do ác nghiệp quá khứ, ông sẽ suốt đời không con, nên Ngài không bước lên trên tấm vải. Nhân đấy Ngài chế 475 học giới cấm Tỳ kheo dẫm lên vải trắng. Về sau Ngài chế lại giới luật này, cho phép Tỳ kheo dẫm lên vải khi cần chúc lành cho gia chủ. Theo kinh sớ, Tôn giả A Nan nói lời này vì nghĩ: trong tương lai người ta sẽ xem việc kính tăng như một đường lối để thỏa mãn các mong cầu thế tục của họ; và họ sẽ mất niềm tin ở Tăng già nếu cung kính mà không được thành công như ý muốn.
B. Chánh kinh:
I. Vấn đề thứ nhất: Vương tử nói lạc được chứng đắc không phải do lạc, mà do khổ. Thế Tôn kể lại kinh nghiệm của mình, trước tu khổ hạnh vì nghĩ khổ hạnh sẽ đem lại lạc giải thoát, sau từ bỏ khổ hạnh, tu giới định tuệ, được giác ngộ và giảng đạo giác ngộ cho 5 vị Tỷ-kheo.
II. Vấn đề thứ hai: Độ bao lâu, một Tỷ-kheo chấp nhận Như Lai là Đạo sư chứng được mục đích tối thượng:
1. Một người học kỹ thuật cưỡi voi và điều khiển voi, nếu có 5 đức tánh thời học không được: không có lòng tin, nhiều bịnh, gian trá, biếng nhác, liệt tuệ.
2. Một người có 5 đức tánh, thời có thể học kỹ thuật cưỡi voi và dùng câu móc: có lòng tin, ít bịnh, không xảo trá, tinh tấn, và có trí tuệ.
3. Nếu một Tỷ-kheo có 5 tinh tấn chi phần, thời có thể giác ngộ, buổi chiều nghe pháp, buổi sáng ngộ đạo, là thời gian mau nhất:
a. Tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai.
b. Ít bịnh ít não với bộ tiêu hóa điều hòa.
c. Không gian trá, không xảo trá, tự mình đối xử như chân với bậc Đạo sư.
d. Tinh cần từ bỏ bất thiện pháp, thành tựu thiện pháp.
đ. Thành tựu trí tuệ.
C. Kết luận:
Vương tử tán thán Đức Phật và Chánh pháp đựơc khéo thuyết giảng, nhưng không nói
xin quy y ba ngôi báu. Thanh niên Sađjikputta nhắc lại điểm này. Vương tử cải chánh nói rằng mình đã quy y ba lần: khi bà mẹ còn mang thai, khi người hầu bồng Vương tử, và nay lại quy y một lần thứ ba nữa.
KINH ANGULIMLA
(Angulimla Sutta)
(M.ii, 97)
A. Duyên khởi:
Tên cướp Angulimla sát hại, cướp bóc, giết hại nhiều người, Thế Tôn đi đến gặp Angulimla để thuyết phục.
Chuỗi ngón tay là con trai của Bà la môn Bhaggava, một cận thần của vua Ba Tư Nặc, xứ Câu Tát La. Ông có tên là Vô Não nghĩa là người không làm hại. Ông học với một vị Thầy ở thành phố Takkasila, trở thành một học trò được Thầy yêu chuộng. Các bạn bè do ganh tị, đã thưa với vị Thầy rằng Vô Não ngoại tình với vợ Thầy. Vị Thầy 489 cố hại Vô Não bằng cách ra lệnh cho ông đem về cho mình một ngàn ngón tay phải của người bị giết để làm lễ
mãn khóa. Vô Não đến khu rừng Jàlini, tấn công những người đi đường, cắt mỗi người một ngón tay xâu thành chuỗi đeo cổ. Kinh này mở đầu vào lúc ông ta đã giết gần đủ ngàn người chỉ thiếu một, và quyết định sẽ giết người mình sắp gặp. Phật biết Vô Não sắp giết mẹ, và quán ông đủ duyên để chứng quả A la hán, nên Ngài đã xen vào trước khi bà mẹ đến.
B. Chánh kinh:
I. Angulimla gặp Thế Tôn, được nhiếp phục và xuất gia.
II. Cuộc gặp gỡ giữa Thế Tôn, Tôn giả Angulimla và vua Pasenadi.
III. Angulimla đi khất thực, cứu độ cho một người đàn bà sanh đẻ và chứng quả A-la-hán.
IV. Tôn giả Angulimla đi khất thực, bị dân chúng ném đá lỗ đầu, chảy máu, bể bình bát, rách y. Đức Phật khuyên nên kham nhẫn, vì đó là kết quả của các nghiệp ác, trước đã làm.
Kinh sớ nói một hành vi cố ý, hay nghiệp, có thể đem lại ba loại quả báo: hiện báo hay quả báo được cảm thọ ngay hiện tại, trong đời sống mà hành vi ấy được làm; sinh báo là quả báo cảm thọ trong hiện hữu kế tiếp; và hậu báo là quả báo được cảm thọ trong bất cứ đời sống nào về sau, khi dòng sinh tử còn tiếp tục. Vì đã đắc quả A la hán, Chuỗi Ngón Tay giải thoát hai loại quả báo sau, nhưng không thoát khỏi quả báo đầu, vì A la hán cũng phải chịu những quả báo của ác nghiệp trong đời hiện tại trước khi chứng quả.
V. Lời cảm thán của Angulimla:
1. Ba bậc sáng chói đời này: Trước phóng dật, nay không phóng dật, trước ác nay làm thiện. Vị Tỷ-kheo trung thành Phật giáo.
2. Mong kẻ địch ta được nghe chánh pháp, sẽ không hại ai và chứng được tịch tịnh.
3. Bậc trí tự mình điều phục, Ta được điều phục, không gậy, không kiếm bởi Thế Tôn.
4. Trước ta sát hại, nay ta vô hại, trước tay vấy máu, nay ta quy y Phật, làm nghiệp như vậy, phải sanh ác thú, nhờ nghiệp đặc biệt, không có nó, Ta hưởng.
Trong khi Tỳ kheo trì giới mà chưa chứng quả A la hán ăn đồ khất thực như thừa hưởng gia tài của Phật, vị A la hán ăn không nợ nần, vì đã tự làm 492 cho mình hoàn toàn xứng đáng nhận của cúng dường. Xem Thanh tịnh đạo 5. Kẻ ngu, vô trí, đam mê phóng dật, bậc trí không phóng dật, không mê dục lạc. Ta không đi lạc hướng, được xuất gia và được chứng Thánh quả.
KINH ÁI SANH
(Piyajātika Sutta)
(M.ii, 107)
A. Duyên khởi:
Con một gia đình mệnh chung, gia chủ quá đau đớn, than khóc, đi đến Thế Tôn, nghe Thế Tôn dạy sầu khổ do ái sanh ra. Gia chủ không tin, nói lại với một số người đánh bạc và được những người san sẻ quan điểm của mình.
B. Chánh kinh:
I. Sự kiện này được truyền vào hậu cung và trở thành đề tài một câu chuyện giữa vua Pasenadi và Hoàng hậu Mllik, Hoàng hậu tin theo lời giải thích của Thế Tôn, còn vua Pasenadi thời không.
II. Hoàng hậu cử Bà-la-môn Nḷijangha đi đến Thế Tôn để hỏi vấn đề này và được dùng 15 ví dụ để chứng minh ái sanh sầu, bi, khổ, ưu, não.
III. Hoàng hậu Mllik trình bày cho vua Pasenadi rõ 15 trường hợp được Thế Tôn giải thích, cộng thêm với năm ví dụ riêng của mình.
1. Vidudabha là con trai của vua về sau đã lật đổ vua. Kàsi và Câu Tát La là các lãnh thổ vua trị vì.
C. Kết luận:
Vua Pasenadi tán thán trí tuệ của Đức Phật và đảnh lễ Ba ngôi báu.
KINH BĀHITIKA
(Bāhitika Sutta)
(M.ii, 113)
A. Duyên khởi:
Vua Pasenadi nước Kosala, đi đến gặp Tôn giả nanda và câu chuyện sau đây được xảy ra giữa hai vị này.
B. Chánh kinh:
I. Vua Pasenadi hỏi 6 vấn đề liên hệ đến ba nghiệp bị các bậc trí quở trách và Tôn giả nanda trả lời có 6 vấn đề với những định nghĩa liên hệ.
1. Kinh sớ nói, vua hỏi câu này là ám chỉ trường hợp nữ du sĩ Tôn Ðà Lợi lúc ấy đang được truy tầm. Vì muốn bôi nhọ Phật, một số du sĩ khổ hạnh thuyết phục Tôn Ðà Lợi đến viếng vườn Kỳ Ðà vào ban đêm để cho người ta thấy mình trở về lúc bình minh, làm cho mọi người nghi ngờ. Sau một thời gian, họ sai người ám sát bà ấy và chôn xác gần vườn Kỳ Ðà. Khi người ta tìm thấy xác, họ lên án đức Phật. Một tuần sau sự vu cáo được tỏ rõ, khi những thám tử của vua tìm ra sự thật đằng sau vụ ám sát.
II. Vua Pasenadi hỏi 6 vấn đề liên hệ đến ba nghiệp không bị bậc có trí quở trách và Tôn giả nanda trả lời cả 6 vấn đề với những định nghĩa liên hệ.
III. Vua Pasenadi hoan hỷ với câu trả lời của Tôn giả nanda cúng dường cuộn vải ngoại hóa để Tôn giả nanda làm ba y.
IV. Tôn giả nanda về thuật lại câu chuyện lên Thế Tôn, Thế Tôn khen vua Pasenadi được hạnh phúc và được cúng dường.
KINH PHÁP TRANG NGHÊIM
(Dhammacetiya Sutta)
(M.ii, 118)
A. Duyên khởi:
Vua Pasenadi đến yết kiến Thế Tôn, và có những cử chỉ hạ mình tột bực đối với Thế Tôn. Thế Tôn hỏi vì sao vua lại có những cử chỉ hạ mình, Vua Pasenadi trả lời là vì vua có pháp truyền thống đối với Thế Tôn: Thế Tôn là bậc chánh đẳng giác, pháp được Thế Tôn khéo giảng, chúng Tăng đệ tử khéo tu tập, hành trì.
B. Chánh kinh:
Vua Pasenadi giải thích 8 sự kiện đưa đến pháp truyền thống nói trên.
I. Sự kiện thứ nhất: Các Sa-môn, Bà-la-môn hành trì Phạm hạnh có giới hạn một vài năm, còn các Tỷ-kheo đệ tử Thế Tôn hành trì Phạm hạnh cho đến trọn đời.
II. Sự kiện thứ hai: Ở đời chỗ nào cũng có cãi lộn đấu tranh với nhau, còn ở đây các Tỷ-kheo sống với nhau hòa hợp như nước với sữa.
III. Sự kiện thứ ba: Các Sa-môn, Bà-la-môn khác gầy mòn, khốn khổ. Còn các Tỷ-kheo hân hoan phấn khởi, hỷ lạc, bình tĩnh với tâm tư như thú rừng.
IV. Sự kiện thứ tư: Tại pháp đường khi vua ngồi xử kiện, vẫn bị ngắt lời. Còn khi Thế Tôn thuyết pháp cho hàng trăm người, thính chúng hoàn toàn im lặng, không ai dám ngắt lời hoặc gây tiếng động.
V. Sự kiện thứ năm: Các Sát-đế-lợi, bác học dự định muốn đến nạn vấn Thế Tôn, nhưng khi đã nghe Thế Tôn thuyết pháp, thời trở thành đệ tử của Thế Tôn.
VI. Sự kiện thứ sáu: Các Bà-la-môn, gia chủ, Sa-môn, bác học dự định đến vấn nạn Thế Tôn nhưng khi được nghe Thế Tôn thuyết pháp liền xin xuất gia tu đạo, chứng được Thánh quả.
VII. Sự kiện tứ bảy: Isidatta và Purṇa là quan giữ ngựa của vua lại tỏ sự cung kính, tôn Isidatta và Puràna. Khi họ chết, đức Phật công bố cả hai đều chứng quả Bất hoàn. Xem Tăng chi 6. trọng đối với Thế Tôn hơn cả đối với vua, vị đã cho mình công ăn việc làm.
VIII. Sự kiện thứ tám: Thế Tôn thuộc dòng Sát-đế-lợi, người nước Kosala, 80 tuổi, vua cũng như vậy.
IX. Sau khi vua Pasenadi ra về, Thế Tôn khuyên các Tỷ-kheo nên học các pháp trang nghiêm này vì chúng liên hệ đến mục tiêu là căn bản Phạm hạnh.
Khi vua Ba Tư Nặc trở về nơi địa điểm ông đã từ giã Kàràyana, thì chỉ còn người nữ tỳ kể lại tin tức. Vua vội vàng đến thành Vương xá để cầu viện cháu mình là vua A Xà Thế. Nhưng vì vua đến quá trễ nên cổng thành đã đóng. Kiệt sức vì cuộc hành trình, vua 526 nằm nghỉ trong một cái nhà bên ngoài thành và chết trong đêm ấy. 1. Kàràyana là tổng tư lệnh quân đội
vua Ba Tư Nặc. Ông là cháu của người tộc trưởng Mallas. Người tộc trưởng này trước kia là bạn vua Ba Tư Nặc, bị vua xử tử cùng với 32 người con trai vì đã âm mưu với đình thần thối nát.
Kàràyana cũng âm mưu với Thái tử con vua Ba Tư Nặc để giúp Thái tử đoạt ngôi cha.
2. Ba do tuần tương đương khoảng 20 dặm Anh.
KINH KAṆṆAKATTHALA
(Kaṇṇakatthala Sutta)
(M.ii, 125)
A. Duyên khởi:
Vua Pasenadi đến yết kiến Đức Phật và đem theo lời kính hỏi thăm Thế Tôn của hai chị em Som và Sakul. Rồi vua Pasenadi hỏi Thế Tôn một số vấn đề.
B. Chánh kinh:
I. Vua Pasenadi hỏi có phải Sa-môn Gotama nói không có một Sa-môn, Bà-la-môn nào toàn tri, toàn kiến, có thể tự cho là chứng được tri kiến viên mãn. Thế Tôn trả lời đây là một sự xuyên tạc lời Thế Tôn. Thế Tôn chỉ nói: không một Sa-môn Bà-la-môn nào trong một lúc biết hoàn toàn và thấy hoàn toàn.
Theo truyền thống Thượng tọa Bộ, Phật là toàn tri với ý nghĩa rằng tất cả những gì có thể biết. Ngài có khả năng biết được. Tuy nhiên Ngài không thể đồng lúc biết tất cả mọi sự, mà phải tác ý đến điều gì Ngài muốn biết. Trong kinh 90, Phật dạy rằng có thể biết và thấy tất cả mặc dù không thể cùng một lúc, và trong kinh Tăng Chi IV, Ngài công bố biết được tất cả những gì có thể thấy, nghe, và nhận thức, mà theo truyền thống Thượng tọa Bộ, điều này được hiểu là xác nhận về toàn tri. II. Vấn đề thứ hai: Vua Pasenadi hỏi 4 giai cấp sẽ có những sai biệt gì trong tương lai. Thế Tôn trả lời: có tinh cần chi. Nếu ai thực hành 5 tinh cần chi này, thời chúng sẽ được hạnh phúc lâu dài trong tương lai.
III. Vấn đề thứ ba: Vua Pasenadi hỏi, có sự sai biệt gì giữa 5 tinh cần chi này. Thế Tôn nói có sự sai khác trong tinh cần chi. Tùy theo mức độ đạt được theo tinh cần chi mà có sự sai biệt ở sự điều phục và không điều phục.
IV. Vấn đề thứ tư: Vua Pasenadi hỏi, nếu 4 giai cấp chân chánh, tinh cần thời có sự sai khác nào về giải thoát không? Thế Tôn trả lời không có sự sai khác về giải thoát đối với giải thoát.
V. Vấn đề thứ năm: Vua Pasenadi hỏi có chư Thiên không, chư Thiên có sanh ra ở đây không. Thế Tôn trả lời chư Thiên nào có não hại sanh ra tại đây, chư Thiên nào không não hại, không sanh ra tại đây.
VI. Vấn đề thứ sáu: Cuộc vấn đáp giữa tướng quân Viḍḍabha và Tôn giả nanda. Tướng quân Viḍḍabha hỏi: Chư Thiên có não hại có thể đánh đuổi chư Thiên không não hại không? Tôn giả nanda trả lời không có thể được vì chư Thiên có não hại tâm không thể thấy được chư Thiên không có não hại tâm,
làm sao có thể đánh đuổi chư Thiên không có não hại tâm.
VII. Vấn đề thứ bảy: Vua Pasenadi hỏi có Phạm thiên không? Thế Tôn trả lời Phạm thiên có não hại tâm, có sanh tại đây. Phạm thiên không có não hại tâm, không sanh ra tại đây.
VIII. Vua Pasenadi cảm ơn Thế Tôn đã trả lời 4 vấn đề vua hỏi và làm vua hết sức thoải mái, với các câu trả lời trên.
KINH BRAHMĀYU
(Brahmāyu Sutta)
(M.ii, 133)
A. Duyên khởi:
Bà-la-môn Brahmyu sai Uttara, một thanh niên đệ tử, đi đến để tìm xem Sa-môn Gotama có tương xứng với danh xưng được đồn về Ngài và bày cho đệ tử những phương pháp chú thuật để xác chứng cho đúng với sự thật này.
B. Chánh kinh:
I. Thanh niên Uttara đi đến yết kiến Đức Phật tìm xem Sa-môn Gotama có đủ 32 tướng tốt và đi theo Sa-môn Gotama trong 7 tháng để tìm hiểu về mọi oai nghi của Sa-môn Gotama.
32 tướng hảo đề cập trong kinh này được nói đến trong toàn thể kinh Trường Bộ số 30 tên là Kinh Tướng. Mỗi tướng này được kinh giải thích là quả báo của một đức hạnh mà Phật đã viên mãn trong thời gian còn làm Bồ tát.
II. Thanh niên Uttara về tường thuật cho Bà-la-môn Brahmyu kể đủ 32 tướng tốt của Sa-môn Gotama và cử chỉ oai nghi của Ngài khi đi, khi vào nhà, khi ngồi ăn Ðây là cách tư duy khi dùng đồ ăn
khất thực, như trong Kinh Trung Bộ số
2., khi nói lời tùy hỷ công đức, khi đi về tu viện, khi thuyết pháp. Nghe xong Bà-la-môn Brahmyu nói lên lời cảm hứng đảnh lễ Thế Tôn và quyết định đi yết kiến Sa-môn Gotama.
III. Bà-la-môn Brahmyu đi đến yết kiến Sa-môn Gotama:
1. Bà-la-môn Brahmyu thấy được 32 tướng tốt của Sa-môn Gotama.
2. Bà-la-môn hỏi về ý nghĩa của chữ Mâu-ni và Phật-đà, được Thế Tôn giải thích khiến Bà-la-môn Brahmyu khởi lòng tin kính và đảnh lễ Sa-môn Gotama.
3. Thế Tôn thuận thứ thuyết pháp về 4 sự thật, Bà-la-môn Brahmyu chứng được pháp và đắc pháp.
IV. Bà-la-môn Brahmyu tán thán Thế Tôn, xin quy y, mời Thế Tôn và đại chúng thọ trai, sau Bà-la-môn Brahmyu mệnh chung và được Thế Tôn xác nhận là đã chứng quả Bất lai.
KINH SELA
(Sela Sutta)
(M.ii, 146)
A. Duyên khởi:
Bện tóc Keṇiya nghe tin đồn về Sa-môn Gotama, đến yết kiến được nghe pháp, thỉnh Thế Tôn và chúng Tăng thọ trai, được Đức Phật chấp nhận, về nhà sửa soạn tổ chức quy mô lớn. Bà-la-môn Sela đến nhà Keṇiya thấy sửa soạn linh đình, hỏi thăm, biết là thỉnh Phật đến thọ trai, bèn cùng với 300 thanh niên đi đến gặp Sa-môn Gotama.
B. Chánh kinh:
I. Bà-la-môn Sela yết kiến Sa-môn Gotama, thấy 32 tướng tốt của Sa-môn Gotama, dùng bài kệ tán thán Sa-môn Gotama và hỏi về chánh pháp.
II. Bài kệ của Bà-la-môn Sela:
1. Sela tán thán các đức tướng tốt đẹp của Sa-môn Gotama.
2. Sela tôn xưng Sa-môn Gotama là vua các vị vua. Đức Phật chỉ xác nhận Ngài là vị pháp vương.
3. Sela hỏi ai là đệ tử nối nghiệp truyền pháp. Sa-môn Gotama trả lời chính là Tôn giả Sriputta.
4. Thế Tôn xác nhận Thế Tôn là Phật, là bậc Chánh Giác, đã nhiếp phục ma quân và không sợ một ai.
5. Sela nói lên chí nguyện của mình muốn xuất gia, kêu gọi hội chúng của mình, ai có muốn xuất gia thời ở lại. Cả 300 Bà-la-môn đều xin xuất gia theo gương Sela và được thọ đại giới.
III. Bện tóc Keṇiya thỉnh Đức Phật và chúng Tăng thọ trai, được Đức Phật nói lên lời tuỳ hỷ công đức.
C. Kết luận:
Sela và 300 vị Bà-la-môn tu tập, chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán. Sela và hội chúng đến yết kiến Thế Tôn, đọc lên bài kệ tán thán Thế Tôn.
KINH ASSALĀYANA
(Assalāyana Sutta)
(M.ii, 147)
A. Duyên khởi:
Thanh niên Assalyana được 500 vị Bà-la-môn đề cử đi đến Sa-môn Gotama để cật vấn Sa-môn Gotama về chủ trương bốn giai cấp đều thanh tịnh. Thanh niên Assalyana đến và nói lên quan điểm giai cấp Bà-la-môn của mình. Sa-môn Gotama đã trả lời và cật vấn quan điểm ấy.
B. Chánh kinh:
I. Đức Phật nêu rõ 7 sự kiện, sự việc để loại bỏ chủ trương của các Bà-la-môn, xem giai cấp của mình là tối thượng:
1. Các nữ Bà-la-môn có kinh nguyệt, có mang thai, có sanh con nên không thể xem là thanh tịnh được.
2. Lại quốc độ Yona và Kamboja, chỉ có 2 giai cấp chủ nhân và đầy tớ thay phiên nhau vậy đâu có giai cấp Bà-la-môn để xem là tối thượng.
3. Cả 4 giai cấp nếu làm 10 ác nghiệp, đều phải sanh vào địa ngục không trừ 1 giai cấp nào.
4. Nếu 4 giai cấp từ bỏ 10 tà hạnh thời được sanh thiên giới, đồng đẳng như nhau.
5. Cả 4 giai cấp đều có thể tu tập từ tâm không hận, không sân, đồng đẳng như nhau.
6. 4 giai cấp đều có thể cầm cào lưng và bột tắm đi đến sông tắm sạch bụi, đồng đẳng như nhau.
7. 4 giai cấp đều có thể dùng cây cọ sanh lửa, đồng đẳng như nhau và ngọn lửa được sử dụng như nhau.
II. Rồi Thế Tôn hỏi một số câu hỏi khiến Bà-la-môn Assalyana nói đến sanh chủng, rồi từ bỏ sanh chủng đi đến thánh điển, rồi từ bỏ thánh điển đi đến sự thanh tịnh của 4 giai cấp:
1. Ba câu hỏi liên hệ đến sanh chủng.
2. Hai câu hỏi về thánh điển.
3. Một câu hỏi về sự thanh tịnh 4 giai cấp.
III. Rồi Thế Tôn kể sự tích của ẩn sĩ Asita Devala bác bỏ ác tà kiến của 7 vị ẩn sĩ và vấn đề sanh chủng của Bà-la-môn.
Theo kinh sớ, Asita Devala là tiền thân Phật. Phật muốn hiển thị: trong quá khứ, người thuộc chủng tính cao hơn ta, nhưng người đã không trả lời được chất vấn của ta về chủng tính. Vậy thì làm sao bây giờ người có thể chất vấn ta được khi ta đã thành Phật?
C. Kết luận:
Thanh niên Assalyana tán thán Thế Tôn và xin làm đệ tử.
KINH GHOṬAMUKHA
(Ghoṭamukha Sutta)
(M.ii, 158)
A. Duyên khởi:
Bà-la-môn Ghoṭamukha đi đến gặp Tôn giả Udena nói rằng mình không tin có 1 sự xuất gia đúng pháp. Tôn giả Udena mời vào tinh xá, mời ngồi rồi bắt đầu mời đàm đạo.
B. Chánh kinh:
Cuộc đàm đạo giữa Tôn giả Udena với Bà-la-môn Ghoṭamukha về vấn đề không có 1 sự xuất gia đúng pháp.
I. Tôn giả Udena nêu ra 1 số nguyên tắc căn bản để đàm đạo và Ghoṭamukha chấp nhận.
II. Tôn giả Udena trình bày có 4 hạng người ở trong đời. Hạng chuyên tâm hành khổ mình, hạng chuyên tâm hành khổ người, hạng chuyên tâm vừa hành khổ mình vừa hành khổ người và hạng không chuyên tâm hành khổ
mình và hành khổ người. Tôn giả Udena hỏi Bà-la-môn thích hạng người nào.
III. Bà-la-môn trả lời chỉ thích hạng người sau cùng tức là không chuyên tâm hành khổ mình và người, và nói rõ lý do vì sao vậy.
IV. Tôn giả Udena hỏi hạng thứ tư không chuyên tâm hại mình hại người, hạng này ở trong hội chúng nào, có tham đắm tài sản? Bà-la-môn xác nhận là hạng thứ tư phần lớn ở trong hội chúng không tham đắm tài sản.
V. Tôn giả Udena trả lời ngay rằng như vậy Bà-la-môn đã xác nhận có 1 sự xuất gia đúng pháp chứ không phải như khi ban đầu, Bà-la-môn phủ nhận sự kiện này, Bà-la-môn yêu cầu Tôn giả Udena giải thích rõ ràng ý hội chúng trên.
VI. Tôn giả Udena giải thích 4 hạng người trên.
C. Kết luận:
Bà-la-môn Ghoṭamukha tán thán Tôn giả Udena, xin quy y với Tôn giả. Tôn giả Udena từ chối và khuyên nên quy y với Thế Tôn đã nhập Niết-bàn. Bà-la-môn xin cúng dường bố
thí thường xuyên cho Tôn giả nhưng bị Tôn giả từ chối, rồi xin xây dựng một tịnh xá để cúng cho Tôn giả, cũng bị Tôn giả từ chối. Rồi Tôn giả khuyên nên xây dựng 1 tinh xá ở Ptaliputta và cúng dường cho chư Tăng.
KINH CANKĪ
(Cankī Sutta)
(M.ii, 164)
A. Duyên khởi:
Bà-la-môn Cankỵ muốn đi đến yết kiến Sa-môn Gotama, nhưng bị các Bà-la-môn khác ngăn cản. Bà-la-môn Cankỵ nêu rõ có 20 lý do khiến Bà-la-môn Cankỵ nên đi đến yết kiến Sa-môn Gotama và cuối cùng Bà-la-môn Cankỵ đi đến Sa-môn Gotama và cuộc đàm đạo bắt đầu.
B. Chánh kinh:
I. Vấn đề thứ nhất:
Kpathika hỏi ý kiến của Sa-môn Gotama về các chú thuật của các Bà-la-môn mà các Bà-la-môn cho là sự thật, ngoài ra đều là hư vọng. Sa-môn Gotama trả lời vì không có một Bà-la-môn nào, không có 1 vị tôn sư nào của các Bà-la-môn, không có 1 vị ẩn sĩ nào xác chứng như vậy, thời chẳng khác một chuỗi người mù ôm nhau, người trước, người giữa, người sau cùng đều không thấy.
Pokkarasàti là một Bà la môn giàu có khác, được Vua Ba Tư Nặc phong ấp tên Ukkatthà. Trong kinh Trường bộ 2, sau khi nghe Phật thuyết pháp, ông chứng quả Dự lưu và đã cùng với gia đình quyến thuộc xin quy y
II. Vấn đề chỗ y cứ của lòng tin:
Khi thanh niên Bà-la-môn từ nơi lòng tin bước qua tùy văn. Sa-môn Gotama trả lời là có 5 pháp: Tín, tùy hỷ, tùy văn, cân nhắc suy tư, chấp nhận quan điểm. Nhưng có khi điều mình tin, hay tùy hỷ, v.v. lại trống không, hư vọng, còn điều mình không tin lại chân thật, có thực chất. Do vậy, không thể dựa vào 5 pháp này để làm tiêu chuẩn cho sự thật.
III. Vấn đề hộ trì chân lý: Thanh niên Bà-la-môn hỏi về hộ trì chân lý và Sa-môn Gotama đã trả lời.
IV. Vấn đề giác ngộ chân lý: Thanh niên hỏi về giác ngộ chân lý và Sa-môn Gotama đã trả lời.
V. Vấn đề chứng đạt chân lý: Thanh niên Bà-la-môn hỏi về chứng đạt chân lý và Sa-môn Gotama đã trả lời.
VI. Trong vấn đề chứng đạt chân lý, pháp nào được hành trì nhiều.
Muốn chứng đạt chân lý, cần phải tu tập nhiều lần. Trong việc chứng đạt chân lý, cốt nhất là tinh cần. Muốn tinh cần, phải cân nhắc. Muốn cân nhắc phải cố gắng. Muốn cố gắng phải có ước muốn. Để có ước muốn, cần phải hoan hỉ chấp nhận. Muốn hoan hỉ chấp nhận, phải tìm hiểu ý nghĩa. Muốn tìm hiểu ý nghĩa phải thọ trì pháp. Muốn thọ trì pháp thì phải nghe pháp. Muốn nghe pháp phải lóng tai. Muốn lóng tai phải thân cận giao thiệp. Muốn thân cận giao thiệp phải đến gần. Muốn đến gần phải có lòng tin.
KINH ESUKĀRĪ
(Esukārī Sutta)
(M.ii, 178)
A. Duyên khởi:
Bà-la-môn Esukrỵ đến Thế Tôn và hỏi một số vấn đề.
B. Chánh kinh:
I. Esukrỵ nêu lên vấn đề 4 loại phụng sự và hỏi ý kiến của Sa-môn Gotama. Thế Tôn trả lời quan điểm ấy không được mọi người chấp nhận; theo Sa-môn Gotama, nếu người phục vụ trở thành tốt hơn thời nên phục vụ, còn trở thành xấu hơn thời không nên phục vụ. Việc trở thành tốt hay xấu không tùy thuộc vào gia đình cao quý hay không cao quý, nhan sắc thù thắng hay không thù thắng, tài sản thù thắng hay không thù thắng.
Rồi Phật phân tích thế nào là tốt: đó không phải là sự cải thiện về dòng họ, về sắc đẹp, về tài sản, mà về năm yếu tố: lòng tin, giới, nghe nhiều, bố thí và Trí tuệ. II. Rồi Esukrỵ nói lên chủ trương của Bà-la-môn về tài sản và hỏi ý kiến của Sa-môn Gotama. Đức Phật trả lời chủ trương tài sản của Bà-la-môn không được mọi người chấp nhận. Phật dạy vậy cũng như có người nghèo bị ép ăn một thứ họ không muốn ăn, rồi bảo họ trả tiền. Sa-môn Gotama chủ trương tài sản cho con người là Thánh pháp vô thượng. Con người sanh ra từ giai cấp nào thì trở thành giai cấp ấy. Nhưng giai cấp nào xuất gia giữ giới, đoạn tận tham, sân, si, giai cấp ấy có thể thành tựu chánh đạo, thiện pháp. Giai cấp nào cũng có thể tu tập từ tâm, không hận không sân, có thể tắm rửa sạch sẽ.
III. Thế Tôn dùng ví dụ nhen lửa, dẫu người nhen lửa giai cấp gì, dầu loại gỗ sử dụng làm đồ nhen lửa thuộc loại gỗ gì, lửa được nhen lên, có thể sử dụng vào những công việc do lửa đem lại; cũng vậy, dù thuộc giai cấp nào nếu xuất gia tu đạo đúng pháp thời có thể thành tựu chánh đạo, thiện pháp.
KINH DHĀNAÑJĀṆI
(Dhānañjāṇi Sutta)
(M.ii, 184)
A. Duyên khởi:
Tôn giả Sriputta hỏi thăm các Tỷ-kheo về tin tức Đức Phật, tin tức chúng Tăng và tin tức Bà-la-môn Dhānañjāṇi. Khi được biết Dhnađjni sống phóng dật, Tôn giả Sriputta quyết định đi đến thăm Dhānañjāṇi và cuộc đàm thoại giữa Tôn giả Sriputta và Bà-la-môn Dhānañjāṇi bắt đầu.
B. Chánh kinh:
I. Tôn giả Sriputta hỏi Bà-la-môn có sống phóng dật không? Bà-la-môn trả lời làm sao không phóng dật được khi phải có 10 trách nhiệm.
II. Tôn giả Sriputta hỏi 1 người làm phi pháp bị sanh vào địa ngục vì làm 10 trách nhiệm. Có thể viện cớ làm 10 trách nhiệm ấy khi bị quăng vào địa ngục không? Nhất định là không.
III. Tôn giả Sriputta hỏi 1 người vì 10 trách nhiệm làm điều phi pháp và 1 người vì 10 trách nhiệm làm điều đúng pháp, ai tốt đẹp hơn. Lẽ dĩ nhiên người sau tốt đẹp hơn. Hành trì đúng pháp tốt đẹp hơn hành trì phi pháp.
IV. Sau một thời gian, Bà-la-môn Dhānañjāṇi bị bệnh nặng, mời Tôn giả Sriputta đến thăm. Tôn giả Sriputta đến hỏi thăm bệnh trạng và hỏi Dhānañjāṇi ưa cảnh giới nào nhất? Bà-la-môn trả lời ưa cảnh giới Phạm thiên nhất.
V. Tôn giả Sriputta nghĩ các Bà-la-môn rất ái luyến Phạm thiên giới nên thuyết giảng con đường đưa đến Phạm thiên giới, tức là từ, bi, hỷ, xả. Cuối cùng Bà-la-môn Dhnađjni được sanh Phạm thiên giới.
C. Kết luận:
Thế Tôn biết được Bà-la-môn Dhnađjni được sanh Phạm thiên giới liền hỏi vì sao Tôn giả Sriputta lại thuyết Phạm thiên giới trong khi còn có các cảnh giới thanh tịnh hơn. Tôn giả Sriputta trả lời vì vị Bà-la-môn này rất ái luyến Phạm thiên giới.
KINH VĀSEṬṬHA
(Vāseṭṭha Sutta)
(Sn. 115)
A. Duyên khởi:
Giữa Bà-la-môn Vāseṭṭha và Bà-la-môn Bhradvaj có sự tranh cãi về “do cái gì tác thành “ Bà-la-môn Bhradvja nói do thọ sanh còn Vseṭṭha nói do hành động. Vì không giải quyết được sự tranh chấp này, cả 2 vị đi tìm Sa-môn Gotama để hỏi ý kiến.
B. Chánh kinh:
I. Vseṭṭha và Bhradvja tự xưng danh tánh và nói lên vấn đề tranh chấp, yêu cầu Sa-môn Gotama giải quyết.
II. Thế Tôn trả lời các loài hữu tình do sanh đẻ nên có nhiều loại khác nhau. Thế Tôn kể ra sáu loại sai khác nhau.
III. Rồi Thế Tôn kể loài người dị loại rất ít và tướng sai khác cũng rất ít, danh xưng có sự sai khác mà thôi.
IV. Chính do hành động sai khác nên có các hạng người sai khác. Đức Phật kể đến 8 loại người sai khác do nghề nghiệp sai khác.
V. Đức Phật kể ra 28 định nghĩa mới xứng danh Bà-la-môn chớ không phải do thọ sanh.
VI. Đức Phật nêu rõ, kẻ ngu mới tuyên bố Bà-la-môn do thọ sanh, chính do hành động mới gọi Bà-la-môn và phi Bà-la-môn, chính do hành động mới gọi hạng người này hạng người khác.
VII. Đức Phật kết luận: Do nghiệp đời luân chuyển, do nghiệp người luân hồi, do chế ngự tác thành Bà-la-môn.
C. Kết luận: Hai thanh niên tán thán Sa-môn Gotama và xin quy y làm đệ tử.
KINH SUBHA
(Subha Sutta)
(M.ii, 196)
A. Duyên khởi:
Thanh niên Subha đi đến gặp Thế Tôn và mở đầu cuộc đàm đạo về một số vấn đề, nói lên quan điểm của các Bà-la-môn về các vấn đề ấy và hỏi ý kiến của Sa-môn Gotama.
Subha Todeyyaputta là một Bà la
môn giàu có, thống lĩnh một khu làng
Tudigama gần thành Xá Vệ. Kinh 135
cũng được giảng cho ông Tu Bạt này.
B. Chánh kinh:
Cuộc đàm đạo giữa Subha và Thế Tôn.
I. Vấn đề thứ nhất: Subha hỏi ý kiến của Sa-môn Gotama về quan điểm này của các Bà-la-môn: “Người tại gia thành tựu chánh đạo, thiện pháp. Người xuất gia không thành tựu chánh đạo, thiện pháp”. Thế Tôn trả lời Ngài chủ trương phân tích, không chủ trương nói một chiều. Kẻ tại gia hay xuất gia hành chánh đạo, thành tựu được chánh đạo, thiện pháp.
II. Vấn đề thứ hai: Dịch vụ tại gia lớn nên có quả báo lớn. Dịch vụ xuất gia nhỏ nên có
quả báo nhỏ. Sa-môn Gotama trả lời Ngài không chủ trương một chiều:
1. Dịch vụ lớn làm hỏng, kết quả nhỏ.
2. Dịch vụ lớn làm thành tựu, kết quả lớn.
3. Dịch vụ nhỏ làm hỏng, kết quả nhỏ.
4. Dịch vụ nhỏ làm thành tựu, kết quả lớn.
III. Vấn đề thứ ba: Các Bà-la-môn chủ trương có 5 pháp tác phước đắc thiện: chân thực, khổ hạnh, phạm hạnh, tụng đọc, thí xả. Sa-môn Gotama trả lời không một Bà-la-môn nào chứng trú và tuyên thuyết quả dị thục của 5 pháp này, như vậy chẳng khác một đoàn người mù không thấy gì.
IV. Subha mắng Sa-môn Gotama và đề cao Bà-la-môn Pokkharasti. Vấn nạn của Sa-môn Gotama:
1. Bà-la-môn Pokkharasti, với tâm tư mình, không biết tâm tư của các Bà-la-môn và Sa-môn. Tự mình không chứng được pháp thượng nhân lại cho không có ai chứng được pháp thượng nhân. Cũng giống như 1 người mù không thấy màu sắc, không thấy trăng sao lại cho rằng không có màu sắc, không có trăng sao.
2. Lời nói của Bà-la-môn Pokkharasti không được thế tục chấp nhận, không được suy tư, không được phân tích cân nhắc, không liên hệ đến mục đích.
3. Bà-la-môn Pokkharasti bị 5 triền cái bao phủ, bị 5 dục trưởng dưỡng chi phối, không làm sao chứng được pháp thượng nhân.
4. Có 2 loại lửa, một loại được đốt lên nhờ cỏ và củi, một loại lửa do thần thông đưa đến. Cũng vậy có 2 loại hỷ, một loại do lòng dục đưa đến, một loại do tu thiền đưa lại.
5. Trong 5 pháp tác phước đắc thiện, thí xả, tổ chức lễ tế đàn nhiều khi làm cho vị Bà-la-môn tham dự không hoan hỷ vì bị đối xử không tử tế.
V. Trong 5 phước tác phước đắc thiện này, người xuất gia hành trì nhiều hơn người tại gia.
VI. 5 pháp tác phước đắc thiện này là tư cụ của tâm, tức là để tâm tu tập tâm không hận không sân.
VII. Được hỏi có biết con đường đưa đến Phạm thiên hay không được, Thế Tôn trả lời có biết và giới thiệu pháp môn 4 phạm trú hay 4 vô lượng tâm.
C. Kết luận:
Thanh niên Subha tán thán Phật và xin quy y 3 ngôi báu. Bà-la-môn Jṇussoṇi nghe thanh niên Subha tán thán Đức Phật, có lời khen vua Pasenadi có phước lớn vì có Thế Tôn trú ở trong nước của mình.
KINH DEVADAHA
(Devadaha Sutta)
(M.ii, 214)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn gọi các Thích-ca và thuyết giảng.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn trình bày quan điểm các Ni-kiền-tử về các cảm thọ và phê bình quan điểm ấy.
II. Thế Tôn trình bày quan điểm của Ntaputta về Nhất thiết trí và làm tiêu diệt các nghiệp quá khứ bằng khổ hạnh để đoạn tận khổ đau. Thế Tôn phê bình quan điểm ấy.
Thuyết Ni Kiền Tử không hợp lý vì chính sự tha thiết tinh cần (khổ hạnh)
khiến cảm thọ đau đớn không phải là nghiệp quá khứ.
III. Thế Tôn phê bình sự tinh cần của các Ni-kiền-tử không có kết quả.
IV. Thế Tôn phê bình 10 thuyết tùy thuyết của các Ni-kiền-tử đưa đến chỉ trích.
V. Thế Tôn đề cao 10 sự tinh cần đưa đến kết quả của Như Lai.
VI. Thế Tôn đề cập đến 10 thuyết tùy thuyết của Như Lai đưa đến tán thán.
KINH NHƯ THẾ NÀO
(Kinti Sutta)
(M.ii, 238)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và thuyết giảng.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn xác nhận, chỉ vì lòng từ, Thế Tôn thuyết pháp và khuyên các Tỷ-kheo nên học tập 37 pháp trợ đạo trong tinh thần hòa đồng hoan hỷ.
II. Đức Phật chỉ bày cách giải quyết nếu có một sự sai khác về Thắng pháp giữa các vị Tỷ-kheo để đem lại hòa hợp hoan hỷ.
1. Giữa 2 phe, có sai khác cả về nghĩa lẫn về văn (3); 2. Hoặc sai khác về nghĩa, đồng nhất về văn; 3. Hoặc đồng nhất về nghĩa, sai khác về văn; 4. Hoặc đồng nhất về nghĩa và văn. Vị hòa giải nên đến người nào dễ nói trong cả 2 phe để khuyên họ đừng cãi lộn: Với 2 trường hợp đầu, cãi nhau vô ích vì hai bên không đồng nói một chuyện (khác nhau về nghĩa); với 2 trường hợp sau thì chỉ khác nhau về văn là vấn đề nhỏ nhặt (4) không nên cãi nhau vô lối. Ðoạn này muốn nói rằng câu văn hơi khác không nhất thiết trở ngại việc hiểu đúng ý nghĩa. Nhưng ở chỗ khác, ví dụ kinh Tăng Chi 2, Phật có dạy rằng Diệu pháp biến mất là do hai yếu tố: diễn đạt sai trên văn tự, và giải sai ý nghĩa.
III. Đức Phật chỉ bày cách giải quyết nếu có vị Tỷ-kheo phạm tội để đem lại hòa đồng hoan hỷ.
1. Nên sửa sai cho người ấy nếu việc này không hại gì cho ta, cho họ; họ không phẫn uất, lanh lợi, dễ nói, và ta có thể khiến họ bỏ ác theo thiện. 2. Vẫn nên sửa sai nếu xét thấy cuối cùng ta sẽ khiến người ấy bỏ ác theo thiện mặc dù có thể gặp một hay nhiều chướng ngại như sau: a) có hại cho ta; b) có hại cho người; c) có hại cho cả hai; d) người kia phẫn uất; e) chậm lụt; f) khó nói. Nhưng tất cả trở ngại này 66 đều là việc nhỏ nếu cải hóa được một con người. 3. Ngược lại nếu xét thấy cuối cùng không thể nào sửa đổi họ dù phải chịu những thiệt thòi trên, thì nên xả, nhưng không nên khinh miệt. IV. Đức Phật chỉ bày cách giải quyết nếu có khẩu tránh gây ra giữa các Tỷ-kheo.
V. Thế Tôn dạy chính nhờ thuyết pháp mới giúp các Tỷ-kheo vượt khỏi bất thiện, an trú vào thiện pháp, nhưng phải trình bày như thế nào để khỏi rơi vào khen mình chê người.
KINH LÀNG SĀMA
(Sāmagāma Sutta)
(M.ii, 243)
A. Duyên khởi:
Tôn giả nanda và Sa-di Cunda trình lên Thế Tôn sự kiện, sau khi Ntaputta tạ thế các Ni-kiền-tử bắt đầu tranh cãi nhau. Hai vị khởi lên mong ước sau khi Thế Tôn nhập diệt, sẽ không có sự tranh cãi giữa các đệ tử của Thế Tôn.
Sa di Cunda là em trai Tôn giả Xá
Lợi Phất.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn dạy những tranh luận và tăng thượng mạn, tăng thượng giới bổn là nhỏ nhặt không quan hệ. Nhưng tranh luận về con đường mới đưa đến bất an cho đa số.
II. Thế Tôn giải thích 6 căn bản tranh chấp.
hiềm hận não hại,
- khinh miệt lấn lướt,
- ganh ghét xan tham,
- gian manh xảo trá,
- ác dục tà kiến,
77
- cố chấp khó xả.
Do 6 gốc rễ này mà Tỳ kheo sống không kính Ðạo sư, Pháp và Tăng, không viên mãn học tập. Vậy hãy có phương pháp dứt các tranh chấp đưa đến bất an cho đa số.
III. Thế Tôn giải thích 4 tránh sự.
- do tranh luận,
- do chỉ trích,
- do phạm giới,
- do trách nhiệm.
IV. Thế Tôn giải thích 7 diệt tránh pháp để giải quyết các tranh chấp.
1. Hiện tiền tì ni (9): tất cả Tỳ kheo phải có mặt để phán quyết một việc 78 tranh cãi theo chỉ đạo của Pháp (10); 2. Quyết định đa số (đa nhân mích tội): khi tránh sự không thể giải quyết tại chỗ, thì phải đi đến một trú xứ nhiều Tỳ kheo hơn, rồi tất cả tập hợp để giải quyết; 3. Ức niệm tỳ ni (11), để cho đương sự tự nhớ lại có phạm tội Ba la di hoặc gần Ba la di (12) hay không; Khi một Tỳ kheo vô tội mà bị cử tội thì vị ấy phải xin tăng làm pháp yết ma Ức niệm để vị ấy nhớ đầy đủ và chính xác hành vi mình. 4. Bất si tì ni (13): đương sự bị điên đã làm quấy, tỉnh lại không nhớ; Một Tỳ kheo trong quá khứ bị bệnh điên đã phạm những giới tội, khi bình phục được tăng làm pháp này. Tiêu chuẩn để xác định sự điên cuồng là đương sự 84 không nhớ mình đã làm gì trong lúc bị điên. 5. Quyết định tùy theo thú nhận (tự ngôn trị) (14): là khi một Tỳ kheo nhớ 1 giới tội, tỏ lộ với một Tỳ kheo lớn tuổi hơn mà sám hối; Thủ tục này là phương pháp lập ra để giải tội cho một tì kheo khi phạm một giới tội có thể sám hối để giải tỏa. 6. Quyết định tùy theo giới tội người 79 phạm (15) (Mích tội tướng); Pàphiyyàsikà, Mích tội tướng, pháp này dành cho một Tỳ kheo thường gây rối, ngu si nhiều lỗi, hoặc sống liên hệ bất đáng với tục gia Cư sĩ. 7. Trải cỏ che lấp (Như thảo phú địa) (16): cả 2 phe lần lượt cử ra một người đứng lên tỏ lộ tội lỗi của những người phe mình để xí xóa cho nhau, trừ những tội trọng và tội liên hệ đến Cư sĩ Như thảo phú địa, được áp dụng khi Tăng chúng vướng vào một cuộc cãi vã trong đó nhiều Tỳ kheo phạm các tiểu giới. Nếu kết tội những vị này thì tranh chấp sẽ kéo dài, nên Kinh dạy phương pháp để giải tỏa, được ví như lấy cỏ phủ lấp trên phân để khử mùi hôi. Tội Ba la di, pàràjika, là tội đáng trục xuất khỏi Tăng chúng. Tội gần Ba la di là phạm tăng tàn sanghàdisesa, (cần họp chúng để tỏ lộ và hành sám một thời gian); hoặc phạm những bước đầu tiến đến trọng tội. V. Thế Tôn giải thích 6 pháp cần phải ghi nhớ.
KINH THIỆN TINH
(Sunakkhatta Sutta)
(M.ii, 252)
A. Duyên khởi:
Trả lời câu hỏi của Sunakkhatta, Thế Tôn xác nhận có 2 hạng người tuyên bố chánh tri giác: một hạng người thật sự đã chứng, một hạng người vì tăng thượng mạn đã tuyên bố chánh tri giác. Thế Tôn nói Thế Tôn sẽ thuyết pháp cho hạng người vì tăng thượng mạn và cho những người ngu si bày đặt các câu hỏi. Theo lời yêu cầu của Sunakkhatta, Thế Tôn thuyết giảng kinh này.
B. Chánh kinh:
I. Hạng người thiên nặng về vật chất thế gian và chỉ ưa nghe những gì liên hệ đến vật chất thế gian.
II. Hạng người thiên nặng về bất động và chỉ ưa thích câu chuyện thiên về bất động.
III. Hạng người thiên nặng về vô sở hữu và chỉ ưa thích câu chuyện thiên về vô sở hữu.
IV. Hạng người thiên về phi tưởng, phi phi tưởng và chỉ ưa thích câu chuyện về phi tưởng phi phi tưởng xứ.
V. Hạng người thiên nặng về Chánh Niết-bàn:
CÓ THỂ LÀ THIỀN THỨ 9
1. Một hạng người còn truy cầu các đối tượng không thích hợp và tham dục khởi lên và cuối cùng hoàn tục. Ví dụ: người bị mũi tên thuốc độc, được chữa lành, nhưng còn dư lại thuốc độc, do săn sóc không chu đáo, bị nhiễm độc trở lại.
2. Một hạng người không truy cầu các đối tượng không thích hợp nên tham dục không khởi lên, không đi đến chết hay đau khổ gần như chết, như vết thương được chữa lành hết thuốc độc, được săn sóc tốt đẹp, nên không làm vết thương trở lại.
VI. Đức Phật giải thích ví dụ ấy và nói một Tỷ-kheo khéo tự mình giữ gìn 6 xúc xứ, hết sanh y là căn bản của đau khổ, đã đoạn diệt sanh y, thời không còn chú thân trên sanh y.
KINH BẤT ĐỘNG LỢI ÍCH
(Ānañjasappāya Sutta)
(M.ii, 261)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và thuyết giảng.
B. Chánh kinh:
I. Đặc tánh của các dục và sự nguy hiểm của các dục.
Này các Tỷ-kheo, các dục là vô thường, trống rỗng, giả dối, thuộc ngu si tánh. Này các Tỷ-kheo, đây là lời chào xáo của kẻ ngu xây dựng trên giả dối. Các dục hiện tại (5 DỤC CÔNG ĐỨC), và các dục tương lai, các dục tưởng hiện tại và các dục tưởng tương lai, cả hai đều thuộc lãnh vực của ma, là cảnh giới của ma, là chỗ dinh dưỡng của ma, là chỗ ăn uống của ma.
II. Đạo lộ về lợi ích bất động:
1. Đối với các dục.
2. Đối với sắc pháp.
III. Đạo lộ lợi ích về vô sở hữu xứ:
1. Các tưởng được đoạn diệt không có dư tàn.
2. Tự ngã và ngã sở đều trống không.
3. Ta không có bất cứ chỗ nào, cho ai và trong hình thức nào và sở thuộc của ta cũng vậy.
IV. Đạo lộ về lợi ích phi tưởng, phi phi tưởng xứ.
V. Vị Thánh đệ tử vượt qua bộc lưu:
1. Vị Tỷ-kheo còn hoan hỷ, chấp trước trong xả, không chứng cứu cánh Niết-bàn.
2. Vị Tỷ-kheo không hoan hỷ chấp trước trong xả, chứng được cứu cánh Niết-bàn.
VI. Thế nào là Thánh giải thoát.
VII. Thế Tôn tổng kết những điều đã thuyết giảng và nói đến trách nhiệm của bậc Đạo sư đã làm cho các đệ tử.
KINH GAṆAKA MOGGALLĀNA
(Gaṇaka Moggallāna Sutta)
(M.iii, 1)
A. Duyên khởi:
Gaṇaka Moggallna đến hỏi Đức Phật, trong Pháp và Luật của Ngài có thể thấy được một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự không? Đức Phật trả lời có với bài kinh này.
B. Chánh kinh:
Thế Tôn trình bày trong Pháp và Luật này, có một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự.
I. Giới học gồm có sống chế ngự theo giới bổn, hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác.
II. Định học gồm có đoạn trừ năm triền cái, chứng được bốn Thiền. Thế Tôn thuyết giảng cho các bậc hữu học và các bậc vô học.
III. Trả lời các câu hỏi của Gaṇaka Moggallna, Thế Tôn nói, với lời giảng dạy của Ngài, một số đệ tử chứng được cứu cánh Niết-bàn, một số không được. Và Đức Phật giải thích lý do Ngài chỉ là người chỉ con đường đưa đến Niết-bàn.
Ai đi theo đúng con đường Đức Phật chỉ dạy, thời chứng được Niết-bàn. Ai đi sai đường thời không thể chứng được Niết-bàn.
IV, Gaṇaka Moggallna tán thán lời giảng dạy của Sa-môn Gotama. Sa-môn Gotama không sống hòa hợp với những kẻ xuất gia, biếng nhác thất niệm, liệt tuệ. Ngài chỉ sống hòa hợp với những vị xuất gia vì lòng tin, tinh tấn, chánh niệm, thắng tuệ. Gaṇaka Moggallna tán thán lời khuyên dạy của Sa-môn Gotama là tối thượng trong tất cả lời giảng huấn hiện tại.
KINH GOPAKA MOGGALLĀNA
(Gopaka Moggallāna Sutta)
(M.iii, 7)
A. Duyên khởi:
Cuộc đàm luận giữa Tôn giả nanda và Bà-la-môn Gopaka về vấn đề không có một Tỷ-kheo nào thành tựu trọn vẹn tất cả Pháp do Sa-môn Gotama giảng dạy và Thế Tôn là vị đã làm khơi dậy con đường trước đây chưa hiện khởi.
B. Chánh kinh:
Cuộc đàm luận gữa Tôn giả nanda và Bà-la-môn Sassakra.
I. Tôn giả nanda kể lại câu chuyện được bàn đến gữa Tôn giả nanda và Bà-la-môn Gopaka.
II. Bà-la-môn Sassakra hỏi năm vấn đề và được Tôn giả nanda giải đáp.
Bà-la-môn tán thán chúng Tăng, tán thán Tôn giả nanda, tán thán Trúc lâm tịnh
xá, và nói rằng Sa-môn Gotama tán thán tất cả thiền định. Tôn giả nanda cải chính lại và nói Thế Tôn không tán thán các thiền định liên hệ đến năm triền cái và tán thán bốn thiền.
C. Kết luận:
Sau khi Bà-la-môn Vassakra ra đi, Bà-la-môn Gopaka nói nhờ câu hỏi của chính mình mà Tôn giả nanda làm sáng tỏ vấn đề: không một Tỷ-kheo nào thành tựu trọn vẹn mười Pháp như Thế Tôn.
ĐẠI KINH MÃN NGUYỆT
(Mahāpuṇṇama Sutta)
(M.iii, 15)
A. Duyên khởi:
Trong ngày rằm, Bố-tát, Thế Tôn đang ngồi với đại chúng đoanh vây. Một Tỷ-kheo đứng lên xin hỏi một số vấn đề và Đức Phật cho phép.
B. Chánh kinh:
I. Vị Tỷ-kheo ấy hỏi tất cả là mười câu hỏi liên hệ đến vấn đề Năm uẩn và Đức Phật lần lượt trả lời tất cả mười câu hỏi ấy.
Bốn đại là nhân, này Tỷ-kheo, bốn đại là duyên được chấp nhận gọi là sắc uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là thọ uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là tưởng uẩn. Xúc là nhân, xúc là duyên được chấp nhận gọi là hành uẩn (CỐ GẮNG QUYẾT ĐỊNH). Danh sắc là nhân này Tỷ-kheo, danh sắc là duyên
được chấp nhận gọi là thức uẩn. (DANH SẮC VÀ THỨC HỆ THUỘC LẪN NHAU, KIẾT SANH THỨC, XEM D. II 62-62)
II. Một Tỷ-kheo khác hỏi, những hành động gì do vô ngã làm thời được ngã nào cảm thọ. Kết quả Đức Phật dạy không nên vượt qua lời dạy của Ngài. Chỉ nên quán Năm thủ uẩn là vô ngã, nhờ vậy được nhàm chán ly tham và giải thoát.
C. Kết luận:
Sau khi Đức Phật thuyết giảng, có sáu mươi vị chứng được quả A-la-hán.
TIỂU KINH MÃN NGUYỆT
(Cūḷapuṇṇama Sutta)
(M.iii, 20)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn xác nhận, một người bất chánh không thể biết được một người bất chánh và một người chân chánh.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn định nghĩa tám pháp của người bất chánh và nêu rõ dị thục của người bất chánh.
II. Thế Tôn nói đến tám pháp của người chân chánh và quả dị thục của người chân chánh.
KINH BẤT ĐOẠN
(Anupada Sutta)
(M.iii, 25)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo rồi thuyết giảng.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn tán thán trí tuệ Tôn giả Sriputta.
II. Thế Tôn tán thán bất đoạn pháp quán của Tôn giả Sriputta về sơ thiền.
III. Thế Tôn tán thán bất đoạn pháp của Tôn giả Sriputta về thiền thứ hai.
IV. Thế Tôn tán thán bất đoạn pháp quán của Tôn giả Sriputta về thiền thứ ba.
V. Thế Tôn tán thán bất đoạn pháp quán của Tôn giả Sriputta về thiền thứ tư.
VI. Thế Tôn tán thán bất đoạn pháp quán của Tôn giả Sriputta về Không vô biên xứ.
I. Thế Tôn tán thán bất đoạn pháp quán của Tôn giả Sriputta về Thức vô biên xứ.
II. Thế Tôn tán thán bất đoạn pháp quán của Tôn giả Sriputta về Vô sở hữu xứ.
III. Thế Tôn tán thán bất đoạn pháp quán của Tôn giả Sriputta về Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
IV. Thế Tôn tán thán bất đoạn pháp quán của Tôn giả Sriputta về Diệt thọ tưởng định.
V. Thế Tôn tán thán Tôn giả Sriputta là cứu cánh trong Thánh giới, Thánh định, Thánh tuệ, là con chánh tông của Thế Tôn, thừa tự Chánh pháp, không thừa tự vật chất và chơn chánh chuyển Pháp luân vô thượng đã được Như Lai chuyển vận.
KINH SÁU THANH TỊNH
(Chabbisodhana Sutta)
(M.iii, 29)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và thuyết giảng.
B. Chánh kinh:
Đức Phật dạy, khi một Tỷ-kheo nói lên mình đã được chánh trí, thời cần phải xác nhận vị Tỷ-kheo ấy có đạt được sự thanh tịnh hay không.
I. Thanh tịnh thứ nhất: Điều được thấy nghe, được cảm giác, được nhận thức, không ái luyến, không chống đối, độc lập, không trói buộc, được giải thoát, không hệ lụy, an trú với tâm không hạn chế.
II. Thanh tịnh thứ hai: Đối với năm uẩn được giải thoát khỏi chấp thủ phương tiện, tâm cố chấp, thiên chấp tùy miên được đoạn tận, ly tham.
III. Thanh tịnh thứ ba: Đối với sáu giới đã đi đến không phải là tự ngã, tự ngã không phải là sáu giới, đã giải thoát khỏi chấp thủ phương tiện, tâm cố chấp, thiên chấp tùy miên được đoạn tận, ly tham.
IV và V. Thanh tịnh thứ tư và thứ năm:
Đối với 6 nội ngoại xứ, phàm có dục, tham gì, hỷ gì, chấp thủ phương tiện, những cố chấp, thiên chấp tùy miên đã được đoạn tận, ly tham.
VI. Thanh tịnh thứ sáu:
1. Đã nghe pháp, xuất gia, giữ giới.
2. Đã tu tập thiền định, đoạn năm triền cái, chứng 4 thiền.
3. Đã như thật biết khổ, khổ tập, khổ diệt, con đường đưa đến khổ diệt, đã như thật biết các lậu hoặc, các lậu hoặc tập khởi, các lậu hoặc diệt, con đường đưa đến các lậu hoặc diệt.
4. Giải thoát khỏi các lậu hoặc, chứng quả, đối với thân có nhận thức này và đối với tất cả tướng ở bên ngoài, mạn tùy miên đã được đọan trừ hoàn toàn.
KINH CHÂN NHÂN
(Sappurisa Sutta)
(M.iii, 37)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và tuyên bố sẽ giảng về chân nhân pháp và phi chân nhân pháp.
B. Chánh kinh:
Thế Tôn thuyết giảng phi chân nhân và chân nhân đối với 28 pháp. Phân loại theo vấn đề:
I. Đối với vấn đề gia đình: Từ số 1 đến số 4: gia đình cao sang, đại gia đình, gia đình đại phú, gia đình quý phái.
II. Đối với khả năng cá nhân: Từ số 5 đến số 9, gồm 5 pháp: có danh xưng, được cúng dường, nghe nhiều, trì luật, thuyết pháp.
III. Đối với hạnh đầu đà 29 pháp từ số 10 đến số 18, sống rừng núi, mặc phấn tảo y, hạnh khất thực, sống dưới gốc cây, sống tại nghĩa
địa, sống ngoài trời, hạnh thường ngồi, không nằm, ngồi tại chỗ mời, chỉ ăn một lần.
IV. Đối với thiền sắc giới, thiền vô sắc giới: từ số 19 đến số 26, gồm 8 pháp: chứng sơ thiền, thiền thứ 2, thiền thứ 3, thiền thứ 4, 4 thiền ở vô sắc giới.
V. Đối với diệt thọ tưởng định và đoạn trừ các lậu hoặc: 2 pháp 27 và 28.
KINH NÊN HNH TRÌ
KHÔNG NÊN HÀNH TRÌ
(Sevitabbāsevitabba Sutta)
(M.iii, 45)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và tuyên bố sẽ giảng về đề tài “Nên hành trì và không nên hành trì.”
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn giảng 7 pháp nên hành trì và không nên hành trì: thân hành, khẩu hành, ý hành, tâm sanh, tưởng đắc, kiến đắc, ngã tánh đắc.
II. Thế Tôn giảng 6 pháp nên hành trì và không nên hành trì: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp:
1. Thế Tôn tổng thuyết.
2. Tôn giả Sriputta giải thích một cách rộng rãi.
3. Thế Tôn xác nhận lời giải thích của Tôn giả Sriputta là đúng đắn.
III. Thế Tôn giảng 8 pháp nên hành trì và không nên hành trì: y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, làng, thị trấn, đô thị, quốc độ, người.
IV. Thế Tôn dạy nếu tất cả 4 giai cấp đều hiểu lời Phật dạy một cách rộng rãi như vậy, thời tất cả được hạnh phúc lâu dài.
KINH ĐA GIỚI
(Bahudhātuka Sutta)
(M.iii, 61)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo về thuyết giảng.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn dạy sợ hãi, thất vọng, hoạn nạn chỉ đến với người ngu, không đến với người hiền trí. Do vậy, các Tỷ-kheo cần phải học tập để trở thành người hiền trí.
II. Thế Tôn giải thích người hiền trí là người thiện xảo về giới, về xứ, về duyên khởi, về xứ và phi xứ.
1. Thiện xảo về giới:
a. 18 giới.
b. 6 giới.
c. 6 giới.
d. 6 giới.
e. 3 giới.
f. 2 giới.
2. Thiện xảo về xứ: 6 nội ngoại xứ.
3. Thiện xảo về duyên khởi.
4. Thiện xảo về xứ và phi xứ, có tất cả là 28 xứ và phi xứ.
III. Tôn giả nanda tán thán pháp môn Thế Tôn vừa thuyết giảng và hỏi pháp môn ấy tên gì, Thế Tôn nói lên những tên để gọi cho pháp môn ấy là Đa giới, Bốn chuyển, Pháp kính, Trống bất tử.
ĐẠI KINH BỐN MƯƠI
(Mahācattārīsaka Sutta)
(M.iii, 71)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn dạy sẽ giảng về Thánh định cùng với các cận duyên và các tư trợ.
B. Chánh kinh:
I. Định nghĩa Thánh định với các cận duyên với các tư trợ.
II. Chánh kiến đi hàng đầu. Định nghĩa chánh kiến. Thế nào là tà kiến và chánh kiến. Liên hệ giữa chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm.
III. Chánh kiến đi hàng đầu. Định nghĩa chánh kiến. Thế nào là tà tư duy, chánh tư duy. Liên hệ giữa chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm với chánh tư duy.
IV. Chánh kiến đi hàng đầu. Định nghĩa chánh kiến. Thế nào là tà ngữ, chánh ngữ. Liên hệ giữa chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm với chánh ngữ.
V. Chánh kiến đi hàng đầu. Định nghĩa chánh kiến. Thế nào là tà nghiệp, chánh nghiệp. Liên hệ giữa chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm với chánh nghiệp.
VI. Chánh kiến đi hàng đầu. Định nghĩa chánh kiến. Thế nào là tà mạng, chánh mạng. Liên hệ giữa chánh kiến, chánh tinh tấn, chánh niệm với chánh mạng.
VII. Chánh kiến đi hàng đầu. Định nghĩa chánh kiến.Thế nào là 8 chi phần của bậc hữu học và 10 chi phần của bậc A-la-hán.
VIII. Chánh kiến đi hàng đầu. Định nghĩa chánh kiến. Thế nào là đại pháp môn 40 pháp. Đại pháp môn 40 pháp này vượt khỏi các chỉ trích.
KINH NHẬP TỨC XUẤT TỨC NIỆM
(Ānāpānasati Sutta)
(M.iii, 78)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn ở tại Svatthỵ cho đến ngày lễ Komudi, thấy các Tỷ-kheo khích lệ nhau tu học, Tỷ-kheo dạy cho tân học Tỷ-kheo, rất lấy làm hoan hỷ nên nói kinh này để tán thán chúng Tỷ-kheo.
B. Chánh kinh:
Thế Tôn tán thán chúng Tỷ-kheo và giải thích pháp môn niệm hơi thở vô hơi thở ra.
I. Thế Tôn tán thán các Tỷ-kheo là không có lời dư thừa, an trú trong lõi cây thanh tịnh, là phước điền vô thưỡng ở đời. Trong hội chúng này có những vị đã chứng được 4 quả, đã tu tập 14 pháp môn trong ấy có pháp môn niệm hơi thở vô hơi thở ra.
II. Thế Tôn định nghĩa pháp môn niệm hơi thở vô hơi thở ra và giải thích sự liên hệ
giữa pháp môn niệm hơi thở vô hơi thở ra với 4 niệm xứ, bảy giác chi, minh và giải thoát:
1. Định nghĩa pháp môn niệm hơi thở vô hơi thở ra.
2. Niệm hơi thở vô hơi thở ra được tu tập làm cho 4 niệm xứ được sung mãn.
3. Bốn niệm xứ được tu tập làm cho bảy giác chi được viên mãn.
4. Bảy giác chi được tu tập làm cho minh giải thoát được viên mãn.
KINH THÂN HÀNH NIỆM
(Kāyagatāsati Sutta)
(M.iii, 88)
A. Duyên khởi:
Các Tỷ-kheo tụ họp tại hội trường tán thán pháp môn Thân hành niệm. Thế Tôn bèn giảng kinh này để giải thích pháp môn thân hành niệm.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn giải thích 13 pháp môn tu tập thân hành niệm:
1. Niệm hơi thở vô hơi thở ra trên thân.
2. Niệm uy nghi đứng ngồi của thân.
3. Niệm các cử chỉ của thân.
4. Quán nội thân đầy những vật bất tịnh.
5. Quán vị trí các giới trên thân.
6. Quán thi thể bị quăng 3 ngày trong nghĩa địa, trương phồng, xanh đen và thối nát.
7. Quán thi thể bị các loài chim thú vật côn trùng ăn.
8. Quán thi thể chỉ còn bộ xương liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại... chỉ còn xương không dính lại với nhau rải rác chỗ này chỗ kia.
9. Quán thi thể chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc... chỉ còn đống xương... chỉ còn bột xương.
10. Tỷ-kheo chứng sơ thiền, thân thấm nhuần hỷ lạc do ly dục sanh.
11. Tỷ-kheo chứng thiền thứ hai, thân thấm nhuần hỷ lạc do định sanh.
12. Tỷ-kheo chứng thiền thứ ba, thân cảm thọ xả niệm lạc trú.
13. Tỷ-kheo chứng thiền thứ tư, thân thấm nhuần tâm thuần tịnh trong sáng.
II. Lợi ích của tu tập thân hành niệm và tai hại của không tu tập thân hành niệm:
1. Vị nào tu tập thân hành niệm thời thiện pháp đi vào nội tâm thuộc về minh phần.
2. Vị nào không tu tập thân hành niệm ma vương có cơ hội với vị ấy. Ba ví dụ nói rõ vấn đề này.
3. Vị nào có tu tập thân hành niệm thời ma vương không có cơ hội với vị ấy. Ba ví dụ nói rõ vấn đề này.
4. Vị nào tu tập thân hành niệm làm cho sung mãn thắng trí, đạt được tinh xảo dầu thuộc giới xứ nào. Ba ví dụ giải thích vấn đề này.
III. Thân hành niệm tu tập viên mãn đưa đến 10 lợi ích.
KINH HÀNH SANH
(Sankhāruppati Sutta)
(M.iii, 99)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và nói rõ sẽ giảng về sự tái sanh do hành đem lại.
B. Chánh kinh:
I. Đạo lộ đưa đến tái sinh trong đại gia tộc Sát-đế-lỵ.
II. Đạo lộ đưa đến tái sinh trong đại gia tộc Bà-la-môn, cư sĩ.
III. Đạo lộ đưa đến tái sinh lên 4 đại thiên vương.
IV. Đạo lộ đưa đến tái sinh lên Tam thập tam thiên, Dạ-ma thiên, Đâu-suất thiên, Hóa lạc thiên, Tha hóa tự tại thiên.
V. Đạo lộ đưa đến tái sinh trong ngàn Phạm thiên giới.
VI. Đạo lộ đưa đến tái sinh trong 2, 3, 4, 5 ngàn Phạm thiên giới.
VII. Đạo lộ đưa đến tái sinh trong mười ngàn Phạm thiên giới.
VIII. Đạo lộ đưa đến tái sinh trong trăm ngàn Phạm thiên giới.
IX. Đạo lộ đưa đến tái sinh lên chư quang thiên giới.
X. Đạo lộ đưa đến tái sinh lên chư định thiên giới.
XI. Đạo lộ đưa đến tái sinh lên chư thiên tứ thân sắc giới.
XII. Đạo lộ đưa đến tái sinh lên hư không vô biên xứ.
XIII. Đạo lộ đưa đến tái sinh lên thức vô biên xứ.
XIV. Đạo lộ đưa đến tái sinh chứng được tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
KINH TIỂU KHÔNG
(Cūḷasuññata Sutta)
(M.iii, 104)
A. Duyên khởi:
Tôn giả nanda bạch Đức Phật có phải khi trú ở Nagaraka, Thế Tôn có dạy “Ta nhờ an trú không nên an trú rất nhiều”. Thế Tôn xác nhận với bài kinh này.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn trả lời là có nói vậy, và giải thích nghĩa chữ “không” thứ nhất là tại Lộc Mẫu giảng đường không có voi, ngựa, vàng bạc, đàn ông, đàn bà tụ hội nhưng có sự nhất trí do duyên chúng Tỷ-kheo.
II. Thế Tôn giải thích chữ “không” thứ hai, không có thôn tưởng nhân tưởng, không có các hệ lụy do duyên thôn tưởng, nhân tưởng nhưng có sự nhất trí do duyên lâm tưởng.
III. Thế Tôn giải thích chữ “không” thứ ba. Không có tác ý nhân tưởng, lâm tưởng,
không có các hệ lụy do duyên nhân tưởng, lâm tưởng nhưng có sự nhất trí do duyên địa tưởng.
IV. Thế Tôn giải thích nghĩa chữ “không” thứ tư, không có tác ý lâm tưởng, địa tưởng, không có các ưu phiền do duyên lâm tưởng, địa tưởng nhưng có tác ý sự nhất trí do duyên không vô biên xứ.
V. Thế Tôn giải thích nghĩa chữ “không” thứ năm, không có tác ý địa tưởng, không vô biên xứ, chỉ có sự tác ý do duyên thức vô biên xứ tưởng.
VI. Thế Tôn giải thích nghĩa chữ “không” thứ sáu, không có tác ý không vô biên xứ tưởng, thức vô biên xứ tưởng, chỉ có sự tác ý sự nhất trí do duyên vô sở hữu xứ tưởng.
VII. Thế Tôn giải thích nghĩa chữ “không” thứ bảy, không có tác ý không vô biên xứ tưởng, vô sở hữu xứ tưởng, chỉ có tác ý sự nhất trí do duyên phi tưởng phi phi tưởng xứ.
VIII. Thế Tôn giải thích nghĩa chữ “không” thứ tám, không có tác ý vô sở hữu xứ tưởng, phi tưởng phi phi tưởng xứ, có tác ý sự nhất trí do duyên vô tướng tâm định.
IX. Nhờ quán vô tướng tâm định là hữu vi vô thường, chịu sự đoạn diệt, nên tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc, chứng được quả A-la-hán. Nghĩa chữ “không” thứ chín là không có dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu nhưng có cái không phải không tức là 6 nhập duyên, mạng duyên với thân này. Cái này thực có đối với vị ấy, tức là sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh không tánh.
X. Thế Tôn dạy các Sa-môn, Bà-la-môn trong quá khứ, tương lai, hiện tại, tất cả đều an trú cứu cánh vô thượng thanh tịnh không tánh này và khuyên các vị Tỷ-kheo cần phải học tập như vậy.
KINH ĐẠI KHÔNG
(Mahāsuññata Sutta)
(M.iii, 109)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn thấy tại trú xứ của Thích tử Kḷakhemaka có rất nhiều sàng tọa được sắp đặt nghĩa là có rất nhiều Tỷ-kheo tụ hội nên mới nói kinh này.
B. Chánh kinh:
I. Tỷ-kheo nào hoan hỷ, thích thú trong hội chúng của mình, hội chúng của người; không thể chói sáng trong chánh pháp, không thể chứng đắc viễn ly lạc, độc cư lạc, an tịnh lạc, chánh giác lạc, không thể chứng đắc và an trú tâm giải thoát có hạn kỳ và thoải mái hay không có hạn kỳ và bất động. Thế Tôn thấy bất kỳ sắc pháp nào trong ấy có hoan hỷ, có hoan lạc đều chịu sự biến dịch và khởi lên sầu khổ.
II. Thế Tôn không có tác ý tất cả tưởng, an trú nội không, do vậy khi tiếp xúc với mọi tầng lớp dân chúng, Thế Tôn chỉ nói lên những lời thuần túy liên hệ đến khích lệ. Thế Tôn khuyên các Tỷ-kheo nên chứng đạt và an trú nội không, và muốn vậy cần phải an định nội tâm.
III. Tỷ-kheo an định nội tâm tức là chứng đắc 4 thiền.
IV. Tỷ-kheo đang an trú với an trú này, nếu có đi, đứng, nằm, ngồi, nói, suy tầm, vị ấy ý thức rõ ràng là trong khi làm các cử chỉ như vậy các ác bất thiện không có chảy vào, các thiện pháp được thành tựu.
V. Đối với 5 dục công đức, nếu khởi lên tâm hành gì, có dục ái hay không dục ái, vị Tỷ-kheo đều ý thức rõ ràng.
VI. Đối với 5 uẩn khi tùy quán sự sanh diệt, nếu có ngã mạn khởi lên được đoạn tận, Tỷ-kheo ý thức rõ ràng như vậy.
VII. Vì lý do gì một thanh văn đệ tử tự nghĩ là xứng đáng để đi theo một bậc Đạo sư dẫu cho bị hất hủi.
VIII. Sự phiền lụy cho bậc đạo sư, cho đệ tử, cho các vị đồng tu phạm hạnh.
IX. Thế Tôn dạy hãy đối xử với Ngài, với tâm thân hữu không với tâm thù nghịch.
KINH HY HỮU VỊ TẰNG HỮU PHÁP
(Acchariyabhūtadhamma Sutta)
(M.iii, 118)
A. Duyên khởi:
Các Tỷ-kheo và Tôn giả nanda tán thán đại uy lực của Như Lai. Đức Phật đến và được thuật rõ câu chuyện đang bàn luận, liền nói Tôn giả nanda nói lên những đặc tánh hy hữu của Như Lai.
B. Chánh kinh:
Tôn giả nanda nói lên 19 pháp hy hữu của Như Lai. Đức Phật bổ sung thêm một pháp thành ra 20 pháp.
I. Bốn pháp hy hữu khi Thế Tôn sanh ở cõi Đâu xuất, trú tại đấy và từ bỏ cõi ấy nhập mẫu thai.
II. Sáu pháp hy hữu khi Thế Tôn nhập mẫu thai (5-11).
III. Chín pháp hy hữu khi Thế Tôn từ mẫu thai sanh ra (11-19).
IV. Một pháp hy hữu sau khi đức Bồ tát đã sanh, Bồ tát biết các cảm thọ và các tưởng, các tầm sanh, an trú và biến hoại.
KINH BẠC-CÂU-LA
(Bakkula Sutta)
(M.iii, 124)
A. Duyên khởi:
Lõa thể Kassapa đi đến gặp Tôn giả Bakkula và cuộc nói chuyện này khởi lên.
B. Chánh kinh:
Mười bốn pháp vị tằng hữu của Tôn giả Bakkula:
1. Trong 80 năm Tôn giả không khởi lên dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng, dục tầm, sân tầm, hại tầm (1-4).
2. Trong 80 năm từ khi xuất gia, Tôn giả không có nhận y và làm một sự việc gì liên hệ đến y (5-9).
3. Trong 80 năm từ khi xuất gia, Tôn giả không có nhận lời ngồi ăn, ở trong nhà (10-11), ghi nhận các tướng đặc biệt của nữ nhân, thuyết
pháp cho nữ nhân, đi đến thuyết pháp cho Tỷ-kheo-ni, chánh học nữ, sa-di nữ (11-12).
4. Trong 80 năm từ khi xuất gia Tôn giả không có xuất gia thọ đại giới làm y chỉ cho ai, không có sa-di hầu hạ, không có bệnh và không mang theo y dược, không nằm dựa tấm ván, không nằm dài xuống ngủ, không an cư mùa mưa gần làng.
5. Tôn giả trong 7 ngày, 6 ngày đầu còn uế nhiễm, ngày thứ 7 chứng quả A-la-hán.
C. Kết luận:
Lõa thể Kassapa xin xuất gia, được thọ đại giới và không bao lâu chứng quả.
Tôn giả Bakkula nhập diệt, ngồi giữa chúng nhập Niết-bàn.
(Bakkula được Đức Phật xem là 1 vị đệ tử có sức khỏe đệ nhất. Theo bản Sớ giải Trường bộ (DA. ii,413), Ngài sống đến 160 tuổi. Ngài được xem là vị tu khổ hạnh nhưng không có giảng về khổ hạnh.
Sanh trong gia đình vị cố vấn ở Kosambỵ, khi tắm bị rơi xuống sông Galluna, bị con cá
nuốt nhưng không chết. Con cá bị một người đánh cá bắt được, bán cho người vợ ông cố vấn ở Ba-la-nại, khi mổ bụng cá ra Ngài vẫn còn sống. Sau vua cho phép cả hai gia đình xem Bakkula là con của mình. Do vậy có tên là Bakkula. Có thuyết cho Bakkula xuất gia lúc 80 tuổi và sau 8 ngày thì chứng quả).
KINH ĐIỀU NGỰ ĐỊA
(Dantabhūmi Sutta)
(M.iii, 128)
A. Duyên khởi:
Sa-di Aciravata thuyết pháp cho vương tử Jayasena về đề tài vị Tỷ-kheo sống không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần chứng được nhứt tâm nhưng vương tử Jayasena không chấp nhận và bỏ đi. Sa-di Aciravata thuật lại sự việc này cho Thế Tôn và Thế Tôn thuyết giảng kinh này.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn dạy vương tử Jayasena sống giữa các dục, thọ hưởng các dục, không thể thấy, biết, đạt và chứng quả vị ly dục. Thế Tôn dùng 2 ví dụ để chứng minh điều này.
II. Bốn giai đoạn: một người nài điều phục con voi:
1. Kéo con voi từ trong rừng rậm ra ngoài trời, nó vẫn còn tham luyến rừng có voi.
2. Điều phục nếp sống tâm tư rừng núi của nó bằng cách làm cho nó quen thuộc thôn làng và nếp sống loài người.
3. Dạy cho con voi các động tác cần thiết như nhặt lên, đặt xuống, đi tới, đi lui, đứng, ngồi rồi bất động.
4. Con voi trở thành con vương tượng kham nhẫn lạnh, nóng, chiến trận, không còn uế nhiễm.
III. Thế Tôn điều phục đệ tử qua 4 giai đoạn:
1. Nghe pháp xuất gia.
2. Giữ giới, hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác.
3. Tu thiền, lựa một chỗ thanh vắng, đoạn 5 triền cái, quán 4 niệm xứ để điều phục tâm tánh của cư sĩ, tu tập và chứng 4 thiền.
4. Tu tuệ, kham nhẫn lạnh nóng, đói khát, các khổ thọ khốc liệt, đoạn được tham sân si, trở thành vô thượng phước điền ở đời.
IV. Thế nào là con voi chết đi không được điều phục. Thế nào là vị Tỷ-kheo chết đi
không được điều phục. Thế nào là con voi chết đi được điều phục. Thế nào là vị Tỷ-kheo chết đi được điều phục.
KINH PHÙ-DI
(Bhūmija Sutta)
(M.iii, 138)
A. Duyên khởi:
Vương tử Jayasena trình bày với Tôn giả Bhmija rằng theo lý thuyết của một số Sa-môn, Bà-la-môn có nguyện vọng hay không có nguyện vọng, hành phạm hạnh đều không có kết quả. Tôn giả Bhmija trả lời, theo Thế Tôn dạy, có nguyện vọng hay không có nguyện vọng, hành phạm hạnh không có chánh đáng không đạt được quả vị. Dù có hay không có nguyện vọng, hành phạm hạnh có chánh đáng đạt được quả vị. Tôn giả Bhmija tường trình sự việc lên Thế Tôn, hỏi Thế Tôn câu trả lời của mình có đúng pháp hay không, và Thế Tôn trả lời với bài kinh này.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn xác nhận câu trả lời của Tôn giả Bhmija là đúng pháp.
II. Thế Tôn xác nhận, Sa-môn, Bà-la-môn nào có tà kiến cho đến có tà định, dù có nguyện vọng hay không, đều không đạt được quả vị, vì đây không phải là phương pháp để đạt được quả vị.
III. Ví dụ dẫn chứng thứ nhất: Người đi tìm dầu bỏ cát vào thùng và tưới nước, dù có ước nguyện hay không có ước nguyện, người ấy không lấy được dầu.
IV. Ví dụ dẫn chứng thứ hai: Một người cần sữa nắm sừng con bò để vắt sữa, dù có ước nguyện hay không, nó không lấy được sữa.
V. Ví dụ dẫn chứng thứ ba: Một người cần sanh tô, đổ nước vào ghè, lấy que khuấy đánh, dù có ước nguyện hay không ước nguyện, nó không lấy được sanh tô.
VI. Ví dụ dẫn chứng thứ tư: Một người đem phần trên đồ quay lửa cọ xát với khúc que ướt và có nhựa, dù có ước nguyện hay không ước nguyện, nó không lấy được lửa.
VII. Thế Tôn xác nhận, Sa-môn, Bà-la-môn nào có chánh kiến, chánh định, dù có ước nguyện hay không có ước nguyện, đều đạt
KINH A-NA-LUẬT
(Anuruddha Sutta)
(M.iii, 144)
A. Duyên khởi:
Đại ý kinh này thuật lại cuộc nói chuyện giữa Tôn giả Anuruddha với thợ mộc Pađcakanga và với Tôn giả Abhiya Kaccna về vấn đề chư thiên và hào quang của chư thiên.
B. Chánh Kinh:
a. Cuộc đàm đạo giữa Tôn giả Anuruddha với thợ mộc Pañcakanga:
1. Vấn đề thứ nhất: Sự sai khác giữa vô lượng tâm giải thoát và đại hành tâm giải thoát.
2. Vấn đề thứ hai: Có bốn loại hữu sanh và sự sai khác giữa chư thiên về màu sắc và hào quang:
b. Cuộc đàm thoại của Tôn giả Anuruddha với Tôn giả Abhiya Kaccāna.
1. Vấn đề thứ nhất: Chư thiên có hào quang hạn lượng và chư thiên có hào quang vô lượng.
2. Vấn đề thứ hai: Chư thiên có hào quang tạp nhiễm và chư thiên có hào quang thanh tịnh.
3. Vấn đề thứ ba: Sự liên hệ giữa chư thiên và Tôn giả Anuruddha.
KINH TÙY PHIỀN NÃO
(Upakkilesa Sutta)
(M.iii, 152)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn khuyên các Tỷ-kheo ở Kosambī chớ có đấu tranh cãi nhau nhưng không được, nên bỏ đi và nói lên những bài kệ về hận thù, không hận thù, đoàn kết, không đoàn kết, bè bạn kẻ ngu và sống cô độc. Rồi Thế Tôn đến thăm Tôn giả Bhagu và đến thăm 3 Tôn giả Anuruddha, Kimbila, Nandiya.
B. Chánh kinh:
I. Cuộc nói chuyện giữa Thế Tôn với 3 vị Tôn giả về 3 vấn đề:
1. Sống hòa hợp nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.
2. Sống không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần.
3. Chứng được các pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng.
II. Thế Tôn giải thích các hiện tượng vì sao khi tu định được hào quang và các sắc pháp nhưng lại biến mất, hoặc hào quang và các sắc pháp có sự sai khác:
1. Thế Tôn giải thích do 11 tùy phiền não khởi lên nên hào quang và sắc pháp biến mất.
2. Thế Tôn giải thích vì có tác ý hay không tác ý, nên có khi thấy hào quang nhưng không thấy sắc pháp, khi thấy sắc pháp nhưng không thấy hào quang.
3. Thế Tôn giải thích vì định có hạn lượng nên hào quang và sắc pháp có hạn lượng.
III. Thế Tôn tu tập 3 loại định và cuối cùng chứng quả.
KINH HIỀN NGU
(Bālapaṇḍita Sutta)
(M.iii, 163)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và thuyết giảng.
B. Chánh kinh:
I. Những đặc tướng, những nỗi khổ, những cảnh giới đọa xứ của người ngu:
1.Ba đặc điểm, đặc tướng của người ngu.
2.Ba loại khổ ưu của người ngu hay cảm thọ.
3.Kẻ ngu sau mạng chung phải sanh vào ác thú, đọa xứ, địa ngục.
4. Nỗi khổ trong địa ngục, bàng sanh, đọa xứ:
a. Ví dụ với nỗi đau khổ trong địa ngục:
i. Ví dụ những nỗi khổ đau.
ii. Năm loại bàng sanh và sự đau khổ trong loại bàng sanh.
b. Đã sanh vào đọa xứ rất khó làm người trở lại vì ở đấy không có pháp hành. Nếu được làm người phải sanh trong gia đình hạ cấp, nghèo đói, xấu xí, và hành ác hạnh.
5. Kẻ ngu hành ác hạnh như đánh canh bạc, khi thân hoại mạng chung phải sanh vào đọa xứ, địa ngục.
II. Những đặc tướng, những hỷ lạc, những cảnh giới thiện thú của người trí:
1. Ba đặc điểm, đặc tướng của người trí.
2. Ba loại lạc hỷ của người trí.
3. Bậc trí, sau khi mạng chung được sanh vào thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
4. Thiên giới hoàn toàn khả ái, tốt đẹp, thích thú:
a. Ví dụ sự tốt đẹp của thiên giới:
i. Vua Chuyển luân với bảy món báu, 4 như ý đức.
ii. Bảy món báu.
iii. Bốn như ý đức.
b. Lạc hỷ của vua Chuyển luân, với 7 món báu và 4 như ý đức.
c. Được sanh làm người, sinh trong các gia đình phú quý.
KINH THIÊN SỨ
(Devadūta Sutta)
(M.iii, 178)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và thuyết giảng.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn với Thiên nhãn thấy được các chúng sanh do làm các thiện hành được sanh vào thiện thú, thiên giới, do làm các ác hạnh phải sanh vào địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh.
II. Người đọa vào đọa xứ bị vua Yama hỏi về 5 thiên sứ:
1. Thiên sứ thứ nhất bị sanh chi phối, không làm điều thiện, làm điều ác nên chịu khổ báo.
2. Thiên sứ thứ hai, bị già chi phối, không làm điều thiện, làm các điều ác nên chịu khổ báo.
3. Thiên sứ thứ ba, bị bệnh chi phối, không làm điều thiện, làm các điều ác nên chịu khổ báo.
không làm điều thiện, làm các điều ác nên chịu khổ báo.
4. Thiên sứ thứ tư, làm các tội phạm bị phạt gia hình không làm điều thiện, làm các điều ác nên chịu khổ báo.
5. Thiên sứ thứ năm, bị chết chi phối, không làm điều thiện, làm các điều ác nên chịu khổ báo.
III. Nỗi thống khổ của người làm ác bị đọa vào địa ngục:
1. Bị sáu hình phạt gia hình thống khổ.
2. Bị quăng vào đại địa ngục, cảnh giới đại địa ngục và nỗi thống khổ trong ấy.
3. Các loại địa ngục khác và nỗi thống khổ trong các địa ngục ấy:
a. Đại phấn nị địa ngục.
b. Đại địa ngục nhiệt khôi.
c. Đại châm thọ lâm.
d. Đại kiếm diệp lâm.
đ. Đại khôi hà.
4. Nỗi khổ ở địa ngục khi đòi ăn, đòi uống.
IV. Lời mong của vua Yama muốn được làm người và được nghe Như Lai thuyết pháp. Thế Tôn nói những điều Ngài nói, không do ai nói cho Ngài, chỉ do Ngài hiểu biết.
KINH NHỨT DẠ HIỀN GIẢ
(Bhaddekaratta Sutta)
(M.iii, 187)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và nói sẽ giảng tổng thuyết và biệt thuyết về nhứt dạ hiền giả.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn giảng tổng thuyết nhứt dạ hiền giả.
II. Biệt thuyết về nhứt dạ hiền giả:
1. Thế nào là truy tìm quá khứ và không truy tìm quá khứ.
2. Thế nào là ước vọng tương lai và không ước vọng tương lai.
3. Thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại và không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
KINH TIỂU NGHIỆP PHÂN BIỆT
(Cūḷakammavibhanga Sutta)
(M.iii, 202)
A. Duyên khởi:
Thanh niên Todeyyaputta hỏi Thế Tôn sao lại có người đoản thọ, có người trường thọ, có người nhiều bệnh, có người ít bệnh, có người xấu sắc, có người đẹp sắc, có người quyền thế nhỏ, có người quyền thế lớn, có người tài sản nhỏ, có người tài sản lớn, có người thuộc gia đình hạ liệt, có người thuộc gia đình cao sang, có người có trí tuệ kém, có người có trí tuệ. Thế Tôn trả lời là do hạnh nghiệp. Người là chủ của nghiệp. Người là thừa tự của nghiệp. Theo yêu cầu, Thế Tôn giảng rộng ra vấn đề này.
B. Chánh kinh:
I. Con đường đưa đến đoản thọ và trường thọ: Sát sanh và từ bỏ sát sanh.
II. Con đường đưa đến nhiều bệnh và ít bệnh: Não hại chúng sanh và từ bỏ não hại chúng sanh.
III. Con đường đưa đến xấu sắc và đẹp sắc: Phẫn nộ và từ bỏ phẫn nộ.
IV. Con đường đưa đến quyền thế nhỏ và quyền thế lớn: Tật đố và từ bỏ tật đố.
V. Con đường đưa đến tài sản nhỏ và tài sản lớn: Không bố thí và có bố thí.
VI. Con đường đưa đến gia đình hạ liệt, gia đình cao sang: Kiêu mạn và từ bỏ kiêu mạn.
VII. Con đường đưa đến trí tuệ yếu kém, trí tuệ đầy đủ: Không tìm hiểu và có tìm hiểu.
KINH ĐẠI NGHIỆP PHÂN BIỆT
(Mahākammavibhanga Sutta)
(M.iii, 207)
A. Duyên khởi:
Du sĩ Potaliputta hỏi Tôn giả Samiddhi 2 câu hỏi và câu trả lời của Tôn giả không làm cho du sĩ thỏa mãn. Câu chuyện được Tôn giả trình lên Thế Tôn, Thế Tôn la Tôn giả Samiddhi không biết cách trả lời và dạy nên trả lời như thế nào là đúng. Rồi Thế Tôn phân tích phân biệt đại nghiệp của Như Lai.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn phân tích có 4 hạng người ở đời:
1. Tạo 10 ác nghiệp đọa địa ngục, đọa xứ.
2. Tạo 10 ác nghiệp sanh thiện thú.
3. Tạo 10 thiện nghiệp sanh thiện thú.
4. Tạo 10 thiện nghiệp, đọa cõi dữ, ác thú.
II. Vì thấy có thực 4 hạng người trên nên có 4 tri kiến, quan điểm khởi lên:
1. Có ác nghiệp, có quả báo ác nghiệp. Ai tạo 10 ác nghiệp phải đọa vào đọa xứ. Thấy vậy, biết vậy là chơn, ngoài ra là hư vọng.
2. Không có ác nghiệp, không có quả báo ác nghiệp. Ai tạo 10 ác nghiệp được sanh lên thiện thú. Thấy vậy, biết vậy là chơn, ngoài ra là hư vọng.
3. Có thiện nghiệp, có quả báo thiện nghiệp. Ai tạo 10 thiện nghiệp sẽ được sanh lên thiện thú. Thấy vậy, biết vậy là chơn, ngoài ra là hư vọng.
4. Không có thiện nghiệp, không có quả báo thiện nghiệp. Ai tạo 10 thiện nghiệp phải đọa vào đọa xứ. Thấy vậy, biết vậy là chơn, ngoài ra là hư vọng.
III. Thế Tôn phê bình 4 quan điểm trên:
1. Quan điểm thứ nhất: Thế Tôn chấp nhận 2 điểm, không chấp nhận 3 điểm.
2. Quan điểm thứ hai: Thế Tôn chấp nhận 1 điểm, không chấp nhận 4 điểm.
3. Quan điểm thứ ba: Thế Tôn chấp nhận 2 điểm, không chấp nhận 3 điểm.
1. Quan điểm thứ tư: Thế Tôn chấp nhập 1 điểm, không chấp nhận 4 điểm.
IV. Thế Tôn giải thích vì sao có 4 loại người trên, có 4 trường hợp trên:
1. Trường hợp thứ nhất: Làm 10 ác hạnh chịu quả báo đọa xứ.
2. Trường hợp thứ hai: Làm 10 ác hạnh được quả báo thiện thú.
3. Trường hợp thứ ba: Làm 10 thiện nghiệp được quả báo thiện thú.
4. Trường hợp thứ tư: Làm 10 thiện nghiệp chịu quả báo đọa xứ.
V. Thế Tôn tổng thuyết có 4 loại nghiệp.
KINH PHÂN BIỆT SÁU XỨ
(Saḷāyatanavibhanga Sutta)
(M.iii, 215)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và nói sẽ giảng về phân biệt sáu xứ.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn tổng thuyết về phân biệt sáu xứ.
II. Thế Tôn biệt thuyết về sáu xứ.
1. Sáu nội xứ cần phải biết.
2. Sáu ngoại xứ cần phải biết.
3. Sáu thức xứ cần phải biết.
4. Sáu xúc thân cần phải biết.
5. 18 ý hành cần phải biết.
6. 36 loại hữu tình cần phải biết.
7. Do y cứ cái này, đoạn tận cái này.
8. Có 3 niệm xứ một bậc Thánh phải thực hành...
9. Trong các vị huấn luyện sư, vị ấy được gọi là Vô thượng Điều ngự sư.
KINH TỔNG THUYẾT BIỆT THUYẾT
(Uddesavibhanga Sutta)
(M.iii, 223)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và nói sẽ giảng về tổng thuyết và biệt thuyết.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn giảng về tổng thuyết, không giải thích rộng rãi rồi đi vào tinh xá.
II. Các Tỷ-kheo thỉnh Tôn giả Kaccna giải thích rộng rãi lời tổng thuyết của Thế Tôn. Ban đầu Tôn giả khiêm tốn từ chối, sau Tôn giả chấp thuận trước lời yêu cầu của các Tỷ-kheo.
III. Tôn giả Kaccna giải thích tổng thuyết:
1. Sao gọi là thức đối với ngoại trần bị tán loạn, bị tản rộng và không bị tán loạn, không bị tản rộng.
2. Sao gọi là tâm trú trước nội trần và tâm không trú trước nội trần.
3. Thế nào là chấp thủ, bị khủng bố. Thế nào là không chấp thủ, không bị khủng bố.
IV. Các Tỷ-kheo thuật lại với Thế Tôn lời thuyết giảng của Tôn giả Kaccna. Thế Tôn tán thán Tôn giả là bậc đại trí tuệ, giải thích đúng như Thế Tôn giải thích và khuyên các Tỷ-kheo nên thọ trì như vậy.
KINH VÔ TRÁNH PHÂN BIỆT
(Araṇavibhanga Sutta)
(M.iii, 230)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo và dạy về Vô tránh phân biệt.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn trình bày tổng thuyết về Vô tránh phân biệt gồm có 7 điểm.
II. Thế Tôn giải thích biệt thuyết về Vô tránh phân biệt:
1. Thế nào là hành trì dục lạc và khổ hạnh.
2. Thế nào là từ bỏ hai cực đoan, có con đường trung đạo.
3. Thế nào là nên biết tán thán, nên biết chỉ trích. Sau khi biết tán thán, biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích, chỉ có thuyết pháp.(KO TÁN THÁN KO CHỈ TRÍCH CHỈ THUYẾT PHÁP)
4. Nên biết phán xét về lạc. Sau khi phán xét về lạc, nên chú tâm vào nội lạc.
5. Không nên nói lời bí mật. Mặt đối mặt không nên nói lời mất lòng.(CHÂN THỰC, KO ƯU NÃO, CÓ MỤC ĐÍCH LÀ NÓI ĐƯỢC)
6. Nên nói từ từ, chớ có vội vàng.
7. Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng.
III. Thế Tôn phân tích thế nào là pháp đưa đến tranh luận, thế nào là pháp không đưa đến tranh luận.
IV. Thế Tôn khuyên nên biết rõ hữu tránh pháp và vô tránh pháp. Sau khi biết vậy, nên hành trì vô tránh pháp.
KINH GIỚI PHÂN BIỆT
(Dhātuvibhanga Sutta)
(M.iii, 237)
A. Duyên khởi:
Thế Tôn ở tại nhà thợ gốm Bhaggava, gặp Pukkusti đã ở tại đấy. Vị này nhân danh Thế Tôn mà xuất gia, nhưng chưa biết Thế Tôn là ai. Thế Tôn thấy Pukkusti có tâm thành nên quyết định thuyết pháp cho Pukkusti.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn tổng thuyết sáu giới phân biệt.
II. Thế Tôn biệt thuyết sáu giới phân biệt:
1. Thế nào là sáu giới.
2. Thế nào là 6 xúc xứ.
3. Thế nào là 18 ý hành.
4. Thế nào là 4 thắng xứ.
5. Thế nào là chớ có buông lung trí tuệ, hãy hộ trì chân đế, hãy tăng trưởng trí tuệ, hãy tu học tịch tịnh:
a. Thế nào là không buông lung trí tuệ.
b. Thế nào là hộ trì chân đế.
c. Thế nào là tăng trưởng trí tuệ.
d. Thế nào là tu học tịch tịnh.
6. Thế nào là được gọi một ẩn sĩ tịch tịnh.
III. Pukkusti nghe thuyết pháp xong, biết ngay vị ấy là Bậc Đạo Sư, bèn xin sám hối vì đã gọi Thế Tôn là Hiền giả, rồi xin Thế Tôn được xuất gia với Thế Tôn.
IV. Trong khi đi tìm y bát, Pukkusti bị con bò húc chết. Thế Tôn ấn chứng Pukkusti đã chứng được quả Bất lai.
KINH PHÂN BIỆT CÚNG DƯỜNG
(Dakkhināvibhanga Sutta)
A. Duyên khởi:
Mahpajpati đến cúng dường Thế Tôn một cặp y. Thế Tôn không nhận, bảo nên đem cúng dường chúng Tăng. Tôn giả nanda yêu cầu Thế Tôn nên nhận cặp y vì Mahpajpati đã giúp ích nhiều cho Thế Tôn. Và Thế Tôn cũng đã giúp ích nhiều cho Mahpajpati. Thế Tôn bèn thuyết giảng kinh này.
B. Chánh kinh:
I. Thế Tôn xác nhận công đức thật vô lượng, nếu một ai giúp đỡ người khác quy y ba ngôi báu, giữ gìn giới luật, có lòng tịnh tín bất động đối với ba ngôi báu, không còn nghi ngờ đối với bốn sự thật.
II. Thế Tôn phân tích có 14 loại cúng dường phân loại theo hạng người và số lượng công đức do các loại cúng dường này đem đến.
III. Thế Tôn phân tích 7 loại cúng dường cho Tăng chúng và xác nhận cúng dường cho chúng Tăng có kết quả công đức to lớn hơn cúng dường cho cá nhân.
IV. Thế Tôn phân tích có 4 sự thanh tịnh trong các loại cúng dường.
KINH GIÁO GIỚI CẤP CÔ ĐỘC
(Anāthapiṇḍikovāda Sutta).
A. Duyên khởi:
Ông Cấp Cô Độc bị bệnh nặng, mời Tôn giả Sriputta đến và cuộc đàm thoại giữa Tôn giả Sriputta và ông Cấp Cô Độc bắt đầu.
B. Chánh kinh:
I. Tôn giả Sriputta hỏi thăm bệnh trạng và ông Cấp Cô Độc cho biết bệnh trạng gia tăng khó lòng kham nhẫn.
II. Tôn giả Sriputta khuyên ông nên học tập như sau:
1. Không chấp thủ 6 căn, và không có thức y cứ 6 căn, 6 trần.
2. Không chấp thủ 6 thức và không có thức y cứ vào 6 thức.
3. Không chấp thủ vào 6 xúc và không có thức y cứ vào 6 xúc.
4. Không chấp thủ thọ do 6 xúc sanh khởi và không có thức y cứ vào thọ do 6 xúc sanh khởi.
5. Không chấp thủ 6 giới (địa, thủy, hỏa, phong, không, thức giới) và không có thức y cứ vào 6 giới.
6. Không chấp thủ 5 uẩn và không có thức y cứ vào 5 uẩn.
7. Không chấp 4 thiền vô sắc và không có thức y cứ vào 4 thiền vô sắc.
8. Không chấp thủ thế giới ở đây, thế giới khác và không có thức y cứ thế giới ở đây và y cứ thế giới khác.
9. Không chấp thủ những gì được thấy, được nghe, được cảm thọ... và không có thức y cứ các pháp nói trên.
III. Sau khi nghe pháp, Cấp Cô Độc mệnh chung sanh làm thiên nhân đến yết kiến Đức Phật và đọc lên bài kệ tán thán ba ngôi báu. Đức Phật xác chứng thiên nhân ấy là ông Cấp Cô Độc.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY=1/8/2020.
No comments:
Post a Comment