Phật bảo ngài Từ Thị:
"Như Ta đã nói với các ông, người ở thế gian bị năm việc xấu ác, năm loại thống khổ, và năm sự thiêu đốt; làm cho khổ sở như thế và sanh khởi tương tục. Họ chỉ làm các điều ác và chẳng tu căn lành. Thế nên tự nhiên phải đọa các đường ác. Hoặc ở hiện đời có tội ác chiêu cảm mà mọi người đều trông thấy. Như là có kẻ bị mắc bệnh hiểm nghèo, cầu chết không được mà cầu sống cũng chẳng xong. Sau khi mạng chung, họ phải sa vào ba đường ác để thọ lấy vô lượng thống khổ, thân tâm bị thiêu đốt đến thời gian rất lâu.
Những người đó cùng nhau kết tạo oán thù; bắt đầu từ nho nhỏ rồi dần đến thành việc đại ác. Đây là do bởi lòng tham lam tài sắc nên chẳng hề chịu bố thí. Tư tưởng bị dục vọng cuồng si bức bách, tâm bị phiền não trói buộc, và chẳng có phương cách giải tỏa. Họ tranh giành lợi dưỡng cho bản thân mà không hề phản tỉnh. Khi được vinh hoa phú quý, họ khoái chí và không thể nhẫn chịu nghịch cảnh hay tu tạo việc lành. Quyền thế nhỏ nhoi, chẳng mấy chốc tiêu tan và rồi phải tự thọ lấy nỗi thống khổ tột cùng về sau. Thiên đạo tự nhiên và ví như lưới giăng bao phủ, trên dưới khắp nơi. Những kẻ ấy khi bị rơi vào trong đó rồi mới lo lắng kinh hoàng. Từ xưa đến nay có những việc thương đau và đáng thương như vậy."
Phật bảo ngài Từ Thị:
"Thế gian là như vậy! Cho nên chư Phật đều thương cảm và dùng sức uy thần để diệt trừ các điều ác và làm cho họ lìa bỏ những tập khí xấu, khiến họ có thể phụng trì Kinh giới, tu hành Đạo Pháp mà chẳng hề xao lãng hay sai phạm. Họ cuối cùng sẽ vượt khỏi thế gian và đắc Đạo tịch diệt."
❖
Đức Phật bảo:
"Ông cùng hàng trời người và những chúng sanh đời sau, khi nghe được lời Phật dạy nên khéo tư duy nghĩa lý, tâm ngay thẳng, và việc làm phải chân chánh. Ví như có vị thống lãnh làm việc lành thì sẽ làm gương cho quần thần. Sau đó quần thần sẽ triển chuyển gương ấy đến kẻ dưới. Tất cả đều nên chánh trực, tôn kính thánh hiền, kính trọng người thiện, nhân từ bác ái, và đừng nên phụ lòng lời khuyên bảo của Như Lai. Tất cả hãy cầu vượt khỏi thế gian, đoạn trừ nguồn gốc của sanh tử và các điều ác. Như thế sẽ xa lìa vô lượng lo sợ và sự thống khổ của ba đường ác.
Các ông nên rộng gieo trồng căn lành, vui bố thí, siêng trì giới, khéo nhẫn nhục, luôn tinh tấn, trụ thiền định, và vào trí tuệ. Sau đó, hãy dạy bảo người khác. Lại phải nên tu đức làm lành và trực tâm chánh ý. Phàm ai có thể trong một ngày một đêm mà ăn chay và trì giới thanh tịnh thì sẽ vượt hơn làm thiện 100 năm ở cõi nước của Đức Phật Vô Lượng Thọ.
Vì sao thế? Bởi cõi nước của Đức Phật kia vô vi tự nhiên đều tích tập các việc lành; việc ác như chừng bằng sợi tóc cũng chẳng có. Như có ai ở thế giới này tu thiện trong mười ngày mười đêm, họ vượt hơn làm thiện 1.000 năm ở các quốc độ của chư Phật phương khác.
Vì sao thế? Bởi dân chúng trong cõi nước của chư Phật phương khác đa số làm việc lành và ít người làm việc ác. Họ tự nhiên làm những việc phước đức và không tạo các việc ác. Trái lại ở thế giới này, việc ác thì nhiều còn việc thiện thì chẳng tự nhiên có. Con người vì dục vọng mà gian nan truy cầu và lợi dụng lẫn nhau. Thế nên, làm cho khổ tâm nhọc xác, như ăn phải vị đắng và uống thuốc độc. Các việc như thế đến chẳng bao giờ thôi nghỉ.
Ta vì thương xót các ông cùng hàng trời người nên hết lòng khuyên nhủ và dạy bảo tu thiện. Ta tùy theo khả năng của mỗi người mà chỉ dẫn và dạy thọ trì Kinh Pháp để đều được chứng Đạo như sở nguyện. Ở những quốc gia hay thành thị xóm làng nào có Phật chu du giáo hóa thì không một ai là chẳng được hóa độ. Nơi đó sẽ thái bình, trời trong trăng sáng, mưa gió thuận hòa, thiên tai và bệnh dịch sẽ không khởi lên, quốc thái dân an, và không có binh lửa chiến tranh. Dân chúng sẽ yêu mến phước đức và giàu lòng nhân từ. Họ sẽ học theo lễ nghĩa và biết khiêm nhường."
❖
Đức Phật bảo:
"Ta thương xót các ông và hàng trời người còn hơn cha mẹ thương nhớ con cái. Ta nay ở thế giới này làm Phật, điều phục năm việc xấu ác, diệt trừ năm loại thống khổ, và đoạn tuyệt năm sự thiêu đốt. Ta dùng thiện để chuyển hóa ác và bạt trừ thống khổ của sanh tử, khiến chúng sanh được năm loại công đức và thăng lên nơi an vui của vô vi. Nhưng sau khi Ta diệt độ, Kinh Pháp sẽ dần dần diệt mất. Dân chúng sẽ bắt đầu gian xảo và làm các việc ác trở lại. Cho nên họ phải thọ lấy năm loại thống khổ và năm sự thiêu đốt như trước kia. Về sau sẽ chuyển thành kịch liệt hơn, khổ không thể tả! Ta vì ông nên mới lược nói như thế."
Phật bảo ngài Từ Thị:
"Các ông hãy khéo tư duy và học hỏi lẫn nhau, phải đúng như Pháp của Phật dạy và cũng đừng vi phạm."
Khi ấy, Từ Thị Bồ-tát chắp tay và bạch Phật rằng:
"Lời của Phật nói rất thâm sâu và chân thiện. Nhân thế quả đúng như vậy. Như Lai với lòng từ bi rộng lớn nên khiến hết thảy đều được độ thoát. Chúng con xin thọ trì lời dạy thâm trọng của Phật và sẽ không dám vi phạm hay lãng quên."
Phật bảo ngài Khánh Hỷ:
"Ông hãy đứng dậy, sửa sang y phục, rồi chắp tay cung kính và hãy đảnh lễ Đức Phật Vô Lượng Thọ. Chư Phật Như Lai ở các quốc độ trong mười phương luôn đồng ngợi khen và tán thán Đức Phật kia, là bậc vô ngại và không chấp trước."
Lúc bấy giờ, ngài Khánh Hỷ đứng dậy, sửa sang y phục, và mặt xoay về hướng tây. Rồi ngài chắp tay cung kính, cúi đầu đảnh lễ sát đất, và đảnh lễ Đức Phật Vô Lượng Thọ.
Sau đó, ngài bạch Đức Phật rằng:
"Bạch Thế Tôn! Con nguyện muốn thấy Đức Phật Kia cùng cõi nước Cực Lạc, chư Bồ-tát và hàng Thanh Văn thánh chúng."
Khi vừa nói lời ấy xong, Đức Phật Vô Lượng Thọ phóng đại quang minh, chiếu khắp tất cả thế giới của chư Phật. Núi Kim Cang, núi Thiết Vi, Vua núi Diệu Cao, và các núi lớn nhỏ, tất cả đều đồng một màu sắc. Ánh sáng giống như nước trùm khắp thế giới khi đến kiếp thủy tai. Hết thảy vạn vật ở trong đó đều chìm chẳng hiện, duy chỉ thấy nước lớn mênh mông. Ánh quang minh của Đức Phật kia cũng lại như vậy. Tất cả hào quang của Thanh Văn và Bồ-tát thảy đều lu mờ, duy chỉ thấy ánh hào quang của Phật sáng chói hiển hách.
Lúc bấy giờ, ngài Khánh Hỷ liền thấy uy đức lồng lộng của Đức Phật Vô Lượng Thọ, như Vua núi Diệu Cao, cao hơn trên tất cả thế giới. Tướng hảo và quang minh của Ngài chiếu sáng trùm khắp. Khi ấy, bốn chúng đệ tử trong Pháp hội này đều đồng một lúc thấy quốc độ kia và đại chúng trong cõi nước đó cũng lại như vậy.
❖
Lúc bấy giờ Phật bảo ngài Khánh Hỷ và Từ Thị Bồ-tát:
"Ông có thấy cõi nước kia, từ dưới đất lên đến các cõi trời Tịnh Cư, tất cả mọi vật ở trong đó đều tự nhiên thanh tịnh và vi diệu trang nghiêm chăng?"
Ngài Khánh Hỷ thưa rằng:
"Dạ vâng, đã thấy!"
"Ông lại có nghe Đức Phật Vô Lượng Thọ dùng âm thanh lớn mà tuyên cáo đến tất cả thế giới để giáo hóa chúng sanh chăng?"
Ngài Khánh Hỷ thưa rằng:
"Dạ vâng, đã nghe!"
"Chúng sanh ở cõi nước kia du hành trong cung điện bảy báu lớn bằng 100.000 yojana đến khắp mười phương để cúng dường chư Phật mà không bị chướng ngại. Ông lại có thấy chăng?"
Ngài Khánh Hỷ thưa rằng:
"Dạ vâng, đã thấy!"
"Có chúng sanh ở cõi nước kia sanh ra từ trong thai của hoa sen ②. Ông lại có thấy chăng?"
Ngài Khánh Hỷ thưa rằng:
"Dạ vâng, đã thấy!"
"Những ai sanh ra từ trong thai của hoa sen sẽ ở trong cung điện rộng lớn 100 yojana hay 500 yojana. Họ thọ hưởng các sự vui sướng nơi đó như ở trời Tam Thập Tam."
Lúc bấy giờ Từ Thị Bồ-tát bạch Phật rằng:
"Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà có những chúng sanh ở cõi nước kia hóa sanh hay sanh ra từ trong thai của hoa sen?"
Phật bảo ngài Từ Thị:
"Nếu có chúng sanh nào nguyện sanh về cõi nước kia nhưng tu các công đức với lòng hoài nghi. Họ không thấu hiểu trí tuệ của Phật, trí tuệ chẳng thể nghĩ bàn, trí tuệ chẳng thể xưng tán, trí tuệ Đại Thừa quảng đại, trí tuệ không ai ngang bằng, trí tuệ tối thắng vô thượng, và nghi ngờ hay chẳng tin các trí tuệ như thế. Tuy nhiên, do bởi tin tội phước cùng tu tập căn lành, và nguyện vãng sanh về cõi nước kia, nên cũng được vãng sanh. Họ sống trong cung điện nơi đó 500 năm và chẳng hề thấy Phật, không nghe Kinh Pháp, chẳng thấy chư Bồ-tát cùng hàng Thanh Văn thánh chúng. Cho nên ở quốc độ kia gọi là sanh ra từ trong thai của hoa sen.
Nếu có chúng sanh nào tin sâu và biết rõ trí tuệ của Phật, cho đến trí tuệ tối thắng, rồi làm các việc công đức và tín tâm hồi hướng, thì những chúng sanh này sẽ ngồi xếp bằng với tư thế hoa sen ở trong hoa sen bảy báu và tự nhiên hóa sanh. Trong khoảnh khắc, thân tướng quang minh và trí tuệ công đức của họ sẽ thành tựu đầy đủ như các Bồ-tát đã ở đó.
Lại nữa, Từ Thị! Nếu có chư đại Bồ-tát nào ở cõi nước phương khác mà phát tâm muốn thấy Đức Phật Vô Lượng Thọ cùng chư Bồ-tát và hàng Thanh Văn thánh chúng để cung kính cúng dường, thì khi những Bồ-tát này mạng chung, họ sẽ vãng sanh đến cõi nước của Đức Phật Vô Lượng Thọ và tự nhiên hóa sanh ở trong hoa sen bảy báu.
Này Từ Thị! Nên biết rằng, những bậc kia có trí tuệ thù thắng, còn những ai sanh ra từ trong thai của hoa sen có trí tuệ thấp kém. Trong 500 năm, họ chẳng hề thấy Phật, không nghe Kinh Pháp, chẳng thấy chư Bồ-tát cùng hàng Thanh Văn thánh chúng. Do họ không thể cúng dường chư Phật và chẳng biết Pháp tu tập của Bồ-tát nên không được công đức. Phải biết đây là do bởi những người này thiếu trí tuệ và khởi lòng hoài nghi ở đời trước."
❖
Phật bảo ngài Từ Thị:
"Ví như Chuyển Luân Thánh Vương có cung điện đặc biệt được trang nghiêm bằng bảy báu với giường nệm, màn che, các lọng che, và tràng phan. Nếu có các tiểu vương tử đắc tội với vua cha, thì sẽ bị giam ở trong cung điện kia và siết lại với ổ khóa vàng. Họ được cung cấp y phục, ẩm thực, giường nệm, và hương hoa âm nhạc như vua Chuyển Luân--không chút thiếu hụt.
Ý ông nghĩ sao? Các vương tử này có vui thích nơi đó chăng?"
Ngài Từ Thị thưa rằng:
"Dạ không! Họ luôn dùng đủ mọi cách và mong có sức mạnh để muốn được ra khỏi."
Phật bảo ngài Từ Thị:
"Những chúng sanh này cũng lại như vậy. Do bởi hoài nghi trí tuệ của Phật nên phải sanh về cung điện kia. Tuy ở đó không có hình phạt và cho đến một niệm nghĩ đến việc ác cũng không, nhưng họ sẽ phải ở trong đó 500 năm. Họ chẳng thấy Tam Bảo và không thể cúng dường hoặc tu các thiện căn. Đây gọi là khổ. Mặc dù có nhiều sự vui sướng nhưng họ chẳng ưa thích nơi đó. Tuy nhiên, nếu những chúng sanh này tỉnh ngộ nghiệp tội của đời trước, rồi ăn năn tự trách, và cầu mong ra khỏi nơi ấy thì lập tức sẽ được như ý. Sau đó, họ liền đến Đạo Tràng của Đức Phật Vô Lượng Thọ và cung kính cúng dường. Họ cũng có thể đến vô lượng vô số Đạo Tràng của chư Như Lai để tu hành các công đức.
Này Từ Thị! Nên biết rằng, nếu có Bồ-tát nào sanh tâm hoài nghi thì sẽ mất những lợi ích to lớn. Vì thế, hành giả phải nên biết và tin sâu trí tuệ vô thượng của chư Phật."
Từ Thị Bồ-tát bạch Phật rằng:
"Bạch Thế Tôn! Ở thế giới này có bao nhiêu Bồ-tát không thoái chuyển đã vãng sanh về cõi nước của Đức Phật kia?"
Phật bảo ngài Từ Thị:
"Ở thế giới này có 67 ức Bồ-tát không thoái chuyển đã vãng sanh về quốc độ ấy. Mỗi vị Bồ-tát đó đều từng cúng dường vô số chư Phật và công đức chỉ sau Từ Thị ông đây. Trong vị lai sẽ có không thể tính xuể các tiểu hạnh Bồ-tát cùng những vị hành giả ít công đức đều sẽ vãng sanh đến đó."
Phật bảo ngài Từ Thị:
"Không chỉ riêng chư Bồ-tát ở quốc độ của Ta sẽ vãng sanh về cõi nước kia, mà các cõi nước của chư Phật ở phương khác cũng lại như vậy.
- Đức Phật thứ nhất hiệu là Viễn Chiếu có 180 ức Bồ-tát và họ đều sẽ vãng sanh đến đó.
- Đức Phật thứ nhì hiệu là Bảo Tạng có 90 ức Bồ-tát và họ đều sẽ vãng sanh đến đó.
- Đức Phật thứ ba hiệu là Vô Lượng Âm có 220 ức Bồ-tát và họ đều sẽ vãng sanh đến đó.
- Đức Phật thứ tư hiệu là Cam Lộ Vị có 250 ức Bồ-tát và họ đều sẽ vãng sanh đến đó.
- Đức Phật thứ năm hiệu là Long Thắng có 14 ức Bồ-tát và họ đều sẽ vãng sanh đến đó.
- Đức Phật thứ sáu hiệu là Thắng Lực có 14.000 Bồ-tát và họ đều sẽ vãng sanh đến đó.
- Đức Phật thứ bảy hiệu là Sư Tử có 500 ức Bồ-tát và họ đều sẽ vãng sanh đến đó.
- Đức Phật thứ tám hiệu là Ly Cấu Quang có 80 ức Bồ-tát và họ đều sẽ vãng sanh đến đó.
- Đức Phật thứ chín hiệu là Đức Thủ có 60 ức Bồ-tát và họ đều sẽ vãng sanh đến đó.
- Đức Phật thứ mười hiệu là Diệu Đức Sơn có 60 ức Bồ-tát và họ đều sẽ vãng sanh đến đó.
- Đức Phật thứ mười một hiệu là Nhân Vương có 10 ức Bồ-tát và họ đều sẽ vãng sanh đến đó.
- Đức Phật thứ mười hai hiệu là Vô Thượng Hoa có không thể tính kể số chư Bồ-tát. Tất cả đều được không thoái chuyển, có trí tuệ dũng mãnh, đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, và ở trong bảy ngày liền có thể nhiếp thủ các Pháp kiên cố của bậc Đại Sĩ tu suốt trăm ngàn ức kiếp. Chư Bồ-tát này đều sẽ vãng sanh đến đó.
- Đức Phật thứ mười ba hiệu là Vô Úy có 790 ức chư đại Bồ-tát, với các tiểu Bồ-tát cùng các vị Bhikṣu [bíc su] nhiều không thể tính kể, và họ đều sẽ vãng sanh đến đó."
Phật bảo ngài Từ Thị:
"Không những chỉ 14 Phật độ trên có chư Bồ-tát ở đó sẽ vãng sanh đến cõi nước kia, mà chư Bồ-tát ở vô lượng thế giới của chư Phật trong mười phương sẽ vãng sanh cũng lại như vậy. Số ấy nhiều vô số kể. Nếu Ta ngày đêm chỉ nói về danh hiệu của mười phương chư Phật cùng chư Bồ-tát và các vị Bhikṣu, sẽ vãng sanh về cõi nước kia đến trọn một kiếp thì cũng chẳng thể hết. Ta nay vì ông nên mới lược nói như thế."
Phật bảo ngài Từ Thị:
"Nếu có ai nghe được danh hiệu của Đức Phật kia và vui mừng hớn hở cho đến chỉ một niệm, thì phải biết người ấy sẽ được lợi ích lớn và đầy đủ công đức vô thượng. Thế nên, Từ Thị! Cho dù có lửa lớn tràn ngập Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới thì hành giả cũng phải nên vượt qua để đến nghe Kinh Pháp này. Nghe xong, lòng hoan hỷ tín mến, thọ trì đọc tụng, và sẽ như Pháp tu hành.
Vì sao thế? Bởi có rất nhiều vị Bồ-tát muốn nghe Kinh này mà chẳng thể được.
Nếu có chúng sanh nào nghe được Kinh này, họ không bao giờ thoái chuyển nơi Đạo vô thượng. Thế nên, họ phải nhất tâm tín thọ, trì tụng thuyết giảng, và như Pháp tu hành.
Ta nay vì các chúng sanh mà thuyết Kinh Pháp này, khiến cho họ thấy Đức Phật Vô Lượng Thọ cùng quốc độ của Ngài, để họ phát tâm tu hành và dứt trừ hoài nghi sau khi Ta diệt độ.
Trong đời vị lai, Kinh Đạo sẽ diệt tận. Ta vì từ bi thương xót nên đặc biệt lưu lại Kinh này trên thế gian thêm 100 năm. Nếu có chúng sanh nào gặp Kinh này, họ sẽ tùy ý như sở nguyện và đều được độ thoát."
Phật bảo ngài Từ Thị:
"Như Lai xuất hiện ở thế gian, khó gặp khó thấy. Kinh Đạo của chư Phật, rất khó được nghe. Các Pháp thù thắng Đến Bờ Kia của chư Bồ-tát cũng khó mà nghe được. Gặp Thiện Tri Thức và có thể tu hành theo Pháp đã nghe thì lại càng khó hơn. Như nghe được Kinh này, rồi tư duy nghĩa ý và tín mến thọ trì, thì là điều khó trong cái khó. Không gì khó hơn việc này.
Vì thế, Pháp của Như Lai là thực hành như vậy, tuyên nói như vậy, và giảng dạy như vậy. Các ông nên tín thuận và như Pháp tu hành."
❖
Khi Thế Tôn thuyết Kinh Pháp này, có vô lượng chúng sanh đều phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. 12.000 nayuta [na du ta] người đắc Pháp nhãn thanh tịnh. 22 ức người và chư thiên đắc Quả Bất Hoàn. 80.000 vị Bhikṣu được lậu tận ý giải. 40 ức chư Bồ-tát được không thoái chuyển với công đức cùng hoằng thệ nguyện mà dùng để trang nghiêm nơi thân. Vào đời vị lai, họ sẽ thành chánh giác.
Bấy giờ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới chấn động sáu cách. Ánh sáng lớn chiếu khắp các quốc độ trong mười phương. Trăm ngàn loại âm nhạc tự nhiên trỗi lên và có vô lượng diệu hoa rơi xuống.
Lúc Phật thuyết Kinh này xong, Từ Thị Bồ-tát cùng chư Bồ-tát đã đến từ mười phương, Trưởng lão Khánh Hỷ, chư đại Thanh Văn, và tất cả đại chúng khi nghe lời Phật dạy, không ai là chẳng hoan hỷ.


No comments:
Post a Comment