Monday, August 26, 2019

Thiền Lâm Bảo Huấn.


-o0o-
 Quyển Thứ Ba
151.- CHỮ HÁN: Tuyết Ðường Hạnh Hòa thượng trụ Tiến Phúc. Nhất nhật vấn tạm đáo Tăng: "Thậm sứ lai?". Tăng vân: "Phúc Châu lai". Tuyết Ðường vân: "Duyên lộ kiến hảo Trưởng lão mạ?". Tăng vân: "Cận quá Tín Châu, Bác Sơn trụ trì Bản Hòa thượng. Tuy bất tằng bái, thức hảo Trưởng lão dã". Tuyết Ðường viết: "An đắc tri kỳ vi hảo?". Tăng vân: "Nhập tự lộ kính khai tịch lang vũ tu chỉnh. Ðìện đường hương đăng bất tuyệt, thần hôn trung cổ phân minh, nhị thời trúc phạn tinh khiết, Tăng hàng kiến nhân hữu lễ, dĩ thử tri kỳ vi hảo Trưởng lão". Tuyết Ðường tiếu viết: "Bản cố hiền hỹ. Nhiên nhĩ diệc cụ nhãn dã". Trực dĩ tư ngôn đạt vu Quận thú Ngô Công Phó Bằng viết: "Giá Tăng trì luận phả loại Phạm Diên Linh tiến Trương Trung Ðịnh Công. Lão Tăng niên mại, khất thỉnh Bản trụ trì, thứ cơ vi lâm hạ thịnh sự". Ngô công đại hỷ. Bản tức nhật thiên Tiến Phúc. 
Ðông Hồ Tập. 
151.- DỊCH NGHĨA: Tuyết Ðường Hạnh Hòa thượng (1) trụ trì chùa Tiến Phúc. Một hôm hỏi một vị Tăng vừa mới tới: "Ông từ đâu lại?". Vị Tăng thưa: "Từ Phúc Châu lại". Tuyết Ðường nói: "Trên quãng đường đi, ông thấy có bậc Trưởng lão nào tốt chăng?". Vị Tăng thưa: "Ðoạn đường qua Tín Châu, có Bản Hòa thượng (2) trụ trì chùa Bác Sơn. Tuy tôi chưa từng lễ bái chào hỏi, nhưng biết được đó là bậc Trưởng lão tốt". Tuyết Ðường nói: "Tại sao biết được đó là bậc Trưởng lão tốt?". Vị Tăng thưa: "Khi vào chùa tôi thấy đường lối rộng rãi, hai bêb hành lang đều được tu chỉnh giải vũ, điện đường hương đăng không gián đoạn, sớm tối chuông trống phân minh, hai thời cơm cháo tinh khiết, Tăng hàng tiếp người có lễ độ. Vì thế nên biết đó là bậc Trưởng lão tốt". Tuyết Ðường mỉm cười nói: "Bản Hòa thượng vốn là người hiền nhưng ông cũng là người có mắt tinh đời". Tuyết Ðường liền đem lời nói này trình bày với quan Quận thú Ngô Công Phó Bằng: "Theo chỗ bàn luận của vị Tăng ấy, sự việc cũng giống như Phạm Diên Linh (3) tiến cử Trương Hy Nhan, và chỗ hiền đức của các hạ (4) cũng không kém gì Trương Trung Ðịnh Công (5). Nay lão Tăng tuổi đã già, xin nhờ Quận thú thỉnh Bản Hòa thượng về trụ trì thay thế, ngõ hầu làm những việc hưng thịnh cho thiền lâm". Ngô Công rất mừng. Ngay ngày hôm ấy Bản Hòa thượng dời về cùa Tiến Phúc. 
Ðông Hồ Tập. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Tuyết Ðường Hạnh: Tuyết Ðường Ðạo Hạnh thiền sư, pháp tự của Phật Nhãn Viễn thiền sư, đời thứ 15 phái Nam Nhạc. 
(2) Bản Hòa thượng: Ngộ Bản thiền sư, trước ở chùa Bác Sơn sau ở chùa Tiến Phúc, pháp tự của Ðại Tuệ thiền sư, đời thứ 16 phái Nam Nhạc. 
(3) Phạm Diên Linh: Thời nhà Tống, Trương Hy Nhan giữ chức Ấp Tể ở Bình Hương. Phạm Diên Linh giữ chức Ðiện Trực, khi kéo quân qua Kim Lăng, Trương Vịnh vâng mệnh vua coi việc tại Kim Lăng. Trương Vịnh hỏi: "Trên quãng đường đi qua, thiên sứ có thấy viên quan nào tốt chăng?". Phạm Diên Linh đáp: "Hôm trước tôi đi qua Bình Hương, thấy viên quan Ấp Tể Trương Hy Nhan là người tốt". Trương Vịnh hỏi: "Sao ông biết là viên quan tốt?". Ðáp: "Từ lúc đi vào cảnh giới đó, tôi thấy cầu cống, đường xá hoàn mỹ, ruộng vườn rộng rãi thênh thang, ngoài đồng nội không có người nông phu lười biếng, trong chợ không có kẻ cờ bạc, ban đêm nghe tiếng trống cầm canh phân minh, tất nhiên tôi biết đó là người thi chính tốt đẹp". Vịnh nói: "Hy Nhan vốn là người hiền, thiên sứ cũng là viên quan tốt". Ngay ngày hôm ấy, Vịnh đem sự việc đó tâu về triều đình. Vua thăng Trương Hy Nhan làm Phát Vận Sứ, Phạm Diên Linh làm Các Môn Hầu. Trương Vịnh tên chữ là Phục Chi, sau được Phong là Ðịnh Quốc Công. 
(4) Các hạ: Các chức Tể Tướng, Tam Công và Quận Thú đều được gọi là Các hạ. 
(5) Trương Trung Ðịnh Công: Người Bộc Châu, đỗ Tiến sĩ đời Tống Thái Tôn, khi làm quan Chi Châu tại Ích Châu, ông ra công đôn đốc việc đắp đê điều, khai khẩn việc dẫn thủy nhập điền, dân vùng đó đều cảm phục. Khi ông mất, được tặng tên hèm là Trung Ðịnh Công. 
152.- CHỮ HÁN: Tuyết Ðường viết: Kim đê thiên lý, hội ư nghĩ nhưỡng. Bạch bích chi mỹ, ly ư hà điếm. Huống vô thượng diệu đạo, phi đặc kim đê bạch bích dã! Nhi tham dục sân khuể phi đặc nghĩ nhưỡng hà điếm dã. Yếu tại chí chi đoan cẩn, hành chi tinh tiến, thủ chi kiên xác, tu chi hoàn mỹ, nhiên hậu khả dĩ tự lợi nhi lợi tha dã. 
Dữ Vương Thập Bằng thư. 
152.- DỊCH NGHĨA: Tuyết Ðường nói: Sức kiên cố của bờ đê dài ngàn dặm, nhưng bị nước làm vỡ vì một ổ kiến. Vẻ đẹp tuyệt vời của ngọc bích trắng tinh, nhưng bị bỏ rơi chỉ vì một vết nhơ. Diệu đạo vô thượng, chẳng những chỉ như bờ đê kiên cố, ngọc bích trong trắng, mà tham dục sân hận chẳng phải chỉ như ổ kiến vết nhơ. Vậy nên người học đạo chỉ cần chí hướng đoan cẩn, hành đạo tinh tiến, giữ đạo kiên xác, tu thân hoàn mỹ, rồi sau mới có thể đem ra để lợi mình lợi người được. 
Thư gởi Vương Thập Bằng (1). 
CHÚ THÍCH: 
(1) Vương Thập Bằng: tên chữ là Quy Linh, người đất Hạc Thanh, học sĩ của Long Ðồ Các. Năm thiệu Hỷ thứ ba, được tặng tên là Trung Văn. 
153.- CHỮ HÁN: Tuyết Ðường viết: Dư tại Long Môn thời, Bính Thiết Diện trụ Thái Bình. Hữu ngôn: "Bính hành cước ly hương vị cửu, văn thụ nghiệp nhất tịch di hỏa, tất vi ổi tẫn". Bính đắc thư trịch chi ư địa nãi viết: "Ðồ loạn nhân ý nhĩ". 
Ðông Hồ Tập. 
153.- DỊCH NGHĨA: Tuyết Ðường nói: Khi ta ở chùa Lông Môn, Bính Thiết Diện ở chùa Thái Bình. Có người nói với ta: "Bính đi hành cước xa làng chưa bao lâu, nghe biết nơi thầy thụ nghiệp bị cháy vào một buổi chiều, thiêu rụi hết cả đồ vật". Bính nhận được thư liền quăng xuống đất và nói: "Chỉ làm loạn ý người ta vậy". 
Ðông Hồ Tập. 
154.- CHỮ HÁN: Tuyết Ðường vị Hối Am Quang Hòa thượng viết: Dư nhược quán chi niên, Kiến Ðộc cư sĩ ngôn: "Trung vô chủ bất lập, ngoại bất chính bất hành. Thử ngữ nghi chung thân tiền chi, thánh hiền sự nghiệp bỉ hỹ". Dư bội kỳ ngữ. Tại gia tu thân, xuất gia học đạo. Dĩ chí xuất thân lâm chúng như hành thạch chi định trọng khinh, qui củ chi thành phương viên, xả thử tắc sự sự thất chuẩn hỹ. 
Quảng Lục. 
154.- DỊCH NGHĨA: Tuyết Ðường bảo Hối Am Quang Hòa thượng: Ta tới tuổi nhựợc quán (1), Kiến Ðộc cư sĩ (2) dạy ta rằng: "Trong tâm không có chủ đích thì không lập được thân, bề ngoài không chính đính thì không làm được việc. Cần phải trọn đời noi theo lời nói này, thì sự nghiệp của hiền thánh tất sẽ được đầy đủ". Ta giữ gìn lời nói đó, khi còn ở tại gia dùng để sửa mình, khi đã xuất gia dùng để học đạo. Dĩ chí khi xuất thân tới chúng, ta cũng xem đó như là quả cân để định nặng nhẹ, như quy củ để nặn thành đồ vuông tròn, nếu mà đem bỏ thì mọi việc sẽ mất tiêu chuẩn vậy. 
Quảng Lục. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Nhược quán: Ngày xưa, người đến tuổi 20 gọi là tuổi nhược, lúc đó mới cho đội mũ, nên 20 tuổi trở lên gọi là nhược quán. 
(2) Kiến Ðộc cư sĩ: tức thân phụ của Tuyết Ðường hòa thượng. 
155.- CHỮ HÁN: Tuyết Ðường viết: Cao Am lâm chúng tất viết: "Chúng trung tu tri thức giả!" Dư nhân vấn kỳ cố. Cao Am viết: "Bất kiến Qui Sơn đạo: Cử thố khán tha thượng lưu, mạc mạn tùy ư dong bỉ. Bình sinh tại chúng, bất trầm ư hạ ngu giả giai xuất thử ngữ. Trù nhân quảng chúng trung bỉ giả đa thức giả thiểu. Bỉ giả dị tập, thức giả nan thân. Quả năng tự phấn chí ư kỳ gian. Như nhất nhân dữ vạn nhân địch, dong bỉ chi tập lực tận, chân đĩnh đặc một lượng hán dã". Dư chung thân tiễn kỳ ngôn, thủy đắc bất phụ xuất gia chi chí. 
Quảng Lục. 
155.- DỊCH NGHĨA: Tuyết Ðường nói: Cao Am tới chúng tất nói: "Ở trong chúng nên biết có người trí thức". Ta nhân hỏi nguyên cớ đó. Cao Am nói: "Ông chẳng thấy Qui Sơn nói: Ðộng tỉnh phải bắt chước thượng lưu, chớ nông nổi theo bọn hèn kém. Bình sinh ở trong chúng mà không bị chìm đắm trong đám hạ ngu, đều là những người xuất thân từ ở lời nói này. Trong nơi trù nhân quảng chúng, kẻ hèn thì nhiều, người trí lại ít. Tập theo kẻ hèn kém thì dễ, thân với người thức giả thì khó. Nếu quả thật, tự mình hay phấn chí ở trong đó, cũng chẳng khác chi như một người địch lại muôn người, tất cái thói tập theo hèn kém kia phải kiệt sức, mà trở thành người siêu việt tuyệt trác vậy". Ta trọn đời tuân theo lời nói đó nên mới tới được chỗ không phụ cái chí của người xuất gia. 
Quảng Lục. 
156.- CHỮ HÁN: Tuyết Ðường vị Thả Am viết: Chấp sự tu quyền trọng khinh, phát ngôn yếu tiên tư lự. Vụ hợp trung đạo vật sử thiên phả. Nhược thương thốt bạo dụng, tiển khắc hữu tế. Tựu sử đắc thành, nhi chung bất năng vạn toàn. Dư tại chúng trung, bi kiến lợi bệnh. Duy hữu đức giả dĩ khoan phục nhân. Thường nguyện hậu lai hữu chí lực giả thẩm nhi hành chi, phương vi mỹ lợi. Linh Nguyên thường viết: "Phàm nhân bình cư nội chiếu đa năng hiểu liễu. Cập thiệp sự ngoại trì, tiện quai hỗn dong, táng kỳ pháp thế. Tất dục tư thiệu Phật Tổ chi nhậm, khả địch hậu côn, bất khả bất thuờng tự kiểm trách dã". 
Quảng Lục. 
156.- DỊCH NGHĨA: Tuyết Ðường bảo Thả Am: Làm việc gì cũng phải cân nhắc nặng nhẹ, phát ngôn cần phải suy nghĩ trước sau, cốt sao cho hợp với trung đạo chớ để thiên lệch. Nếu dùng việc hấp tấp vội vàng, thì việc đó ít hay thành tựu, ví khiến có thành tựu chăng nữa, cũng chẳng được vẹn toàn. Ta ở trong chúng, thấy đầy đủ những việc tổn ích (1), duy chỉ người có đức, đem lòng khoan dung để khuất người, thường mong kẻ hậu lai, những người có chí lực phải xét đó mà làm theo, mới là điều ích lợi tốt đẹp. Linh Nguyên nói: "Phàm con người ở lúc bình thường soi vào nội tâm, thì phần nhiều thấy tâm sáng suốt tỏ rõ, kịp tới khi giao thiệp với sự việc ở bên ngoài, thì tâm thường hay bị ngang trái hổn độn, làm mất mát pháp thể. Vậy nên biết, nếu ai muốn nghĩ tới nhiệm vụ nối dõi Phật Tổ, mở bảo dắt dẫn hậu côn, không thể không thường tự kiểm trách". 
Quảng Lục. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Tổn ích: Dịch ở chữ lợi bệnh. Làm việc gì tổn đến người gọi là bệnh, làm việc ích cho người là lợi. 
157.- CHỮ HÁN: Ứng Am Hoa Hòa thượng trụ Minh Quả. Tuyết Ðường vị thường nhất nhật bất quá tòng. Giản hữu thiết nghị giả. Tuyết Ðường viết: "Hoa Ðiệt vi nhân bất duyệt lợi cận danh, bất tiên dụ hậu hủy, bất a dung cẩu hợp, bất nịnh sắc sảo ngôn. Gia dĩ kiến đạo minh bạch, khứ trụ tiêu nhiên, nột tử trung nan đắc. Dự cố trọng chi". 
Thả Am Dật Sự. 
157.- DỊCH NGHĨA: Ứng Am Hoa (1) Hòa thượng trụ trì chùa Minh Quả. Tuyết Ðường chưa từng một ngày nào chẳng qua thăm. Hoặc có kẻ bàn lén về việc này. Tuyết Ðường nói: "Hoa Ðiệt là người chẳng thích lợi, chẳng cầu danh, chẳng trước khen sau chê, chẳng a dung cẩu hợp, chẳng nịnh sắc xảo ngôn. Hơn nữa lại là người thấu đạo tỏ rõ, cách đi đứng khoan thai, trong hàng nột tử khó có ai được thế, nên ta rất kính trọng". 
Thả Am Dật Sự. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Ứng Am Hoa: Ứng An Ðàm Hoa thiền sư, pháp tự của Hổ Khâu Long thiền sư, đời thứ 16 phái Nam Nhạc. 
158.- CHỮ HÁN: Tuyết Ðường viết: Học giả khí thắng chí tắc vi tiểu nhân, chí thắng khí tắc vi đoan nhân chính sĩ, khí dữ chi tề vi đắc đạo hiền thánh. Hữu nhân cương ngận, bất thụ qui giản, khi sử nhiên dã. Ðoan chính chi sĩ, tuy cường sử vi bất thiện, ninh tử bất nhị, chí sử nhiên dã. 
Quảng Lục. 
158.- DỊCH NGHĨA: Người học mà khí thắng chỉ là tiểu nhân, chí thắng khí là đoan nhân chính sĩ, chí với khí ngang nhau là hiền thánh đắc đạo. Người cứng cỏi chẳng chịu tuân theo qui củ và lời can gián, đó là bị khí nó sai khiến. Kẻ sĩ đoan chánh, dù có cưỡng bách làm điều bất thiện, thì dù chết cũng chẳng hai lòng, đó là chí nó đưa đến như vậy. 
Quảng Lục. 
159.- CHỮ HÁN: Tuyết Ðường viết: Cao Am trụ Vân Cư. Phổ Vân Viên vi Thủ tọa. Nhất Tài Tăng vi Thư ký. Bạch Dương Thuận vi Tạng chủ. Thông Ô Ðầu vi Tri khách. Hiền Chân Mục vi Duy Na. Hoa Ðiệt vi Phó tự. Dụng Ðiệt vi Giám tự. Giai thị hữu đức nghiệp giả. Dụng Ðiệt tầm thường liêm ước bất điểm thường tru du. Hoa Ðiệt nhân hý chi viết: "Dị thời tố Trưởng lão, tu thị tỷ khổng đoan chính thủy đắc, khởi khả dĩ thử vi đắc da?" Dụng Ðiệt bất đối. Dụng Ðiệt xử kỷ tuy kiệm, dữ nhân thậm phong, tiếp nạp tứ lai, lược vô quyện sắc. Cao Am nhật nhật kiến chi viết: "Giám tự dụng ngôn tâm cố nan đắc. Cánh tu chiếu quản thường trụ vật linh sơ thất". Dựng Ðiệt viết: "Tại mổ thất vi tiểu quá. Tại Hòa thượng ngôn hiền đãi sĩ, hải nạp sơn dung, bất vấn tế vi thành vi đại đức". Caoi Am tiếu nhi dĩ. Cố tùng lâm hữu Dụng Ðại Oản chi xưng. 
Dật Sự. 
159.- DỊCH NGHĨA: Tuyết Ðường nói: Cao Am khi trụ trì chùa Vân Cư. Phổ Vân Viên (1) làm Thủ tọa (2). Nhất Tài Tăng (3) làm Thư ký (4). Bạch Dương Thuận (5) làm Tạng chủ (6). Thông Ô Ðầu (7) làm Tri khách (8). Hiền Chân Mục (9) làm Duy Na (10). Hoa Ðiệt (11) làm chức Phó tự (12). Dung Ðiệt (13) làm chức Giám tự (14). Ðiều là những vị gồm đủ đức nghiệp. Dụng Ðiệt là người luôn luôn thanh liêm kiệm ước, không thắp đèn dầu của thường trụ. Hoa Ðiệt thấy thế nói bởn rằng: "Một ngày kia, ông làm Trưởng lão, cần phải có người hổng mũi ngay thẳng (15) mới được, đâu có thể lấy việc nhỏ này làm chỗ sở đắc vậy ư?". Dung Ðiệt không đáp lại. Dung Ðiệt tuy tiết kiệm với bản thân, nhưng đối xử với người rất hậu, tiếp đãi thu nạp hàng nột tử từ bốn phương, lại không tỏ lộ dáng điệu mệt nhọc. Một hôm Cao Am thấy vậy liền nói: "Chỗ dụng tâm của Giám tự thực khó ai có được. Nhưng cần phải soi xét tới công việc của thường trụ, chớ để cho sơ khoáng thất thố". Dung Diệt thưa: "Ở phần tôi có chỗ sơ sót cũng chỉ là phần lỗi nhỏ. Còn ở phần Hòa thượng phải tôn người hiền đãi kẻ sĩ, độ lượng lớn hàm chứa như bể cả, tâm bao dung như núi cao, chẳng hỏi đến việc nhỏ bé, thực là người có đức lớn!". Cao Am mỉm cười. Vì thế nên có tên là Dung Ðại Oản trong chốn tùng lâm. 
Dật Sự. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Phổ Vân Viên: Phổ Vân Tự Viên thiền sư, pháp tự của Bạch Vân Ngộ, đời thứ 16 phái Nam Nhạc. 
(2) Thủ tọa: Vị đứng đầu trong chúng Tăng, người tiêu biểu trong tùng lâm, làm nhãn mục cho nhân thiên, khai tràng thuyết pháp, tiếp dẫn hậu côn. 
(3) Nhất Tài Tăng: Tuyết Quả Pháp Nhất thiền sư, pháp tự của Thảo Ðường Thanh. 
(4) Thư ký: Người giữ gìn về văn thư sổ sách, sớ bảng trong chốn tùng lâm. 
(5) Bạch Dương Thuận: Bạch Dương Pháp Thuận thiền sư, pháp tự của Phật Nhãn Viễn, đời thứ 15 phái Nam Nhạc. 
(6) Tạng chủ: Người coi giữ Tam Tạng kinh điển, thông hiểu nghĩa lý, biết phân chia mục lục trong ba tạng kinh để dễ bề nghiên cứu. 
(7) Thông Ô Ðầu: Bắc Sơn Pháp Thông thiền sư, pháp tự của Trương Lư Liễu Thanh. 
(8) Tri khách: Người trông coi tân khách, ứng tiếp hai hàng xuất gia và tại gia. 
(9) Hiền Chân Mục: Chính Hiền Chân Mục thiền sư, pháp tự của Phật Nhãn Viễn, đời thứ 15 phái Nam Nhạc. 
(10) Duy Na: Người giữ kỷ cương trong Tăng chúng, làm cho Tăng chúng trong ngoài êm đẹp, nên lại có tên là Duyệt Chúng. 
(11) Hoa Ðiệt: tức Ðàm Hoa thiền sư. 
(12) Phó tự: Chức coi việc chi thu xuất nhập, tiền bạc thóc lúa. 
(13) Dụng Ðiệt: Song Tâm Ðức dụng thiền sư, pháp tự của Cao Am Thiện Ngộ. 
(14) Giám Tự: Tiếng Phạn là Ma Lam Ðế, Tàu dịch là Tư chủ, nay gọi là Giám viện, hoặc Giám tự, trông nom coi sóc công việc Tam Bảo, ứng tiếp quan khách, làm việc nghiêm minh, công bằng, không để trên dưới oán hận. 
(15) Hổng mũi ngay thẳng: Ý nói, tỏ lộ hoàn toàn được pháp thân đạo thế. 
160.- CHỮ HÁN: Tuyết Ðường viết: Học giả bất tri đạo chi sở hướng. Tắc tầm sư hữu dĩ xam khấu chi. Thiện tri thức bất khả dĩ đạo chi độc hóa. Cố giả học giả tán hựu chi. Thị dĩ chủ chiêu đề hữu đạo đức chi sư. Nhi thành pháp xã tất hữu hiền trí chi nột tử. Thị vi hổ khiếu phong liệt, long tương vân khởi. Tích Giang Tây Mã Tổ nhân Bách Trượng Nam Tuyền nhi hiển kỳ đại cơ đại dụng. Nam Nhạc Thạch Ðầu đắc Dược Sơn Thiên Hoàng nhi trứ kỳ đại trí đại năng. Sỡ dĩ thiên tải nhất hợp, luận thuyết vô nghi. Dực nhiên nhược Hồng Mao chi ngộ phong, bái hồ tự cự ngư chí túng hác. Giai tự nhiên chi thể dã. Toại chi kiến tùng lâm công huân, tăng Phật Tổ quang diệu. Tiên Sư trụ Long Môn. Nhật tịch vị dư viết: "Ngã vô đức nghiệp bất năng hạo qui hồ hải nột tử. Chung quí lão Ðông Sơn dã". Ngôn tất tiềm nhiên. Dư thường tư chi. Kim vị nhân sư pháp giả, dữ cổ nhân tương khứ vạn bội hỹ. 
Dữ Trúc Am thư. 
160.- DỊCH NGHĨA: Tuyết Ðường nói: Người học đạo khi chưa biết phương hướng của đạo, cần phải tìm thầy bạn để tham hỏi. Bậc thiện tri thức không thể đem đạo giáo hóa đơn độc, mà phải nhờ người học đạo giúp đở phù trì. Bởi thế, làm chủ ngôi chùa tất phải có những bậc thầy đạo đức, lập thành pháp hội, tất có những nột tử hiền trí. Ðó cũng giống như hổ gầm gió manh, rồng cuộn mây bay. Xưa kia Mã Tổ (1) đất Giang Tây nhờ có Bách Trượng (2) Nam Tuyền (3) mà hiển được đại cơ đại dụng. (Chỗ này dịch thiếu một đoạn). Thật là ngàn năm một lần trùng hợp, luận thuyết không còn ngờ. Phất phới như lông hồng gặp gió, cuồn cuộn như cá lớn về khơi. Ðều là cái thế tự nhiên vậy. Rồi đến kiến lập được công huân của tùng lâm, tăng phần rực rỡ của Phật Tổ. Tiên Sư trụ trì chùa Long Môn, nhân một buổi chiều bảo tôi: "Ta không có đức nghiệp nên không hay qui nạp sâu rộng được các hàng nột tử khắp nơi hồ hải, thật đáng hổ thẹn với lão Tăng chùa Ðộng Sơn". Ngài nói xong rồi buồn rầu rơi lệ. Tôi thường nghĩ lại việc đó mà suy đến ngày nay những người làm bậc thầy khuôn mẫu cho đời đem so sánh với cổ nhân thì xa cách nhau gấp muôn lần vậy. 
Thư gởi Trúc Am (7). 
CHÚ THÍCH: 
(1) Mã Tổ: Mã Tổ Ðạo Nhất thiền sư, pháp tự của Nam Nhạc Hoài Nhượng. 
(2) Bách Trượng: Bách Trượng thiền sư, pháp tự của Mã Tổ Ðạo Nhất. 
(3) Nam Tuyền: Nam Tuyền tham học với Mã Tổ ở núi Ðại Hùng mà đốn ngộ được đại sự, hiển liễu được đại dụng, biệt hiệu là Phổ Minh thiền sư. 
(4) Thạch Ðầu: Vì ngài trụ ở một am nhỏ trong chùa Nam Tự, đỉnh núi Hành Sơn, nên có biệt hiệu là Thạch Ðầu. Tên cũ của ngài là Hy Thiên thiền sư. 
(5) Dược Sơn: Dược sơn Tinh Nghiễm thiền sư, pháp tự của Thạch Ðầu Hy Thiên. 
(6) Thiên Hoàng: Thiên Hoàng Ðạo Ngộ thiền sư, pháp tự của Thạch Ðầu Hy Thiên. 
(7) Trúc Am: Trúc Am sĩ Khuê thiền sư, pháp tự của Phật Nhãn Viễn. 
161.- CHỮ HÁN: Tuyết Ðường viết: Dư tại Long Môn thời Linh Nguyên trụ Thái Bình. Hữu tư di phi ý nhiễu chi. Linh Nguyên dữ tiên sư thư viết: "Trực khả dĩ hành đạo, đãi bất khả vi. Uổng khả dĩ trụ trì thành phi ngã chí. Bất như phóng ý ư thiên nham vạn hác chi gian. Nhật bão sơ túc dĩ toại dư sinh, phục hà quyền quyền hồ". Bất tuần tiếp gian hữu Hoàng Long chi mệnh. Nãi thừa hứng qui Giang Tây. 
Thông Thủ Tọa Ký Văn. 
161.- DỊCH NGHĨA: Tuyết Ðường nói: (1)"Khi ta ở chùa Long Môn. Linh Nguyên ở chùa Thái Bình. Linh nguyên bị quan Hữu Tư đem điều vô lý sách nhiễu, liền viết thư gởi về tiên sư có nói: "Nếu đem tâm ngay thẳng để làm việc đạo, hầu như không thể thi thố được, còn nếu đem tâm cong queo để trụ trì quả thật là không phải chí hướng của tôi. Nên chẳng bằng tôi phóng ý trong khoảng núi hang trùng điệp, ngày ăn thóc cỏ vực, để độ quãng đời sống còn thừa lại, sao cứ khư khư giữ việc như thế này vậy ư?" Thư gởi đi không đầy mười hai ngày (2) thì nhận được lệnh của Hoàng Long, Linh Nguyên liền vui vẻ trở về đất Giang Tây. 
Thông Thủ Tọa Ký Văn. 
CHÚ THÍCH: 
(1: Thiên này đại ý nói sự việc tiến thoái, đi hay ở của các bậc cổ đức thì tự do tự tại. 
(2) Mười hai ngày: Dịch ở chữ Bất tuần tiếp gian. Tuần là 10 ngày. Tiếp là 12 ngày. Chạy quanh khắp một vòng 12 chi tứ Tý đến Hợi gọi là tiếp thời. 
162.- CHỮ HÁN: Tuyết Ðường viết: Linh Nguyên hiếu tỷ loại nột tử viết: Cổ nhân hữu ngôn: "Thí vi thổ mộc ngẫu nhân tương tự.Ví mộc ngẫu nhân, nhĩ tỵ tiên đục đại, khẩu mục tiên dục tiểu. Nhãn hoặc phi chi, nhĩ tỵ đại khả dĩ tiểu, khẩu mục tiểu khả dĩ đại. Vi thổ ngẫu nhân, nhĩ tỵ tiên dục tiểu, khẩu mục tiên dục đại. Nhãn hoặc phi chi, nhĩ tỵ tiểu khả dĩ đại, khẩu mục khả dĩ tiểu!" Phù thử ngôn tuy tiểu khả dị dụ đại hỹ. Học giả lâm sự thủ xã, bất yểm tam tư. Khả dĩ vi trung hậu chi nhân dã. 
Ký Văn. 
162.- DỊCH NGHĨA: Tuyết Ðường nói: Linh Nguyên thích đem sự vật so sánh với các nột tử rằng: Cổ nhân (1) có nói: "Ví như người thợ tượng, làm tượng bằng đất hay bằng gỗ. Người thợ làm tượng gỗ, thì trước hết phải làm tai và mũi lớn, miệng, mắt nhỏ. Nếu hoặc có người chê trách, thì tai mũi lớn có thể làm cho nhỏ, miệng mắt nhỏ có thể làm cho lớn. Người làm tượng đất, thì tai mũi trước hết phải làm cho nhỏ, miệng mắt phải để lớn. Nếu hoặc có người chê trách, thì tai mũi nhỏ có thể làm cho lớn, miệng mắt lớn có thể làm cho nhỏ". Ôi! lời nói này tuy là tầm thường, nhưng có thể lấy để dụ cho những việc lớn. Người học đạo, một khi sự việc nó tới, mà biết lựa chọn việc đó nên làm hay bỏ, cần phải trải qua ba lần suy nghĩ (2), mới có thể cho đó là người trung hậu được. 
Ký Văn. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Cổ nhân: Chỉ vào Hoàn Hách Hàn Phi Tử đua ra lời dẫn dạy này. 
(2): Lời sách Luận Ngữ ba lần suy nghĩ rồi sau mới làm. 
163.- CHỮ HÁN: Tuyết Ðường viết: Vạn Am tống Cao Am quá Thiên Thai hồi vị dư ngôn: Hữu Ðức Quán Thủ Tọa, ẩn Cảnh Tinh nham tam thập tải, ảnh bất xuất sơn. Long Học Cảnh Công vi quận. Ðặc dĩ Thụy Nham nghinh chi, Quán từ dĩ kệ viết: 
"Tam thập niên lai độc yển quan, 
Sứ phù na đắc đáo thanh san. 
Hưu tương tỏa mạt nhân gian sự, 
Hoán ngã nhất sinh lâm hạ nhàn". 
Sứ mệnh tái chí trung bất tựu. Cảnh Công thán viết: "Kim nhật Ẩn Sơn chi lưu dã". Vạn Am viết: "Bỉ hữu lão túc năng ký kỳ ngữ giả, nãi viết: Bất thể đạo bản, một nịch sinh tử, xúc cảnh sinh tâm, tùy tình động niệm, lang tâm hồ ý, xiểm hành cuống nhân, phụ thế a dung, tuẫn danh cẩu lợi, quai chân trục vọng, bối giác hiệp trần, lâm hạ đạo nhân, chung bất vi dã". Dư viết: "Quán diệc Tăng trung gián khí dã". 
Dật Sự. 
163.- DỊCH NGHĨA: Tuyết Ðường nói: Vạn Am (1) đưa Cao Am qua chùa Thiên Thai, lúc trở về nói với ta rằng: "Có Ðức Quán (2) Thủ Tọa ở ẩn dật trong núi Cảnh Tinh đã ba mươi năm trời, không hề bước chân ra khỏi núi. Quan Quận Thú Long Học Cảnh Công, đặc biệt ưu ái, muốn đón ngài về chùa Thụy nham, Ðức Quán viết bài kệ từ chối: 
Ba mươi năm trọn lánh trần ai, 
Bỗng được quan sai sứ (3) lại mời. 
Việc vụn nhân gian đừng đổi chác, 
Ðời nhàn rừng núi cuộc đời tôi". 
Cảnh Công lại sai sứ đến lần thứ hai, nhưng ngài vẫn cố từ. Cảnh Công than: "Ðó là dòng của Ẩn Sơn (4) ngày nay vậy". Vạn An nói: "Chủa Thiên Thai có bậc lão Tăng, ghi lại được lời nói của Ðức Quán Thủ Tọa rằng: Chẳng liễu được gốc đạo, chìm đắm bể sanh tử. Xúc cảnh liền sanh tâm, tùy tình động niệm dấy. Tâm ý như hổ lang, xiểm nịnh lừa dối người. Cậy thế lực a tòng, theo danh và trục lợi. Bỏ chân theo đuổi vọng, trái giác hợp với trần. Ðều là những việc mà người tu đạo nơi rừng núi, trọn chẳng bao giờ làm". Ta nói: "Ðức Quán cũng là một anh tài (5) trong hàng Tăng". 
Dật Sự. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Vạn Am: Ðông Lâm Vạn Am Ðạo Nham thiền sư, pháp tự của Ðại Tuệ Cảo, đời thứ 16 phái Nam Nhạc. 
(2) Ðức Quán: Ðức Quán Thủ Toa, pháp tự của Phật Nhãn Viễn, đời thứ 15 phái Nam Nhạc. 
(3) Sứ lại mời: Dịch ở chữ Sứ phù. Ở đời nhà Hán vua hay quan muốn phái khiến sứ thần đi đâu, thì giao cho thanh tre dài sáu tấc, tách ra làm hai mảnh, cùng ăn khớp với nhau để làm tín hiệu. 
(4) Ẩn Sơn: Ðàm Châu Long Sơn Hòa thượng, cũng gọi là Ẩn Sơn Hòa thượng, pháp tự của Mã Ðại Sư. 
(5) Anh tài: Dịch ở chữ Gián khí, có nghĩa là con người xuất cách không can dự với đời, tức là người anh tài rất hiếm có. 
164.- CHỮ HÁN: Tuyết Ðường sinh phú quý chi thất. Vô kiêu cứ chi thái. Xử cung tiết kiệm, nhã bất sự vật. Trụ Ô Cự sơn. Nột tử hữu hiến thiết kính giả. Tuyết Ðường viết: "Khê lưu thanh thử, mao phát khả giảm, súc thử hà vi". chung khước chi. 
Hành Thực. 
164.- DỊCH NGHĨA: Tuyết Ðường sanh trưởng trong gia đình giàu sang (1), mà không có thái độ kiêu căng, sống nếp sống thanh nhã, chẳng ham chuộng vật chất. Khi ở núi Ô Cư, có một nột tử dâng ngài tấm gương sắt. Tuyết Ðường nói: "Nước trong nơi khe suối, có thể soi rõ được cả lông tóc, tích trử vật này làm chi". Ðoạn ngài khước từ không nhận. 
Hành Thực. 
CHÚ THÍCH: 
(1): Cha của Tuyết Ðường là Kiến Ðộc cư sĩ, một người rất giàu sang lại có địa vị cao quý. 
165.- CHỮ HÁN: Tuyết Ðường nhân từ trung thứ tôn hiền kính năng. Hý tiếu lý ngôn, hãn xuất vu khẩu. Vô tuấn trở bất bạo nộ. Chí ư khứ tựu chi tế, cực vi giới khiết. Thường viết: "Cổ nhân học đạo ư ngoại vật đạm nhiên, vô sở thị hiếu. Dĩ chí vong thế vị khứ thanh sắc. Tự bất miễn nhi năng. Kim chi học giả, tố tận kỹ lưỡng, trung bất nại hà. Kỳ cố hà tai. Chí bất kiên sự bất nhất, bả tác thất tự gian nhĩ". 
Hành Thực. 
165.- DỊCH NGHĨA: Tuyết Ðường là người nhân từ trung thứ, tôn bậc hiền đức kính kẻ tài năng. Những lời đùa cười thô tục ít khi buột ra ngoài miệng. Tính không nghiêm khắc cũng không giận dữ. Ngay cả lúc đi lại cũng rất mực ngay thẳng tinh khiết. Ngài thường nói: "Sự học đạo của cổ nhân, đối với ngoại vật thản nhiên không có gì ham muốn. Dĩ chí còn quên cả thế vị, bỏ cả thanh sắc tựa như những việc chẳng gắng sức trừ bỏ được mà hay bỏ một cách dễ dàng. Người học đạo ngày nay, thì làm tất cả các tài nghệ, chẳng nề hà việc chi, đó là cớ gì vậy? Chỉ vì chí chẳng bền, việc không chuyên nhất, mà có làm việc gì chăng nữa cũng chỉ là tắc trách". (1) 
Hành Thực. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Tắc trách: Dịch ở chữ 'Thất tự gian", lời tục ngữ của địa phương, có nghĩa là không thiết yếu. 
166.- CHỮ HÁN: Tuyết Ðường viết: Tử Tâm trụ Vân Nham. Thất trung hiếu nộ mạ. Nột tử giai vọng nhai nhi thoái. Phương Thị Giả viết: "Phù vi thiện tri thức. Hành Phật Tổ chi đạo, hiệu lênh nhân thiên. Ðưong thị học giả như xích tử. Kim bất năng thi thảm đát chi ưu, thùy phủ thuần chi ân, dụng trung hòa chi giáo. Nại hà như cừu thù, kiến tắc cấu mạ. Khởi thiện trí thức dụng tâm hồ". Tử Tâm duệ trụ trượng xấn chi viết: "Nhĩ kiến giải như thử, tha nhật xiểm phụng thế vị, cẩu mị quyền hào, tiện mãi Phật pháp, khi võng tủng tục định hỹ. Dư bất nhẫn, cố dĩ trọng ngôn kích chi. An hữu tha tai. Dục kỳ tri xỉ cải quá hoài mộ bất vong, dị nhật tố hảo nhân nhĩ". 
Thông Thủ Tọa Ký Văn. 
166.- DỊCH NGHĨA: Tuyết Ðường nói: Tử Tâm trụ trì chùa Vân Nham. Trong chốn trượng đường, ngài hay có tính nóng giận chửi mắng. Các hàng nột tử vì thế đều nhìn về phía trời xa thẳm mà lần lượt ra đi. Phương Thị Giả (1) nói: "Ôi! Bậc thiện tri thức, thực hành đạo của Phật Tổ, làm hiệu lệnh cho nhân thiên nên phải coi người học như con đỏ. Nay ngài lại chẳng rủ lòng lo lắng thương hại ban bố ân huệ, nuôi nấng vỗ về, dùng lời dạy bảo trung hòa, tại sao lại coi họ như cừu thù, thấy thời mắng nhiếc, đâu có phải là chỗ dụng tâm của bậc thiện trí thức vậy ư?". Tử Tâm liền cầm chiếc gậy đương chống đuổi Phương Thị Giả và nói: "Chỗ thấy nghe hiểu biết của ông như thế, ngày kia tất sẽ xu nịnh sùng chuộng kẻ thế vị, ton hót kẻ hào quyền, bán rẻ cả Phật pháp, lừa dối đám ngu hèn. Vì ta không nỡ thấy những việc như thế, nên ta nặng lời kích động, để họ gắng chí, nào có ý gì khác đâu. Ta chỉ muốn cho họ biết hổ thẹn để sửa lỗi, ghi tạc vào tâm khảm đừng quên, mong một ngày kia trở nên người tốt vậy". 
Thông Thủ Tọa Ký Văn. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Phương Thị Giả: Siêu Tông Huệ Phương thiền sư, pháp tự của Hoàng Long, đời thứ 12 phái Nam Nhạc. 
167.- CHỮ HÁN: Tử Tâm Tân Hòa thường viết: Tú Viên Thông thường ngôn: "Tự bất năng chính, nhi dục chính tha nhân giả, vị chí thất đức, tự bất năng cung, nhi dục cung tha nhân giả, vi chi bội lễ. Phù vi thiện trí thức, thất đức bội lệ, tương hà dĩ thùy phạm hậu hồ". 
Dữ Linh Nguyên thư. 
167.- DỊCH NGHĨA: Tử Tâm Tân Hòa thượng nói: Tú Viên Thông (1)thường nói: "Tự mình không chân chánh mà muốn người ta chân chánh, đó là thất đức. Tự mình chẳng cung kính mà muốn được sự cung kính ở người, đó là trái lễ. Ôi! Làm bậc thiện trí thức mà thất đức trái lễ, thì đem gì làm khuôn mẫu cho đời sau". 
[b]Thư gởi Linh Nguyên. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Tú Viên Thông: Tú thiền sư, pháp tự của Thiên Y Hoài thiền sư, đời thứ 11 phái Thanh Nguyên. 
168.- CHỮ HÁN: Tử Tâm vị Trần Oánh Trung viết: "Dục cầu đại đạo tiên chính kỳ tâm, thiểu hữu phẫn đế tắc bất đắc kỳ chính. Thiểu hữu thị dục diệc bất đắc kỳ chính. Nhiên tự phi thánh hiền ứng thế, an đắc vô ái ố hỷ nộ. Trực tu bất trí chi ư tiền dĩ hại kỳ chính. Thị vi đắc hỹ". 
Quảng Lục. 
168.- DỊCH NGHĨA: Tử Tâm bảo Trần Oánh Trung: "Người cầu đại đạo, trước hết tự mình phải chính tâm, nếu hơi vướng chút hờn giận thời tâm chẳng được chính, hơi có chút thị dục thời tâm cũng chẳng được chính. Nhưng nếu tự mình không phải là thánh hiền ứng thế, sao tránh khỏi được tâm không yêu ghét mừng giận, mà chỉ cần ngăn chận chúng trước khi phát khởi, để khỏi phương hại mất chính tâm, thế là được vậy". 
Quảng Lục. 
169.- CHỮ HÁN: Tử Tâm viết: Tiết kiệm phóng há, tối vi nhập đạo tiệp kính. Ða kiến học giả tâm phẫn phẫn, khẩu phỉ phỉ, thục bất dục kế chủng cổ nhân. Cập quan kỳ phóng há tiết kiệm, vạn trung vô nhất. Kháp tự thứ tục chi gia tử đệ bất khẳng độc thư yếu tố quan nhân. Tuy tam xích nhũ tử, tri kỳ tất bất năng vi dã. 
Quảng Lục. 
169.- DỊCH NGHĨA: Tử Tâm nói: Tiết kiệm và buông xuôi mọi duyên là con đường tắt vào đạo. Phần nhiều thấy những người học đạo ngày nay, trong tâm thì hậm hực, ngoài miệng thì tấm tức, ai cũng muốn nối gót người xưa. Nhưng xét tới chỗ tiết kiệm và phóng há mọi duyên thì trong muôn phần không có được một. Cũng giống như con cái nhà thứ tục, không chịu đọc sách mà lại muốn làm quan, dẫu là đứa trẻ nít cũng biết đó là việc không thể làm được. 
Quảng Lục. 
170.- CHỮ HÁN: Tử Tâm vị Trâm Ðường viết: Học giả hữu tài thức trung tín tiết nghĩa giả thượng dã. Kỳ tài tuy bất cao, cẩn nhi hữu lượng thứ dã. Kỳ hoặc hoài tà quan vong tùy thế cải địch thử chân tiểu nhân dã. Nhược trí chi ư nhân tiền, tất hoại tùng lâm nhi ô độc pháp môn dã. 
Thực Lục. 
170.- DỊCH NGHĨA: Tử Tâm bảo Trạm Ðường: Người học đạo, nếu người nào có tài trí trung tín, tiết nghĩa, thì đó là hạng người ở trên. Còn người tuy tài năng không cao, nhưng lại cẩn thận và có độ lượng thì đó là hạng người ở bậc giữa. Còn hoặc có hạng người tâm mang thói tà, xem xét mong ngóng dư luận thiên hạ, tùy theo thời thế mà thay đổi thì đó quả thật là kẻ tiểu nhân. Nếu đem hạng người đó mà đặt ở địa vị cao, thì tất nhiên họ sẽ làm bại hoại tùng lâm, làm nhơ nhuốc chốn pháp môn vậy. (1) 
Thực Lục. 
CHÚ THÍCH: 
(1): Ðại ý thiên này nói về căn cơ của người học đạo có thượng trung hạ cần phải theo đó để chỉ dẫn cho người học sau. 
171.- CHỮ HÁN: Tử Tâm vị Thảo Ðường viết: Phàm trụ trì chi chức phát ngôn hành sự yếu tại thành tín. Ngôn thành nhi tín sở cảm tất thâm. Ngôn bất thành tín, sở cảm tất thiển. Bất thành chi ngôn, bất tín chi sự. Tuy bình cư thứ tục do bất nhẫn hành, khủng kiến khi vu hương đảng, huống vị tùng lâm chủ, đại Phật Tổ tuyên hóa. Phát ngôn hành sự cẩu vô thành tín tắc hồ hải nột tử, thục tương tòng yên. 
Hoàng Long Thực Lục. 
171.- DỊCH NGHĨA: Tử Tâm bảo Thảo Ðường: Phàm là chức trụ trì, phát ngôn làm việc cần ở chỗ thành và tín. Lời nói thành tín thì chỗ cảm rất sâu xa. Lời nói không thành tín thì chỗ cảm ắt nông cạn. Lời nói không thành thực, làm việc không tín cẩn, dù rằng là người dân thường nếp sống bình thản cũng còn không nỡ làm, vì họ sợ người ta thấy sự lừa dối của mình với hương đảng (1), nữa là người chủ tùng lâm, thay Phật Tổ tuyên dương giáo hóa. Mà khi nói năng hay lúc làm việc, nếu không có thành và tín, thì kẻ nột tử khắp chốn hải hồ, ai là người theo với mình vậy.(2) 
Hoàng Long Thực Lục. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Hương đảng: Theo sách Luận ngữ, cứ 5 nhà một "lân", 5 lân một "lý", 125 nhà là một "hương", 500 nhà là một "đảng". 
(2): Ðại ý thiên này chỉ rõ về cách muốn thuyết phục người, trước hết tự mình phải thành và tín từ lời nói và việc làm. 
172.- CHỮ HÁN: Tử Tâm viết: Cầu lợi giả bất khả dữ đạo. Cầu đạo giả bất khả dữ lợi. Cổ nhân phi bất năng kiêm chi. Cái kỳ thế bất khả dã. Sử lợi dữ đạo kiêm hành tắc thương cổ đổ cô, lư diêm, phù phiếm chi đồ, giai năng cầu chi hỹ. Hà tất cổ nhân khí phú quí vong công danh, khôi tâm dẫn trí, ư không sơn đại trạch chi trung, giản ẩm mộc thực, nhi chung kỳ thân tai. Tất vị lợi dữ đạo hành chi bất tương vi ngại. Thi như phủng lậu chi nhi quán tiêu hũ, tắc chung mạc năng tế hỹ. 
Dữ Hàn Tử Thương thư. 
172.- DỊCH NGHĨA: Tử Tâm nói: Người cầu lợi không thể cùng với đạo, ngườicầu đạo không thể cùng với lợi. Người xưa không phải không thể làm kiêm cả lợi và đạo, bởi lẽ, cái thế đó không thể cho phép làm như vậy. Ví khiến nếu thực hành được cả lợi và đạo, thì những kẻ buôn đứng, bán ngồi, buôn thịt, bán rượu, hay những kẻ buôn thúng bán mẹt nơi hang cùng ngõ hẽm cũng đều có thể làm được, hà tất phải cần đến cổ nhân phải bỏ giàu sang, quên công danh, nguội tâm lắng trí trong nơi rừng suối, uống nước lã ăn quả cây cho đến trọn đời vậy ư? Tất nhiên có người cho rằng lợi và đạo đều cùng làm chung cả với nhau được, mà vẫn không ngang trái chướng ngại lẫn nhau, thì cũng ví như người mang chén rượu bị dò mà tưới vào vạc than hồng, tất nhiên không thể giúp ích gì được vậy.(1) 
Thư gởi Hàn Tử Thương. 
CHÚ THÍCH: 
(1): Ðại ý thiên này nói, đạo đức cùng với thanh lợi không thể cùng dung hợp với nhau. 
173.- CHỮ HÁN: Tử Tâm viết: Hối Ðường tiên sư, tích du Ðông Ngô, kiến Viên Chiếu phó Tịnh Từ thỉnh. Tô Hàng đạo tục tranh chi bất dĩ. Nhật viết: "Thử ngã sư dã, nhữ hà đoạt chi". Nhất viết: "Kim ngã sư giả, nhữ hà hữu yên". 
Lâm Gian Lục. 
173.- DỊCH NGHĨA: Tử Tâm nói: Hối Ðường tiên sư xưa kia du hành tới đất Ðông Ngô, thấy Viên Chiếu (1) nhận lời mời tới khai pháp ở chùa Tịnh Từ. Các hàng Tăng tục ở Tô Châu và Hàng Châu tranh nhau mời thỉnh ngài không ngớt. Một bên nói: "Ðạy là thầy của chúng tôi, các người sao lại tới cướp đoạt". Một bên nói: Hiện nay là thầy của chúng tôi, không phải của các người đâu vậy". 
Lâm Gian Lục. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Viên Chiếu: Viên Chiếu Tông Bổn thiền sư, pháp tự của Thiên Y Nghĩa Hoài thiền sư, đời thứ 11 phái Thanh Nguyên. 
174.- CHỮ HÁN: Tử Tâm trụ Thúy Nham, văn Giác Phạm thoán trục hải ngoại, đạo quá Nam Xương. Yêu quí sơn trung nghênh đãi liên nhật hậu lễ tấn tống. Hoặc vị: "Tử Tâm hỷ nộ bất thường". Tử Tâm viết: "Giác Phạm hữu đức nột tử. Hướng giả cực ngôn khứ kỳ khuê giốc. Kim lụy hoạnh nghịch thị kỳ tố phận. Dư dĩ bình nhật tùng lâm đạo nghĩa xử chi". Thíc giả vị: "Tử Tâm vô tư ư nhân cố như thử". 
Tây Sơn Ký Văn. 
174.- DỊCH NGHĨA: Tử Tâm trụ trì chùa Thúy Nham, nghe biết Giác Phạm bị đầy nơi hải ngoại, trên đường qua đất Nam Xương, ngài liền đón về chùa tiếp đãi nhiều ngày, còn đem hậu lễ đưa tiển nơi bến đò. Hoặc có người nói: "Tử Tâm là người mừng giận bất thường". Tử Tâm nói: "Giác Phạm là người nột tử có đức, chỉ vì trước đây ta cực lực nói thẳng là muốn trừ khử cái tính róc rách hay soi bói lỗi người của ông, nay cũng vì thế mà ông mắc phải hoạnh nghịch, âu đó cũng là tố phận. Ta chỉ thấy tình đạo nghĩa ngày thường ở tùng lâm mà đối xử vậy". Thức giả bảo: "Tử Tâm là người không có tâm riêng tư nên mới biểu lộ cử chỉ như thế". 
Tây Sơn Ký Văn. 
175.- CHỮ HÁN: Tử Tâm vị Thảo Ðường viết: Hối Ðường tiên sư ngôn: "Nhân chí khoan hậu, đắc ư thiên tính. Nhược cưỡng chi dĩ mãnh tất bất du cửu. Mãnh nhi bất cửu tắc phản vi tiểu nhân vũ mạn. Nhiên tà chính thiện ác diệc đắc vu thiên tính. Giai bất khả di. Duy trung nhân chi tính dị thường dị hạ, khả tòng nhi hóa chi". 
Thực Lục. 
175.- DỊCH NGHĨA: Tử Tâm bảo Thảo Ðường: Hối Ðường nói: "Ðức khoan hậu của con người bẩm nơi thiên tính mà được. Nếu cưỡng lại thiên tính mà đem khoan hậu làm cho mạnh, tất nhiên cái mạnh đó chẳng lâu dài. Một khi cái mạnh không lâu dài, thì tất bị khinh khi bởi kẻ tiểu nhân. Song tà chính, thiện ác cũng do nơi thiên tính mà có, đều không thể làm cho đổi dời, duy tính trung dung của con người thì thay đổi lên xuống được dễ dàng, mới có thể căn cứ theo đó mà giáo hóa". 
Thực Lục. 
176.- CHỮ HÁN: Thảo Ðường Thanh Hòa thượng viết: Liệu nguyên chi hỏa sinh ư huỳnh huỳnh. Hoại sơn chi thủy lậu ư quyên quyên. Phù thủy chi vi dã phùng thổ khả tắc. Cập kỳ thịnh giả, phiêu mộc thạch một khâu lăng. Hỏa chi vi dã, thược thủy khả diệt, cập kỳ thịnh dã, tiêu đô ấp, phần sơn lâm. Dữ phù ái nịch chi thủy, sân khuể chi hỏa, hạt thường dị hồ. Cổ chi nhân trị kỳ tâm dã, phong kỳ niêm chi vị sinh, tình chi vị khởi. Sở dĩ dụng lực thậm vi thu công thậm đại. Cập kỳ tính tình tương loạn, ái ố giao công. Tự tắc thương kỳ sinh, tha tắc thương kỳ nhân. Dãi hồ nguy hỹ, bất khả cứu dã. 
Dữ Hàn Tử Thương thư. 
176.- DỊCH NGHĨA: Thảo Ðường Thanh (1) Hòa thượng nói: Ngọn lửa chánh nơi đồng nội, phát sinh bởi một đốm lửa nhỏ bé. Thế nước vỡ núi, tích chứa bởi những giọt nước nhỏ li ti. Ôi! Giọt nước tuy nhỏ, chỉ một nắm đất có thể lấp ngay được, nhưng tới lúc thế đã mạnh, thì nó làm trôi cả gỗ đá, san phẳng gò đống. Ngọn lửa tuy nhỏ, chỉ một gáo nước có thể dập tắt, nhưng tới lúc thế đã mạnh, thời nó thiêu hủy cả đô ấp, đốt cháy cả núi rừng. Như vậy, nếu đem so sánh với nước ái dục, với lửa sân hận, đâu có khác chi vậy. Con người thời xưa, họ trị tâm phải đề phòng cái niệm đó từ khi chưa phát sanh, cái tình đó từ khi chưa bột khởi. Thế nên, dùng sức chỉ tốn rất ít, mà thu được công rất lớn. Kịp tới lúc tình và tính cùng nhau rối loạn, yêu và ghét cùng nhau công kích, thì đối với mình tự hại cả cuộc đời, đối với người lại hại cả người đó, quả thật là mối nguy ngập, không tài nào cứu vãn được nữa.(2) 
Thư gởi Hàn Tử Thương. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Thảo Ðường Thanh: Thảo Ðường Thiện Thanh thiền sư, pháp tự của Hoàng Long Tố Tâm, đời thứ 13 phái Nam Nhạc. 
(2): Thiên này đại ý nói, người cầu đạo đừng để cho mối niệm thứ hai phát khởi. 
177.- CHỮ HÁN: Thảo Ðường viết: Trụ trì vô tha. Yếu tại thẩm sát nhân tình, chu tri thượng hạ. Phù nhân tình thẩm tắc trung ngoại hòa, thượng hạ thông tắc bách sự lý. Thử trụ trì sở dĩ an dã. Nhân tình bất năng thẩm sát, hạ tình bất năng thượng thông, thượng hạ quai lệ, bách sự mâu thuẫn. Thử trụ trì sở dĩ phế dã. Kỳ hoặc chủ giả, tự thị thông minh chi tư, hiếu chấp thiên kiến bất thông vật tình. Xả thiêm nghị nhi trong kỷ quyền, phế công luận nhi hành tư huệ. Chí sử tiến thiện chi đồ tiệm ải, nhậm chúng chi đạo ích vi. Hủy kỳ vi kiến vị văn, an kỳ sở tập sở tế. Dục kỳ trụ trì kinh đại truyền viễn. Thị do khước hành nhi cầu tiền, chung bất khả cập. 
Dữ Sơn Ðường thư. 
177.- DỊCH NGHĨA: Thảo Ðường nói: Người trụ trì không cần gì khác, mà chỉ cần ở chỗ xét rõ tình người, biết khắp trên dưới. Ôi! Nếu biết xét rõ được tình người thời trong ngoài hòa thuận, biết suốt trên dưới thì trăm việc hợp lý. Do đó chức trụ trì được an định. Nếu không hay xét kỹ được tình người, tình người dưới không thông với người trên, trên dưới ngang trái nhau, tất trăm việc sẽ mâu thuẫn. Do thế mà chức trụ trì bị lung lay. Hoặc giả, người làm chủ lại tự cậy có tư chất thông minh, hay chấp thiên kiến, không suốt vật tình. Bỏ lời bàn của công chúng mà trọng quyền riêng mình, bỏ công luận mà làm theo ân huệ riêng tư. Khiến cho con đường tiến thiện dần dần bị hẹp lại, lề lối nhậm chúng ngày càng nhỏ dần. Bỏ cả điều mình chưa thấy chưa nghe, an phận chỗ tập quen chỗ che lấp, thế mà muốn ngôi trụ trì được ngự trị lâu dài, được truyền bá xa rộng thì chẳng khác gì như người đi giật lùi mà mong tới trước (1), trọn không thể được vậy. 
Thư gởi Sơn Ðường (2). 
CHÚ THÍCH: 
(1): Lời nói của Nhiễm Cầu. Khi đức Khổng Tử ở nước Vệ, Nhiễm Cầu nói với Quý Tông rằng: "Nước có Thánh nhân mà không biết dùng, lại mong nước được thạnh trị, thì cũng như người đi giật lùi mà mong tới trước, đâu có thể kịp được". 
(2) Sơn Ðường: Sơn Ðường Ðảo Chấn thiền sư, pháp tự của Thảo Ðường Thanh thiền sư. 
178.- CHỮ HÁN: Thảo Ðường viết: Học giả lập thân, tu yếu chính đáng, vật sử nhân thiết nghị. Nhất thiệp dị luận tắc chung thân bất khả lập hỹ. Tích Thái Dương Bình Thị giả, đạo học vi tùng lâm suy trọng dĩ xử tâm bất chính, thức giả phi chi, toại chí chung thân khảm kha, đãi tử vô qui! Nhiên khởi độc học giả nhi dĩ, vi nhất phương chủ nhân, vưu nghi kỳ úy. 
Dữ Nhất Thư Ký thư. 
178.- DỊCH NGHĨA: Thảo Ðường nói: Người học đạo lập thân, cần phải chính đáng, đừng để cho ngườita bàn trộm về dị luận. Nếu một khi đã vướng vào dị luận, thời trọn đời không thể lập thân được. Xưa kia Bình Thị giả (1) chùa Thái Dương, là người được chốn tùng lâm suy trọng về đạo học. Nhưng vì tâm xử sự của ông bất chính, bị hàng thức giả chê trách, rồi suốt đời bị hẩm hiu vất vả, tới khi chết cũng không có đất trở về. Song le, đâu phải chỉ riêng người học đạo thôi, người làm chủ cả một phương, càng phải nên lấy đó làm gương mà kinh sợ. 
Thư gởi Nhất Thư Ký. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Bình Thị giả: Thái Dương Bình Thị giả, trước đây đã được theo học nơi ngài Minh An. Ông tuy hiểu biết hết được tôn chỉ của Minh An, nên lại hay có tính chèn ép người đồng hàng, đố kỵ kẻ hơn mình. Khi ấy trong chúng có Lang Gia, Quảng Chiêu, Viên Giám. Nhân lúc đó có Phần Dương Chiếu thiền sư khiến Bình Thị giả thám cứu tôn chỉ của Minh An. Thái Dương Minh An nói: "Làm cho một tông Ðỗng Sơn được hưng thịnh, nếu không phải Viễn thiền sư, thì Giác thiền sư. Hai thiền sư nói: "Hiện có Bình Thị giả ở nơi đây". Minh An lấy ngón tay chỉ vào ngực nói: "Vì chốn này không tốt", rồi lại ấn ngón tay cái vào trong lòng bàn tay và nói: "Bình về sau sẽ chết ở chốn này vậy". Ðến khi Minh An viên tịch, có di chúc lại: "Chôn cất thi hài ta sau mười năm không xảy ra tai nạn gì, nhưng sau đó sẽ bị Thái Dương Sơn đánh". Sau Bình Thị giả ở chùa Thái Dương, đột nhiên nói với chúng Tăng: "Linh cốt của tiên sư để ở nơi không hợp với phong thủy, nên ta phải đào lên để đốt". Các bậc kỳ túc trong sơn môn, đều khuyên ngăn Bình Thị giả không nên làm việc như thế. Bình nói: "Nhưng đối với ta có chỗ phương hại" Rồi Bình phát quật tháp, thấy thi hài của Minh An, nhan mạo như lúc còn sống, Bình lại đem củi chất đốt, nhưng thi hài vẫn không cháy, trong chúng ai nấy đều kinh ngạc. Bình bèn lấy búa bổ óc rồi đổ thêm dầu đốt, chẳng bao lâu thi hài cháy hết. Chúng Tăng mới đem chuyện này thưa lên quan cai trị địa phương, quan kết tội Bình là kẻ bất hiếu, bắt phải hoàn tục. Bình sau đổi tên là Hoàng Tú Tài, và đi đến đâu cũng không được ai nâng đỡ chứa chấp, nên phải lang thang nay đây mai đó. Sau bị hổ xé chết ở ngã ba đường. Thật đúng như lời sấm ký của Minh An đã nói. 
179.- CHỮ HÁN: Thảo Ðường vị Như Hòa thượng viết: Tiên sư Hối Ðường ngôn: "Trù nhân quảng chúng, hiền bất tiếu tiếp chủng. Dĩ hóa môn quảng đại bất dung thân sơ ư kỳ gian dã. Duy tại thiểu gia tinh tuyển cẩu tài đức hợp nhân vọng giả. Bất khả dĩ kỷ chi sở nộ nhi sơ chi. Cẩu kiến thức dong thường chúng nhân sở ố giả, diệc bất khả dĩ kỷ chi sở ái nhi thân chi. Như thử tắc hiền giả tự tiến, bất tiếu giả tự thoái. Tùng lâm an hỹ. Nhược phù chủ giả hiếu sinh tư tâm, chuyên kỷ hỷ nộ nhi tiến thoái ư nhân, tắc hiền giả giam mặc, bất tiếu giả cạnh tiến. Kỷ cương vẫn loạn, tùng lâm phế hỹ. Thử nhị giả thực trụ trì chi đại thể. Thành năng thẩm nhì tiễn chi. Tắc cận giả duyệt nhi viễn giả truyền, tắc hà lự đạo chi bất thành, nột tử bất lai mộ hồ".
Sơ Sơn Thạch khắc. 
179.- DỊCH NGHĨA: Thảo Ðường bảo Như Hòa thượng (1): Tiên sư Hối Ðường nói: "Trong chỗ trù nhân quảng chúng, người hiền và kẻ bất tiếu nối gót nhau. Bởi cửa giáo hóa rộng lớn, không dung thứ ai là kẻ thân người sơ trong đó, chỉ cốt ở điểm gia công lựa chọn kỹ càng. Nếu là người có tài đức hợp với chỗ mong muốn của mọi người, thì không đem chỗ giận riêng mình mà xa cách họ. Nếu là người kiến thức tầm thường, mọi người ai nấy đều ghét, thì cũng không thể lấy chỗ yêu riêng mình mà thân với họ. Làm như thế thời người hiền tự họ có cơ hội tiến, kẻ bất tiếu tự họ phải lùi, chốn tùng lâm tất được an dịnh. Nếu người làm chủ tùng lâm lại thích theo tâm riêng của mình, chuyên chỗ mừng giận của mình, mà ngăn sự tiến thoái của người, thì người hiền phải bịt miệng im lặng (2), kẻ bất tiếu đua nhau tiến lên, làm cho kỷ cương rối loạn, chốn tùng lâm tất hỏng vậy. Hai điều trên đây là đại thể của người trụ trì, nếu hay thành thật xét kỹ mà noi theo, thì người ở gần tất đẹp lòng, người nơi xa phải truyền tụng, lo gì kẻ nột tử khắp nơi không hâm mộ mà chẳng lại vậy ư?". 
Bài khắc ở bia đá chùa Sơ Sơn. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Như Hòa thượng: Có lẽ là Vân Cư Pháp Như Hòa thượng, pháp tự của Phật Nhãn Viễn thiền sư. 
(2) Bịt miệng im lặng: Dịch ở chữ "giam mặc". Xưa kia đức Khổng Tử vào thăm miếu Hậu Tắc nhà Chu, thấy một pho tượng đúc bằng vàng, miệng được bịt ba lần và ghi ở sau tượng đó rằng: "Cơ trời không kín thời bốn mùa sao thay đổi được, cơ đất không mật thời vạn vật sao sinh thành? Cơ người không kín thời muôn việc sao thành tựu được?". Ðó là lời răn về thận trọng của cổ nhân. 
180.- CHỮ HÁN: Thảo Ðường vị Không Thủ Tọa viết: Tự hữu tùng lâm dĩ lai, đắc nhân chi thịnh, vô như Thạch Ðầu, Mã Tổ, Tuyết Phong, Vân Môn. Cận đại duy Hoàng Long, Ngũ Tổ nhị lão. Thành năng thu thập tứ phương anh tuấn nột tử. Tùy kỳ khí độ thiển thâm tài tính năng phủ phát nhi dụng chi. Thí như thừa khinh xa giá tuấn tứ tổng kỳ lục bí phấn kỳ tiên sách ức túng tại kỳ cố hễ chi gian, tắc hà vãng nhi bất đạt tai. 
Quảng Lục. 
180.- DỊCH NGHĨA: Thảo Ðường bảo Không Thủ Tọa (1): Từ khi có tùng lâm trở lại, nếu nói về được nhiều môn đồ nhất, thì không ai bằng Thạch Ðầu (2), Mã Tổ, Tuyết Phong, Vân Môn, và gần đây duy có hai đại lão Hoàng Long (3) và Ngũ Tổ, quả thật là những vị hay thu thập được các hàng nột tử anh tuấn ở bốn phương. Các ngài tùy theo khí độ của họ có nông sâu, y vào tài năng tính chất của họ có được hay không để phát huy mà dùng vào việc. Ðó cũng ví như người cưỡi ngựa cỗ xe lại được kéo bởi bốn con ngựa tuấn, dong ruỗi bởi sáu dây cương, thúc đẩy bởi roi vọt, ngăn cản chúng không cho quay đầu nhìn trở lại, như thế thời muốn đi đến bất cứ nơi chốn nào mà chẳng đạt tới được vậy thay. 
Quảng Lục. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Không Thủ Tọa: tức Tuyết Phong Ðông Sơn Tuệ Không thiền sư, pháp tự của Thảo Ðường Thanh. 
(2): Pháp tự của Thạch Ðầu thiền sư gồm có 21 người; pháp tự của Mã Tổ Nhất thiền sư gồm có 84 người; pháp tự của Tuyết Phong Tồn thiền sư gồm có 42 người và pháp tự của Vân Môn Uyển thiền sư gồm có 61 người. 
(3): Pháp tự của Hoàng Long Nam thiền sư có 24 người; pháp tự của Ngũ Tổ Diễn thiền sư có 22 người. 
181.- CHỮ HÁN: Thảo Ðường viết: Trụ trì vô tha, yếu tại giới cẩn. Kỳ thiên thính tự chuyên chi tệ. Bất chủ hồ tiên nhập chi ngôn, tắc tiểu nhân xiểm nịnh nghênh hợp chi sàm, bất khả đắc nhi hoặc hỹ. Cái chúng nhân chi tình bất nhất. Chí công chi luận nan tiến. Tu thị sát kỳ lợi bệnh, thẩm kỳ khả phủ. Nhiên hậu hành chi khả dã. 
Sơ Sơn Thực Lục. 
181.- DỊCH NGHĨA: Thảo Ðường nói: Người trụ trì không cần gì hơn, mà chỉ cần răn giữ cẩn thận ở cái tệ nghe thiên lệch và tự chuyên. Ðừng nên tự chủ ở lời nói vào tai trước tiên, thì lời xiểm nịnh của kẻ tiểu nhân, lời dèm pha của kẻ đón thời theo ý, không thể làm mê hoặc được. Bởi lẽ, tình của chúng nhân thì bất nhất, lời bàn chí công lại khó thấy, nên phải thấu triệt những điều lợi hại, xét kỹ việc phải trái, rồi sau mới thực hành theo, như thế mới là được vậy. 
Sơ Sơn Thực Lục. 
182.- CHỮ HÁN: Thảo Ðường vị Sơn Ðường viết: Thiên hạ chi sự, thị phi vị minh, bất đắc bất thận. Thị phi ký minh dĩ lý quyết chi. Duy đạo sở tại đoán chi vật nghi. Như thử tắc gian nịnh bất năng hoặc, cưỡng biện bất năng di hỹ. 
Thanh Tuyền Ký Văn. 
182.- DỊCH NGHĨA: Thảo Ðường bảo Sơn Ðường: Việc trong thiên hạ, nếu chưa rõ được phải trái, thì phải nên cẩn thận. Một khi điều phải trái đã rõ, phải lấy lý để quyết đoán. Duy theo đạo lý quyết đoán, để chỗ quyết đoán đó không còn ngờ vực. Nếu làm như vậy, thời kẻ gian nịnh không thể mê hoặc được, kẻ gàn bướng không thể lay chuyển được. 
Thanh Tuyền Ký Văn. 
183.- CHỮ HÁN: Sơn Ðường Chấn Hòa thượng viết: Sơ khước Tào Sơn chi mệnh. Quận Thú di văn miễn chi. Sơn Ðường viết: "Nhược sử phan lương khế phì tác tham danh chi nột tử, bất nhược thảo y mộc, thực vi ẩn sơn chi dã nhân". 
Thanh Tuyền Tài Am Chủ Ký Văn. 
183.- DỊCH NGHĨA: Sơn Ðường Chấn Hòa thượng, lúc đầu từ khước mệnh lệnh trụ trì chùa Tào Sơn. Quan Quận Thú gởi thư khuyên can. Sơn Ðường viết thư từ chối: "Ví khiến có cơm ngon đồ ăn béo mà làm người nột tử tham danh, thì chẳng bằng mặc áo cỏ ăn trái cây làm người ẩn thân nơi hang núi còn hơn". 
Thanh Tuyền Tài Am Chủ Ký Văn. 
184.- CHỮ HÁN: Sơn Ðường viết: Xà hổ phi si diên chi thù. Si diên tòng nhi háo chi hà dã, dĩ kỳ hữu dị tâm cố. Ngưu thỉ phi cù thước chi ngự. Cù thước tập nhi thừa chi hà dã, dĩ kỳ vô dị tâm cố. Tích Triệu Châu phỏng nhất am chủ, trị xuất sinh phạn. Châu vấn: "Nha tử kiến nhân vi thậm phi khứ?". Chủ võng thiên. Toại niếp tiền ngữ vấn Châu. Châu đối viết: "Vị ngã hữu sát tâm tại". Thị cố nghi ư nhân giả nhân diệc nghi chi, vong ư vật giả, vật diệc vong chi. Cổ nhân dữ xà hổ vi ngũ giả, thiện đạt thử lý dã. Lão Bàng viết: "Thiết ngưu bất phạ sư tử hống, kháp tự mộc nhân kiến hoa điểu". Tư ngôn tận chi hỹ. 
Dữ Chu Cư sĩ thư. 
184.- DỊCH NGHĨA: Sơn Ðường nói: Loài rắn loài hổ, tuy chúng không phải là kẻ thù của chim cú, chim diều hâu, nhưng chúng thấy rắn, hổ ở đâu, thì đều bay theo kêu la. Ðó là tại sao? Vì chúng đều có ý nghĩ khác nhau. Loài trâu, loài heo, tuy chúng không phải là nơi dừng chân của chim yến, chim sáo, nhưng chúng thấy trâu, heo ở đâu, thì đều bay theo cưỡi trên lưng. Ðó là tại sao? Vì chúng đều không có tâm nghĩ khác nhau. Xưa kia Triệu Châu đến thăm một am chủ, gặp lúc ông mang cơm xuất sinh (1)tới chỗ cho chim ăn. Triệu Châu nói: "Con quạ thấy người làm sao nó lại bay". Am chủ mờ mịt không rõ lý do, liền hỏi lại Triệu Châu lời vừa hỏi. Triệu Châu trả lời: "Vì ta hãy còn tâm sát sanh". Thế nên nó ngờ vực ở người, và người cũng ngờ vực ở nó. Nếu người mà quên ở vật, thì vật cũng quên ở người. Sở dĩ cổ nhân (2) xưa cùng làm bạn với hổ rắn, là vì các ngài đã khéo đạt được cái lý đó vậy. Lão Bàng (3) nói: "Trâu sắt chẳng sợ sư tử gầm, giống hệt người gỗ thấy chim hoa". Lời nói này quả thật chí lý. 
Thư gởi Chu Cư sĩ (4). 
CHÚ THÍCH: 
(1) Cơm xuất sinh: Cơm cho chúng sinh ăn. Theo luật Phật, các Tỳ khưư khi ăn ngọ đều dành riêng một chén cơm xuất sinh, trong đó để ít hạt cơm và chút nước lã để bố thí cho các loài quỷ Mẫu Tử đói khát. 
(2) Cổ nhân: Nghiêm Dương tôn giả, thường ở bên tả hữu ngài có một con rắn và một con hổ theo làm bạn, ngài thường để cơm ở trong lòng bàn tay cho chúng ăn. 
(3) Lão Bàng: Lão Bàng cư sĩ, tên là Bàng Uẩn, tên chữ Ðạo Huyền, pháp tự của Giang Tây Mã Tổ đại sư. 
(4) Chu cư sĩ: Hoặc là Thừa Ích Quốc Chu Công hay Giám Thừa Tuất Thừa Chu Công, chưa biết rõ, pháp tự của Ðại Hồng Lào Nột Tố Chứng thiền sư. 
185.- CHỮ HÁN: Sơn Ðường viết: Ngự hạ chi pháp ân bất khả quá, quá tắc kiêu hỹ. Uy bất khả nghiêm, nghiêm tắc oán hỹ. Dục ân nhi bất kiêu, uy nhi bất oán. Ân tất thi ư hữu công, bất khả vọng gia ư nhân. Uy tất gia ư hữu tội, bất khả lạm cập vô cô. Cố an tuy hậu nhi nhân vô sở kiêu. Uy tuy nghiêm nhi nhân vô sở oán. Công hoặc bất túc xứng nhi thưởng chi dĩ hậu. Tội hoặc bất túc trách, nhi phạt chi chí trọng. Toại sử tiểu nhân cố sinh kiêu oán hỹ. 
Dữ Trương Thượng Thư thư. 
185.- DỊCH NGHĨA: Sơn Ðường nói: Phương pháp trị người, thi ân không nên quá mức độ, quá mức độ thời người kiêu. Gia uy không nên quá nghiêm khắc, quá nghiêm khắc thời người oán. Muốn thi ân mà người không kiêu, gia uy mà người không oán, tất nhiên phải thi ân ở kẻ có công chứ không nên thi ân bừa bãi, gia uy ở kẻ có tội, mà không nên lẫn ở kẻ không tội lỗi. Thế nên thi ân tuy hậu mà người không có kiêu, gia uy tuy nghiêm mà người không có oán. Nếu, công hoặc không xứng mà thưởng họ quá trọng hậu, tội không đáng trách mà phạt họ rất nặng nề, như vậy, liền khiến kẻ tiểu nhân sanh ra kiêu căng và oán hận vậy. 
Thư gởi Trương Thượng Thư. 
186.- CHỮ HÁN: Sơn Ðường viết: Phật Tổ chi đạo, bất quá đắc trung. Quá trung tắc thiên tà. Thiên hạ chi sự bất khả cực ý. Cực ý tắc họa loạn. Cổ kim chi nhân bất tiết bất cẩn. Ðãi chí nguy vong giả đa hỹ. Nhiên tắc thục vô quá dư. Duy hiền đạt chi sĩ, cải chi vật lận. Thị xưng vi mỹ dã. 
Dữ Triệu Siên Nhiên thư. 
186.- DỊCH NGHĨA: Sơn Ðường nói: Ðạo của Phật Tổ, chẳng qua giữ được ở mức trung, vượt quá mức trung thì thiên tà. Việc trong thiên hạ không nên hết ý, hết ý thời phát sinh họa loạn. Con người xưa và nay, vì không tiết chế, không cẩn thận, nên đưa đến nguy vong rất nhiều. Song le, người ở đời, ai là người không có lỗi vậy ư? Duy kẻ hiền đạt, biết sửa đổi điều lỗi không tiếc, mới gọi là tốt vây. 
Thư gởi Triệu Siêu Nhiên (1). 
CHÚ THÍCH: 
(1) Triệu Siêu Nhiên: Quận chúa Triệu Lệnh Khâm, tên chữ là Biếu Chi, hiệu là Siêu Nhiên cư sĩ, pháp tự của Viên Ngộ Cần thiền sư. 
187.- CHỮ HÁN: Sơn Ðường đồng Hàn Thượng Thư Tử Thương, Vạn Am, Nhan Thủ Tọa, Hiền Chân Mục, tị nạn vu Vân Môn Am. Hàn Công nhân vấn Vạn Am. Cận văn bị Lý Thành binh lại sở chấp hà kế đắc thoát. Vạn Am viết: "Tạc bị chấp phược, cơ đống liên nhật, tự độ tất tử hỹ. Ngẫu đại tuyết mai ốc. Kỳ sở hệ ốc bích vô cố băng đảo. Thị dạ hạnh thoát giả bách dư nhân". Công viết: "Chính bị sở chấp thời như hà bài khiển". Vạn Am bất đối. Công tái cật chi. Vạn Am viết: "Thử hà túc đạo ngô bối học đạo dĩ nghĩa vi chất, hữu tử nhi dĩ, hà sở cụ hồ". Công hạm chi. Nhân tri tiền bối thiệp thế họa hại tử sinh giai hữu xử đoán hỹ. 
Chân Mục Tập. 
187.- DỊCH NGHĨA: Sơn Ðường cùng với Hàn Thượng Thư Tử Thương (1), Vạn Am Thủ Tọa, Hiền Chân Mục, tị nạn ở am Vân Môn. Hàn Công nhân hỏi Vạn Am: "Gần đây tôi được nghe tin ngài bị binh lại của Lý Thành (2) bắt giữ, vậy ngài giải thoát được bằng cách gì?". Vạn Am đáp: "Mới đây tôi bị bắt trói, bị đói rét suốt ngày, tự nghĩ mình tất sẽ chết, ngẫu nhiên gặp trận mưa tuyết lớn, vùi lấp cả nhà cửa, vách nhà giam bỗng sụp đổ, nên đem đó may mắn tẩu thoát được tất cả hơn trăm người". Hàn Công nói: "Chính lúc bị bắt, ngài phải xử trí ra sao?". Vạn Am không đáp. Hàn Công lại gạn hỏi. Vạn Am đáp: "Việc đó cần gì phải nói. Chúng ta là người học đạo, lấy nghĩa làm chất, duy có chết là cùng, việc chi phải lo sợ". Hàn Công gật đầu. Nhân thế, biết sự thiệp thế của tiền bối, đối với sanh tử họa hoạn, đều có phương pháp xử đoán vậy. 
Chân Mục Tập. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Hàn Tử Thương: Tên là Câu, tên chử là Tử Thương, làm quan tới Thượng Thư, tham học ở Sơn Ðông Ðạo Chấn thiền sư. 
(2) Lý Thành: Năm đầu niên hiệu Thiệu Hưng đời Cao Tôn Nam Tống. Lý Thành nổi loạn, tụ tập quân lính ở các quận Triết Giang đất Hoài. Tự xưng là Lý Thiệu Vương, cướp bóc đất Tương Dương, gặp quân của Nhạc Phi, quân của Lý Thành đại bại. Do thế các nơi được bình định. 
188.- CHỮ HÁN: Sơn Ðường thoái Bách Trượng, vị Hàn Tử Thương viết: Cổ chi tiến, giả hữu đức hữu mệnh, cố tam thỉnh nhi hành, nhất từ nhi thoái. Kim chi tiến giả, duy thế dữ lực. Tri tiến thoái nhi bất thất kỳ chính giả, khả vị hiền đạt hỹ. 
Ký Văn. 
188.- DỊCH NGHĨA: Sơn Ðường thôi ở chùa Bách Trượng, bảo Hàn Tử Thương: Chỗ tiến của người xưa thì có đức và mệnh, nên đợi ba lần thỉnh rồi mới đi, chỉ một lần cáo từ thì lui gót. Chỗ tiến của người thời nay, thì duy cậy ở thế và lực. Người biết tiến thoái thích thời, mà không bỏ mất điểm chính yếu, đó là người hiền đạt. 
Ký Văn. 
189.- CHỮ HÁN: Sơn Ðường vị Dã Am viết: Trụ trì tồn tâm yếu công hành sự. Bất tất xuất ư kỷ vi thị dĩ tha vi phi, tắc ái ố dị đồng bất sinh ư tâm, bạo mạn tà tích, chí khí vô tự nhi nhập hỹ. 
Huyễn Am Tập. 
189.- DỊCH NGHĨA: Sơn Ðường bảo Dã Am (1): Người trụ trì cần phải để tâm, làm việc phải công chính, không nên cho ở mình là phải, ở người là trái, thời sự yêu ghét dị đồng không để nơi tâm. Mà khí bạo mạn gian tà chật hẹp cũng không thể từ đâu xen vào được. 
Huyễn Am Tập. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Dã Am: Dã Am Tổ Toàn thiền sư, pháp tự của Tuệ Tông Cảo thiền sư. 
190.- CHỮ HÁN: Sơn Ðường viết: Lý Thương lão ngôn: "Diệu Hỷ khí độ ngưng viễn tiết nghĩa quá nhân, hiếu học bất quyện. Dữ lão phu tương tòng Bảo Phong cận tứ ngũ tải, thập nhật bất kiến tất khiển nhân chí vấn. Lão phu cữ gia bệnh thũng. Diệu Hỷ quá xá cung tự tiên chử, như tử đệ sự phụ huynh lễ. Ký qui, Nguyên Thủ Tọa trách chi. Diệu Hỷ dụy dụy thụ giáo. Thức giả tri kỳ đại khí. Trạm Ðường thường viết: "Cảo Thị giả tái lai nhân dã, sơn tăng tích bất cập kiến". Trạm Ðường thiên hóa. Diệu Hỷ kiển túc thiên lý. Phỏng Vô Tận cư sĩ ư Chử Cung cầu tháp minh. Trạm Ðường mạt hậu nhất đoạn quang minh, diệu Hỷ chi lực dã". 
Nhất Thiệp Ký. 
190.- DỊCH NGHĨA: Sơn Ðường nói: Lý Thương lão (1) thường nói: "Diệu Hỷ là người có đại khí, độ lượng cô đọng sâu xa, tiết nghĩa hơn người, hiếu học không biết mỏi. Ngài với lão phu cùng tới Bảo Phong, và ở đây gần bốn, năm năm trời, cứ trong khoảng mười ngày mà không gặp nhau, tất ngài khiến người tới hỏi thăm. Lão phu bất hạnh cả nhà bị bệnh phù thũng. Diệu Hỷ tới tận nhà chăm nom săn sóc, tự ngài sắc thuốc nấu cơm, cư xử như nghi lễ đệ tử đối với bậc phụ huynh không khác. Khi ngài trở về chùa, Nguyên Thủ Tọa (2) quở trách ngài, nhưng ngài chỉ vâng vâng dạ dạ, kính nghe lời thầy dạy bảo. Thức giả thấy thế, biết Diệu Hỷ là người có đại khí. Trạm Ðường thường nói: "Cảo Thị giả (Diệu Hỷ) là người tái lai (ứng thế), sơn Tăng rất tiếc không được gặp". Khi Trạm Ðường viên tịch, Diệu Hỷ đi bộ đường xa ngàn dặm, hai chân bị xưng lên như tổ kén, tìm đến Vô Tận cư sĩ ở đất Chử Cung, nhờ làm bài Minh khắc vào tháp của ngài Trạm Ðường. Quãng đời sáng chói cuối cùng của Trạm Ðường là nhờ sức của Diệu Hỷ vậy". 
Nhất Thiệp Ký. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Lý Thương Lão: Thương lão phu vì việc xây cất đào đất, động đến long mạch, nên cả nhà bị bệnh phù thũng, chữa khắp nơi không khỏi. Ông liền trai giới thành kính tụng niệm cầu đảo chưa tới bảy ngày, thì một đêm nằm mộng thấy một cụ già mặc áo trắng cưỡi trâu lướt trên mặt đất mà đi. Vì thế ngày hôm sau cả nhà khỏi bệnh. 
(2) Nguyên Thủ Tọa: Chiêu Giác Vi Am Ðạo Nguyên thiền sư, pháp tự của Viên Ngộ Cận, đời thứ 15 phái Nam Nhạc. Ðại Huệ Võ Khố (Lý Thương Lão) nói: "Khi ngài Diệu Hỷ ở chùa Bảo Phong, Nguyên Thủ Tọa thấy ngài rất lấy làm mừng rỡ. Nhân một lần Diệu Hỷ xin phép một tháng đi thăm bệnh Lý Thương Lão tới đây, nhưng bị chậm mất mười ngày, tức sau bốn mươi ngày mới về, vì thế Nguyên Thủ Tọa mới mắng trách là: Vô thường tấn tốc, ông không nghĩ đến sự nghiệp tu hành như lửa cháy đầu hay sao?". 
191.- CHỮ HÁN: Diệu Hỷ Cảo Hòa thượng viết: Trạm Đường mỗi hoạch tiền hiền thư thiệp, tất phần hương khai độc, hoặc san chi thạch viết: "Tiên thánh thịnh đức giai danh cự nhẫn khí trí". Kỳ nhã thượng như thử. Cố kỳ vong dã vô thập kim chi tu. Duy Ðường Tống chư hiền mặc tích, cận lưỡng trúc lung. Nột tử cạnh tương thù xướng, đắc tiền bát thập dư thiên trợ trà tỳ lễ. 
Khả Am Tập. 
191.- DỊCH NGHĨA: Diệu Hỷ Cảo Hòa thượng nói: Trạm Ðường mỗi khi nhận được thư thiếp của tiền hiền, ngài thường đốt hương rồi mới mở đọc hoặc còn khắc các thư thiếp đó vào đá để lưu lại và nói: "Ðức lớn danh thơm của Tiên thánh, nỡ nào lại để bỏ mất". Ngài là người thanh nhã và cao thượng như thế, nên khi mất đi không có lấy được mười lạng vàng, mà duy chỉ có sách vở và bút tích của các bậc hiền triết đời Ðường Tống, chứa đầy hai rương làm bằng tre. Các hàng nột tử khắp nơi tranh cạnh nhau cùng xướng họa những mặc tích đó, rồi đem đem bán cô giá được tới hơn ngàn quan tiền để giúp thêm vào lễ trà tỳ ngài.(1) 
Khả Am Tập. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Lễ trà tỳ: Lễ hỏa thiêu, đốt xác. 
192.- CHỮ HÁN: Diệu Hỷ viết: Phật Tính trụ Ðại Qui. Hành giả dữ địa khách tương ẩu, Phật tính dục trị hành giả. Tổ Siêu Nhiên nhân ngôn: "Nhược túng địa khách tồi nhục hành giả. Phi duy hữu nhất thượng hạ danh phận. Thiết khủng tiểu nhân thừa thời vũ mạn, sự bất hành hỹ". Phất Tính bất thính, vị kỷ, quá hữu trang khách thí Tri sự giả. 
Khả Am Tập. 
192.- DỊCH NGHĨA: Diệu Hỷ nói: Phật Tính (1) ở chùa Ðại Qui, nhân có hành giả (2) trong chùa cùng với người làm ruộng địa phương cùng đánh lộn. Phật tính muốn trừng trị hành giả. Tổ Siêu Nhiên (3) nhân thế bèn nói: "Nếu tha người làm ruộng, đánh đập nhục mạ kẻ hành giả, thì chẳng phải chỉ mất danh phận kẻ trên người dưới, mà còn sợ kẻ tiểu nhân nương vào cơ hội đó mà khinh nhờn, vậy ngài không nên làm việc đó". Phật Tính không nghe theo. Chưa bao lâu, quả nhiên có người làm ruộng giết mất vị Tri sự. 
Khả Am Tập. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Phật Tính: Ðại Qui Pháp Tính Pháp Thái thiền sư, pháp tự của Viên Ngộ thiền sư, đời thứ 15 phái Nam Nhạc. 
(2) Hành giả: Người mới vào chùa tu chưa thụ giới. 
(3) Tổ Siêu Nhiên: Siêu Nhiên Văn Tổ thiền sư, pháp tự của Thiên Y Hoài, đời thứ 11 phái Thanh Nguyên. 
193.- CHỮ HÁN: Diệu Hỷ viết: Tổ Siêu Nhiên trụ Ngưỡng Sơn, địa khách đạo thường trụ cốc. Siêu Nhiên tố hiềm địa khách ý dục khiển chi. Linh khố tử hành giả vị bỉ cung trạng. Hành giả dục bảo toàn địa khách. Sát Siêu Nhiên ý ức linh cung khởi ly trạng. Nhân phản sứ khiếu hoán. Bất khẳng cung trách. Siêu Nhiên nộ hành giả thiện quyền. Nhị nhân giai quyết trúc bề nhi dĩ. Cái Siêu Nhiên bất tri âm vi hành giả sở mưu. Ô hô! tiểu nhân giảo hoạt như thử. 
Khả Am Tập. 
193.- DỊCH NGHĨA: Diệu Hỷ nói: Tổ Siêu Nhiên trụ trì chùa Ngưỡng Sơn, nhân có người làm ruộng ăn trộm lúa của thường trụ. Siêu Nhiên vẫn thường ghét tính tham lam của người làm ruộng đó, nên ý ngài muốn đuổi đi. Ngài liền khiến hành giả coi kho làm tờ cung trạng về người làm ruộng kia. Nhưng ý người hành giả lại muốn bảo toàn người làm ruộng, vì xét biết được ý của Siêu Nhiên, nên hành giả bắt ép người làm ruộng cung khai tờ trạng không dính dáng đến việc trộm cắp đó, đã thế lại còn khiến người đó kêu la om xòm, không chịu cung khai sự thật. Siêu Nhiên giận người hành giả chuyên quyền. Sau hai người quyết ý chỉ xin chịu phạt tội đánh đòn mà thôi. Bởi lẽ, Siêu Nhiên không biết được âm mưu của hành giả bày đặt. Than ôi! Kẻ tiểu nhân giảo hoạt đến thế là cùng. 
Khả Am Tập.   
194.- CHỮ HÁN: Diệu Hỷ viết: Ái ố dị đồng nhân chi thường tình. Duy hiền đạt cao minh bất bị kỳ sở chuyển. Tích Viên Ngộ trụ Vân Cư. Cao Am thoái Ðông đường. Ái Viên Ngộ ố Cao Am, đồng Cao Am giả dị Viên Ngộ. Do thị tùng lâm phân phân, nhiên hữu Viên Ngộ Cao Am chi đảng. Thiết quan nhị đại sĩ, bá đại danh vu hải thượng, phi thường lưu khả nghĩ. Tích hồ muội ư khinh tín tiểu nhân xiểm ngôn hoặc loạn thông minh. Toại vi thức giả tiếu. Thị cố nghi kỳ Lượng Tọa chủ Ẩn Sơn chi lưu cao thượng chi sĩ dã. 
Trí Lâm Tập. 
194.- DỊCH NGHĨA: Diệu Hỷ nói: Yêu, ghét, khác, cùng là thường tình của con người, duy bậc hiền đạt cao minh mới không bị chúng lay chuyển. Xưa kia Viên Ngộ ở chùa Vân Cư, Cao Am (1) lui về nhà Ðông đường. Có người ưa Viên Ngộ thì ghét Cao Am, có người cùng với Cao Am lại khác với Viên Ngộ. Vì thế chốn tùng lâm sanh ra rối bời, nên chia thành hai đảng Viên Ngộ và Cao Am. Trộm nghĩ hai bậc đại sĩ đều là những vị có tên tuổi lừng lẫy trên đời, không thể bọn thường lưu có thể sánh kịp. Nhưng rất tiếc, các ngài lại bị mê hoặc ở chỗ nhẹ tin lời xiểm nịnh, làm mờ mịt trí óc thông minh, đáng làm trò cười cho hàng thức giả. Thế nên, ta phải đem lưu phái của Lượng Tọa Chủ và Ẩn Sơn (2) để làm kẻ sĩ cao thượng. 
Trí Lâm Tập. 
CHÚ THÍCH: 
(1): Chỉ vào Cao Am là cựu trụ trì chùa Vân Cư. 
(2) Lượng Thủ Tọa và Ẩn Sơn: Hai người đều tham học ngài Mã Tổ, sau khi đã phát minh được tâm yếu và đại sự, thì Lượng Thủ Tọa về ẩn dật núi Tây Sơn thuộc Hồng Châu, Ẩn Sơn sau ở ẩn núi Long Sơn thuộc Ðàm Châu. 
195.- CHỮ HÁN: Diệu Hỷ viết: Cổ nhân kiến thiện tắc thiên, hũu quá tắc cải, xuất đức tuần hành, tư miễn vô cữu. Sở hoạn mạc thậm ư bất tri kỳ ác. Sở mỹ mạc thiện ư hiếu văn kỳ quá. Nhiên khởi cổ nhân nhi tài trí bất túc thức kiến bất minh, nhi nhuợc thị da. Thành dục sử hậu thế tự quảng nhi hiệp ư nhân giả vi giới dã. Phù tùng lâm chi quảng tứ hải chi chúng, phi nhất nhân sở năng độc tri. Tất tư tả hữu nhĩ mục tư lự, nãi năng tận kỳ nghĩa lý thiện kỳ nhân tình. Cẩu hoặc tôn cư tự trọng, cẩn tế vụ hốt đại thể, hiền giả bất tri, bất tiếu giả bất sát, sự chi phi bất cải, sự hoặc thị bất tòng, xuất ý cuồng vi, vô sở kị đạn. Thử thành họa hại chi cơ, an đắc bất cụ. Hoặc tả hữu quả vô khả tư tuân giả, do nghi thủ pháp ư Tiên thánh, khởi khả như nghiêm thành kiên binh vô tự nhi nhập da. Thử đãi phi sở vi nạp bách xuyên nhi thành đại hải dã. 
Dữ Bảo Hòa Thượng thư. 
195.- DỊCH NGHĨA: Diệu Hỷ nói: Cổ nhân thấy điều thiện thời làm, thấy có lỗi thời đổi. Sửa đức nghiệp noi chính hạnh, nghĩ sao tránh khỏi lỗi lầm. Lo chẳng gì lớn hơn ở chỗ không biết được điều xấu của mình. Ðẹp chẳng gì tốt hơn ở chỗ thích được nghe điều lỗi của mình. Song, đâu có phải tài trí của cổ nhân không đầy đủ, kiến thức của cổ nhân không sáng suốt lại làm như thế vậy ư? Quả thật, cổ nhân chỉ muốn cho những người ở sau này có tính tự rộng mình mà lại hẹp ở người, phải lấy đó làm điều răn vậy. Ôi! Chỗ quảng đại của tùng lâm, nơi qui tụ chúng nhân trong bốn biển, không phải là việc ở một người có thể biết hết được, mà phải cần đến tai mắt tâm tư của những người tả hữu phù trì, mới suốt hết được nghĩa lý, mới phù hợp được nhân tình. Nếu, hoặc giả có người chỉ biết tự trọng ở ngôi tôn, chỉ cẩn thận ở việc nhỏ, lại khinh hốt đại thể, chẳng biết đến người hiền, chẳng xét tới kẻ ngu, việc làm trái không chịu đổi, việc làm phải lại không theo, buông ý làm càn, không chút kiên sợ. Thì đó thật là cái nền tảng của họa hại, sao được không sợ hãi? Hoặc giả bên tả hữu mình không có người để hỏi han, cũng còn phải bắt chước khuôn phép của bậc Tiên thánh, đâu có thể như thành trì kiên cố, binh sĩ gan lỳ, không có thể nương từ ở một nơi nào mà xâm nhận được vậy ư? Nếu làm như vậy thì không có thể bảo rằng nhận nước trăm sông để tạo thành biển cả được. 
Thư gởi Bảo Hòa Thượng (1). 
CHÚ THÍCH: 
(1) Bảo Hòa Thượng: Có lẽ là Ðại Qui Pháp Bảo Hòa thượng, pháp tự của Ðại Tuệ Cảo thiền sư. 
196.- CHỮ HÁN: Diệu Hỷ viết: Chư phương cử Trưởng lão, tu cử thủ đạo nhi điềm thoái giả. Cử chi tắc chí tiết du kiên. Sở chí bất phá hoại thường trụ thành tựu tùng lạm. Diệc chủ pháp giả cứu kim nhật chi tệ giả. Thả trá nịnh giảo hoạt chi đồ bất tri tu sỉ. Tự năng xiểm phụng thế vị, kết thác vu quyền quí chi môn, hựu hà tu cử. 
Dữ Trúc Am thư. 
196.- DỊCH NGHĨA: Diệu Hỷ nói: Tùng lâm ở các nơi, nếu muốn suy cử bậc Trưởng lão, nên phải suy cử người biết giữ đạo, tính khí điềm đạm, không ham thanh lợi. Một khi đã suy cử được những người như thế, thì chí tiết của các vị đó càng bền, không thể đưa đến chỗ phá hoại thường trụ mà thành tựu được tùng lâm, và cũng là những vị chủ pháp để cứu vãn cái tệ hại của ngày nay. Còn những người chỉ dối trá gian nịnh, giảo hoạt, không biết hổ thẹn, chuyên việc ve vãn, cung phụng kẻ thế vị, giao du với kẻ quyền quý, thì sao có thể suy cử hạng người như thế được. 
Thư gởi Trúc Am. 
197.- CHỮ HÁN: Diệu Hỷ vị Siêu Nhiên cư sĩ viết: Thiên hạ vi công luận bất khả phế, túng ức chi bất hành kỳ như công luận hà. Sở dĩ tùng lâm cử nhất hữu đạo chi sĩ. Văn kiến tất hân nhiên xưng hạ. Hoặc cử nhất bất đế đáng giả, chúng nhân tất thích nhiên ta thán. Kỳ thực vô tha, dĩ công luận hành dữ bất hành dã. Ô hô! Dụng thử khả dĩ bốc tùng lâm chi thịnh suy hỹ. 
Khả Am Tập. 
197.- DỊCH NGHĨA: Diệu Hỷ bảo Siêu Nhiên cư sĩ (1): Công luận trong thiên hạ không thể bỏ được. Ví khiến bưng bít công luận thì còn chi gọi là công luận. Sở dĩ chốn tùng lâm suy cử một kẻ sĩ có đạo đức, thì người ta nghe thấy tất mừng rỡ tán thưởng. Hoặc giả, nếu suy cử một người không đích đáng, thì chúng nhân tất lo lắng ta thán. Thực ra, không có chi khác mà chỉ ở chỗ thực hành theo công luận hay không thực hành theo đó thôi. Than ôi! Nếu dùng việc này để chiêm nghiệm,ta có thể lấy đó mà biết được sự thịnh suy của tùng lâm vậy. 
Khả Am Tập. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Siêu Nhiên cư sĩ: tên là Triệu Lệnh Căng, tên chữ là Biểu Chi, hiệu là Siêu Nhiên, pháp tự của Viên Ngộ Cần thiền sư. 
198.- CHỮ HÁN: Diệu Hỷ viết: Tiết kiệm phóng há nãi tu thân chi cơ, nhập đạo chi yếu. Lịch quan cổ nhân tiển hữu bất tiết kiệm phóng há giả. Niên lai nột tử du Kinh Sở mãi mao nhục, quá Triết Hữu cầu phưởng ty. Ðắc bất quí cổ nhân hồ. 
[b]198.- DỊCH NGHĨA: Diệu Hỷ nói: Tiết kiệm và buông xuôi mọi duyên là nền tảng tu thân, yếu lĩnh vào đạo. Xem lại lịch đại cổ nhân, thì ít ai là không tiết kiệm và buông xuôi mọi duyên. Những năm gần đây, lại thấy có các nột tử tới đất Kinh, Sở mua chăn nệm, qua xứ Triết Hữu tìm lụa là. Thật là đáng hổ thẹn với cổ nhân vậy. 
199.- CHỮ HÁN: Diệu Hỷ viết: Cổ đức trụ trì bất thân thường trụ, nhất thiết tất phó Tri sự trưởng quản. Cận đại chủ giả tự thị tài lực hữu dư. Sự vô đại tiểu giai qui phương trượng, nhi tri sự đồ hữu kỳ hư danh nhĩ. Ta hồ! Cẩu dĩ nhất thân chi tư, kỷ cương bất vẫn loạn, nhi hợp chí công chí luận, bất diệc năng hồ. 
Dữ Sơn Ðường Ký. 
199.- DỊCH NGHĨA: Diệu Hỷ nói: Cổ đức trụ trì không tự mình coi sóc các việc trong thường trụ, mà hết thảy công việc đó đều giao cho chức Tri sự trông nom. Gần đây, người làm trụ trì,tự cậy vào tài lực có thừa của mình, công việc bất cứ là lớn hay nhỏ đều qui tụ về nơi phương trượng, còn chức Tri sự chỉ là hư danh mà thôi. Ôi! Nếu đem tư chất thông minh của một người muốn nắm giữ mọi việc trong tự viện, mà khiến kẻ tiểu nhân không che đậy được, khiến kỷ cương không rối loạn, lại hợp với lời bàn chí công, thật cũng khó khăn lắm vậy. 
Thư gởi Sơn Ðường. 
200.- CHỮ HÁN: Diệu Hỷ viết: Dương cực tắc âm sinh, âm cực tắc dương sinh, thịnh suy tương thừa, nãi thiên địa tự nhiên chi số. Duy phong hanh nghi hồ nhật trung. Cố viết: "Nhật trung tắc trắc, nguyệt mãn tắc khuy, thiên địa doanh khuy, dữ thời tiêu tức, nhi huống ư nhân hồ". Sở dĩ cổ chi nhân, đương kỳ huyết khí tráng thịnh chi thời, lự quang âm chi dị vãng, tắc triêu niệm tịch tư, giới cẩn di cụ. Bất tứ tình bất dật dục, duy đạo thị cầu, toại năng toàn kỳ lệnh văn. Nhược phù đọa chi dĩ dật dục, bại chi dữ tứ tình, đãi ư bất khả cứu, phương đốn túc ách oản nhi truy văn hỹ. Thời hồ nan đắc nhi dị thất dã. 
Hương Lâm Tập. 
200.- DỊCH NGHĨA: Diệu Hỷ nói: Dượng cực thời âm sinh, âm cực thời dương sinh, thịnh suy nương lẫn nhau, đó là khí số tự nhiên của trời đất. Duy quẻ Phong (1) được hanh thông là thích đáng, với mặt trời giữa trưa. Nên nói (2): "Mặt trời giữa trưa thời sẽ xế bóng, mặt trăng tròn đầy thời sẽ thiếu vơi. Sự đầy vơi của trời đất cũng còn theo thời mà tan biến hay trưởng thành, huống hồ là con người vậy ư?" Sở dĩ cổ nhân đương lúc huyết khí tráng thịnh, thì lo lắng bóng sáng dễ trôi qua, nên sớm tối thường lo lắng sợ hãi giữ gìn điều răn cấm càng cẩn thận. Không dám buông thả tâm tình, không dám chạy theo thị dục, chỉ chuyên chú việc cầu đạo, mới hay bảo toàn được tiếng thơm của mình. Ôi! nếu lại rông rỡ theo dục vọng, để phá nát thời gian, buông lung tâm tình để hao phí ngày tháng, tới lúc không thể cứu vãn được, mới hấp tấp vội vàng mà đuổi theo nó thì đã muộn rồi. Nên "thời" thì khó được mà lại dễ mất là nghĩa thế vậy. 
Hương Lâm Tập. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Quẻ Phong: Ðó là quẻ Lôi Hỏa Phong trong kinh Dịch, quẻ này thì Ly ở dưới, Chấn ở trên. Chấn là lôi (sấm), Ly là hỏa (lửa), nên tên quẻ đọc là "Lôi Hỏa Phong". Phong có nghĩa là thịnh, cũng có nghĩa là lớn. Theo về thể quẻ trên Chấn dưới Ly. Chấn là động. Ly là minh, lấy đức minh mà động, lại động mà hay minh, đều là phương pháp làm cho thịnh đại, theo nghĩa ấy chắc chắn được hanh thông, nên gọi là "Phong Hanh". 
(2) Nên nói: Soán truyện lại nói rộng ra ý nghĩa ngoài quẻ. Nhân vì thì Phong là "thời" cực thịnh, hễ cực thịnh thời e sẽ suy tới nơi. Nên hễ mặt trời mọc đến lúc trung thời thế nào cũng xế, mặt trăng đã đến lúc tròn đầy, thời thế nào cũng khuyết lần. Dầu rất to lớn như trời đất, mà khí số tuần hoàn vẫn có khi đầy khi vơi, theo với "thời" mà tiêu tan (tan đi mòn đi) mà tức (lớn lên nở ra). Khi cơ tuần hoàn, thịnh suy đắp đổi, ngay cả trời đất còn thế, phương chi là con người vậy ư? 
201.- CHỮ HÁN: Diệu Hỷ viết: Cổ nhân tiên trạch đạo đức, thứ suy tài học nhi tiến. Ðương thời cẩu phi lương khí, trí thân vu nhân tiền giả, kiến văn đa bạc chi. Do thị nột tử tự tư chỉ lệ danh tiết nhi lập. Tỷ kiến tùng lâm điêu táng, học giả bất cố đạo đức, thiểu tiết nghĩa vô liêm sỉ. Cơ thuần tố vi bỉ phát, tưởng hiêu tùng vi tuấn mẫn. Thị cố vãn bối thức kiến bất minh, thiệp liệt sao tả, dụng tư khẩu thiệt chi biện. Nhật tư nguyệt xâm, toại thành kiêu ly chi phong, đãi ngữ vu Thánh nhân chi đạo, mang nhược diện tường, thử đãi bất khả cứu dã. 
Dữ Hàn Tử Thương thư. 
201.- DỊCH NGHĨA: Diệu Hỷ nói: Cổ nhân trước hết lựa chọn người đạo đức, rồi sau mới tìm người có tài để suy tiến. Ðương thời nếu không phải là lương khí mà đặt mình ở trước chúng nhân thì phần nhiều bị hô khinh khi bởi chỗ mắt thấy tai nghe của người. Do đó có nột tử tự nghĩ phải mài giũa danh tiết để tự lập. Gần đây, thấy chốn tùng lâm thì điêu tàn, người học đạo lại không đoái hoài đến đạo đức, ít tiết nghĩa, không liêm sỉ, chê người thuần thành chất phát là quê mùa, khen kẻ khoe khoan tự đắc là tuấn mẫn. Thế nên những kẻ văn học kiến thức không minh, chỉ dùng chỗ thiệp liệp trong sách vở để giúp phần biện luận ngoài miệng lưỡi. Ngày qua tháng lại, vì thấm nhuần cái thói hèn ấy, nên một khi nói đến cái đạo của Thánh nhân thì họ mù mờ như người quay mặt vào tường không khác. Bọn người như thế thật không thể cứu vãn được. 
Thư gởi Hàn Tử Thương. 
202.- CHỮ HÁN: Diệu Hỷ viết: Tích Hối Ðường tác Hoàng Long đề danh ký viết: "Cổ chi học giả, cư tắc nham huyệt, thực tắc thổ mộc, y tắc bì thảo, bất hệ tâm ư thanh lợi, bất tịch danh ư quan phủ. Tự Ngụy, Tấn, Tề, Lương, Tùy, Ðường dĩ lai, thủy sáng chiêu đề tụ tứ phương học đồ. Trạch hiền giả qui bất tiếu. Tỉ trí giả đạo ngu mê. Do thị tân chủ lập, thượng hạ phân hỹ. Phù tứ hải chi chúng tụ vu nhất tự. Ðương kỳ nhậm giả, thành diệc nan năng. Yếu tại chung kỳ đại, xả kỳ tiểu. Tiên kỳ cấp hậu kỳ hoãn, bất vị tư kế, chuyên lợi ư nhân. Tỷ cấp cấp vi nhất thân chi mư giả, thực tiêu nhương hỹ. Kim Hoàng Long dĩ lịch đại trụ trì, đề kỳ danh vu thạch. Sử hậu chi lai giả giả kiến nhi mục chi viết, thục đạo đức, thục nhân nghĩa, thục công ư chúng, thục lợi ư thân. Ô hô! Khả bất cụ hồ". 
Thạch Khắc. 
202.- DỊCH NGHĨA: Diệu Hỷ nói: Xưa kia Hối Ðường làm bảng ghi tên các vị lịch đại trụ trì chùa Hoàng Long trên bia đá rằng: " Người học đạo đời xưa, nhà ở đã có hang núi, thức ăn đã có quả cây, áo mặc dùng bằng da, các ngài không bậm tâm ở thanh lợi, không ghi tên nơi quan phủ. Từ các đời Ngụy, Tấn, Tề, Lương, Tùy, Ðường trở lại đây, mới lập ra chùa viện, làm nơi tu tập học đồ cho khắp bốn phương. Lựa chọn người hiền làm khuôn phép cho kẻ bất tiếu, khiến người trí chỉ bảo cho kẻ mê. Bởi thế nên mới lập ra khách và chủ, mới chia ra trên và dưới vậy. Ôi! Chúng nhân trong bốn biển, qui tụ trong một tùng lâm, người đảm trách trong nơi đó quả thật cũng khó chu toàn được mọi công việc. Tuy thế, nhưng tóm lại điều cần thiết là ở chỗ tóm tắt phần đại cương, bỏ bớt phần tiểu tiết, việc gấp rút nên làm trước, việc thư thả sẽ làm sau, không vì kế riêng tư chuyên chú vào việc lợi người. Công việc tuy đơn giản như vậy, nhưng nếu đem so sánh với những kẻ chỉ miệt mài nghĩ đến mưu kế riêng tư của một thân mình, thì thật xa cách nhau một trời một vực vậy. Nay Hoàng Long lấy tên các vị lịch đại trụ trì khắc vào bia đá, để khiến cho những người lại sau được thấy, mà biết rõ các vị đó ai là người có đạo đức, ai là người có nhân nghĩa, ai là người có công tâm với chúng, và ai là người chỉ mưu lợi cho riêng mình. Than ôi! Thật đáng run sợ vậy". 
Thạch Khắc. 
203.- CHỮ HÁN: Trương Thị Lang Tử Thiều vị Diệu Hỷ viết: Phù thiền lâm Thủ Tọa chi chức, nãi tuyển hiền chi vị. Kim chư phương bất vấn hiền bất vấn tiếu, lệ dĩ thử vi kiểu hãnh chi tân đồ, diệc chủ pháp giả thất dã. Nhiên tắc tượng quí cố nan đắc kỳ nhân. Nhược trạch kỳ lý hành sảo ưu, tài đức sảo bị, thức liêm sỉ tiết nghĩa gia cư chi, dữ phù hiểm tiến chi đồ, diệc sai thắng hỹ. 
Khả Am Tập. 
203.- DỊCH NGHĨA: Trương Thị Lang Tử Thiều (1) bảo Diệu Hỷ: "Ôi! Chức Thủ Tọa chốn tùng lâm, là ngôi vị tuyển hiền (lựa chọn người hiền). Ngày nay các nơi lại không hỏi chi người hiền hay kẻ bất tiếu, y theo thói thường, lấy ngôi vị đó làm đường lối cầu may, làm mất cả ý nghĩa về chức vị ngôi chủ pháp. So le, ở đời Tượng Quí rất khó tìm được người theo đúng với cương vị đó, nhưng nếu lựa chọn người có hành vi hơi khá, có tài đức tạm đủ, biết liêm sỉ tiết nghĩa, suy cử vào ngôi vị đó, mà đem so sánh với bọn người gian hiểm cũng còn khá hơn nhiều vậy". 
Khả Am Tập. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Trương Thị Lang: Trương Cửu Thành, tên chữ là Tử Thiều, đậu Tiến sĩ năm Thiệu Hưng thứ hai, làm quan đến Lễ Bộ Thị Lang và Hình Bộ Thị Lang. 
204.- CHỮ HÁN: Diệu Hỷ vị Tử Thiều viết: Cận đại chủ pháp giả vô như Chân Như Triết. Thiện phụ bất tùng lâm mạc nhược Dương Kỳ. Nghị giả vị: Từ Minh chân xuất tác sự hốt lược thù vô tị kỵ. Dương Kỳ vong thân sự chi. Duy khủng bất chu, duy tự bất biện. Tuy xung hàn mạo thử vị thường cấp kỷ nọa dung. Thủy tự Nam Nguyên chung vu Hưng Hóa, cận thập tam tải, tổng bính cương luật, tận Từ Minh chi thế nhi hậu dĩ. Như Chân Như giả, sơ tự thúc bao hành cước, đãi vu ứng thế lĩnh đồ, vị pháp vong khu, bất thí như cơ khát giả. Tạo thứ điên bái, bất cự sắc vô tật ngôn. Hạ bất bài song, Ðông bất phụ hỏa. Nhất thất tiêu nhiên, ngưng trần mãn án. Thường viết: "Nột tử nội vô cao minh viễn kiến, ngoại phạp nghiêm sư lương hữu, tiển khắc hữu thành khí giả". Cố đương thời chất ảo như Phụ Thiết Cước, quật cường như Tú Viên Thông chư công, giai vọng phong nhi yển. Ta hồ nhị lão thực thiên tải nột tử chi qui giám dã. 
Khả Am Ký Văn. 
204.- DỊCH NGHĨA: Diệu Hỷ bảo Tử Thiều: Ðời gần đây, người chủ pháp thì không ai được như là Chân Như Triết, giúp đở tùng lâm chẳng ai bằng Dương Kỳ. Có người bàn luận rằng: Từ Minh là người chân thật, nhưng làm việc thì hay sơ suất, không kiêng sợ tránh né chi cả. Dù thế, nhưng Dương Kỳ vẫn quên mình để kính thờ ngài, chỉ sợ công việc không chu toàn, chỉ lo mọi sự không trọn vẹn. Tuy phải xông vào chỗ rét buốt, dấn thân nơi nóng bức, nhưng chưa từng tỏ vẻ e ngại, lười biếng. Bắt đầu từ khi ở chùa Nam Nguyên, cuối cùng đến chùa Hưng Hóa, tất cả gần ba mươi năm trời, ngài đều nắm giữ tất cả cương luật, cho đến hết đời Từ Minh mới thôi. Như ngài Chân Như Triết, từ lúc đầu mang khăn gói đi hành cước, cho tới khi ứng thế lãnh chúng, lúc nào cũng vị pháp quên mình, như người đói được ăn, khát được uống, dù gặp lúc cấp bách vội vàng, ngài cũng không hề biến sắc, không nói vội vàng. Mùa Hạ không mở cửa sổ, mùa Ðông không gần bếp lửa, nghỉ trong một căn phòng vắng vẻ, bụi phủ đầy án. Ngài thường nói: "Kẻ nột tử nếu trong tâm không có kiến thức cao minh xa rộng, bên ngoài thiếu thầy nghiêm bạn tốt, thì ít có người thành được đại khí". Cho nên đương thời cứng cỏi như Phu Thiết Cước (1), quật cường như Tú Viên Thông mà các ngài cũng đều kính phục như gió lướt trên cỏ. Than ôi! Hai bậc đại lão này, quả thật là tấm gương soi nghiệm cho hàng nột tử ngàn đời sau vậy. 
Khả Am Ký Văn. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Phu Thiết Cước: Ứng Thiên Vĩnh Phu thiền sư, pháp tự của Lặc Ðàm Hoài Chừng, vì trong khi đi hành cước, ngài phải ép vào nhà dâm nữ, mà không sa ngã vào nữ sắc, nên có tên là Phu Thiết Cước. 
205.- CHỮ HÁN: Tử Thiều đồng Diệu Hỷ, Vạn Am tam nhân nghệ tiền đường Bản Thủ Tọa liêu vấn tật. Diệu Hỷ viết: "Lâm hạ nhân thân an nhiên hậu khả dĩ học đạo". Vạn Am trực vi bất nhiên: "Tất dục học đạo bất đương cánh cố kỳ thân". Diệu Hỷ viết: "Nhĩ giả hán hựu điên da?". Tử Thiều tuy trọng Diệu Hỷ chi ngôn, nhi chung ái Vạn Am chi ngữ vi đáng. 
Ký Văn. 
205.- DỊCH NGHĨA: Tử Thiều cùng Diệu Hỷ, Vạn Am ba người đều đến thăm bệnh Bản Thủ Tọa (1) ở một phòng nơi trượng đường. Diệu Hỷ nói: "Ngườitrong chốn thiền lâm, thân có mạnh khỏe, sau mới có thể học đạo được". Vạn Am bảo thẳng rằng: "Nếu người muốn học đạo, tất nhiên, không nên đoái tưởng đến thân mình". Diệu Hỷ nói: "Giả thử đặt ông là người bệnh như thế này, có lẽ ông lại chẳng hóa điên hay sao?". Tử Thiều tuy trọng lời nói của Diệu Hỷ, nhưng vẫn thích lời nói của Vạn Am là chánh đáng. 
Ký Văn. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Bản Thủ Tọa: Ngộ Bản Thủ Tọa chùa Kiến Phúc, pháp tự của Ðại Tuệ Cảo thiền sư. 
206.- CHỮ HÁN: Tử Thiến vấn Diệu Hỷ: "Phương kim trụ trì hà tiên". Diệu Hỷ viết: "An trược thiền hòa tử bất quá tiền cốc nhi dĩ". Thời Vạn Am tại tọa, dĩ vị: "Bất nhiên, kế thường trụ sở đắc, thiện năng tổn tiết phù phí, dụng chi hữu đạo, tiền cốc bất thắng số hỹ hà túc vi lự. Nhiên đương kim trụ trì, duy đắc bão đạo nột tử vi tiên. Giả sử trụ trì hữu trí mưu, năng chử thập niên chi lương, tọa hạ vô bão đạo nột tử. Tiên thánh sở vị: Tọa tiêu tín thí, ngưỡng quí Long Thiên, hà bổ trụ trì". Tử Thiều viết: "Thủ Tọa sở ngôn cực đáng". Diệu Hỷ hồi cố Vạn Am viết: "Nhất cá cá đô tự nhĩ". Vạn Am hưu khứ. 
Khả Am Tập. 
206.- DỊCH NGHĨA: Tử Thiều hỏi Diệu Hỷ: "Thời nay, các nơi trụ trì, cần phải thực hiện điều gì trước?". Diệu Hỷ nói: "An định Tăng chúng, bất quá chỉ cần tiền và gạo mà thôi". Lúc đó, Vạn Am cũng ngồi tại đó liền bảo: "Không phải thế, trụ trì cần phải kế toán của cải thu vào được của thường trụ. Nếu biết cắt bớt những món chi tiêu lãng phí, chỉ dùng vào việc hợp đạo thì tiền và gạo chẳng thiếu chi, đâu phải là việc đáng lo ngại. Song le, việc của người trụ trì hiện nay chỉ cần có được các hàng nột tử giữ đạo là việc cần thiết trước nhất. Giả sử, người trụ trì có mưu trí tích chứa được lương thực ăn trong mười năm, mà dưới tòa mình không có người nột tử giữ đạo, thì đúng như lời Tiên thánh đã nói: Ngồi ăn uổng phí của tín thí, ngửa mặt hổ thẹn với Long Thiên, thì trụ trì có bổ ích gì vậy". Tử Thiều nói: "Thủ Tọa nói rất xác đáng". Diệu Hỷ quay lại bảo Vạn Am: "Tất cả mọi việc đều giống như ý ông chăng?" Vạn Am lặng thinh lui gót. 
Khả Am Tập. 
207.- CHỮ HÁN: Vạn Am Nhan Hòa thượng viết: Diệu Hỷ tiên sư sơ trụ Kính Sơn. Nhân dạ xam, trì luận chư phương, cập Tào Ðộng tôn chỉ bất dĩ. Thứ nhật Âm Thủ Tọa vi tiên sư viết: "Phù xuất thế lợi sinh tố phi tế sự. Tất dục phù chấn tôn giáo, đương tùy thời dĩ cứu tệ, bất tất thủ mục tiền chi khoái. Hòa thượng tiền nhật tác thiền hòa tử trì luận chư phương, do bất khả vọng, huống kim đăng Bảo Hoa Vương tọa, xưng thiện trí thức da". Tiên sư viết: "Dạ lai nhất thời chi thuyết yên". Thủ tọa viết: "Thánh hiền chi học bản ư thiên tính, khởi khả xuất nhiên!". Tiên sư khể thủ tạ chi. Thủ Tọa do thuyết chi bất dĩ. Vạn Am viết: "Tiên sư thoán Hành Dương. Hiền thị giả lục biếm từ, yết thị Tăng đường tiền. Nột tử như thất phụ mẫu, thế tứ sầu thán, cư bất hoàng xứ". Âm Thủ Tọa nghệ chúng liêu bạch chi viết: "Nhân sinh họa hoạn bất khả cẩu miễn. Sử Diệu Hỷ bình sinh như phụ nhân nữ tử, lục trần hạ bản, giam mặc bất ngôn, cố vô kim nhật chi sự. Huống Tiên thánh sở ưng vi giả bất chỉ ư thị. Nhĩ đẳng hà khổ tự thương. Tích Từ Minh, Lang Gia, Cốc Tuyền, Ðại Ngu kết bạn tham Phần Dương. Thích đương tây bắc dụng binh. Toại dịch y hỗn hỏa đội trung vãng. Kim Kính Sơn, Hành Dương tương khứ bất viễn. Ðạo lộ tuyệt gián quan, sơn xuyên vô hiểm trở. Yếu kiến Diệu Hỷ phục hà nan hồ!".Do thị nhất chúng tịch nhiên. Dực nhật tương kế nhi khứ. 
Lư Sơn Trí Lâm Tập. 
207.- DỊCH NGHĨA: Vạn Am Nhan Hòa thượng (1) nói: Diệu Hỷ tiên sư lúc mới ở chùa Kính Sơn, nhân một buổi dạ xam, bàn luận đến công việc ở các nơi, và tôn chỉ tông Tào Ðộng (2) rất là sôi nổi. Ngày hôm sau Âm Thủ Tọa (3) bảo tiên sư rằng: "Ôi! Việc ra đời độ sanh, vốn không phải là việc nhỏ. Ông nếu muốn phù trì chấn hưng tôn giáo nên phải tùy thời để cứu vãn tệ hại, bất tất phải lấy việc vui trước mắt. Ngay như hôm qua Hòa thượng làm vị Tăng bàn luận công việc các nơi cũng còn không thể nói hồ đồ được, nữa là hôm nay lên tòa Bảo Hoa Vương, xưng là thiện trí thức vậy ư?". Tiên sư nói: "Ðêm qua chỉ là sự bàn luận nhất thời mà thôi". Thủ Tọa nói: "Cái học của Thánh hiền vốn ở thiên tính, đâu có thể khinh xuất được vậy?". Tiên sư cúi đầu tạ lễ. Thủ Tọa còn nói mãi không thôi. Vạn Am nói: "Tiên sư khi bị đày ở đất Hành Dương (4). Hiền thị giả (5) chép lời bá cáo bị đày đó, yết thị trước Tăng đường, các nột tử nghe biết ai nấy đều đau khổ như người mất cha mẹ. Âm Thủ Tọa tới trước phòng Tăng chúng biện bạch rõ về việc đó rằng: "Họa hoạn của con người, không ai tránh khỏi, ví khiến bình sinh, Diệu Hỷ giống đàn bà con gái, chịu đựng ở địa vị thấp kém, ngậm miệng làm thinh không nói, cố nhiên sẽ không xảy ra sự việc như ngày nay. Huống hồ chỗ phải làm của tiên sư, lại không phải là ở chỗ đó. Xưa kia Từ Minh, Lang Gia, Cốc Tuyền (6) và Ðại Ngu (7) kết bạn, cùng tới tham học ngài Phần Dương, gặp lúc triều đình đem quân đóng khắp miền tây bắc để tảo thanh giặc giả, các ngài phải đổi áo lẫn vào đám quân lính mà đi. Nay từ Kính Sơn đến Hành Dương cách nhau không xa, đường lối không gián đoạn, núi sông không hiểm trở, nếu chúng Tăng muốn đến yết kiến Diệu Hỷ thì có khó khăn gì?". Vì thế mà cả chúng đều im lặng. Ngày hôm sau chúng Tăng cùng nối gót nhau đi tới thăm ngài Diệu Hỷ. 
Lư Sơn Trí Lâm Tập. 
CHÚ THÍCH: 
(1): Ðại ý thiên này chia làm hai đoạn. Ðoạn một nêu cao về tác phong đạo đức của thầy. Ðoạn hai chỉ rõ sự họa hoạn của kiếp người không ai tránh khỏi. 
(2) Tào Ðộng: Ðộng Sơn Lương Giới thiền sư, người đất Cối Kê, pháp tự của Vân Nham Ðàm Thành thiền sư. Và, Tào Sơn Bản Tịch thiền sư người Tuyên Châu, pháp tự của Ðộng Sơn Lương Giới. Hai vị này sáng lập ra tông phái thiền riêng, lấy tên là "Tào Ðộng Tôn". 
(3) Âm Thủ Tọa: Pháp Âm Thủ Tọa thiền sư, pháp tự của Trường Lư Hòa thiền sư. 
(4) Tiên sư bị đày ở Hành Dương: Ðời Tống Cao Tôn, niên hiệu Thiệu Hưng năm thứ 7, vua ban chiếu chỉ mời Diệu Hỷ trụ trì chùa Năng Nhân ở Kính Sơn. Năm Thiệu Hưng thứ 11, ông Trương Tử Thành tự Tử Thiều cùng các vị đại phu đến yết kiến, bàn về câu chuyện cách vật. Diệu Hỷ nói: "Các ông chỉ biết có cách vật mà không biết được vật cách". Các ông kia không hiểu chi cả nên hỏi lại. Diệu Hỷ nói: "Các ông xem tiểu thuyết không thấy chuyện nhà Ðường có An Lộc Sơn làm phản hay sao? An Lộc Sơn trước làm Quận Thú ở Lương Châu, có vẽ một bức tranh vẫn còn lưu lại đó. Khi vua Ðường Minh Hoàng đi sang Thục qua đây, nhà vua thấy bức tranh ấy giận lắm, liền sai bầy tôi lấy gươm chém cổ bức tranh ấy, đầu rơi xuống đất, thì tự nhiên An Lộc Sơn ẩn ở trong núi lúc ấy, đầu cũng rơi xuống đất". Ông Trương Cửu Thành nghe tới đây tỉnh ngộ. Nhân thế, ngài Diệu Hỷ lại nói thêm về chuyện Thần Tỷ Cung, Tần Cối nghe được chuyện Thần Tỷ Cung, ngờ Trương Cửu Thành có ý làm phản, liền đem chuyện này tâu triều đình. Vì thế, vua liền đày ngài Diệu Hỷ ra Hành dương và giáng chức Trương Cửu Thành xuống làm Quận Thú Nam Khang. 
(5) Hiền Thị giả: tức Phúc Nghiêm Liễu Hiền thiền sư, pháp tự của Ðại Tuệ Cảo thiền sư. 
(6) Cốc Tuyền: Ðại Ðạo Cốc Tuyền thiền sư, ở am Ba Tiêu núi Nam Nhạc, pháp tự của Phần Dương Chiêu thiền sư, đời thứ 10 phái Nam Nhạc. 
(7) Ðại Ngu: Thủ Chi thiền sư núi Ðại Ngu, pháp tự của Phần Dương Chiêu thiền sư. 
(8) Phần Dương: Phần Dương Thiện Châu thiền sư, pháp tự của Thủ Sơn Niệm thiền sư, đời thứ 9 phái Nam Nhạc. 
208.- CHỮ HÁN: Vạn Am viết: Tiên sư đi Mai Dương. Nột tử gián hũu thiết nghị giả. Âm Thủ Tọa viết: "Ðại phàm bình luận ư nhân. Ðương ư hữu quá trung cầu vô quá, cự khả ư vô quá trung cầu hữu quá. Phù bất sát kỳ tâm nhi nghi kỳ tích, thành hà dĩ úy tùng lâm công luận. Thả Diệu Hỷ đạo đức tài khí xuất ư thiên tính. Lập thân hành sự duy nghĩa thị tòng, kỳ độ lượng cố quá ư nhân, kim tạo vật ức chi tất hữu đạo hỹ. An đắc bất tri kỳ vi pháp môn dị thời chi phúc da". Văn giả tự thử bất phục nghị luận hỹ. 
Trí Lâm Tập. 
208.- DỊCH NGHĨA: Vạn Am (1) nói: Khi Diệu Hỷ tiên sư lại phải bị đày đến huyện Mai Dương (2), trong hàng nột tử có người bàn lén về việc đó. Âm Thủ Tọa nói: "Ðại phàm bình luận về người, nên ở trong chỗ có lỗi lầm, mà tìm ra chỗ không có lỗi, há nên ở chỗ không có lỗi lầm mà tìm ra chỗ có lỗi. Ôi! Nếu không xét được tâm của người, mà nghi ngờ về dấu vết đó (3), thì đem cái gì để an ủi công luận chốn tùng lâm. Vả lại tài khí và đạo đức của Diệu Hỷ, phát xuất ở thiên tính, lập thân và làm việc chỉ theo nghĩa khí, độ lượng lại hơn người. Nay tạo vật ức chế ngài, tất phải có đường lối vậy (4)". Những người được nghe lời trình bày thế rồi, từ đó trở đi không còn ai nghị luận nữa. 
Trí Lâm Tập. 
CHÚ THÍCH: 
(1): Ðại ý thiên này nói về hành vi của bậc đại đức thì không phải chỗ người thường có thể biết được, vậy chớ nên bình luận hồ đồ. 
(2) Ðày đến huyện Mai Dương: Diệu Hỷ khi bị đày ra Hành Dương, ngài trước tác ba quyển Chánh Pháp Nhãn Tạng, bị người đời sàm tấu, lại phải bị đày đến huyện Mai Dương, không bao lâu ngài lại được mặc áo đạo trở lại. Tới niên hiệu Thiệu Hưng năm thứ 20, nhà vua hạ chiếu chỉ ngài trụ tri chùa A Dục Vương. Năm thứ 28, lại được chiều chỉ mời ngài trụ trì chùa Kính Sơn. Ngài tịch vào năm đầu niên hiệu Long Hưng đời vua Hiếu Tôn. 
(3) Dấu vết: Dấu vết bị đi đày. 
(4): Lời nói này chỉ là lời nói suông của Âm Thủ Tọa, nhưng sau đó 15 năm, ngài Diệu Hỷ được vua Cao Tôn đại xá. Tới niên hiệu Thiệu Hưng năm thứ 20, được nhà vua mời ngài trụ trì chùa A dục Vương v.v... 
209.- CHỮ HÁN: Âm Thủ Tọa vị Vạn Am viết: Phù xưng thiện trí thức, đương tẩy trạc kỳ tâm, dĩ chí công chí chính tiếp nạp tử lai. Kỳ gian hữu bão đạo đức nhân nghĩa giả. Tuy hữu thù khích tất tu tiến chi. Kỳ hoặc gian tà hiểm bạc giả. Tuy hữu tư ân tất tu viễn chi. Sử lai giả các tri sở thủ, nhất tâm đồng đức, nhi tùng lâm an hỹ. 
Dữ Diệu Hỷ thư. 
209.- DỊCH NGHĨA: Âm Thủ Tọa bảo Vạn Am: Ôi! Gọi là bậc thiện trí thức nên phải gột rửa tâm mình, lấy tâm chí công chí chính đẻ tiếp nhận nột tử khắp bốn phương. Trong số đó, nếu có người giữ đạo đức nhân nghĩa, thì dù là thù nghịch hiềm khích với mình, tất cũng nên tiến cử người ấy. Nhưng nếu trong số đó, hoặc có kẻ gian tà hiểm bạc, thì mặc dù người đó có ân huệ riêng với mình, cũng tất phải xa lánh họ. Khiến cho người đời sau, để biết được những điều mình cần phải giữ, để cùng một lòng, cùng tu đức. Ðược như thế thì tùng lâm an vậy. 
Thư gởi Diệu Hỷ. 
210.- CHỮ HÁN: Âm Thủ Tọa vị Vạn Am viết: Phàm trụ trì giả, thục bất dục kiến lập tùng lâm, nhi tiển năng khắc chấn giả, dĩ kỳ vong đạo đức phế nhân nghĩa, xả pháp độ nhậm tư tình, nhi chí nhiên dã. Thành niệm pháp môn điêu táng, đương chính kỷ dĩ hạ nhân, tuyển hiền dĩ tá hựu. Suy tưởng túc đức, sơ viễn tiểu nhân. Tiết kiệm tu ư thân, đức huệ cập ư nhân. Nhiên hậu sở dụng chấp thị chi nhân, sảo cận lão thành giả tồn chi, tiện nịnh giả sơ chi. Quý vô xú ác chi băng, thiên đảng chi loạn dã. Như thử tắc Mã Tổ, Bách Trượng khả bạn, Lâm Tế, Ðức Sơn khả đãi. 
Trí Lâm Tập. 
210.- DỊCH NGHĨA: Âm Thủ Tọa bảo Vạn Am: Phàm người trụ trì, ai chẳng muốn gây dựng tùng lâm. Nhưng ít người hay chấn hưng được tông phong. Vì lẽ, người trụ trì quên mất đạo đức, bỏ cả nhân nghĩa, phá hoại pháp độ, noi theo ý riêng mình, mà đưa đến như thế. Nếu người hay thành thật nghĩ đến cảnh điêu tàn của pháp môn, thì nên phải chính đính ở chính mình, nhún nhường với người, tuyển chọn người hiền để giúp đở, tưởng lệ kẻ túc đức. Xa lánh kẻ tiểu nhân, tiết kiệm nơi bản thân, gia đức huệ với người. Vậy sau, việc tuyển dụng người giữ gìn công việc hay thị giả, phải tìm những người gần cận bậc lão thành, xa lánh kẻ xiểm nịnh, quí trọng ở chỗ họ không gây điều chê trách xấu ác, không gây mầm loạn bè đảng thiên tư. Ðược như thế thì có thể sánh với Mã tổ, Bách Trượng kịp với Lâm Tế (1), Ðức Sơn (2). 
Trí Lâm Tập. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Lâm Tế: Lâm Tế Viện, Nghĩa Huyền thiền sư, pháp tự của Hoàng Nghiêt Hy Vận thiền sư, đời thứ 4 phái Nam Nhạc. 
(2) Ðức Sơn: Ðức Sơn Tuyên Giám thiền sư, pháp tự của Long Ðàm Sùng Tín thiền sư, đời thứ 4 phái Nam Nhạc. 
211.- CHỮ HÁN: Âm Thủ Tọa viết: Cổ chi Thánh nhân dĩ vô tai vi cụ. Nãi viết: "Thiên khởi khí bất cốc hồ?". Phạm Văn Tử viết: "Duy Thánh nhân năng nội ngoại vô hoạn. Tự phi Thánh nhân ngoại ninh tất nội ưu!". Cổ kim hiền đạt tri kỳ bất năng miễn. Thường cẩn kỳ thủy vi chi tự phòng. Thị cố nhân sinh sảo hữu ưu lao, vi tất bất vi chung thân chi phúc. Cái họa hoạn báng nhục, tuy Nghiêu, Thuấn bất khả đào huống kỳ tha hồ. 
Dữ Diệu Hỷ thư. 
211.- DỊCH NGHĨA: Âm Thủ Tọa nói: Thánh nhân xưa kia lấy việc không có tai họa làm lo sợ, nên nói (1): "Trời há lại bỏ kẻ chẳng hiền này vậy ư?". Phạm Văn Tử cũng nói: "Duy có bậc Thánh nhân mới có thể không có điều lo âu ở trong tâm cũng như ngoài thân. Tự mình không phải là Thánh nhân, bề ngoài tuy có vẻ được yên ổn, nhưng trong lại lo buồn". Những bậc hiền đạt xưa nay, biết điều đó không thể tránh khỏi, nên thường phải cẩn thận ở ngay lúc ban đầu để tự đề phòng. Thế nên, đời người nếu hơi có chút lo âu khổ nhọc, chưa hẳn không phải là cái phúc của trọn đời. Bởi lẽ, họa hoạn báng nhục (2) tuy là vua Nghiêu, vua Thuấn cũng không thể tránh được, huống hồ là người khác vậy ư? 
Thư gởi Diệu Hỷ. 
CHÚ THÍCH: 
(1): Tư Mã Quang nói: Vua Trang Công nước Sở lấy việc không có tai ương làm lo sợ, nên nói: "Trời há bỏ kẻ chẳng hiền này vậy ư?". 
(2) Báng nhục: Vì vua Nghiêu có tâm bất từ, vua Thuấn có lỗi bất hiếu. 
212.- CHỮ HÁN: Vạn Am Nhan Hòa thượng viết: Tỷ kiến tùng lâm tuyệt vô lão thành chi sĩ. Sở chí tam bách, ngũ bách nhất nhân vi chủ, đa nhân vi bạn cứ pháp vương vị, niêm trùy thụ phất, hỗ tương khi cuống, túng hữu đàm thuyết bất thiệp điển chương. Nghi kỳ vô lão thành nhân dã. Phù xuất thế lợi sinh, đại Phật dương hóa, phi minh tâm đạt bản hành giải tương ưng, cự cảm vi chi. Thí như hữu nhân vọng hiệu đế vương, tự thủ chu diệt. Huống phục pháp vương, như hà vọng thiết. Ô hô! Khứ Thánh du viễn, Thủy Lão Hạc chi thuộc, hựu phục tung hoành, sử Tiên thánh hóa môn, nhật tựu luân nịch. Ngô dục vô ngôn khả hồ. Thuộc am cư vô sự, điều trần thương phong bại giáo, vị hại thậm giả nhất nhị, lưu bá tùng lâm, tỷ hậu sinh vãn tiến, tri tiền bối căn căn nghiệp nghiệp, dĩ hạ phụ đại pháp vi tâm. Như băng lăng thượng hành, kiếm nhận thượng tẩu. Phi cẩu danh lợi dã. Tri ngã tội ngã, ngô vô từ yên. 
Trí Lâm Tự. 
212.- DỊCH NGHĨA: Vạn Am Nhan Hòa thượng nói: Gần đây ta thấy chốn tùng lâm, tuyệt nhiên không có kẻ sĩ lão thành. Có nơi từ 300 đến 500 người, thì duy có một người làm chủ, còn nhiều người làm bạn, rồi nương vào ngôi vị pháp vương, cũng đánh trùy vẫy phất, dối trá lẫn nhau, ví có nói bàn lại không hợp với kinh sách. Ðó là tùng lâm không có các bậc lão thành. Ôi! Ra đời lợi sinh, thay Phật tuyên dương giáo hóa, nếu không phải là người minh tâm đạt bản, làm và hiểu cùng ăn khớp với nhau, thì đâu dám kham đang việc đó. Ví như có người vọng xưng là Ðế vương, thì chắc chắn tự họ phải chuốc lấy tội tru diệt, huống chi lại là ngôi pháp vương, như thế nào lại dám trộm xưng càn bậy được sao? Than Ôi! Cách thời Phật càng xa, những người thuộc loại "Thủy Lão Hạc" (1)lại mặc sức tung hoành, khiến cho cửa giáo hóa của Tiên thánh ngày một đi tới chỗ đắm chìm, ta muốn không nói có thể vậy ư? Nay đang lúc Vạn Am Nhan này nhàn rỗi công việc, nên điều trần một vài sự kiện thương phong bại giáo, nó làm hại cho đạo pháp rất nhiều, để lưu bá trong chốn tùng lâm, khiến cho những kẻ hậu sinh vãn tiến, biết được rằng, những bậc tiền bối lúc nào cũng luôn luôn lo sợ, về nhiệm vụ đem tâm bảo vệ Phật pháp, như người đi trên lớp băng mỏng, chạy trên đống gươm giáo, chứ không phải là người tham cầu danh lợi vậy. Ai khen ta hoặc chê ta, ta điều không chối cãi. 
Trí Lâm Tự. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Thủy Lão Hạc: Khi ngài A Nan Ðà, cùng với các Tỳ Kheo ở Trúc Lâm viên, có một vị Tỳ kheo tên là Thủy Lão hạc, tụng bài kệ rằng: "Nếu người sống trăm tuổi, không thấy Thủy Lão Hạc, chẳng bằng sống một ngày, mà được trông thấy nó". Ngài A Nan nghe thấy thế mới bảo vị Tỳ kheo kia rằng: "Bài kệ đó không phải là lời đức Phật, ông nên nghe tôi nói bài kệ của đức Phật nói như sau: "Nếu người sống trăm tuổi, không liễu pháp sinh diệt, chẳng bằng sống một ngày, mà hiểu được pháp đó". Lúc đó vị Tỳ kheo về trình bày lại với thầy mình. Ông thầy của vị Tỳ kheo đó nói: "A Nan là người già nua, nói năng sai lầm, không thể tin cậy, ông nên tin theo bài kệ trưóoc mà tụng". Chủ ý của đoạn này nhấn mạnh ở chỗ phải chỉnh lại cái óc thiên kiến của mình vậy. 
213.- CHỮ HÁN: Vạn Am viết: Cổ nhân thượng đường, tiên đề đại pháp cương yếu, thẩm vấn đại chúng. Học giả xuất lai thỉnh ích toại hình vấn đáp. Kim nhân đỗ soạn tứ cú lạc vận thi, hoán tác điếu thoại. Nhất nhân đột xuất chúng tiền, cao ngâm cổ thi nhất liên, hoán tác mạ trận, tục ác tục ác, khả bi khả thống. Tiền bối niệm sinh tử sự đại, đối chúng quyết nghi. Ký dĩ phát minh, vị khởi sinh diệt tâm dã. 
[b]213.- DỊCH NGHĨA: Vạn Am nói: Cổ nhân, nếu mỗi khi lên thượng đường, trước hết đề ra cương yếu của đại pháp, rồi tham vấn đại chúng, để người học đạo lui tới thỉnh cầu pháp lợi, tùy theo chỗ hỏi và trả lời, mà hình thành phương thức vấn đáp ngộ đạo. Người đời nay lại giả tạo bốn câu thơ lạc vận, gọi đó là "điếu thoại" (lời giả tạo không phải chân truyền), chỉ một người xuất hiện đột ngột đại chúng, cao ngâm một bài cổ thì, gọi đó là "mạ trận" (trận mắng giả tạo về cách thức truyền thừa của cổ nhân), thật là thấp kém lố lăng, đáng đau đáng buồn vậy! Các bậc tiền bối xưa kia thì luôn luôn nghĩ tới việc lớn của sanh tử đối trước chúng để quyết đoán chỗ nghi ngờ. Một khi đã phát minh được chân lý, thì chưa bao giờ khởi ra tâm sanh diệt nữa vậy. 
214.- CHỮ HÁN: Vạn Am viết: Phù danh hạnh tôn túc chi viện, chủ nhân thăng tọa, đương khiêm cung tự tạ. Khuất tôn tựu ty tăng trọng chi ngữ. Hạ tọa đồng thủ tọa đại chúng, thỉnh thăng vu tọa, thứ văn pháp yếu. Ða kiến cận thời, tương thượng cử cổ nhân công án, linh đối chúng phê phán, hoán tác nghiệm tha, thiết mạc manh thử tâm. Tiên thánh vị pháp vong tình, đồng kiến pháp hóa hỗ tương thù xướng, linh pháp cửu trụ, khẳng dung tâm sinh diệt dữ thử ác niệm da. Lễ dĩ khiêm vi chủ, nghi thâm tư chi. 
[b]214.- DỊCH NGHĨA: Vạn Am nói: Ôi! Nếu có bậc tôn túc đầy đủ uy danh đức hạnh tới thăm tự viện, thì chủ nhân phải thăng tòa, dùng lời khiêm tốn cung kính giới thiệu và cảm tạ, phải khuất thân ở ngôi cao, lui về tòa thấp để tăng phần kính trọng. Khi đã giới thiệu xong, chủ nhân xuống tòa, cùng với các hàng Thủ tọa và đại chúng cùng đều ra đảnh lễ và cầu thỉnh vị tôn túc ấy thăng tòa, hầu mong được nghe lãnh pháp yếu. Thời gian gần đây, ta thấy nhiều nơi tự viện, cũng làm ra vẻ ham chuộng phần đức hạnh bậc tôn túc, bằng cách đem những công án của cổ nhân, đối trước chúng nhân để phê phán, gọi đó là cách thí nghiệm kiến thức ở người. Ta thiết tưởng không nên manh nha làm thử thách hơn thua như thế. Bậc Tiên thánh vị pháp quên tình, chỉ muốn cùng nhau xây dựng việc truyền pháp giáo hóa, nên mới đặt ra phương thức thù xướng lẫn nhau, mong cho giáo pháp được tồn tại ở thế gian lâu dài, chứ không hề có dung chứa tâm sinh diệt, mà gây ra ác niệm ấy vậy! Lễ cần phải lấy nhún nhường làm chủ, nên cần suy nghĩ kỹ lưỡng. 
215.- CHỮ HÁN: Vạn Am viết: Tỷ kiến sĩ Ðại phu, Giám ty, Quận thú nhập sơn hữu xứ, thứ nhật linh thị giả thủ phúc Trưởng lão, kim nhật đặc vị mỗ quan thăng tòa, thử nhất tiết do nghi tam tư. Nhiên cổ lai phương sách trung tuy tải, giai thị sĩ đại phu phỏng tầm tri thức nhi lai. Trụ trì nhân nhân sam thứ, luợc đề ngoại hộ giáo môn quang huy tuyển thạh chi ý. Ký thị gia lý nhân, thuyết gia lý nhân lưỡng tam cú đạm thoại, linh bỷ sinh kính. Như Quách Công Phụ, Dương Thứ Công phỏng Bạch Vân. Tô Ðông Pha, Hoàng Thái Sử kiến Phật Ấn, tiện thị dạng tử dã. Khởi thị đặc địa vọng vi thủ tiếu thức giả. 
[b]215.- DỊCH NGHĨA: Vạn Am nói: Gần đây thấy các sĩ Ðại phu, Giám ty hay Quận thú vào núi để tìm xem có chốn nào khả dĩ hỏi đạo. Thế rồi, ngày hôm sau liền sai người hầu tới trình bậc Trưởng lão: "Ngày hôm nay đặc biệt xin ngài vì mỗ quan thăng tòa thuyết pháp". Ấy, chỉ một sự việc này, cũng nên phải suy nghĩ rất nhiều rồi hãy thực hiện theo. Bởi lẽ, cổ lai trong sách vở tuy có chép về việc các sĩ Ðại phu tới tự viện, nhưng các vị này đều vì mục đích tìm hỏi đạo bậc trí thức mà tới. Người trụ trì nhân chỗ tham vấn xong sẽ trình bày đại khái về ý nghĩa ngoại hộ giáo môn, về ý nghĩa làm rạng rỡ nơi tuyền thạch (tùng lâm). Nếu các sĩ Ðại phu đó đã là người bạn đạo trong nhà thiền thì chỉ nói vài ba câu chuyện trong nhà để họ sinh lòng chánh tín. Cũng như Quách Công Phụ, Dương Thứ Công (1) hỏi đạo ngài Bạch Vân. Tô Ðông Pha, Hoàng Thái Sử (2) yết kiến ngài Phật Ấn là những người mến đạo mà tới, chứ đâu có phải là nương vào địa vị đặc biệt mà làm sằng để người thức giả chê cười. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Quách Công Phụ, Dương Thứ Công: Quách Công Phụ đã tham học ngài Bạch Vân Ðoan nhiều năm, sự ứng đối rất hợp đạo. Dương Thứ Công cũng là người thích tham thiền, nhân một hôm được phỏng vấn ngài Bạch Vân Ðoan, qua một buổi dạ thoại, Dương Thứ Công liền hiểu được tông chỉ của thiền tông. 
(2) Tô Ðông Pha, Hoàng Thái Sử: Tô Ðông Pha cư sĩ tới tham học với ngài Phật Ấn. Phật Ấn nói: "Nơi này không có giường chõng chi cả, ông phải làm thế nào?". Cư sĩ đáp: "Tạm mượn thân tứ đại của ngài làm giường ngồi". Phật Ấn nói: "Sơn Tăng đặt một câu hỏi, nếu không đáp được ông phải cởi bỏ đai ngọc để lại". Tô Ðông Pha vui vẻ nhận lời. Phật Ấn nói: "Ông nói mượn thân tứ đại của sơn Tăng, nhưng thân của sơn Tăng này vốn là không, năm uẩn cũng chẳng có, thì ông lấy cái gì để mà ngồi". Tô Ðông Pha không đáp được, liền cởi đai ngọc lưu lại. Phật Ấn cũng tặng cho Tô Ðông Pha một chiếc áo vá làm kỷ niệm. Hoàng Thái Sử: Thấy ngài Phật Ấn ngồi trên thiền đường liền hỏi: "Sau khi đức Phật nhập diệt nơi Song lâm rồi thì ai là Phật? Hải ấn phát quang minh thì ấn ấy là ai?" Ngài Phật Ấn đáp: "Trái Ðông qua ở Giang Nam là giống ở Giang Bắc, trái Tây qua ở Giang Bắc là trồng ở Giang Bắc". Hoàng Thái Sử im lặng không nói. 
216.- CHỮ HÁN: Vạn Am viết: Cổ nhân nhập thất tiên linh quải bài. Các nhân vị sinh tử sự đại, dũng dược lại cầu quyết trạch. Ða kiến cận thời vô vấn lão bệnh, tận linh lai nạp giáng khoản. Hữu sạ tự nhiên hương, an dụng công giới khu chi. Nhân thử vọng sinh tiết mục,tân chủ bất an, chủ pháp giả đương tư chi. 
[b]216.- DỊCH NGHĨA: Vạn Am nói: Cổ nhân nhập thất trước hết là tập Tăng treo bảng báo cáo cho đại chúng biết, rồi sau những người vì đại sự sinh tử vui mừng cùng tới để mong cầu quyết trạch (quyết trạch thám áo, chứng ngộ chân nguyên). Phần nhiều thấy các nơi ngày nay, khi nhập thất thì không cứ là người già người bệnh, hết thảy đều khiến họ phải nộp giáng khoản (một khoản lễ vật để tỏ lòng chí thành chí kinh, nếu không nộp tất nhiên không được nhập thất), Ôi! Hữu sạ tự nhiên hương, hà tất vị chủ pháp phải dùng đến danh nghĩa giới hạn công cộng để xua đuổi họ, ấy cũng nhân vì thế mà sinh ra biết bao nhiêu chuyện rắc rối, khiến cho chủ khách bất an. Người chủ pháp phải nên nghĩ kỹ về vấn đề này. 
217.- CHỮ HÁN: Vân Am viết: Thiếu Lâm Sơ Tổ, y bát song truyền. Lục Tổ y chỉ bất truyền, thủ hành giải tương ứng thế kỳ gia nghiệp, Tổ đạo du quang tử tôn ích phồn. Ðại Giám chi hậu, Thạch Ðầu, Mã Tổ giai đích tôn, ứng Bát Nhã Ða La huyền sấm: "Yếu giả nhi tôn cước hạ hành" thị dã. Nhị đại sĩ huyền ngôn diệu ngữ, lưu bá hoàn khu, tiềm phù mật chứng giả tỷ tỷ hữu chỉ. Sư pháp ký chúng, học vô chuyên môn. Tào Khê nguyên lưu, phái biệt vị ngũ, phương viên nhậm khí thuỷ thể thị đồng, các thiện giai thanh, lực hành kỷ nhậm. Ðẳng gian thùy nhất ngôn xuất nhất lệnh võng la học giả. Tùng lâm đỉnh phí phi cẩu nhiên dã. Do thị hỗ tương thù xướng, hiển vi xiển u, hoặc ức hoặc dương tá hựu pháp hóa. Ngữ ngôn vô vị, như chử mộc trát canh suy thiết đinh phạn, dữ hậu bối giảo tước mục vi niêm cổ. Kỳ tụng thủy tự Phần Dương, kỵ Tuyết Ðậu hoành kỳ âm, hiển kỳ chỉ, uông dương hồ bất khả khai. Hậu chi tác giả, trì sính Tuyết Ðậu nhi vi chi, bất cố đạo đức chi hề nhược, vụ dĩ văn thái hoán lạn tương tiên vi mỹ, sử hậu sinh vãn tiến, bất khắc kiến cổ nhân hồn thuần đại toàn chi chỉ. Ô hô! Dư du tùng lâm cập kiến tiền bối, phi cổ nhân ngữ lục bất khán, phi Bách Trượng hiệu lịnh bất thành. Khởi đặc hiếu cổ, cái kim chi nhân bất túc pháp dã. Vọng thông nhân đạt sĩ, tri ngã ư ngôn ngoại khả hỹ. 
[b]217.- DỊCH NGHĨA: Vạn An mói: Từ Sơ Tổ (Ðạt Ma) chùa Thiếu Lâm, trao truyền tâm ấn thì gồm cả y bát, nhưng đến đời Lục Tổ (Huệ Năng), ngưng việc truyền y, mà chỉ lấy phần hành giải tương ứng để nối dõi gia nghiệp, tiếp sáng ngôi Tổ, con cháu ngày càng phồn thịnh. Thế nên, kế tiếp ngài Ðại Giám (Lục Tổ) có Thạch Ðầu, Mã Tổ đều là những cháu đích tôn, thật ứng với lời huyền sấm của Bát Nhã Ða La (1): "Cần nhờ vào cẳng chân của con cháu để đi", là nghĩa thế vậy. Những huyền ngôn diệu ngữ của hai ngài đại sĩ trên, được lưu bá khắp trong thiên hạ, những người ngầm hợp được mật chứng ấy thường thường thấy xuất hiện khá nhiều. Vì pháp tu đạo của thầy đã nhiều, mà người học đạo lại không chuyên theo cùng một pháp môn nhất định. Thế nên, nguồn dòng của Tào Khê (Lục Tổ) chia thành năm phái (2). Tuy là đồ dùng vuông tròn có khác, nhưng thể của nước cũng vẫn chỉ là một. Ai nấy đều y cứ vào tiếng hay của phái mình, mà tận lực duy trì truyền bá. Bình thường tuy nói ra một lời, hay đưa ra một lệnh, cũng đều là những khuôn pháp mẫu mực cho người học đạo. Làm cho chốn tùng lâm được hưng thịnh không phải chỉ những có thế mà thôi. Bởi thế, nên lại có sự thù xướng lẫn nhau để diễn nghĩa vi tế, mở chỗ u huyền, hoặc nén xuống, hoặc nâng lên để giúp đở cho pháp hóa. Những lời nói vô vị như nấu võ cây làm canh, thổi đinh sắt làm cơm, để kẻ hậu bối gậm nhấm, gọi đó là niêm cổ. Tuy những lời niêm cổ này có bắt đầu từ thời ngài Phần Dương, nhưng đến thời Tuyết Ðậu lại mở rộng lời nói đó, hiển rõ ý chỉ đó, làm cho nghĩa lý rộng mênh mang như biển cả không bờ. Thế rồi, những tác giả ở sau lại bắt chước ngài Tuyết Ðậu để trứ tác không hề đoái hoài chi đến phần đạo đức mà chỉ chuyên dùng lời văn cao kỳ bóng bẩy hoa mỹ làm đẹp, khiến cho kẻ sinh sau tiến muộn không thể thấy được ý chỉ vẹn toàn thuần phác hồn nhiên của cổ nhân. Than ôi! Ta đi thăm các chốn tùng lâm, và yết kiến các bậc tiền bối, nếu không phải là ngữ lục của cổ nhân thì không xem, không phải là hiệu lệnh của Bách Trượng thì không làm. Ðó không phải là ta đặc biệt hiếu cổ mà chỉ vì người đời nay, không đủ làm khuôn phép để ta theo đó vậy. Ta mong tất cả những bậc thông nhân đạt sỉ nên hiểu ý của ta ở ngoài lời nói. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Huyền sấm Bát Nhã Ða La: Ðạt Ma Ðại sư tổ thứ 28 bên Tây Trúc, sau khi đắc pháp ở ngài Bát Nhã Ða La, người Ðông Thiên Trúc, Tổ thứ 27 của Thiền tông, kể từ thời đức Phật trở lại, ngài có hỏi Bát Nhã Ða La rằng: "Sau này phải đi đến chốn nào để làm Phật sự?" Ngài Bát Nhã Ða La nói: "Sau khi ta mất, ông sẽ tới nước Chấn Ðán (Trung Quốc) để truyền bá đại pháp". Ngài lại hỏi nơi ấy có bậc đại sĩ nào hay lãnh hội được pháp khí không?' Ngài đáp: "Nơi ông giáo hóa có rất nhiều người nối dõi, ta thấy có những người chứng đạo quả, vậy hãy nghe ta nói bài kệ: 
Thênh thang Chấn Ðán một con đường, 
Nhờ cậy cháu con việc xiển dương. 
Ðến lúc gà vàng buông hạt thóc, 
Cúng dường La hán khắp mười phương. 
Bài kệ trên, câu đầu có ý chỉ vào ngài Ðạo Nhất tức Mã Tổ Ðạo Nhất. Câu hai chỉ vào ngài Thạch Ðầu. Câu ba chỉ vào ngài Nam Nhạc Nhượng, người huyện Kim Kê. Câu bốn cũng chỉ vào ngài Mã Tổ ở chùa La Hán huyện Thập Phương tỉnh Tứ Xuyên. 
(2) Ngược dòng Tào Khê: Dòng Tào Khê: chia thành năm phái như sau: 
a.- Nam Nhạc, Mã Tổ, Bách Trượng: 
- Tông Lâm tế: Nghĩa Huyền Lâm Tế. 
- Tông Qui Ngưỡng: Qui Sơn, Ngưỡng Sơn. 
b.- Thiên Hoàng, Long Ðàm, Ðức Sơn: 
- Tông Vân Môn: Vân Môn. 
- Tông Pháp Nhãn: Pháp Nhãn. 
c.- Thanh Nguyên, Thạch Ðầu: 
- Tông Pháp Nhãn: Vân Phong, Dực Sơn, Vân Nham. 
- Tông Tào Ðộng: Ðộng Sơn, Tào Sơn. 
218.- CHỮ HÁN: Vạn Am viết: Tỷ kiến nột tử, hảo chấp thiên kiến bất thông vật tình, khinh tín nan hồi, ái nhân nịnh kỷ, thuận chi tắc mỹ, nghịch chi tắc sơ. Túng hữu nhất tri bán giải, phản bị thử đẳng ác tập sớ tế, chí bạch thủ nhi vô thành giả đa hỹ. 
Dữ thượng tịnh kiến Trí Lâm Tập. 
218.- DỊCH NGHĨA: Vạn Am nói: Gần đây thấy các nột tử hay chấp thiên kiến, không thông vật tình, nhẹ dạ tin sằng, khó quay lại đường chánh, ưa người nịnh mình, thuận thì khen, trái thì chê. Ví khiến có hiểu biết được một câu hay nửa câu chăng nữa, lại bị những ác tập ấy nó che lấp, cho đến khi bạc đầu mà cũng không thành đạt được thì nhiều vậy. 
Từ đây trở lên đều thấy trong Trí Lâm Tập. 
219.- CHỮ HÁN: Vạn Am viết: Tùng lâm sở chí tà thuyết xí nhiên, nãi vân: "Giới luật bất trì, định tuệ bất tất tập, đạo đức bất tất tu, thị dục bất tất khử". Hựu dẫn khởi Duy Ma, Viên Giác vi chứng. Tám tham, sân, si, sát, đạo, dâm vi phạm hạnh. Ô hô tư ngôn. Khởi đặc khởi tùng lâm kim nhật chi hại, chân pháp môn vạn thế chi hại dã. Thả bác đại phàm phu, tham sân ái dục nhân ngã vô minh, niệm niệm phan duyên, như nhất đỉnh chi phí, hà do thanh lãnh, Tiên thánh tất tư, đại hữu ư thử giả, toại thiết giới, định, tuệ tam học dĩ chế chi, thứ khả hồi dã. Kim hậu sinh vãn tiến, giới luật bất trì, định tuệ bất tập, đạo đức bất tu, chuyên dĩ bác học cường biện, dao động lưu tục, khiên chi mạc phản. Dư cố sở vị tư ngôn nãi vạn thế chi hại dã. Duy chính nhân hành cước cao sĩ, đương dĩ sanh tử nhất trước biện minh, trì thành tồn tín, bất vi thử bối khiên dẫn. Nãi viết: "Thử ngôn bất khả tín, do chậm độc chi phẩn, xà ẩm chi thủy, văn kiến do bất khả, huống thực chi hồ". Kỳ sát nhân vô nghi hỹ. Thức giả tự nhiên viễn chi hỹ. 
Dữ Thảo Ðường thư. 
219.- DỊCH NGHĨA: Vạn Am nói: Tùng lâm đã đến lúc các tà thuyết bộc khởi mạnh mẽ. Họ nói: "Giới luật không cần giữ, định tuệ bất tất phải tập, đạo đức cũng chẳng cần tu, thị dục hà tất phải bỏ". Rồi họ lại viện lý lẽ trong Kinh Duy Ma Cật (1), kinh Viên Giác (2) để dẫn chứng, tán thán tham, sân, si, sát, đạo, dâm làm phạm hạnh. Than ôi! Những lời nói ấy, đâu phải chỉ gây mối nguy hại ở ngày nay cho tùng lâm, mà còn là mối nguy hại muôn đời cho pháp môn vậy. Vã lại, kẻ phàm phu mờ mịt dày đặc, tham, sân, si, ái dục, nhân ngã, vô minh, niệm niện nương theo trần duyên, cũng như vạc nước sôi, cần phải nương vào cách chi để làm cho nó được trong mát. Do đó, bậc Tiên thánh ắt phải nghĩ ra điều có lợi ích lớn để đối phó với việc ấy, nên mớì đặt ra Giới, Ðịnh, Tuệ ba học để ngăn ngừa, ngõ hầu mới có thể chuyển vọng thành chơn được. Ngày nay, kẻ sinh sau tién muộn, không giữ giới luật, không tập định tuệ, không tu đạo đức, chuyên đem chỗ học rộng nói giỏi để lay động kẻ ngu muội, muốn dắt dẫn họ trở lại cũng chẳng được. Ta chắc chắn rằng, những lời nói ấy là mối nguy hại cho muôn đời. Duy những bậc cao sĩ chánh nhân hành cước, cần phải đem biện minh rõ việc đại sự sinh tử, giữ lòng thành tín, để không bị lôi kéo bởi bọn ấy. Rồi họ liền nói: "Lời nói ấy không thể tin được, cũng tựa như phân độc của loài chim chậm, nước uống của loài rắn độc, thì không nên nghe hay trông thấy, huống lại ăn uống thứ đó vậy ư?'. Chính đó là những lời giết người không còn ngờ vực gì nữa. Kẻ thức giả phải xa lánh họ là lẽ tất nhiên. 
Thư gởi Thảo Ðường. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Kinh Duy Ma Cật: Kinh nói: "Ðại thức Bồ tát, tuy vào nơi dâm xá, hay có vợ con, nhưng vẫn thường tu phạm hạnh". 
(2) Kinh Viên Giác: Kinh nói: "Hết thảy chướng ngại đều là cứu cánh giác, rồi đến các Giới, Ðịnh, Tuệ và dâm, nộ, si đều là phạm hạnh". Ðó là việc của đại quyền Thánh nhân thị hiện lợi sinh, mà ngoại đạo tà nhân lại lấy việc đó để dối người, lạm dụng sự cung kính. 
220.- CHỮ HÁN: Vạn Am viết; Thảo Ðường đệ tử, duy Sơn Ðường hữu cổ nhân chi phong. Trụ Hoàng Long nhật. Trị sự công cán, tất cụ uy nghi. Nghệ phương trượng thụ khúc triết. Nhiên hậu bị trà thang lễ, thủy chung bất dịch. Hữu Trí Ân Thượng Tọa, vị mẫu tu minh phúc, thấu hạ kim nhị tiền, lưỡng nhật bất tầm. Thánh Tăng Tài thị giả, nhân tảo địa nhi đắc chi, quải thập di bài. Nhất chúng phương tri. Cái chủ pháp giả thanh tịnh, sở dĩ thượng hành hạ hiệu dã. 
Thanh Tuyền Tập. 
220.- DỊCH NGHĨA: Vạn Am nói: Ðệ tử của Thảo Ðường, duy có Sơn Ðường là người có tác phong của cổ nhân. Ngày ở chùa Hoàng Long, vị Tri sự mỗi khi có việc công cộng của đại chúng, trước hết phải đầy đủ uy nghi, tới nhà phương trượng nhận lãnh chỉ thị rõ ràng, và sau đó mới chỉnh bị nghi lễ trà thang, trước sau không thay đổi. Nhân có Trí Ân Thượng tọa, sửa minh phúc để cầu siêu độ cho mẹ chẳng may đánh rớt hai đồng tiền, đã hai ngày không tìm thấy, nhân lúc Thánh Tăng Tài thị giả quét nhà bắt được, liền treo bảng thập di (Bảng báo nhặt được của rơi) để thông tri cho cả chúng đều biết. Ấy, bởi lẽ người chủ pháp thanh tịnh thì trên làm dưới bắt chước vậy. 
Thanh Tuyền Tập. 
221.- CHỮ HÁN: Vạn Am tiết kiệm dĩ tiểu xam phổ thuyết đương cung. Nột tử gián hữu thiết nghi giả, Vạn Am văn chi viết: "Triêu hưởng cao lương, mộ yếm thô lệ, nhân chi thường tình. Nhữ đẳng ký niệm sanh tử sự đại, nhi tương cầu ư tịch mịch chi tân, đương tư đạo nghiệp vi biện, khứ thánh thờ idao, cự khả triêu tịch sự tham thao da". 
Chân Mục Tập. 
221.- DỊCH NGHĨA: Vạn Am đem vấn đề tiết kiệm lqàm đề tàinói chuyện cho tất cả Tăng tục trong buổi tiểu xam. Trong hàng nột tử có người bàn lén việc này. Vạn Am nghe biết và nói: "Buổi sáng ăn cao lương mỹ vị, buổichiều chán cơm hẩm canh thô, đó là thường tình của con người. Lũ các ông đã nghĩ đến sanh tử sự đại, mà cùng nhau tìm đến bến tịch mịch, nên phải nghĩ tới đại nghiệp chưa làm xong, cách Phật thời đã xa, há đâu lại sớm tối chỉ nghĩ đền việc tham lam về ăn uống vậy ư?". 
Chân Mục Tập. 
222.- CHỮ HÁN: Vạn Am thiên tính nhân hậu, xử cung liêm ước, tầm thường xuất thị ngữ cú, từ giản nhi nghĩa tinh. Bác học cường ký, cùng cật đạo lý, bất vi cẩu chỉ nhi vọng tùy, dữ nhân bình luận cổ kim. Nhược thân lý kỳ gian, thính giả hiểu nhiên nhu mục đổ. Nột tử thường viết: "Chung tuế tham học, bất nhuợc nhất nhật thính sư đàm luận vị đắc dã". 
Ký Văn. 
222.- DỊCH NGHĨA: Vạn Am thiên tính nhân hậu, xử minh liêm ước, ngài nói ra những câu nói tầm thường, lời tuy ít nhưng nghĩa lý đầy đủ, học rộng nhớ kỹ, hỏi tới cùng đạo lý, không vì chỗ cẩu thả mà theo càn. Khi cùng bàn luận về chuyện xưa nay với người, thì tựa như chính thân mình có hiện diện trong thời gian đó, khiến cho người nghe hiểu biết được rõ ràng, tựa như chính mắt họ được nhìn thấy. Kẻ nột tử thường nói: "Tuy tham học quanh năm, nhưng chỗ thâu lượm được không bằng một ngày được nghe thầy đàm luận". 
Ký Văn. 
223.- CHỮ HÁN: Vạn Am vị Biện Thủ Tọa viết: Viên Ngộ sư ông hữu ngôn: "Kim thời Thiền hòa tử, thiểu tiết nghĩa vật liêm sĩ, sĩ đãi phu đa bạc chi. Nhĩ dị thời thảng bất miễn tố giá ban trùng trỉ, thường thường tại thằng mặc thượng bành, vật xu thế lợi, nịnh nhân nhan sắc. Sinh tử họa hoạn, nhất thiết nhậm chi. Tức thị bất xuất ma giới, nhi nhập Phật giới dã". 
Pháp Ngữ. 
223.- DỊCH NGHĨA: Vạn Am bảo Biện Thủ Tọa (1): Viên Ngộ sư ông có nói: "Các Tăng sĩ thời nay ít người có tiết nghĩa liêm sĩ, họ thường bị kẻ sĩ đại phu khinh rẽ bạc đãi. Các ông ở một ngày kia, ví hoặc nếu không tránh khỏi những việc làm bị người khinh khi như loài sâu bọ ấy, thì phải luôn luôn làm đúng theo thằng mặc qui củ, chớ chạy theo thế lợi, chớ nịnh theo nhân tình, cần phải gánh vác hết thảy cái trách nhiệm của họa hoạn sanh tử, đó tức là không cần phải ra khỏi ma giới mà vào được Phật giới vậy". 
Pháp Ngữ. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Biện Thủ Tọa: Biện Thiên thiền sư chùa Chiêu Giác, pháp tự của Ðại Qui Pháp Thái thiền sư. 
224.- CHỮ HÁN: Biện Thủ Tọa xuất thế trụ Lư Sơn Thê Hiền, thường huề nhất cung xuyên song lũ, quá Cửu Giang Ðông Lâm. Hỗn Dong Lão kiến chi ha viết: "Sư giả nhân chi mô phạm dã. Cử chỉ như thử, đắc bất tự khinh, chủ lễ thậm diệt liệt". Biện tiếu viết: "Nhân sinh dĩ thích ý vi lạc, ngô hà cữu yên!". Viện hào thư kệ nhi khứ. Kệ viết: "Vật ví Thê Hiền cùng, thân cùng đạo bất cùng, thảo hài nanh tựa hổ, trụ trượng hoạt như long, khát ẩm Tào khê thủy, cơ thốn lật cức bồng, đồng đầu thiết ngạch hán, tận tại ngã sơn trung". Hỗn dong lãm chi hữu quí. 
Nguyệt Hốt Tập. 
224.- DỊCH NGHĨA: Biện Thủ Tọa ra ứng thế, trụ trì chùa Thê Hiền ở Lư Sơn. Ngài thường mang theo một chiếc gậy trúc, xuyên vào đó đôi giày cỏ vác trên vai, khi qua chùa Ðông Lâm đất Cửu Giang. Hỗn Dong Hòa thượng thấy thế mắng rằng: "Sư là mô phạm của người đời, cử chỉ của ông như thế, chẳng những tự khinh mình, mà còn thất lễ lớn đối với chủ nhân". Biện Thủ Tọa cười và nói: "Con người lấy sự thích ý làm vui, ta có lỗi gì vậy!". Rồi ngài liền cầm bút viết bài kệ để lại rồi đi, như sau: 
Chớ bảo Thê Hiền cùng, 
Thân cùng đạo chẳng cùng. 
Giày cỏ nanh như hổ, 
Gậy chống mạnh tựa rồng. 
Khát uống Tào Khê thủy,(1) 
Ðói ăn lật cức bồng. (2) 
Kẻ đầu đồng trán sắt, 
Ðều trong núi ta cùng. 
Hỗn Dong xem xong bài kệ trên, có vẻ tự thẹn. 
Nguyệt Hốt Tập. 
CHÚ THÍCH: 
(1) Tào Khê thủy: (Nước Tào Khê). Theo Thiên Thai Thiều Quốc sư truyện, một hôm Tịnh Tuệ thượng đường, có vị Tăng hỏi: "Thế nào là một giọt nước Tào Khê?". Tịnh Tuệ đáp: "Như thế là một giọt nước Tào Khê". 
(2) Lật cức bồng: Ngài Dương Kỳ thị chúng rằng: "Thấu được kim cương quyền, nuốt được lật cức bồng (gai võ quả hạt giẻ), liền cùng với chư Phật ở ba đời cùng dắt tay cùng đi, cùng với lịch đại Tổ sư cùng một hổng mũi. Nếu hoặc chưa được như thế, thì tham thiền phải là người thực tham, chứng ngộ phải là người thực chứng ngộ mới được vậy". 
225.- CHỮ HÁN: Biện Công vị Hỗn Dong viết: Tượng long bất túc chí vũ, hoạch bính an khả sung cơ. Nột tử nội vô thực đức, ngoại thi hoa sảo, do như bại lậu chi thuyền, thịnh đồ đan hoạch, sử ngẫu nhân giả chi, an ư lục địa, tắc tín nhiên khả quan hỹ. Nhất đán thiệp giang hồ, phạm phong đào đắc bất nguy hồ. 
Nguyệt Hốt Tập. 
225.- DỊCH NGHĨA: Biện Công bảo Hỗn Dong rằng: Rồng giả không thể làm được mưa, bánh vẽ sao hay đỡ được đói. Người nột tử bên trong nếu không có thực đức, bề ngoài lại cậy vào hoa mỹ khéo léo, cũng như chiếc thuyền mục nát đem sơn phết mầu đỏ, khiến cho người bù nhìn lèo lái, đặt ở trên đất liền, thì tin rằng có thể coi được. Nhưng nếu một ngày nào đó, chiếc thuyền ấy đem thả xuống sông hồ, bạt thiệp với sóng gió thì thật là nguy hiểm vậy. 
Nguyệt Hốt Tập. 
226.- CHỮ HÁN: Biện Công viết: Sở vị Trưởng lão giả, đại Phật đương hóa, yếu tại khiết kỷ, lâm chúng hành sự, đương tận kỳ thành. Khởi khả trạch lợi hại tự phân kỳ tâm. Tại ngã vi chi cố đương như thị, nhược kỳ thành dữ bất thành, tuy Tiên thánh bất năng tất, ngô hà cẩu hồ. 
Nguyệt Hốt Tập. 
226.- DỊCH NGHĨA: Biện Công nói: Ðã gọi là bậc Trưởng lão, thay Phật tuyên dương giáo hóa, cần ở chỗ tự mình phải tinh khiết, tới chúng làm việc phải hết lòng thành, đâu có thể chọn phần lợi hại để tự phân tán tâm mình, ở chỗ làm của tôi thì tất nhiên phải như thế. Còn như nếu công việc ấy có thành tựu hay không thành tựu, thì dù Tiên thánh cũng không hay quyết định được. Ta làm sao có thể cẩu thả được vậy. 
Nguyệt Hốt Tập. 
227.- CHỮ HÁN: Biện Công viết: Phật Trí trụ Tây Thiền. Nột tử vụ yếu chỉnh tề. Duy Thủy Am phú tính xung đạm, phụng thân chí bạc, ngang nhiên tại trù nhân trung, tằng bất tiết lự. Phật Trí nhân kiến chi ha viết: "Nại hà lỗi tư như thử". Thủy Am đối viết: "Mỗ phi bất hiếu thụ dụng, trực dĩ bần vô khả vi chi cụ. Nhược sử hữu tiền diệc dục tố nhất lạng kiện bì mao đồng nhập xã hỏa. Ký bần vô cố như chi hà!". Phật Trí tiếu chi, ý kỳ bất khả cưỡng. Toại hưu khứ. 
Nguyệt Hốt Tập. 
227.- DỊCH NGHĨA: Biện Công nói: Phật Trí trụ trì chùa Tây Thiền, các nột tử làm việc ai nấy đều cần phải chỉnh tề, duy có Thủy Am, phú tính thì đạm bạc hồn nhiên, đối với bản thân, ăn mặc rất sơ sài, ngang nhiên ở chỗ đông người, không một chút e dè lo nghĩ. Phật Trí nhân thấy thế mắng rằng: "Sao ông lại ăn mặc lôi thôi như thế?". Thủy Am thưa: "Tôi không phải thích thụ dụng đồ hoa mỹ, nhưng chỉ vì nghèo không thể may sắm được đầy đủ. Nếu có tiền, tôi cũng muốn may một đôi áo bằng lông thú, để cùng tham dự trong các kỳ hội họp (xã hỏa). Nhưng đã là nghèo, thì quả thật không thể làm cách nào được". Phật Trí nghe thấy thế liền cười, và xem ý không thể cưỡng ép Thủy Am, ngài liền bỏ qua. 
Nguyệt Hốt Tập. 
Thiền Lâm Bảo Huấn  Quyển thứ Ba  
Hết.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.27/8/2019.

No comments:

Post a Comment