Thiền Lâm Bảo Huấn.
-o0o-
Quyển Thứ Tư
228.- CHỮ HÁN: Phật Trí Dụ Hòa thượng viết: Tuấn mã chi bôn dật, nhi bất cảm tứ túc giả, hàn bí chi ngự dã. Tiểu nhân chi cường hoạnh, bất cảm túng tình giả, hình pháp chi chế dã. Ý thức chi lưu lãng, bất cảm phan duyên giả, giác chiếu chi lực dã. Ô hô! Học giả vô giác chiếu, do tuấn mã vô hàm bí. Tiểu nhân vô hình pháp, tương hà dĩ tuyệt tham dục, trị vọng tưởng hồ.
Dữ Trịnh Cư Sĩ pháp ngữ.
Dữ Trịnh Cư Sĩ pháp ngữ.
228.- DỊCH NGHĨA: Phật Trí Dụ Hòa thượng nói: Con tuấn mã chạy nhanh như vũ bão mà không dám buông chân tự tại, vì nó bị chế ngự bởi hàm thiếc dây cương. Kẻ tiểu nhân cường bạo ngang tàng, mà không dám buông ý tung hoành, vì hắn bị chế ngự bởi hình pháp. Ý thức lưu lãng của con người, mà không dám buông lung theo trần duyên, vì nó bị ngăn cản bởi sức giác chiếu. Than ôi! Người học đạo mà không có sức giác chiếu, cũng như con tuấn mã không có hàm thiếc và dây cương. Còn kẻ tiểu nhân nếu không có hình pháp, thì đem gì để dứt bỏ tham dục, đối trị vọng tưởng.
Pháp ngữ gởi Trịnh cư sĩ (1).
Pháp ngữ gởi Trịnh cư sĩ (1).
CHÚ THÍCH:
(1) Trịnh cư sĩ: Pháp tự của Ðại Tuệ Cảo thiền sư, cũng gọi là Trịnh Ngang cư sĩ.
229.- CHỮ HÁN: Phật Trí vị Thủy Am viết: Trụ trì chi tể hữu tứ yên: nhất đạo đức, nhị ngôn hành, tam nhân nghĩa, tứ lễ pháp. Ðạo đức ngôn hành nãi giáo chi bản dã, nhân nghĩa lễ pháp não giáo chi mạt dã. Vô bản bất năng lập, vô mạt bất năng thành. Tiên thánh kiến học giả bất năng tự trị, cố kiến tùng tâm dĩ an chi, lập trụ trì dĩ thống chi. Nhiên tắc tùng lâm chi tôn, phi vị trụ trì. Tứ sự phong mỹ phi vị học giả. Giai dĩ Phật Tổ chi đạo cố. Thị dĩ thiện vi trụ trì giả, tất tiên tôn đạo đức thủ ngôn hành. Năng vi học giả tất tiên tôn nhân nghĩa tuân lễ pháp. Cố trụ trì phi học giả bất lập. Học giả phi trụ trì bất thành. Trụ trì dữ học giả, do thân chi dữ tý, đầu chi dữ túc, đại tiểu bất xứng nhi bất hội, nãi tương tu nhi hành dã. Cố viết: "Học giả bảo ư tùng lâm, tùng lâm bảo ư đạo đức!". Trụ trì nhân vô đạo đức, tắc tùng lâm tương kiến ký phế hỹ.
Thực Lục.
Thực Lục.
229.- DỊCH NGHĨA: Phật Trí bảo Thủy Am: Thực thể của Trụ trì có bốn điều: Ðạo đức, ngôn hành, nhân nghĩa và lễ pháp. Ðạo đức và ngôn hành là gốc của sự giáo hóa, nhân nghĩa và lễ pháp là ngọn của sự giáo hóa. Không có gốc thì chẳng hay đứng được, không có ngọn thì chẳng hay thành được. Bậc Tiên thánh thấy người học đạo không tự trị được, nên mới kiến lập tùng lâm để họ có chỗ an trụ, suy cử người trụ trì để thống lĩnh họ, nhưng vì cái tôn của tùng lâm không phải vì trụ trì. Cơm ăn, áo mặc, đồ dùng, thuốc thang đầy đủ, không phải vì người học đạo, mà đều là vì cái đạo của Phật Tổ. Bởi thế, người khéo trụ trì trước hết phải tôn đạo đức, giữ ngôn hành, người khéo học đạo, tất nhiên phải giữ nhân nghĩa tuân đạo đức. Cho nên, nếu trụ trì không có người học đạo thì không thể thành lập. Trụ trì và người học đạo cũng như thân mình với cánh tay, đầu và chân, lớn nhỏ phải thích ứng mà không trái nhau mới có thể cùng nương vào nhau mà làm việc. Nên nói: "Người học đạo thì bảo thủ tùng lâm, tùng lâm thì giữ gìn đạo đức". Người trụ trì nếu không có đạo đức thì tùng lâm cũng hầu như tàn phế vậy.
Thực Lục.
Thực Lục.
230.- CHỮ HÁN: Thủy Am Nhất Hòa thượng viết: Dịch ngôn: "Quân tử tư họa nhi dự phòng chi". Thị cố cổ chi nhân tư sanh tử đại hoạn phòng chi dĩ đạo. Toại năng kinh đại truyền viễn. Kim chi nhân vị cầu đạo vu khoát, bất nhược cầu lợi chi thiết đáng. Do thị cạnh tập phù hoa kế hiệu hàm mạt. Hy mục tiền chi sự, hoài cẩu thả chi kế. Sở dĩ mạc khẳng vi chu tuế chi qui giả. Huống sinh tử chi lự hồ. Sở dĩ học giả nhật bỉ tùng lâm nhật phế, kỷ cương nhật trụy, dĩ chí lăng di điên bái, đãi bất khả cứu. Ta hồ! Khả bất giảm tai.
Song Lâm Thực Lục.
Song Lâm Thực Lục.
230.- DỊCH NGHĨA: Thủy Am Nhất Hòa thượng nói: Kinh Dịch có nói: "Người quân tử nghĩ tới tai họa nên phải dự bị đề phòng". Thế nên người xưa, luôn luôn nghĩ tới cái đại hoạn sanh tử, mà phải đem đạo để phòng ngừa, nên sự nghiệp mới lớn lao, tiếng thơm mới xa rộng. Còn người đời nay lại bảo cầu đạo là vu khoát, cầu lợi là thiết đáng. Do thế họ ganh đua nhau tập thói phù hoa, tính kế vụn vặt, chỉ cầu mong những việc trước mắt, hoài bảo những kế cẩu thả, ngay đến cả việc trù liệu kế hoạch cho một năm cũng chẳng chịu làm, nữa là lo đến việc lớn sanh tử. Vì thế, người học đạo ngày càng quê hèn, chốn tùng lâm ngày càng hoang phế, kỷ cương ngày càng trụy lạc. Sở dĩ tùng lâm đi đến chỗ nghiêng ngửa đổ nát hầu như không thể cứu được. Than ôi! Ta phải lấy đó làm gương soi chung vậy.
Song Lâm Thực Lục.
Song Lâm Thực Lục.
231.- CHỮ HÁN: Thủy Am viết: Tích du Vân Cư kiến Cao Am dạ sam vị: "Chí đạo kính đĩnh bất cận nhân tình. Yếu tu thành tâm chính ý vật sự kiểu sức thiên tà. Kiểu sức tắc cận trá nịnh. Thiên tà tắc bất trung chính. Dĩ chí giai bất hợp hỹ. Thiết tư kỳ ngôn cận lý. Nãi khắc ý tiễn chi. Ðãi kiến Phật Trí tiên sư, thủy hạo nhiên đại triệt, phương đắc bất phụ bình sinh hành cước chi chí".
Dữ Nguyệt Ðường thư.
Dữ Nguyệt Ðường thư.
231.- DỊCH NGHĨA: Thủy Am nói: Xưa kia tôi đi hành cước tới chùa Vân cư, thấy Cao Am nói trong buổi dạ sam: "Chí đạo là con đường thẳng tắp xa cách tình người, nên phải thành tâm chính ý, chớ chuộng kiểu sức thiên tà. Kiểu sức thì gần trá nịnh, thiên tà thì không trung chính, đều không hợp với chí đạo. Tôi trộm nghĩ lời nói của Cao Am rất gần chân lý, nên khắc vào tâm khảm làm theo. Mãi đến khi được yết kiến Phật Trí tiên sư, tôi mới bỗng nhiên đại triệt ngộ,vì thế mà không phụ cái chí bình sinh hành cước của tôi".
Thư gởi Nguyệt Ðường (1).
Thư gởi Nguyệt Ðường (1).
CHÚ THÍCH:
(1) Nguyệt Ðường: Cũng gọi Nguyệt Ðường Ðạo Sương thiền sư, pháp tự của Tuyết Phong Tuệ thiền sư.
232.- CHỮ HÁN: Thủy Am viết: Nguyệt Ðường trụ trì, sở chí dĩ hành đạo vi kỷ nhậm. Bất phát hóa chủ bất sự đang nghệ. Mỗi tuế thực chỉ tùy thường trụ sở đắc dụng chi. Nột tử hữu chí sung hóa đạo giả đa khước chi. Hoặc viết: "Phật giới Tỳ khưu bát dĩ tư thân mệnh. Sư hà cụ chi phất dung". Nguyệt Ðường viết: "Ngã Phật tại nhật tắc khả. Khủng kim nhật vi chi tất hữu hiếu lợi giả, nhi chí ư tự dục hỹ". Nhân tư Nguyệt Ðường phòng vi đỗ tiệm thâm thiết trứ minh. Xứng thực chi ngôn kim do tại nhĩ. Dĩ kim nhật quan chi, hựu khởi chỉ tự dục nhi dĩ hỹ.
Pháp ngữ.
Pháp ngữ.
232.- DỊCH NGHĨA: Thủy Am nói: Cách trụ trì của Nguyệt Ðường, ở nơi nào ngài cũng lấy việc hành đạo làm nhiệm vụ của mình, không cần người hóa chủ, không chuộng đồ cúng dường. Sự ăn uống mỗi năm chỉ tùy theo nơi thường trụ có bao nhiêu dùng vậy. Kẻ nột tử có chí muốn sung vào việc khất thực hóa đạo, ngài đều từ khước. Hoặc có kẻ nói: "Phật răn các Tỳ khưu trì bát khất thực để nuôi thân mệnh, sao ngài chống đối chẳng cho". Nguyệt Ðường nói: "Khi đức Phật còn tại thế thì được, nhưng ngày nay làm hạnh đó tất sẽ có người ham lợi mà đưa đến chỗ tự bán cả thân mình". Nhân thế tôi ngĩ ngài Nguyệt Ðường, ngài phòng ngừa tội lỗi từ lúc còn nhỏ nhiệm, ngăn chặn không cho chúng lớn dần, thật là thấm thiết rõ ràng. Những lời nói xứng thực đó nay còn văng vẳng bên tai. Ngày nay đem lời nói ấy mà quan sát, há lại chỉ có sự bán mình mà thôi đâu.
Pháp ngữ.
Pháp ngữ.
233.- CHỮ HÁN: Thủy Am vị Thị Lang Vưu Diên Chi viết: Tích Ðại Ngu, Từ Minh, Cốc Tuyền, Lang Gia kết bạn sam Phần Dương. Hà Ðông khổ hàn chúng nhân đạn chi. Duy Từ Minh chí tại ư đạo. Hiểu tịch bất đãi, dạ tọa dục thụy, dẫn chùy tự thích. Thán viết: "Cổ nhân vị sinh tử sự đại, bất thực bất tẩm, ngã hà nhân tai nhi túng hoang dật, sinh vô ích ư thời, tử vô văn ư hậu, thị tự khí dã". Nhất đán từ quy. Phần Dương thán viết: "Sở Viên kim khứ, ngô đạo Ðông hỹ".
Tây Hồ Ký Văn.
Tây Hồ Ký Văn.
233.- DỊCH NGHĨA: Thủy Am bảo quan Thị Lang Vưu Diên Chi (1): Xưa kia các ngài Ðại Ngu, Từ Minh, Cốc Tuyền và Lang Gia cùng kết bạn tham học ở ngài Phần Dương. Nơi đây là vùng đất thuộc Hà Ðông quá đỗi rét lạnh, mọi người đều ghê sợ. Duy có Từ Minh có chí hướng với đạo, sớm tối tu hành không lười biếng, ban đêm ngồi thiền, mỗi khi buồn ngủ, ngài lấy chiếc dùi tự đâm vào mình mà than: "Cổ nhân vì sinh tử sự đại nên không ăn không ngủ, ta đây là người thế nào mà lại buông lung biếng nhác để lúc sống thì vô ích với đời, khi chết không một tiếng vang để lại, như thế là tự bỏ mình vậy". Nhân một ngày, ngài Từ Minh tới cáo biệt, Phần Dương than rằng: "Nay Sở Viên đi, đạo của ta trở về Ðông vậy".(2)
Tây Hồ Ký Văn.
Tây Hồ Ký Văn.
CHÚ THÍCH:
(1) Vưu Diên Chi: Họ Vưu tên Mậu, tự là Diên Chi, hiệu là Toại Sơ cư sĩ, tham đạo ở ngài Thủy Am Nhất thiền sư.
(2) Ðạo của ta trở về Ðông: Trịnh Huyền đời nhà Hán thờ Mã Dong làm thầy, khi từ biệt thầy trở về nhà, Mã Dong nói: "Ngô đạo Ðông hỹ".
(2) Ðạo của ta trở về Ðông: Trịnh Huyền đời nhà Hán thờ Mã Dong làm thầy, khi từ biệt thầy trở về nhà, Mã Dong nói: "Ngô đạo Ðông hỹ".
234.- CHỮ HÁN: Thủy Am viết: Cổ đức trụ trì xuất kỷ hành đạo, vị thường cẩu giản tự tứ. Tích Phần Dương mỗi thán: "Tượng quý kiêu ly học giả nan hóa". Từ Minh viết: "Thậm dị. Sở hoạn chủ pháp giả bất năng thiện đạo nhĩ". Phần Dương viết: "Cổ nhân thuần thành thượng thả tam nhị thập niên phương đắc thành biện". Từ Minh viết: "Thử phi Thánh triết chi luận. Thiện tạo đạo giả thiên nhật chi công". Hoặc vị Từ Minh vọng đản bất thính. Nhi Phần Dương địa đa lãnh nhân bãi dạ sam. Hữu dị Tỳ kheo vị Phần Dương viết: "Bất tam niên quá hữu lục nhân thành đạo giả". Phần Dương thuờng hữu tụng viết: "Hồ Tăng kim tích quang, thỉnh pháp đáo Phần Dương. Lục nhân thành đại khí, khuyến thỉnh vị phu dương".
Tây Hồ Ký Văn.
Tây Hồ Ký Văn.
234.- DỊCH NGHĨA: Thủy Am nói: Cổ đức trụ trì, dấn mình để hành đạo, chưa từng tự mình phóng túng cẩu thả. Xưa kia Phần Dương thường than thở: "Ðời Tượng quý mỏng manh bội bạc, người học đạo khó giáo hóa". Từ Minh nói: "Việc đó rất dễ, chỉ là người chủ pháp không khéo dạy bảo mà thôi". Phần Dương nói: "Người đời xưa thuần thành cũng còn phải hai ba mươi năm trời mới thành biện được". Từ Minh nói: "Ðó không phải là lời bàn về Thánh triết, người khéo đi tới đạo là công lao của cả ngàn ngày". Hoặc có người bảo lời nói của Từ Minh là quái đản không nghe theo. Nhân vì đất Phần Dương quá lạnh nên bãi buổi dạ sam, bỗng có một Tỳ khư lạ bảo Phần Dương: "Trong pháp hội có sáu bậc đại sĩ (1) tai sao không ra đời thuyết pháp". Sau quả nhiên chưa tới ba năm đã có sáu vị thành đạo, nên ngài Phần Dương thường có bài tụng rằng:
Hồ Tăng dung tích trượng,
Thỉnh pháp tới Phần Dương.
Khuyên ta nói pháp bảo,
Sáu người liễu đạo vàng.
Tây Hồ Ký Văn.
Thỉnh pháp tới Phần Dương.
Khuyên ta nói pháp bảo,
Sáu người liễu đạo vàng.
Tây Hồ Ký Văn.
CHÚ THÍCH:
(1) Sáu bậc đại sĩ: Từ Minh Viên, Ðại Ngu Chi, Lang Gia Giảo, Cốc Tuyền Ðạo, Pháp Hoa Cử và Thiên Thắng Thái.
235.- CHỮ HÁN: Ðầu Tử Thanh Hòa thượng họa Thủy Am tượng cầu tán viết: "Tự thanh thiền nhân, cô ngạnh vô địch. Thần hôn nhất trai, hiếp bất chí tịch. Thâm nhập thiền định, ly xuất nhập tức. Danh đạt cửu trùng, đàm thiền tuyển đức. Long nhan đại duyệt, tứ dĩ kim bạch. Lực từ giả tam, thượng nãi gia thán. Chân đạo nhân dã, thảo mộc đằng khoán. Truyền dư lậu chất, chú hương thỉnh tán. Thị sở vị thanh xuất ư lam nhi thanh ư lam giả dã".
Kiến Họa tượng.
Kiến Họa tượng.
235.- DỊCH NGHĨA: Ðầu Tử Thanh (1) Hoà thượng khi vẻ tượng Thủy Am, có xin ngài làm bài tán để vào bức tranh như sau:
Thanh thiền nối pháp,
Cao vút vô song.
Ngày ăn một bữa,
Tối chẳng ngả lưng.
Thâm nhập thiền định,
Hơi thở chẳng vương.
Tên vang chín bệ, (2)
Tuyển đức bàn thiền.
Long nhan vui đẹp,
Ban bố lụa vàng.
Ba lần từ chối,
Vua càng tán dương.
Ðáng bậc chân đạo,
Cây cỏ vui mừng.
Truyền lậu chất ta,
Ðốt hương khấn nguyện,
Quả thật rõ ràng:
Màu xanh sinh bởi màu lam,
Màu xanh lại đậm hơn lam bội phần. (3)
Trong tập Họa tượng.
Cao vút vô song.
Ngày ăn một bữa,
Tối chẳng ngả lưng.
Thâm nhập thiền định,
Hơi thở chẳng vương.
Tên vang chín bệ, (2)
Tuyển đức bàn thiền.
Long nhan vui đẹp,
Ban bố lụa vàng.
Ba lần từ chối,
Vua càng tán dương.
Ðáng bậc chân đạo,
Cây cỏ vui mừng.
Truyền lậu chất ta,
Ðốt hương khấn nguyện,
Quả thật rõ ràng:
Màu xanh sinh bởi màu lam,
Màu xanh lại đậm hơn lam bội phần. (3)
Trong tập Họa tượng.
CHÚ THÍCH:
(1) Ðầu Tử Thanh: Pháp tự của Thủy Am Nhất thiền sư, đời thứ 17 phái Nam Nhạc .
(2) Chín bệ: Dịch ở chữ cửu trùng, chỉ vào nhà vua.
(3): Hai câu này nói trò giỏi hơn thầy.
(2) Chín bệ: Dịch ở chữ cửu trùng, chỉ vào nhà vua.
(3): Hai câu này nói trò giỏi hơn thầy.
236.- CHỮ HÁN: Thủy Am viết: Phật Trí tiên sư ngôn Ðông Sơn Diễn Tổ thường vị Cảnh Long Học viết: "Sơn Tăng hữu Viên Ngộ, như ngư chi hữu thủy, điểu chi hữu dực". Cố Thừa tướng Tử Nham cư sĩ tán viết: "Sư tư tương khả, hy ngộ nhất thời. Thủy chung chi phận, thùy năng gián chi". Tử Nham cư sĩ, khả vị tri ngôn hỹ. Tỷ kiến chư phương tôn túc, hoài tâm thuật dĩ ngữ nột tử. Nột tử hiệp thế lợi dĩ sự tôn túc. Chủ tân giao lợi thượng hạ khi vũ. An đắc pháp môn chi hưng, tùng lâm chi thịnh hồ.
Dữ Mai Sơn Nhuận thư.
Dữ Mai Sơn Nhuận thư.
236.- DỊCH NGHĨA: Thủy Am nói: Phật Trí tiên sư nói Ðông Sơn Diễn Tổ thường bảo Cảnh Long Học: "Sơn Tăng có Viên Ngộ cũng như cá có nước, như chim có cánh". Nên Thừa tướng Tử Nhan cư sĩ tán rằng: "Thầy trò cùng tương đắc, thật ít gặp gở thời nay, cùng giữ phần thủy chung như một, không ai có thể làm ngăn cách được". Tử Nham cư sĩ thật là người biết suy luận vậy. Gần đây thấy bậc tôn túc ở khắp nơi, đem tâm thuật để ràng buộc kẻ nột tử. Người nột tử lấy thế lợi để tôn thờ bậc tôn túc. Chủ khách giao với nhau bằng lợi, trên dưới khinh nhờn, dối trá lẫn nhau, như thế hỏi làm sao chốn pháp môn được hưng đạt, nơi tùng lâm được thịnh vượng vậy ư".
Thư viết cho Mai sơn Nhuận.
Thư viết cho Mai sơn Nhuận.
237.- CHỮ HÁN: Thủy Am viết: Ðộng nhân dĩ ngôn duy yếu chân thiết, ngôn bất chân thiết sở cảm tất thiển, nhân thùy khẳng hoài. Tích Bạch Vân Sư Tổ tống Sư Ông trụ Tứ Diện. Ðinh ninh viết: "Tổ đạo lăng trì nguy như lũy noãn. Vô tứ hoang dật, hư táng quang âm, phục bại trí đức. Ðương khoan dung lượng độ, lợi vật tồn chúng, đề trì thử sự báo Phật Tổ ân". Ðương thời văn giả, thục bất cảm động. Nhĩ tạc lai, triệu đối thần đình, thành vi pháp môn chi hạnh. Thiết nghi hạ thân tôn đạo dĩ lợi tế vi tâm. Bất khả căng kỷ tự phạt. Tòng thượng tiên triết khiêm nhu kính úy bản thân toàn đức, bất dĩ thế vị vi vinh, toại năng thanh chấn nhất thời mỹ lưu vạn thế. Dư lự quang cảnh bất trường vô phục diện hội, cố thử thiết chúc.
Kiến Ðầu Tử thư.
Kiến Ðầu Tử thư.
237.- DỊCH NGHĨA: Thủy Am nói: Nếu đem lời nói để lay chuyển lòng người, chỉ cần ở chỗ chân thiết. Lời nói không chân thiết, chỗ cảm động tất sẽ ít, và ai là người chịu thống khắc ở đáy lòng. Xưa kia Bạch Vân Sư Tổ, đưa Sư Ông trụ trì chùa Tử Diện, đinh ninh dặn dò: "Tổ đạo tan nát, nguy như xếp trứng, chớ nên buông lung phóng túng, uổng phí quang âm, hoại mất trí đức. Phải nên có độ lượng khoan dung, cung chúng lợi người. Giữ gìn được như thế tức là báo ơn Phật Tổ". Ðương thời những người nghe biết lời nói ấy ai nấy đều cảm động. Ông (Ðầu Tử) từ trước tới nay được mời vào chốn cung đình giảng đạo, quả thật là điều may mắn cho pháp môn, cần phải nhún mình tôn đạo lấy việc lợi tế làm lòng, không nên cậy mình khoe khoan, phải theo chỗ khiêm nhường nhu hòa, kính úy các bậc tiên triết để giữ mình cho toàn đức, đừng lấy thế vị làm vinh thì tiếng trong sạch mới có thể vang dội một thời, vẻ tốt đẹp mới có thể lưu thơm muôn thuở. Ta lo bóng sáng chẳng còn lâu dài, không còn được gặp lại ông lần nữa, nên đem những lời tha thiết để dặn dò.
Thư gởi Ðầu Tử.
Thư gởi Ðầu Tử.
238.- CHỮ HÁN: Thủy Am thiếu thích thảng hữu đại chí. Thượng khí tiết bất sự phù mỹ bất tuần tế kiểm. Hung thứ ngạn cốc tuẫn thân dĩ nghĩa. Tuy họa hại giao tiền, bất kiến hữu vẫn hoạch chi sắc. Trụ trì bát viện kinh lịch tứ quận. Sở chí, căng căng nghiệp nghiệp dĩ hành đạo kiến lập vi tâm. Thuần Hy ngũ niên thoái Tây Hồ Tịnh Từ. Hữu kệ viết: "Lục niên sái tảo hoàng đô tự, ngoã lịch phiên thành Thích Phạm cung. Kim nhật công thành quy khứ dã, trượng đầu bát diện khởi thanh phong". Sĩ thứ giả lưu bất chỉ, tiểu chu chí Tú chi Thiên Ninh. Vi kỷ thi tật biệt chúng cáo chung.
Hành Thực.
Hành Thực.
238.- DỊCH NGHĨA: Thủy Am khi còn ít tuổi cũng đã tỏ ra lỗi lạc có chí lớn chuộng khí tiết, không thích phù hoa xa xỉ, không noi theo sự việc nhỏ nhặt, lòng dạ rộng rãi, dấn thân làm việc nghĩa, tuy họa hại bày ngay trước mắt cũng không thấy sắc mặt biến đổi. Ngài trụ trì với tám ngôi chùa tại khắp bốn quận huyện, đến nơi nào ngài cũng chỉ khắn đáu tha thiết đem tâm hành đạo và kiến lập làm nhiệm vụ. Niên hiệu Thuần Hy năm thứ năm, ngài lui gót về trụ trì chùa Tịnh Từ đất Tây Hồ có làm bài kệ rằng:
Sáu năm quét dọn cảnh chùa chiền,
Ngói sỏi biến thành Thích Phạm Thiên.
Quả phúc viên thành nay để lại,
Gió rung gậy tích khắp mọi miền.
Ngói sỏi biến thành Thích Phạm Thiên.
Quả phúc viên thành nay để lại,
Gió rung gậy tích khắp mọi miền.
Quan dân ở đây cố thỉnh ngài lưu lại nhưng không được. Ngài ra đi trên một con thuyền nhỏ đến chùa Thiên Ninh huyện Tú Thủy, chẳng được bao lâu bị bệnh rồi thị tịch.
Hành Thực.
Hành Thực.
239.- CHỮ HÁN: Nguyệt Ðường Sương Hòa thượng viết: Tích Ðại Trí thiền sư lự mạt thế Tỳ khưu kiêu nọa. Ðặc chế qui củ dĩ phòng chi tùy khí năng các thiết du ty. Chủ cư trượng thất, chúng cư thông đường. Liệt thập cục đầu thủ chi, nghiêm túc như quan phủ. Cư thượng giả đề kỳ đại cương, tại hạ giả, lý ky chúng mục. Xử thượng hạ tương thừa như thân chi xử tý, tý chi xử chỉ, mạc bất xuất tòng. Thị dĩ tiền bối tuân thừa dực đới, quyền quyền phụng hành giả, dĩ Tiên thánh chi di phong vị dẫn cố dã. Tỷ kiến tùng lâm suy thế, học giả quý thông tài tiện thủ tiết. Thượng phù hoa bạc chân tố, nhật tư nguyệt sâm tiệm nhập kiêu ly. Thủy tắc thâu an nhất thời, cập ngoạn tập ký cửu, vị kỳ lý chi đương nhiên, bất vị chi phi nghĩa. bất vị chi phi lý. Tại thượng giả chủy chủy yên úy kỳ hạ, tại hạ giả khuê khuê yên tứ kỳ thượng. Bình cư tắc cam ngôn khuất thể dĩ tương my duyệt. Ðdắc gián tắc lang tâm quỷ kế dĩ tương đồ quái. Thành giả vi hiền, bại giả vi ngu, bất phục vấn tôn ti chi tự, thị phi chi lý. Bỉ ký vi chi thử tắc hiệu chi. Hạ ký ngôn chi, thượng tắc tòng chi. Tiền ký hành chi, hậu tắc tập chi. Ô hô! Phi ngạn thánh chi sư thừa nguyện lực, tích bách niên chi công, kỳ tệ cố tắc mạc năng cách hỹ.
Dữ Thuấn Hòa Thượng thư.
Dữ Thuấn Hòa Thượng thư.
239.- DỊCH NGHĨA: Nguyệt Ðường Sương Hòa thượng nói: Xưa kia Ðại Trí thiền sư, lo Tỳ khưu đời mạt pháp kiêu mạn lười biếng, nên đặc biệt chế định quy củ để ngăn ngừa, tùy theo khả năng mà đặt ra từng chức vụ cho mỗi người coi sóc. Vị chủ ở nhà Phương trượng, chúng Tăng ở chốn Tăng đường, chia thành mười chức vụ đứng đầu (1). Người đứng đầu thì nghiêm túc như quan phủ, nắm phần đại cương ở trên, kẻ ở dưới thì sửa sang trông coi các việc, khiến cho trên dưới cùng nối tiếp nhau như thân sai khiến cánh tay, cánh tay sai khiến ngón tay, ai nấy đều tuân theo mệnh lệnh làm công việc. Bởi thế, bậc tiền bối cung kính noi theo, khắn đáu phụng hành, khiến cho di phong của Tiên thánh chưa tuyệt diệt. Gần đây thấy chốn tùng lâm suy đồi, người học đạo quý trọng chỗ tài ba, khinh miệt sự giữ gìn tiết nghĩa, ưa chuộng vẻ phù hoa, khinh bạc niềm chân thật, ngày qua tháng lại, dần dần đưa đến chỗ suy vi. Lúc đầu thì họ trốn tránh an phận một thời, kịp tới lúc huân tập đã lâu thì lại bảo đó là lý đương nhiên, chứ không bảo đó là phi nghĩa, chẳng bảo đó là phi lý. Người ở trên thì hồi họp lo sợ kẻ ở dưới, kẻ ở dưới thì duơng mắt nhìn lại người trên. Lúc bình thường thì buông lời ngọt ngào, khuất thân giữ lễ để cùng xu nịnh làm đẹp lòng lẫn nhau, nhưng được ít lâu thời lại đem lang tâm quỷ kế để chém giết lẫn nhau. Nếu kẻ thắng đó là người hiền, kẻ bại hóa ra người ngu, không còn để ý đến tôn ty trật tự, lỳ lẽ phải trái. Kẻ kia đã làm thế, người này bắt chước theo, kẻ dưới nói thế nào, người trên cũng làm thế, người trước làm thế nào, người sau cũng noi theo làm như vậy. Than ôi! Nếu không phải là bậc Hiền thánh nương theo nguyện lực xuất hiện chứa góp công nghiệp hàng trăm năm, thì sao có thể lay chuyển nổi cái tệ hại kiên cố kia, bằng không thì không thể thay đổi được.
Thư gởi Thuấn Hòa thượng (2).
Thư gởi Thuấn Hòa thượng (2).
CHÚ THÍCH:
(1) Mười chức vụ đứng đầu:
a.- Tiền Ðường Thủ tọa.
b.- Hậu Ðường Thủ tọa.
c.- Thư ký.
d.- Tạng chủ.
e.- Tri khách.
f.- Ðô quản.
g.- Giám tự.
h.- Phó tự.
i.- Duy na.
j.- Ðiền tọa.
(2) Thuấn Hòa thượng: Cũng gọi là Tây Thiên Tưệ Thuấn, pháp tụ của Thuyết Phong Diễn thiền sư.
a.- Tiền Ðường Thủ tọa.
b.- Hậu Ðường Thủ tọa.
c.- Thư ký.
d.- Tạng chủ.
e.- Tri khách.
f.- Ðô quản.
g.- Giám tự.
h.- Phó tự.
i.- Duy na.
j.- Ðiền tọa.
(2) Thuấn Hòa thượng: Cũng gọi là Tây Thiên Tưệ Thuấn, pháp tụ của Thuyết Phong Diễn thiền sư.
240.- CHỮ HÁN: Nguyệt Ðường trụ Tịnh Từ tối cửu. Hoặc vị: "Hòa thượng hành đạo kinh niên, môn hạ vị văn hữu đệ tử, đắc bất cô Diệu Trạm hồ". Nguyệt Ðường bất đối. Tha nhật tái ngôn chi. Nguyệt Ðường viết: "Tử bất văn tích nhân chủng qua nhi ái thậm giả, thịnh hạ chi nhật, phương trung nhi quán chi, qua bất toàn sủng nhi ứ bại hà giả. Kỳ ái chi phi bất cần, nhiên quán chi bất dĩ thời, thích sở dĩ bãi chi dã. Chư phương lão túc đề khế nột tử, bất quan kỳ đạo nghiệp nội sung tài khí hoành viễn, chỉ dục tốc kỳ vi nhân, đãi thẩm kỳ đạo đức tắc dâm ô, sát kỳ ngôn hạnh tắc quai lệ, vị kỳ công chính tắc tà nịnh, đắc phi ái chi quá kỳ phận hồ. Thị chính do nhật trung chi quán qua dã. Dư thâm khủng thức giả tiếu, cố bất vi dã.
Bắc Sơn Ký Văn.
Bắc Sơn Ký Văn.
240.- DỊCH NGHĨA: Nguyệt Ðường trụ trì chùa Tịnh Từ rất lâu. Hoặc có người nói: "Sự hành đạo của Hòa thượng đã nhiều năm, nay trong đám môn hạ của ngài chưa nghe thấy có người đệ tử nào xuất chúng, như vậy há lại không cô phụ môn phái của Diệu Trạm (1) Tiên sư vậy ư?". Nguyệt Ðường không trả lời. Ngày khác họ lại nói với ngài. Nguyệt Ðường nói: "Ngươi không nghe thấy người đời xưa trồng hạt dưa mà yêu nó quá mức, đền nỗi những ngày nắng gắt ở mùa Hạ, mà cũng cố tưới ngay lúc giữa trưa, thì dưa chẳng những không tươi tốt được mà lại úa nát. Tại sao? Bởi lẽ, người mến trồng dưa, không phải là không siêng, nhưng vì tưới nó không đúng thời, nên dưa kia hoá thành úa nát. Các bậc lão túc ở các nơi cung ứng đề bạt kẻ nột tử, lại không xem đạo nghiệp sung thực và tài khí rộng xa của họ, mà chỉ muốn họ chóng nên người, nhưng xét tới đạo đức của họ thì nhơ bẩn, xét tới ngôn hạnh của họ thì trái ngang, như bảo họ là công chính thì chính họ là kẻ tà nịnh. Những việc như thế có lẽ cũng vì yêu họ quá mức vậy chăng? Như thế cũng chẳng khác gì kẻ tưới dưa ở giữa buổi trưa nắng. Ta vì sợ hãi kẻ thức giả chê cười, nên không dám giao phó công việc trọng đại cho họ".
Bắc Sơn Ký Văn.
Bắc Sơn Ký Văn.
CHÚ THÍCH:
(1) Diệu Trạm: Tuyết Phong Tư Tuệ Diệu Trạm thiền sư, pháp tự của Pháp Vân Thiện Bản thiền sư.
241.- CHỮ HÁN: Nguyệt Ðường viết: Hoàng Long cư Tích Thúy. Nhân bệnh tam nguyệt bất xuất. Chân Tịnh tiêu dạ khẩn đảo. Dĩ chí nhiên đính luyện tý ngưỡng kỳ âm tướng. Hoàng Long văn chi trách viết: "Sinh tử cố ngô phận giả. Nhĩ sam thiền bất đạt lý nhược thị". Chân Tịnh thung dung viết: "Tùng lâm khả vô Khắc Vân, bất khả vô Hòa thượng". Thức giả vị: "Chân Tịnh kính sư trọng pháp, kỳ thành chi thứ, tha nhật tất thành đại khí".
Bắc Sơn Ký Văn.
Bắc Sơn Ký Văn.
241.- DỊCH NGHĨA: Nguyệt Ðường nói: Hoàng Long khi ở chùa Tích Thúy, nhân vì bệnh ba tháng không ra khỏi nhà Phương trượng. Chân Tịnh lấy làm lo lắng suốt đêm khấn nguyện cầu đảo, dĩ chí đốt hương trên đỉnh đầu, thắp đèn trên cánh tay, ngửa mong thần lực âm trợ. Hoàng Long nghe biết việc đó liền trách rằng: "Lẽ sống chết là phần cố nhiên của ta, ông là người tham thiền mà không đạt được lý đó sau?". Chân tịnh thong thả thưa: "Tùng lâm có thể không có Khắc Vân (Chân Tịnh), chứ không thể không có Hòa thượng". Kẻ thức giả bảo: "Chân Tịnh là kẻ kính thầy trọng pháp một cách chân thành đến thế, tất sẽ thành người đại khí sau này".
Bắc Sơn Ký Văn.
Bắc Sơn Ký Văn.
242.- CHỮ HÁN: Nguyệt Ðường viết: Hoàng Thái Sử Lỗ Trực thường ngôn: "Hoàng Long Nam thiền sư, khí lượng thâm hậu, bất vi sự vật sở thiên. Bình sinh vô kiểu sức. Môn đệ hữu chung thân bất kiến kỳ hỷ nộ giả. Tuy tẩu sử chí lực chi bối nhất dĩ thành đãi chi. Cố năng bất động thanh khí, nhi khởi Từ Minh chi đạo, phi cẩu nhiên dã".
Kiến Hoàng Long Thạch khắc.
Kiến Hoàng Long Thạch khắc.
242.- DỊCH NGHĨA: Nguyệt Ðường nói: Hoàng Thái Sử Lỗ Trực thường nói: "Hoàng Long Nam thiền sư là bậc khí lượng sâu dày, không bị sự vật lay chuyển, bình sinh không ưa trang sức, môn hạ đệ tử suốt đời cũng không thấy ngài có nét mặt mừng giận. Tuy là những kẻ hầu hạ sai khiến, ngài đều lấy tâm thành thật để đối đãi. Thế nên ngài chẳng động đến thanh khí, mà làm hưng thịnh được đạo của Từ Minh. Như vậy không phải là không lo lắng mà thành đạt được".
Khắc ở bia đá chùa Hoàng Long.
Khắc ở bia đá chùa Hoàng Long.
243.- CHỮ HÁN: Nguyệt Ðường viết: Kiến Viêm Kỷ Dậu thượng tỵ nhật. Chung Tương bạn ư Phong Dương. Văn Thù Ðạo thiền sư ách ư nạn. Tặc thế ký thịnh, kỳ đồ đào khứ. Sư viết: "Họa khả tỵ hồ". Tức nghị nhiên sử ư trượng thất, kính vi tặc sở hại. Vô Cấu cư sĩ bạt kỳ Pháp ngữ viết: "Phù ái sinh úy tử sanh chi thường tình. Duy chí nhân ngộ kỳ bản bất sinh, tuy sinh nhi vô sở ái. Ðạt kỳ vị thường diệt, tuy tử nhi vô sở úy. Cố năng lâm sanh tử họa hoạn chi tế, nhi bất di kỳ sở thú. Sư kỳ nhân hồ". Dĩ sư đạo đức tiết nghĩa, túc dĩ giáo hóa tùng lâm, thùy phạm hậu thế. Sư danh Chính Ðạo, Mỵ Châu Ðan Lăng nhân, Phật Giám chi tự giả.
Tuệ Ðại Sư Ký Văn.
Tuệ Ðại Sư Ký Văn.
243.- DỊCH NGHĨA: Nguyệt Ðường nói: Niên hiệu Kiến Viêm (1) ngày mồng 3 tháng 3 (2) năm kỷ Dậu. Chung Tương làm phản ở Phong Dương. Văn Thù Ðạo thiền sư mắc nạn ở dịp này. Thế giặc rất mạnh, đồ chúng của ngài đều bỏ chạy. Thiền sư nói: "Tai vạ có thể tránh được ư?". Ngài cương quyết ở lại nhà Phương trượng, rồi sau bị quân giặc sát hại. Vô Cấu cư sĩ làm bài bạt trong tập Pháp ngữ của ngài rằng : "Ôi! Ham sống sợ chết là thường tình của con người, duy có bậc chí nhân hiểu cái lẽ đó là bất sinh, nên tuy có sinh ra mà không ham thích thân mình, đạt được lẽ sanh tử là bất diệt, nên tuy chết mà không sợ hãi. Cho nên, khi tới lúc tử sinh họa nạn mà không thay đổi được những điều mình vẫn giữ. Thiền sư là bậc chí nhân vậy". Nếu đem phần đạo đức tiết nghĩa của thiền sư cũng đủ để giáo hóa tùng lâm, làm khuôn mẫu cho hậu thế. Thiền sư tên là Chính Ðạo, người đất Ðan Lăng thuộc Mỵ Châu, pháp tự của ngài Phật Giám.
Tưẹ Ðại Sư Ký Văn.
Tưẹ Ðại Sư Ký Văn.
CHÚ THÍCH:
(1) Mồng 3 tháng 3: Dịch ở chữ Thượng Tỵ nhật.
(3) Văn Thù Ðạo: Văn Thù Tâm Ðạo thiền sư, pháp tự của Phật Giám Cần thiền sư.
(3) Văn Thù Ðạo: Văn Thù Tâm Ðạo thiền sư, pháp tự của Phật Giám Cần thiền sư.
244.- CHỮ HÁN: Tâm Văn Bí Hòa thượng viết: Nột tử nhân thiền chí giả đa. Hữu bệnh tại nhi mục giả, dĩ xanh my nổ mục trắc nhỉ điểm đầu vi thiền. Hữu bệnh tại khẩu thiệt giả, dĩ điên ngôn đảo ngữ hò hát loạn hát vi thiền. Hữu bệnh tại thủ túc giả, dĩ tiến tiền thoái hậu, chỉ đông hoạch tây vi thiền. Hữu bệnh tại tâm phục giả, dĩ cùng huyền cứ diệu siêu tình ly kiến vi thiền. Cứ thực nhi luận vô phi thị bệnh. Duy bản sắc tôn sư minh sát cơ vi, mục kích nhi tri kỳ hội bất hội. Nhập môn nhi biện kỳ đáo bất đáo, nhiên hậu dụng nhất chùy nhất thích, thoát kỳ liêm tiêm công kỳ đáp trệ, nghiệm kỳ chân giả định kỳ hư thực, nhi bất thủ nhất phương, tiện muội hồ biến thông tỷ chung đạp ư an lạc vô sự chi cảnh, nhi hậu dĩ hỹ.
Thực Lục.
Thực Lục.
244.- DỊCH NGHĨA: Tam Văn Bí Hòa thượng nói: Kẻ nột tử nhân vì tham thiền đến nỗi mắc bệnh quá nhiều. Có người bị bệnh ở tai mắt, chỉ lấy dương mày, trừng mắt, ghé tai, gật đầu làm thiền. Có người mắc bệnh ở miệng và lưỡi, chỉ vì lấy lời nói điên đảo, quát mắng loạn xạ làm thiền. Có người mắc bệnh ở tay chân, chỉ vì lấy tiến trước lùi sau, chỉ đông trỏ tây làm thiền. Có người bệnh ở tâm phúc, chỉ vì lấy việc tới chỗ cùng tận huyền diệu vượt ngoài tình kiến làm thiền. Cứ thật mà bàn thì tất cả đó đều là bệnh. Duy có bậc tôn sư đã nhận chân được bản lai diện mục mới xét được rõ căn cơ vi tế, khi mục kích đã biết được chỗ lãnh hội hay chưa lãnh hội của họ. Khi nhập môn đã phân biệt được chỗ đến đích hay chưa đến đích của họ. Rồi sau đó ngài mới dùng một chiếc dùi, một móc nhọn, lột trần chỗ khuất tất nhỏ nhiệm, phá tan nơi ngưng trệ, nghiệm xét chỗ chân giả của họ mà không giữ chịt ở một chiều, làm mờ mịt mất chỗ biến thông, khiến cho họ bước tới được cảnh an lạc vô sự rồi sau mới thôi.
Thực Lục.
Thực Lục.
245.- CHỮ HÁN: Tâm Văn viết: Cổ nhân: "Thiên nhân chi tú viết Anh, vạn nhân chi anh viết Kiệt". Nột tử hữu trí hạnh văn ư tùng lâm giả, khởi phi cận anh kiệt chi sĩ. Ðãn năng cần nhi tham cứu khử hư thủ thực, các đắc kỳ dụng, tắc viện vô đại tiểu, chúng vô đa quả, giai tòng kỳ hóa hỹ. Tích Phong Huyệt chi Bạch Ðinh, Dược Sơn chi Ngưu Lạn, Thường Công chi Ðại Mai, Từ Minh chi Kinh Sở, đương thử chi thời, du du chi đồ, nhược dĩ vị mặo tương cầu, tất kiến nhi di chi. Nhất đán cứ sư tịch đăng hoa tọa, vạn chỉ vi nhiễu phát huy Phật Tổ thúc thế chi quang minh. Tùng lâm thực bất vọng phong nhi mỹ, thẩn tiền bối giai phụ hoàn vỹ chi tài anh kiệt chi khí, thượng năng khu khu ư vị ngộ chi tế, hàm sĩ nhẫn cấu, hỗn thế đồng ba nhi nhược thị, huống giáng tư giả ư. Ô hô! Cổ do kim dã, thử do bỉ dã, nhược tất đãi Dược Sơn, Phong Huyệt, nhi sư chi, thiên tải nhất ngộ dã. Nhược tất đãi Ðại Mai, Từ Minh nhi hữu chi, bách thế nhất xuất dã. Cái sự hữu tòng vi nhi chí trứ, công hữu tích tiểu nhi thành đại. Vị kiến bất học nhi hữu thành, bất tu nhi tiên đạt giả. Nhược ngộ thử lý sự khả cầu hữu khả trạch, đạo khả học, đức khả tu, tắc thiên hạ chi sự hà thi nhi bất khả. Cổ văn: "Tri nhân thành nan. Thánh nhân sở bệnh, huống kỳ tha hồ".
Dữ Trúc Am thư.
Dữ Trúc Am thư.
245.- DỊCH NGHĨA: Tam Văn nói: Cổ nhân nói (1): "Cái tốt gấp ngàn người gọi là Anh, cái mạnh gấp muôn người gọi là Kiệt". Kẻ nột tử có trí tuệ hạnh kiểm tiếng khen lừng lẫy trong chốn tùng lâm, người đó há không phải là anh kiệt sao? Kẻ nột tử nếu hay siêng năng tham cứu, bỏ hư lấy thực, để thích ứng với chỗ dùng của nó, thì tự viện không cứ lớn hay nhỏ, chúng bất luận nhiều hay ít, đều theo đó mà giáo hóa được vậy. Xưa kia, ngài Phong Huyệt (2) đến chùa Bạch Ðinh, Dược Sơn (3) đến chùa Ngưu Lạn, Thường Công (4) đến núi Ðại Mai, Từ Minh (5) đất Kinh Sở, đương thời đó những kẻ ngù ngờ đều chỉ chuộng địa vị và dung mạo để tìm hiểu, khi thấy các ngài, tất nhiên họ phảiđem tâm chê bai. Nhưng một ngày kia các vị ấy ngồi vào chiếu Pháp tịch, bước lên tòa sư tọa, có hàng vạn người vây quanh, làm rực rỡ ánh quang minh của Phật Tổ trong đời mạt pháp, thì khi đó trong chốn tùng lâm ai ai cũng phục tùng, ví như gió lướt trên cỏ vậy. Huống hồ, các bậc tiền bối đều sẵn có tài năng hoàn vỹ, chí khí anh kiệt, các ngài cũng còn phải ấp ủ ở chỗ lúc chưa gặp thời cơ, phải ngậm đắng nuốt cay, ngụp lặn cùng với làn sóng đời mà chìm nổi đó thôi, đâu có phải là các ngài kém tài xuất chúng vậy. Than ôi! Người đời xưa cũng như đời nay, người này cũng như người kia, nếu phải đợi các ngài Dược Son, Phong Huyệt làm thầy, thì ngàn năm mới gặp một lần được. Nếu phải đợi các ngài Ðại Mai, Từ Minh làm bạn, thì hàng trăm năm mới có một vị ra đời. Bởi lẽ, sự việc có từ ở chỗ vi tế đến rõ rệt, công lao có từ chỗ góp nhỏ mà thành lớn, chưa từng thấy ai không học mà thành tài, không tu mà thành đạt. Nếu hiểu được lý này, thì họ có thể tìm được thầy, chọn được bạn, học được đạo, tu được đức, và cũng có thể thi thố được bất cứ việc gì trong thiên hạ. Cổ nhân nói: "Biết người thật là khó. Thánh nhân còn lo, huống là người khác vậy ư".
Thư gởi Trúc Am.
Thư gởi Trúc Am.
CHÚ THÍCH:
(1) Cổ nhân nói: Người có tài gấp mười người gọi là Tuyến, gấp trăm người gọi là Tuấn, gấp ngàn người gọi là Anh, gấp vạn người gọi là Kiệt.
(2) Phong Huyệt: Phong Huyệt Diên Chiếu thiền sư, pháp tự của Nam Viễn Tuệ Ngu thiền sư, ngài đến đất Bạch Ðinh giáo nơi này chỉ trong bảy năm trời, mà nơi đây đã trở thành chốn tùng lâm có tên tuổi.
(3) Dược Sơn: Dược Sơn Hòa thượng khi ngài đến đất Phong Dương, thấy một miếng đất ở chân núi rất đẹp, liền khuyến hóa chủ đất xin lập một đạo tràng để tọa thiền, nhưng vì những người quanh vùng không ưa, ngài liền vào chuồng bò ở nhà người khác tọa thiền, người chủ bất đắc dĩ đưổi bò ra ngoài, rồi phóng hỏa đất chuồng bò đó, nhưng sau ngài lại ngồi tọa thiền ở trên nền chuồng bò. Quan Thái Thú nghe biết liền bán quả núi đó, và dành cho ngài một miếng đất để kiến thiết am, sau cái am đó trở thành chùa Ngưu Lạn và biến thành một tùng lâm lớn.
(4) Thường Công: Pháp Thường thiền sư núi Ðại Mai. Lúc đầu ngài tham thiền ở Ðại Tịch thiền sư và hỏi ngài Ðại Tịch: "Thế nào là Phật?". Ðại Tịch trả lời: "Tâm tức là Phật". Thiền sư liền đại ngộ và sau hoằng hóa ở núi Ðại Mai, đồ chúng theo học rất đông đảo.
(5) Từ Minh: Ngài Từ Minh chỉ lưu ngụ ở đất Kinh sở một thời gian, mà đồ chúng các nơi kéo về tham học rất đông.
(2) Phong Huyệt: Phong Huyệt Diên Chiếu thiền sư, pháp tự của Nam Viễn Tuệ Ngu thiền sư, ngài đến đất Bạch Ðinh giáo nơi này chỉ trong bảy năm trời, mà nơi đây đã trở thành chốn tùng lâm có tên tuổi.
(3) Dược Sơn: Dược Sơn Hòa thượng khi ngài đến đất Phong Dương, thấy một miếng đất ở chân núi rất đẹp, liền khuyến hóa chủ đất xin lập một đạo tràng để tọa thiền, nhưng vì những người quanh vùng không ưa, ngài liền vào chuồng bò ở nhà người khác tọa thiền, người chủ bất đắc dĩ đưổi bò ra ngoài, rồi phóng hỏa đất chuồng bò đó, nhưng sau ngài lại ngồi tọa thiền ở trên nền chuồng bò. Quan Thái Thú nghe biết liền bán quả núi đó, và dành cho ngài một miếng đất để kiến thiết am, sau cái am đó trở thành chùa Ngưu Lạn và biến thành một tùng lâm lớn.
(4) Thường Công: Pháp Thường thiền sư núi Ðại Mai. Lúc đầu ngài tham thiền ở Ðại Tịch thiền sư và hỏi ngài Ðại Tịch: "Thế nào là Phật?". Ðại Tịch trả lời: "Tâm tức là Phật". Thiền sư liền đại ngộ và sau hoằng hóa ở núi Ðại Mai, đồ chúng theo học rất đông đảo.
(5) Từ Minh: Ngài Từ Minh chỉ lưu ngụ ở đất Kinh sở một thời gian, mà đồ chúng các nơi kéo về tham học rất đông.
246.- CHỮ HÁN: Tâm Văn viết: Giáo ngoại biệt truyền chi đạo, chi giản chí yếu, sơ vô tha thuyết. Tiền bối hành chi bất nghi, thư chi bất dịch. Thiên Hỷ gian Tuyết Ðậu dĩ biện bác chi tài, mỹ ý biến lộng cầu tân trác sảo, kế Phần Dương vi Tụng cổ, lung lạc đương thế học giả, tông phong do thử nhất biến hỹ. Ðãi Tuyên Chính gian, Viên Ngộ hựu xuất kỷ ý ly chi vi Bích Nham Tập. Bỉ thời mại cổ thuần toàn chi sĩ, như Ninh Ðạo giả, Tử Tâm, Linh Nguyên, Phật Giám chư lão, giai mạc năng hồi kỳ thuyết. Ư thị tân tiến hậu sinh, chân trọng kỳ ngữ. Chiêu tụng mộ tập vi chi chí học. Mạc hữu ngộ kỳ phi giả. Thống tai! Học giả chi tâm thuật hoại hỹ. Thiệu Hưng sơ, Phật Nhật nhập Mân kiến học giả khiên chi bất phản. Nhật trì nguyệt vụ tẩm tí thành tệ. Tức toái kỳ, bản tịch kỳ thuyết, dĩ chí khử mê viện nịch, thích phồn vát kịch, tồi tà hiển chánh, đặc nhiên nhi chấn chi. Nột tử sảo tri kỳ phi nhi bất phục mộ. Nhi nhiên Phật Nhật cao minh viễn kiến thừa bi nguyện lực cứu mạt pháp chi tệ, tắc tùng lâm đại hữu khả úy giả hỹ.
Dữ Trương Tử Thiều thư.
Dữ Trương Tử Thiều thư.
246.- DỊCH NGHĨA: Tâm Văn nói: Ðạo của giáo ngoại biệt truyền rất giản dị thiết yếu. Lúc ban đầu ngoài thuyết đó ra không có thuyết nào khác, nên các bậc tiền bối thực hành đạo đó không chút ngờ vực, giữ gìn đạo đức đó không chi thay đổi. Nhưng vào khoảng niên hiệu Thiên Hỷ (1), có ngài Tuyết Ðậu lại dùng tài biện bác, đem ý đẹp để biến đổi thuyết đó, khéo léo tìm thêm ý mới và tiếp nối thêm tư tưởng của Phần Dương, làm thành những bài "Tụng cổ" lung lạc người học đạo đương thời, nên tông phong do đó mà một lần bị biến đổi. Kịp tới khoảng niên hiệu Tuyên Chính (2), ngài Viên Ngộ lại đưa ra ý riêng của mình, tách rời"Tụng cổ" làm thành "Bích Nham Tập". Thời đó lại có những bậc lão thành hoàn toàn thuần túy hơn cả cổ nhân, như các ngài Ninh Ðạo (3), Tử Tâm, Linh Nguyên, Phật Giám, cũng đều không thể kéo lại thuyết đó. Bởi thế những kẻ tân tiến hậu sinh, quý trọng những từ ngữ đó, sớm tụng tối tập, bảo đó là học thuyết chí đạo, chẳng có một ai biết đó là trái. Ðau đớn thay! Tâm thuật của người học đạo bị bại hoại vậy. Tới năm đầu niên hiệu Thiệu Hưng (4), có ngài Phật Nhật vào đất Mân, thấy người học đạo ham đắm Bích Nham Tập, mà không sao kéo họ trở lại lối cũ được, ngày qua tháng lại dần dần trở nên tệ hại, ngài liền đem đập nát ván in của Bích Nham Tập, cực lực bài bác học thuyết đó. Dĩ chí, ngài còn mở chỗ mê mờ, cứu kẻ đắm đuối, nên ngài cắt bỏ chỗ phiền toái, gạt bỏ ý rườm rà, tồi tà hiển chánh, bỗng nhiên cái đạo của giáo ngoại biệt truyền được chấn hưng trở lại. Lúc này kẻ nột tử mới biết Bích Nham Tập là trái, nên không ái mộ nữa. Nếu ngài Phật Nhật không phải là bậc cao minh thấy xa nhìn rộng, nương theo sức bi nguyện, cứu tệ thời mạt pháp thì chốn tùng lâm đã xảy ra những việc rất đáng ghê sợ.
Thư gởi Trương Tử Thiều.
Thư gởi Trương Tử Thiều.
CHÚ THÍCH:
(1) Thiên Hỷ: Niên hiệu đời vua Chân Tôn.
(2) Tuyên Chính: Niên hiệu đờivua Tống Hưng Tôn, lấy chữ Tuyên Hòa và Chính Hòa.
(3) Ninh Ðạo: Khai Phúc Ðạo Ninh thiền sư, pháp tự của Ngũ Tổ Diễn thiền sư.
(4) Thiệu Hưng: Niên hiệu vua Cao Tôn đời Nam Tống.
(2) Tuyên Chính: Niên hiệu đờivua Tống Hưng Tôn, lấy chữ Tuyên Hòa và Chính Hòa.
(3) Ninh Ðạo: Khai Phúc Ðạo Ninh thiền sư, pháp tự của Ngũ Tổ Diễn thiền sư.
(4) Thiệu Hưng: Niên hiệu vua Cao Tôn đời Nam Tống.
247.- CHỮ HÁN: Chuyết Am Phật Chiếu Quang Hòa thượng, sơ tham Tuyết Ðường ư Tiến Phúc. Hữu tướng giả nhất kiến nhi khí chi. Vị Tuyết Ðường viết: "Chúng trung Quang Thượng tọa, đầu lô phương chính, quảng tảng phong ghi, thất xứ bình mãn, tha nhật tất vi Ðế vương sư". Hiếu Tôn Hoàng đế Thuần Hy sơ, triệu đối xứng chỉ, lưu Nội Quán Ðường thất túc, đãi ngộ ưu dị, độ việt tiền lai, tứ Phật Chiếu chi danh văn vu thiên hạ.
Ký Văn.
Ký Văn.
247.- DỊCH NGHĨA: Chuyết Am (1) Phật Chiếu Quang Hòa thượng, lúc đầu tham thiền ngài Tuyến Ðường ở chùa Tiến Phúc. Có thầy tường chợt thấy ngài, đoán biết ngài là bậc đạo khí, liền bảo với Tuyết Ðường: "Trong đại chúng có Quang Thượng tọa, đỉnh đầu vuông thẳng, trán rộng mép đầy, bảy nơi (2) cân đối, ngày kia ắt phải là thầy của Ðế vương". Năm đầu niên hiệu Thuần Hy đời vua Hiếu Tôn, ngài được triệu vào kinh hỏi đạo, ứng đối hợp ý nhà vua, được vua lưu lại Nội Quảng Ðường bảy ngày đêm đãi ngộ rất ưu ái đặc biết, vượt quá lễ nghi thông thường từ trước tới nay, và ban cho tên hiệu là Phật Chiếu, tiếng của ngài lúc đó được bay khắp thiên hạ.
Ký Văn.
Ký Văn.
CHÚ THÍCH:
(1) Chuyết Am: Phật Chiếu Ðắc Quang thiền sư, pháp tự của Ðại Tuệ Cảo thiền sư.
(2) Bảy nơi: .Hai tay, hai chân, hai vai và đỉnh đầu.
(2) Bảy nơi: .Hai tay, hai chân, hai vai và đỉnh đầu.
248.- CHỮ HÁN: Chuyết Am vị Ngu Doãn Văn Thừa tướng viết: Ðạo đại đỗng nhiên bản vô ngu trí, thí như Y Lã khởi canh ngư vi Ðế vương sư. Cự khả dĩ trí ngu giai cấp nhi năng nghĩ tai. Tuy nhiên phi đại trượng phu, kỳ thục năng dữ yên.
Quảng Lục.
Quảng Lục.
248.- DỊCH NGHĨA: Chuyết Am bảo Thừa tướng Ngu Doãn Văn (1): Ðại đạo bình đẳng, vốn không phân biệt kẻ ngu người trí, ví như Y Doãn (2), Lã Vọng (3) là người cày ruộng câu cá mà làm thầy Ðế vương. Ðâu có thể lấy trí ngu giai cấp mà hay phỏng theo được. Tuy vậy, nhưng nếu không phải là bậc đại Trượng phu thì đâu có thể dự vào đạo lớn đó được.
Quảng Lục.
Quảng Lục.
CHÚ THÍCH:
(1) Ngu Doãn Văn: Họ Ngu tên Doãn Văn, tên chữ là Bản Phủ, có tài thơ phú, đời vua Hiếu Tôn được phong làm Thừa tướng.
(2) Y Doãn: Họ Y tên Doãn, ông lo Trung quốc không có đấng vua hiền, than thân trách phận không thi thố được cái đạo của mình, liền ẩn thân cày ruộng ở Hữu Sằn, vua Thang ba lần đến mời, bái phong làm quan Thừa tướng.
(3) Lã Vọng: Họ Khương, tên Thượng, tên chữ là Tử Nha, ông làm nghề câu cá bến Vị Thủy ở Bàn Khê, huyện Bảo Kê. Sau được Chu Văn Vương phong chức Lã Hầu và ban hiệu là Thái Công Vọng.
(2) Y Doãn: Họ Y tên Doãn, ông lo Trung quốc không có đấng vua hiền, than thân trách phận không thi thố được cái đạo của mình, liền ẩn thân cày ruộng ở Hữu Sằn, vua Thang ba lần đến mời, bái phong làm quan Thừa tướng.
(3) Lã Vọng: Họ Khương, tên Thượng, tên chữ là Tử Nha, ông làm nghề câu cá bến Vị Thủy ở Bàn Khê, huyện Bảo Kê. Sau được Chu Văn Vương phong chức Lã Hầu và ban hiệu là Thái Công Vọng.
249.- CHỮ HÁN: Chuyết Am viết: Toàn Dã Am thường ngôn: "Hoàng Long Nam thiền sư khoan hậu trung tín, cung nhi từ ái, độ lượng ngưng viễn, bác học hiệp văn. Thường đồng Vân Phong Duyệt du Hồ Tương tỵ vũ thụ hạ. Duyệt ky cứ tương đối. Nam độc nguy tọa". Duyên sân mục thị chi viết: "Phật Tổ diệu đạo bất thị tam gia thôn cổ miếu lý thổ địa tác tử mô dạng". Nam khể thủ tạ chi, nguy tọa du thậm cổ Hoàng Thái Sử Lỗ Trực xung chi viết: "Nam Công động tĩnh bất vong cung kính, chântùng lâm chủ giả".
Huyễn Am Tập.
Huyễn Am Tập.
249.- DỊCH NGHĨA: Chuyết Am nói: Toàn Dã Am thường nói: "Hoàng Long Nam thiền sư là người khoan hậu trung tín, cung nghiêm từ ái, độ lượng xâu xa, học rộng nghe nhiều. Thường cùng với Vân Phong Duyệt đi vân du tới đất Hồ Tương. Nhân một hôm hai người tránh mưa dưới gốc cây, Vân Phong duyệt ngồi xổm, Hoàng Long Nam ngồi xếp bằng, cùng đối diện nhau. Duyệt thiền sư quắc mắt nhìn Nam thiền sư nói: "Diệu đạo của Phật Tổ không phải là mô dạng tiêu cực như thần Thổ địa trong cổ muếu của một thôn nhỏ chỉ có ba nóc nhà". Nam thiền sư nghe rồi chỉ cúi đầu tạ lễ và lại ngồi nghiêm chỉnh hơn. Vì vậy Hoàng Thái Sử Lỗ Trực khen rằng: "Nam thiền sư luôn luôn giữ lễ cung kính trong lúc động cũng như tĩnh, thật là vị chủ chốn tùng lâm".
Huyễn Am Tập.
Huyễn Am Tập.
250.- CHỮ HÁN: Chuyết Am viết: "Xuất thân lâm chúng, yếu dĩ trí, khiển vọng trừ tình tu tiên giác. Bội giác hợp trần tắc tâm mông tế hỹ. Trí ngu bất phân tắc sự vẫn loạn hỹ.
Hoa Giám Tự thư.
Hoa Giám Tự thư.
250.- DỊCH NGHĨA: Chuyết Am nói: Nếu muốn dấn thân tới đại chúng, cần phải dùng đến trí huệ, muốn bỏ vọng trừ tình, cần phải dùng đến giác ngộ. Nếu khi đã trái giác hợp trần thì châm tâm bị lu mờ. Khi không phân trí ngu thì công việc phải rối loạn.
Thư gởi Hoa Giám Tự (1).
Thư gởi Hoa Giám Tự (1).
CHÚ THÍCH:
(1) Hoa Giám Tử: tức Linh Nham Hoa thiền sư, pháptự của Thái Bình Cần thiền sư.
251.- CHỮ HÁN: Chuyết Am viết: Phật Giám trụ Thái Bình, Cao Am sung Duy Na. Cao Am xỉ thiếu khí hào, hạ thị chư phương thiểu hữu khả kỳ ý giả. Nhất nhật trai thời minh kiền, kiến hành giả biệt khí trí thực vu Phật Giám tiền. Cao Am xuất đường lệ thanh viết: "Ngũ bách Tăng thiện trí thức tác giá ban khứ tựu, hà dĩ phạm mô hậu học". Phật Giám như bất văn kiến. Ðãi hạ đường tuân chi, nãi thủy tê thái. Cái Phật Giám tố hữu tỳ tật bất thực du. Cố Cao Am hữu quý. Nghệ phương trượng cáo thoái. Phật Giám viết: "Duy Na sở ngôn thậm đáng. Duyên Huệ Cần bệnh nãi nhĩ. Thường văn Thánh nhân ngôn: Dĩ lý thông chư ngại, sở thực ký bất ưu ư chúng, toại bất nghi dã. Duy Na chí khí minh viễn, tha nhật đương trụ thạch tông môn. Hạnh vật dĩ thử giới đới". Ðãi Phật Giám thiên Trí Hải. Cao Am quá Long Môn, hậu vi Phật Nhãn chi tự.
251.- DỊCH NGHĨA: Chuyết Am nói: Phật Giám trụ trì chùa Thái Bình, Cao Am sung chức Duy Na. Cao Am tuổituy còn nhỏ, nhưng chí khí anh hào, coi rẻ chư phương tôn túc, ít có người vừa ý mình. Một hôm đánh kiền trùy thụ trai. Cao Am trong thấy thị giả mang một món thức ăn riêng để trước mang Phật Giám. Cao Am liền ra trước Tăng đường nói lớn: "Nơi đây có 500 Tăng chúng mang danh bậc thiện trí thức, lại làm cái việc như thế, còn lấy gì làm mô phạm cho kẻ hậu học". Phật Giám coi như không nghe thấy. Cao Am vội xuống nhà dưới hỏi đầu đuôi, mới biết rõ món thức ăn đó là rau thủy tê (rau ngổ). Vì lẽ Phật Giám vốn có bệnh đau lá lách, không dùng được dầu. Cao Am có vẻ hổ thẹn, tới trước Phương trượng đường xin cáo lui chức Duy Na. Phật Giám nói: "Duy Na nói rất xác đáng, vì Huệ Cần này có bệnh nên mới làm thế. Ta thường nghe Thánh nhân nói: Lấy lý để thông suốt mọi chướng ngại. Món ăn ta dùng đã không hơn chúng, thì còn ngờ vực chi nữa. Duy Na là người có chí khí thông minh xa vời, ngày sau sẽ là trụ thạch của tông môn. Ta mong rằng ông chớ nên thắc mắc vì việc nhỏ mọn này, mà cứ giữ chức Duy Na như cũ". Ðến khi Phật Giám dời Trụ trì chùa Trí Hải, Cao Am cũng qua ở chùa Long Môn, sau Cao Am được nối pháp ngài Phật Nhãn.
252.- CHỮ HÁN: Chuyết Am viết: Ðại phàm dữ quan viên luận đạo thù tạc. Tu thị sản khứ tri giải vật linh tha tọa tại khòa quật lý. Trực yếu đan minh hướng thượng nhất trước tử. Diệu Hỷ tiên sư thường ngôn: "Sĩ đại phu tương kiến hữu vấn tức đối, vô vấn tức bất khả. Hựu tu thị cá trung nhân thủy đắc". Thử ngữ hữu bổ ư thời, bất thương trụ trì chi thể: "Thiết nghi tư chi".
Dữ Hưng Hóa Phổ Am thư.
Dữ Hưng Hóa Phổ Am thư.
252.- DỊCH NGHĨA: Chuyết Am nói: Ðạiphàm cùng với các quan viên luận đạo thù tạc thi thố, nên phải cắt bỏ chỗ hiểu biết rườm rà, chớ để họ thấu suốt vào tận tâm can mà phải đú ngay ra một vấn đề đan thuần hướng thượng rõ ràng. Diệu Hỷ tiên sư thường nói: "Khi cùng với kẻ đại phu tương kiến, họ có hỏi liền đáp ngay, không hỏi thì không nên và hơn thế nữa, lãi cần phải biết họ là người cùng một chí hướng vì đạo mới được". Lời nói đó rất bỏ ích cho thời nay và không phương hại đến đại thể của trụ trì: "Cần nên suy nghĩ vậy".
Thư gởi Hưng Hóa Phổ Am (1).
Thư gởi Hưng Hóa Phổ Am (1).
CHÚ THÍCH:
(1) Hưng Hóa Phổ Am: Viễn Châu Từ Hóa Phổ Am Ấp Tức thiền sư, pháp tự của Hoàng Long Trung thiền sư.
253.- CHỮ HÁN: Chuyết Am viết: Ðại chi mỹ giả thiện dưỡng vật, chủ chi nhân giả thiện dưỡng sĩ. Kim xưng trụ trì giả, đa bất dĩ chúng nhân vi tâm, cấp kỷ sở dục, ố văn thiện ngôn, hiếu tế quá ác, tứ hành tà hạnh. Ðồ khoái nhất thời chi ý, phản bị tiểu nhân tựu kỳ hiếu ố thủ chi, tắc trụ trì chi đạo, an đắc bất nguy hồ.
Dữ Hồng Lão thư.
Dữ Hồng Lão thư.
253.- DỊCH NGHĨA: Chuyết Am nói: Vùng đất tốt khéo nuôi được thực vật, người chủ nhân khéo gây được hiền sĩ. Người nay xưng là trụ trì, phần nhiều không lấy tâm đại chúng làm tâm mình, mà chỉ vội vã theo ý muốn riêng tư, không thích nghe lời hay, ưa che đậy lỗi xấu, buông lung theo tà hạnh. Luống chỉ thỏa mãn cái ý nhất thời, rồi lại bị những kẻ tiểu nhân nhắm vào chỗ ưa ghét đó mà bắt chước làm theo, thì cái đạo của trụ trì há lại không nguy vong vậy ư?".
Thư gởi Hồng Lão (1).
Thư gởi Hồng Lão (1).
CHÚ THÍCH:
(1) Hồng Lão: Tùy Châu Ðại Hồng Lão Nột Tử Chứng thiền sư, pháp tự của Ðại Quy Quả thiền sư.
254.- CHỮ HÁN: Chuyết Am vị Dã Am viết: Thừa Tướng Tử Nham cư sĩ ngôn: "Diệu Hỷ tiên sư, bình sinh dĩ đạo đức tiết nghĩa dũng cảm vị tiên. Khả thân bất khả sơ, khả cận bất khả bách, khả sát bất khả nhục, cư xứ bất dâm, ẩm thực bất nhục, lâm sinh tử họa hoạn, thị chi như vô. Chính sở vị Can Tương, Mạc Da nan dữ tranh phong, đãn ngu thường khuyết nhĩ". Hậu như Tử Nham chi ngôn.
Huyễn Am Ký Văn.
Huyễn Am Ký Văn.
254.- DỊCH NGHĨA: Chuyết Am bảo Dã Am (1): Thừa Tướng Tử Nham cư sĩ nói: "Diệu Hỷ tiên sư bình sinh lúc nào cũng lấy đạo đức tiết nghĩa dũng cảm làm đầu, chỉ ưng thân mà không ưng sơ, ưng gần mà không ưng bức bách, ưng giết mà không ưng nhục. Chốn ở không xa hoa, ăn uống không nồng hậu. Tới lúc sanh tử họa hoạn cũng coi đó như không. Thật đúng với truyện Can Tương, Mạc Da (2) khó cùng tranh phong với nhau được, nhưng đãn hiềm vì lo có thương tổn lầm lỗi vậy". Về sau quả nhiên đúng như lời của Tử Nham đã nói.
Huyễn Am Ký Văn.
Huyễn Am Ký Văn.
CHÚ THÍCH:
(1): Ðoạn này phần đầu có ý tán thán ngài Diệu Hỷ, phần cuối e Diệu Hỷ bị thương khuyết vì trí tuệ kiến văn của ngài quá sắc bén.
(2) Can Tương, Mạc Da: Theo Ngô Việt Xuân Thu, Can Tương, Mạc Da là hai danh kiếm. Can Tương người đất Ngô. Mạc Da là vợ của Can Tương. Can Tương làm kiếm, Mạc Da cắt tóc và móng tay của mình cho vào trong lò vàng sắt liền chảy thành kiếm. Kiếm dương gọi là Can Tương, kiếm âm gọi là Mạc Da. Vì đương thời Can Tương và Mạc Da là hai vợ chồng, và cùng là người đúc kiếm, nên kiếm hùng gọi là Can Tương, kiếm thư gọi là Mạc Da.
(2) Can Tương, Mạc Da: Theo Ngô Việt Xuân Thu, Can Tương, Mạc Da là hai danh kiếm. Can Tương người đất Ngô. Mạc Da là vợ của Can Tương. Can Tương làm kiếm, Mạc Da cắt tóc và móng tay của mình cho vào trong lò vàng sắt liền chảy thành kiếm. Kiếm dương gọi là Can Tương, kiếm âm gọi là Mạc Da. Vì đương thời Can Tương và Mạc Da là hai vợ chồng, và cùng là người đúc kiếm, nên kiếm hùng gọi là Can Tương, kiếm thư gọi là Mạc Da.
255.- CHỮ HÁN: Chuyết Am viết: Dã Am trụ trì, thông nhân tính chi thủy chung, minh tùng lâm chi đại thể. Thường vị dư ngôn: "Vị nhất phương chủ giả, tu trạch hữu chí hạnh nột tử tương dũ kỳ tán, do phát chi hữu sơ, diện chi hữu giám, tắc lợi bệnh hảo xú bất khả đắc nhi ẩn hỹ. Như Từ Minh đắc Dương Kỳ, Mã Tổ đắc Bách Trượng, dĩ thủy đầu thủy, mạc chi nghịch dã".
Huyễn Am Tập.
Huyễn Am Tập.
255.- DỊCH NGHĨA: Chuyết Am nói: Dã Am khi làm trụ trì, thông suốt được trước sau của tình người, hiểu rọ được đại thể của tùng lâm. Ngài thường bảo vớita rằng: "Người làm chủ một phương, cần phải lựa chọn kẻ nột tử có trí hạnh, để cùng giúp đỡ, cũng như tóc có lược chải và mặt có gương soi, thì hay dỡ tốt xấu không thể nào dấu được. Cũng như Từ Minh có Dương Kỳ, Mã Tổ được Bách Trượng, chẳng khác gì nước hòa với nước, không có chi phương hại nhau vậy".
Huyễn Am Tập.
Huyễn Am Tập.
256.- CHỮ HÁN: Chuyết Am viết: Mạc học phu thụ, đồ quý tiện mục, chung mạc năng cứu kỳ áo diệu. Cố viết: "Sơn bất yếm cao, trung hữu trùng nhan tích thủy, hải bất yếm thâm, nội hữu tứ minh cửu uyên. Dục cứu đại đạo, yếu tại cùng kỳ cao thâm, nhiên hậu khả dĩ chiếu chúc u vi, ứng biến bất cùng hỹ".
Dử Cận Lão thư.
Dử Cận Lão thư.
256.- DỊCH NGHĨA: Chuyết Am nói: Người học đạo đời mạt pháp chỉ học phần ngọn, hấp thụ phần ngoài da, quý trọng phần tai nghe, khinh rẻ nơi mắt thấy, rốt cục không thể cứu mình được chỗ cao xa nhiệm mầu của đạo. Nên có câu: "Núi càng cao thì trong đó có tích lũy, chồng chất nhiều hang xanh trùng điệp, động sâu đá lạ. Biển càng sâu thì trong đó có hàm chứa bốn bể (1), chín nguồn (2). Nếu muốn nghiên cứu đại đạo cần phải cùng tận hết chỗ cao sâu đó, vậy sau mới có thể lấy đó mà chiếu sáng chỗ u huyền vi diệu và ứng biến không cùng.
Thư gởi Cận Lão (3).
Thư gởi Cận Lão (3).
CHÚ THÍCH:
(1) Bốn bể: Dịch ở chữ tứ minh,có nghĩa là bốn bể ở Ðông, Tây, Nam, Bắc.
(2) Chín nguồn: Dịch ở chữ cửu uyên, lòng sâu nhất dưới đáy biển có chín lần xoáy chuyển, nên gọi là chín nguồn.
(3) Cận Lão: Tịnh Không Trí Cận thiền sư, pháp tự của Phật Chiếu Quang thiền sư.
(2) Chín nguồn: Dịch ở chữ cửu uyên, lòng sâu nhất dưới đáy biển có chín lần xoáy chuyển, nên gọi là chín nguồn.
(3) Cận Lão: Tịnh Không Trí Cận thiền sư, pháp tự của Phật Chiếu Quang thiền sư.
257.- CHỮ HÁN: Chuyết Am vị Vưu Thị Lang viết: Thánh hiền chi ý hàm hoãn nhi lý minh, ưu du nhi sự hiển. Sở dụng chi sự bất kỳ dĩ tốc hành, nhi hứa dĩ tri cửu, bất hứa dĩ tất tiến, nhi hứa dĩ thứ cơ, dụng thị thôi thánh hiền chi ý, cố năng cận vạn thế nhi trì vô quá thất giả nãi nhĩ.
Huyễn Am Tập.
Huyễn Am Tập.
257.- DỊCH NGHĨA: Chuyết Am bảo Vưu Thị Lang (1): Ý của Thánh hiền thì hàm súc hòa hoãn mà lý sáng tỏ, thung dung nhàn nhã mà sự rõ ràng, chỗ dùng việc không mong chóng thành, mà hứa hẹn ở ý chí lâu bền, công việc không mong quyết tiến, mà hứa hẹn ở hy vọng công việc thành tựu. Dùng điều đó để tìm ý của Thánh hiền, cho nên người học đạo có thể giữ gìn điều đó suốt cả đời mà không lầm lỗi, chính là nghĩa thế vậy.
Huyễn Am Tập.
Huyễn Am Tập.
CHÚ THÍCH:
(1): Ðoạn này ý nói bổn phận của người học đạo là phải tiến không lùi bước trước khó khăn, nhưng cũng không nên mong việc tốc thành và cấp tiến sẽ gặp nhiều trở ngại mà có phương hại.
258.- CHỮ HÁN: Thị Lang Vưu Công viết: Tổ Sư dĩ tiền vô trụ trì sự. Kỳ hậu ứng thế hành đạo bách bất đắc dĩ. Nhiên cư tắc hồng tất thủ tế phong vũ, thực tắc thô lệ thủ sung cơ lỗi. Tân khổ tiều tụy hữu bất kham kỳ ưu, nhi vương công đại nhân chi hữu nguyện kiến nhi bất khả đắc giả. Cố kỳ sở kiến tập giai lỗi lỗi lạc lạc kinh thiên động địa. Hậu thế bất nhiên, cao đường quảng hạ, mỹ y phong thực, di chỉ như ý, ư thị ba tuần chi đồ, thủy dương dương nhiên động kỳ tâm, tư thư quyền môn, dao vỹ khất lân, thậm giả sảo thủ hào đoạt, như chính chú quặc kim, bất phục tri thế gian hữu nhân quả sự. Diệu Hỷ thử thư, khởi đặc vị Bác Sơn thiết, kỳ niêm tận chư phương, tự lai tập khí, bất di hào phát, như ẩm Thương Công Thượng trì chi thủy, đồng kiến can phủ. Nhược năng tín thụ phụng hành, an dụng biệt cầu Phật pháp.
Kiến Linh Ẩn Thạch Khắc.
Kiến Linh Ẩn Thạch Khắc.
258.- DỊCH NGHĨA: Thị Lang Vưu Công nói: Các bậc Tổ Sư trở về trước, vốn không có lập chức trụ trì. Nhưng sau đó, vì sự bức bách ứng thế hành đạo nên bất đắc dĩ phải đặt ra. Tuy vậy nhưng chỗ ở của các ngài thì lợp bằng cỏ lá, đủ để che mưa gió, ăn thì chỉ dùng cơm gạo thô để đở đói khát. Thật là vất vả tiều tụy, có vẻ như không kham nỗi sự lo âu, thế mà vương công đại nhân tới, mong được yết kiến các ngài mà cũng không được gặp. Cho nên chỗ kiến lập việc gì của các ngài đều là những sự tài cán lỗi lạc, kinh thiên động địa. Người đời sau lại không thế, thênh thang ở nhà cao cửa rộng, ăn cơm ngon, mặc áo đẹp, muốn sai khiến việc chi chỉ cần nhếch mép trỏ tay. Bởi thế bọn ma Ba Tuần (1) mới hay dương dương tự đắc, rung động tâm can, nhộn nhịp trước cửa quyền quý, vẫy đuôi xin ban bố tình thương. Tệ hơn nữa chúng còn dùng chước khéo để chiếm lấy, cậy quyền hành để cướp đoạt, giống như kẻ cắp vàng (2) giữa ban gnày, không biết đến thế gian này cũng có luật nhân quả. Lá thư này của Diệu Hỷ, chẳng những chỉ gởi riêng cho chùa Bác Sơn, mà trong đó ngài còn nhắc tới hết tất cả những tập khí của các người trụ trì của chư phương từ trước dẫn lại không sót một mảy may, ví như người uống nước Thượng trì của Thương Công (3), thông suốt được gan ruột con người. Nếu ai hay tin theo và thực hành lời dặn này thì hà tất phải cầu đến Phật pháp ở nơi nào khác nữa.
Khắc ở bia đá chùa Linh Ẩn.
Khắc ở bia đá chùa Linh Ẩn.
CHÚ THÍCH:
(1) Ba tuần: Tiếng Phạn là Pàpi. Tàu dịch là ác ma. Thứ ma vương luôn luôn mong dứt hại tuệ căn của con người. Chúng xuất hiện ngăn cản đạo nghiệp khi Phật Thích Ca sắp thành đạo.
(2) Ăn cắp vàng: Truyện Liệt Tử nói: Xưa kia có một người nước Tề thích có vàng. Một buổi sáng nọ, nhân lúc chợ đang đông người, liền đến một tiệm vàng, lén lấy trộm vàng rồi đi. Chủ tiệm vàng bắt giữ người đó lại và nói: "Tại sao trước mặt đám đông người như vậy, mà ngươi dám đánh cắp vàng". Người kia trả lời: "Khi tôi lấy vàng, tôi không thấy người nào cả, mà chỉ lấy vàng thôi". Ðại ý đoạn này răn những người tham lợi mà quên hết điều sĩ nhục, chỉ biết có lợi mà quên mất cái hại.
(3) Nước Thượng trì: Sử ký chép: Phía Ðông đất Lư Việt, có ông Biển Thước họ Tần tên là Hoàn, người quận Bột Hải. Thiếu thời làm quảng lý một nhà trọ, nhân có người khách tên là Tang Quân, thấy ông Biển Thước có tướng kỳ lạ độc đáo, nên ông thường lui tới gặp gỡ. Sự tới lui như vậy đã hơn mười năm. Nhân lúc hôm Tang Quân mời Biển Thước cùng ngồi một nơi yên tịnh và nói với Biển Thước: "Tôi có một phương thuốc gia truyền, nay tuổi đã già, tôi muốn truyền lại cho ông, nhưng ông không được tiết lậu cho ai". Biển Thước kính cẩn vâng lời. Tang Quân liền lấy phong thuốc ở trong bọc ra trao cho Biển Thước mà bảo: "Ông hãy lấy nước Thượng trì mà uống thuốc này, chỉ nội trong 21 ngày ông sẽ thấy được sự vật". Tang Quân liền lấy hết thuốc trao cho Biển Thước rồi bỗng nhiên biến mất. Biển Thước theo đúng như lời dạy và uống trong vòng 21 ngày, quả nhiên Biển Thước trông thấy rõ được người ngoài bức tường và sau đó ông coi bệnh cho bệnh nhân, ông thấy suốt được cả chỗ trưng kết trong ngũ tạng. Vì thế ông nổi danh về tài chẩn mạch, và là một danh y lúc đương thời. Chú thích: Nước thượng trì là thứ nước hạt móc ban đem còn đọng ở trên lá trúc cành cây chưa rơi xuống mặt đất.
(2) Ăn cắp vàng: Truyện Liệt Tử nói: Xưa kia có một người nước Tề thích có vàng. Một buổi sáng nọ, nhân lúc chợ đang đông người, liền đến một tiệm vàng, lén lấy trộm vàng rồi đi. Chủ tiệm vàng bắt giữ người đó lại và nói: "Tại sao trước mặt đám đông người như vậy, mà ngươi dám đánh cắp vàng". Người kia trả lời: "Khi tôi lấy vàng, tôi không thấy người nào cả, mà chỉ lấy vàng thôi". Ðại ý đoạn này răn những người tham lợi mà quên hết điều sĩ nhục, chỉ biết có lợi mà quên mất cái hại.
(3) Nước Thượng trì: Sử ký chép: Phía Ðông đất Lư Việt, có ông Biển Thước họ Tần tên là Hoàn, người quận Bột Hải. Thiếu thời làm quảng lý một nhà trọ, nhân có người khách tên là Tang Quân, thấy ông Biển Thước có tướng kỳ lạ độc đáo, nên ông thường lui tới gặp gỡ. Sự tới lui như vậy đã hơn mười năm. Nhân lúc hôm Tang Quân mời Biển Thước cùng ngồi một nơi yên tịnh và nói với Biển Thước: "Tôi có một phương thuốc gia truyền, nay tuổi đã già, tôi muốn truyền lại cho ông, nhưng ông không được tiết lậu cho ai". Biển Thước kính cẩn vâng lời. Tang Quân liền lấy phong thuốc ở trong bọc ra trao cho Biển Thước mà bảo: "Ông hãy lấy nước Thượng trì mà uống thuốc này, chỉ nội trong 21 ngày ông sẽ thấy được sự vật". Tang Quân liền lấy hết thuốc trao cho Biển Thước rồi bỗng nhiên biến mất. Biển Thước theo đúng như lời dạy và uống trong vòng 21 ngày, quả nhiên Biển Thước trông thấy rõ được người ngoài bức tường và sau đó ông coi bệnh cho bệnh nhân, ông thấy suốt được cả chỗ trưng kết trong ngũ tạng. Vì thế ông nổi danh về tài chẩn mạch, và là một danh y lúc đương thời. Chú thích: Nước thượng trì là thứ nước hạt móc ban đem còn đọng ở trên lá trúc cành cây chưa rơi xuống mặt đất.
259.- CHỮ HÁN: Thị Lang Vưu Công vị Chuyết Am viết: Tích Diệu Hỷ trung hưng Lâm Tế chi đạo ư điêu linh chi thu, nhi tính thượng khiêm hư, vị thường trì sính kiến lý, bình sinh bất xu quyền thế, bất cẩu lợi dưỡng. Thường viết: "Vạn sự bất khả dật dự vi, bất khả sa thái trì. Cái hữu lợi ư thời nhi tiện ư vật giả, hữu kỳ quá nhi vô kỳ công giả. Nhược túng chi sa dật tắc bất tế hỹ". Bất tiếu bội phục tư ngôn, toại vi chung thân chi giới. Lão sư tạc giả tao ngộ chúa thượng lưu túc Quán Ðường, thực vị Phật pháp chi hạnh. Thiết ký bất quyện bi nguyện, sử tiến thiện chi đồ khai minh, nhậm chúng chi đạo ích đại, thứ cơ hậu sinh vãn bối, bất mưu cận tập, các hoài viễn đồ, khởi bất vi tùng lâm chi lợi tế hồ.
Nhiên Thị Giả Ký Văn.
Nhiên Thị Giả Ký Văn.
259.- DỊCH NGHĨA: Thị Lang Vưu Công nói với Chuyết Am: Xưa kia, Diệu Hỷ là người trung hưng đạo pháp của Lâm Tế, giữa lúc cảnh tượng điêu tàn, thế mà ngài rất chuộng sự nhúng nhường, thanh thản, chưa từng theo đuổi về sự tranh biện đấu lý. Bình sinh ngài không xu phụ kẻ quyền thế, không màng lợi dưỡng. Ngài thường nói: "Mọi việc không thể buông lòng túng ý mà làm được, không thể xa hoa bừa bãi mà giữ được. Bởi lẽ có việc thì có lợi cho thời mà cũng có ích cho vật, nhưng cũng có việc chỉ có lỗi lần mà không có công lao. Nếu ta cứ phóng túng sự việc ở chỗ túng ý xa hoa thì không thể thành tựu được". Kẻ bất tiếu này nhớ mãi lời nói ấy và lấy đó làm điều răn trọn đời. Lão sư trước kia đã được gặp chúa thượng và được lưu lại nghỉ ở Quán Ðường, thật là cái may cho Phật pháp. Tôi tha thiết mong mỏi ngài không quên tâm bi nguyện, để con đường tiến thiện được khai minh, con đường gánh vác việc chúng càng rộng lớn, ngõ hầu đề phòng kẻ hậu sinh vãn bối không mưu cầu học tập những việc thiển cận mà đều ấp ủ mưu đồ những việc cao xa, thì đó há không phải là việc lợi tế cho tùng lâm vậy ư?".
Nhiên Thị Giả (1) Ký Văn.
Nhiên Thị Giả (1) Ký Văn.
CHÚ THÍCH:
(1) Nhiên Thị Giả: Khả Am Nhiên thiền sư, pháp tự của Ðại Tuệ Cảo thiền sư.
260.- CHỮ HÁN: Mật Am Kiệt Hòa thượng viết: Tùng lâm hưng suy tại ư lễ pháp, học giả mỹ tại hồ tục tập. Sử cổ chi nhân sào cư huyệt sử giản ẩm mộc thực hành chi ư kim thời, tắc bất khả dã. Sử kim chi nhân phong y văn thái, phạn lương khiết phì, hành chi ư cổ thời diệc bất khả dã. An hữu tha tai, tập bất tập cố. Phù nhân triêu tịch kiến giả vi thường, tất vị thiên hạ sự chính nghi như thử. Nhất đán khu chi tựu bỉ khứ thử, phi độc sinh nghi nhi bất tín, tương khủng diệc bất tòng hỹ. Dụng thị quan chi, nhân tình an ư sở tập hài kỳ vị kiến, thị kỳ thướng tình, hựu hà túc quái.
Dữ Thi Ty Gián thư.
Dữ Thi Ty Gián thư.
260.- DỊCH NGHĨA: Mật Am Kiệt(1) Hòa thượng nói: Chốn tùng lâm hưng hay suy yếu đều lệ thuộc ở lễ pháp. Người học đạo tốt hay xấu đều do ỏ tập tục. Cổ nhân ở hang lỗ, uống nước suối, ăn trái cây, nếu đem những việc đó mà ứng dụng cho thời nay thì không thể được. Người đời nay mặc áo đẹp, ăn cơm gạo tám, dùng thức ăn ngon, nếu đem những việc đó áp dụng cho thời xưa cũng không thể được. Vậy chẵng có chi là khác lạ đâu? Chỉ do tập quên hay không tập quen đó thôi. Ôi! Sự thấy biết của con người từ buổi sớm đến buổi chiều cho đó là việc thường, tất nhiên họ sẽ bảo những công việc trong thiên hạ, chính đều là như thế. Nhưng nhất đán họ phải xê dịch từ chỗ này qua chỗ khác thấy mọi sự vật đổi thay, thì chẳng những họ chỉ sinh thêm nghi ngờ mà còn không tin, và còn sợ họ cũng chẳng làm theo là khác. Nếu dùng việc đó quan sát sự việc, nên ta biết tình con người vì an định ở chỗ tập theo thói quen, mà sợ hãi những sự việc chưa thấy biết. Ðó cũng là thường tình có chi là quái gở.
Thư gởi Thi Ty Gián (2).
Thư gởi Thi Ty Gián (2).
CHÚ THÍCH:
(1) Mật Am Kiệt: Tú Minh Thiên Ðồng Mật Am Hàm Kiết thiền sư, pháp tự của Ứng Am Hòa thiền sư, đời thứ 17 phái Nam Nhạc.
(2) Thi Ty Gián: Hoặc có tên là Thi Sư Mặc, người đời Tống.
(2) Thi Ty Gián: Hoặc có tên là Thi Sư Mặc, người đời Tống.
261.- CHỮ HÁN: Mật Am vị Ngộ Thủ Tọa viết: Tùng lâm trung duy Triết nhân khinh nhu thiểu lập. Tử chi tài khí hoành đại, lượng độ uyên dung, chi thượng đoan xác, gia dĩ kiến địa ẩn mật. Tha nhật vị dị ngôn, đản tự thao hối vô lộ khuê các. Hủy phương ngõa hợp trì dĩ trung đạo, vật vi thể lợi thiểu uổng. Tức chi bất xuất trần lao nhi tác Phật sự dã.
Dữ Tiếu Am thư.
Dữ Tiếu Am thư.
261.- DỊCH NGHĨA: Mật Am bảo Ngộ Thủ Tọa(1): Trong chốn tùng lâm, duy có người đất Triết Giang, phần nhiều khinh bạc hèn yếu, ít ai hay tự lập. Ông tuy cũng là người đất Triết Giang, nhưng có tài khí rộng lớn, lượng độ bao dung, chí hướng ngay thực, thêm vào đó kiến thức lại vững vàng, tương lai ông ra sao chưa tiện nói nhưng ông phải nên tự kín đáo, chớ để lộ khuê dác, bửa hình vuông lợp lại làm ngói (2), giữ gìn đúng trung đạo. Ông chớ vì thế lợi mà khuất phục mảy may. Làm được như thế tức là ở ngay cõi trần lao này mà vẫn làm Phật sự vậy.
Thư gởi Tiếu Am.
Thư gởi Tiếu Am.
CHÚ THÍCH:
(1) Ngộ Thủ Tọa: Linh Ẩn Tiểu Am Liễu Ngộ thiền sư, pháp tự của Mật Am Kiệt thiền sư.
(2): Công việc của người làm ngói, trước hết nặn theo hình tròn, rồi bửa hình làm bốn, thì ngói trở thành vuông, bửa hình tròn mà làm hình vuông, hợp hình vuông mà làm hình tròn, tượng trưng cho nghĩa hàm dung khoan dụ vậy.
(2): Công việc của người làm ngói, trước hết nặn theo hình tròn, rồi bửa hình làm bốn, thì ngói trở thành vuông, bửa hình tròn mà làm hình vuông, hợp hình vuông mà làm hình tròn, tượng trưng cho nghĩa hàm dung khoan dụ vậy.
262.- CHỮ HÁN: Mật Am viết: Ưng Am tiên sư thường ngôn: "Hiền bất tiếu tương phản bất đắc bất trạch. Hiền giả trì đạo đức nhân nghĩa dĩ lập thân. Bất tiếu giả chuyên thế lợi trá nịnh dĩ dụng sự. Hiền giả đắc chí tất hành kỳ sở học, bất tiếu giả xử vị đa thiện tự tâm. Ðố hiền tật năng thị dục cẩu tài, mỹ sở bất chí. Thị cố đắc hiền tất tùng lâm hưng, dụng bất tiếu tắc phế. Hữu nhất vu tư bất năng an tĩnh".
Kiến Nhạc Hòa Thượng thư.
Kiến Nhạc Hòa Thượng thư.
262.- DỊCH NGHĨA: Mật Am nói: Ưng Am tiên sư thường nói: "Người hiền kẻ bất tiếu tương phản nhau nên cần phải lựa chọn. Người hiền giữ đạo đức nhân nghĩa để lập thân, kẻ bất tiếu ham thế lợi trá nịnh để dụng sự. Người hiền khi đắc chí tất làm theo chỗ đã học của mình, kẻ bất tiếu ở ngôi vị nào cũng chỉ chiếm cứ riêng tư. Ghét kẻ hiền, ghen người tài, ham thị dục, cầu lợi dưỡng, làm bất cứ một việc gì họ cũng chẳng từ nan. Thế nên, được người hiền thì tùng lâm hưng thịnh, dùng kẻ bất tiếu thì tùng lâm suy vi. Nếu trong tùng lâm có một kẻ bất tiếu xen vào tất nhiên nơi đó không thể an tĩnh được".
Thư gởi Nhạc Hòa Thượng (1).
Thư gởi Nhạc Hòa Thượng (1).
CHÚ THÍCH:
(1) Nhạc Hòa thượng: Linh Ẩn Tùng Nguyên Sùng Nhạc thiền sư, pháp tự của Mật Am Kiệt thiền sư.
(2) : .
(2) : .
263.- CHỮ HÁN: Mật Am viết: Trụ trì hữu tam mạc, sự phồn mạc cụ, vô sự mạc tầm, thị phi mạc biện. Trụ trì nhân đạt thử tam sự, tắc bất bị ngoại vật sở hoặc hỹ.
Tuệ Thị Giả Ký Văn.
Tuệ Thị Giả Ký Văn.
263.- DỊCH NGHĨA: Mật Am nói: Trụ trì có ba việc chớ nên làm: việc nhiều chớ nên sợ, không việc chớ bày đặt, phải trái chớ nên biện. Người trụ trì một khi đã thấu suốt được ba điều này thì không bị ngoại vật làm mê hoặc.
Tuệ Thị Giả Ký Văn (1).
Tuệ Thị Giả Ký Văn (1).
CHÚ THÍCH:
(1) Tuệ Thị Giả: Ngu Cực Tuệ thiền sư, pháp tự của Huân Thạch thiền sư.
264.- CHỮ HÁN: Mật Am viết: Nột tử lý hành khuynh tà, tố hữu bất thiện chi tích giả. Tùng lâm hỗ tri, thử bất túc tật, duy chúng nhân vị chi hiền, nhi nội thực bất tiếu giả, thành khả tật dã.
Dữ Phổ Từ thư.
Dữ Phổ Từ thư.
264.- DỊCH NGHĨA: Mật Am nói: Kẻ nột tử làm theo những lời lệch lạc gian tà, vốn có những dấu vết không hay, trong chốn tùng lâm ai nấy đều biết rõ, thì người đó chưa đủ để lo. Duy có người mà chúng nhân ai cũng cho là hiền mà trong tâm họ lại mang đìều bất tiếu, người đó mới thực đáng lo vậy.
Thư Gởi Phổ Từ (1).
Thư Gởi Phổ Từ (1).
CHÚ THÍCH:
(1) Phổ Từ: Tuyết Phong Sùng Thánh Phổ Từ Uẩn Văn thiền sư, pháp tự của Kính Sơn Cảo thiền sư.
265.- CHỮ HÁN: Mật Am vị Thủy Am viết: Nhân hữu hủy nhục, đương thuận thụ chi, cự khả khinh thính thanh ngôn vọng trần quản kiến. Ðại xuất tiện nịnh hữu loại, tà sảo đa phương, hoài hiểm bí giả hiếu sính tư tâm, khởi sai kỵ giả, thiên phế công nghị. Cái thử bối xu thượng hiệp xúc, sở kiến ám đoản. Cố dĩ tự dị vi bất quần, dĩ trở nghị vi xuất chúng. Nhiên ký tri ngã sỡ dụng thung thị, nhi hủy báng cố tự tại bỉ, cửu nhi tự minh, bất tu biện bạch. Diệc bất tất chủ ngã chi thị nhi kiết xúc ư nhân, tắc thứ khả dĩ vi lâm hạ nhân dã.
Dữ Thủy Am thư.
Dữ Thủy Am thư.
265.- DỊCH NGHĨA: Mật Am nói với Thủy Am (1): Con người có lúc bị hủy nhục, nên phải thuận theo chịu đựng, há lại nông nổi nghe lời người ta nói, vội trình bày bừa bãi chỗ quản kiến của mình. Ðại để kẻ phỉnh nịnh có nhiều loại, gian dối có nhiều cách. Kẻ mang tâm dối trá bất bình thì thích buông thả tâm tư, kẻ tạo mối nghi ngờ ghen ghét thì hay bỏ bẵng công nghị. Bởi lẽ, chỗ xu thượng của bọn đó thì chật hẹp gò bó, chỗ thấy nghe của họ thì mờ tối thiển cận, nhưng mà chúng vẫn đem chỗ tự khác lạ của họ làm bất quân (mọi người không bằng), lấy chỗ ngăn ngừa công luận của họ làm xuất chúng (hơn tất cả mọi người). Nhưng khi ta đã biết chỗ dùng việc của ta là hoàn toàn phải, mà sự huỷ báng lẽ cố nhiên là tự ở kẻ khác, thì ít lâu sau việc đó tự nó sẽ rõ ràng, không cần phải biện bạch, và cũng bất tất phải chủ trương lẽ phải ở ta mà bới móc đụng chạm đến người khác. Ðược như thế thì người đó khả dĩ làm người trong chốn tùng lâm được.
Thư gởi Thủy Am.
Thư gởi Thủy Am.
CHÚ THÍCH:
(1): Ðại ý đoạn này nói, người học đạo giữ được ý chí thuần nhất thì không quản ngại chi sự khen chê hủy báng.
266.- CHỮ HÁN: Tự Ðắc Huy Hòa thượng viết: Ðại phàm nột tử, thành nhi hướng chính, tuy ngu diệc khả dụng. Nịnh nhi hoài tà, tuy trí chung vi hại. Ðãi xuất lâm hạ nhân, tháo tâm bất chính, tuy hữu tài năng nhi bất khả lập hỹ.
Kiến Giản Ðường thư.
Kiến Giản Ðường thư.
266.- DỊCH NGHĨA: Tự Ðắc Huy Hòa thượng nói: Ðại phàm kẻ nột tử, lòng thành thật mà hướng về đường chính, tuy là kẻ ngu si cũng có thể dùng được việc, tâm xiểm nịnh lại theo đường lối tà, tuy là kẻ trí tuệ chung qui cũng chỉ làm hại đạo. Ðại để những người trong chốn tùng lâm, nếu mang lòng bất chính, tuy là kẻ có tài năng nhưng kết cục cũng vẫn không thể lập thân được.
Kiến Giản Ðường.
Kiến Giản Ðường.
267.- CHỮ HÁN: Tự Ðắc viết: Ðại Trí thiền sư đặc sáng Thanh qui, phù cứu mạt pháp Tỳ khưu bất chính chi tệ. Do thị tiền hiền tuân thừa, quyền quyền phụng hành. Hữu giáo hóa, hữu điều lý, hữu thủy chung. Thiệu Hưng chi bản, tùng lâm thượng hữu lão thành giả, năng thủ điền hình, bất cảm tư tu nhi khứ tả hữu, cận niên dĩ lai, thất kỳ tông tự. Cương bất cương, kỷ bất kỷ. Tuy hữu cương kỷ an đắc nhi chính chư. Cố viết: "Cử nhất cương tắc chúng mục trương, thỉ nhất cơ tắc vạn sự huy". Ðãi hồ cương kỷ bất chấn, tùng lâm bất hưng. Duy cổ nhân thể bản dĩ chính mạt. Ðãn ưu pháp độ chi bất nghiêm, bất ưu học giả chí thất sở. Kỳ sở chính tại ư công. Kim chư phương chủ giả, dĩ tư hỗn công. Dĩ mạt chính bản. Thượng giả cẩu lợi bất dĩ đạo, hạ giả tắc lợi bất dĩ nghĩa. Thượng hạ mậu loạn, tân chủ hỗn hào. An đắc nột tử hướng chính nhi tùng lâm chi hưng hồ.
Dữ Vưu Thị Lang thư.
Dữ Vưu Thị Lang thư.
267.- DỊCH NGHĨA: Tự Ðắc nói: Ðại Trí thiền sư đặc biệt chế ra Thanh qui, cốt để cứu giúp cái tệ hại bất chính của các Tỳ khưu đời mạt pháp. Bởi thế các bậc tiền hiền noi theo và truyền thừa, răm rắp làm theo, có giáo hóa, có điều lý, có trước sau. Từ cuối niên hiệu Thiệu Hưng trở về sau, trong các chốn tùng lâm còn có các bậc lão thành, vẫn giữ được khuôn mẫu pháp tắc, không dám giây phút nào gạt bỏ những qui điều. Nhưng những năm gần đây, trong chốn tùng lâm làm mất hết cương kỷ đầu mối, cương chẳng ra cương, kỷ chẳng ra kỷ. Tuy có giữ được cương kỷ chăng nữa, nhưng cũng chẳng được đúng đắn như xưa. Cho nên nói: "Nhắc một mối giềng lưới, thì mọi mắt lưới đều mở rộng, hư một cơ hội thì muôn việc điều hỏng". Hầu như cương kỷ không đưuợc chấn chỉnh thì tùng lâm không được hưng thịnh. Duy có cổ nhân, mới xét gốc để chỉnh ngọn, nên các ngài chỉ lo pháp độ không được nghiêm chỉnh, không lo người học đạo không có nơi để tu, mà nơi chốn đó chính phải là nơi công cộng. Nay những người làm chủ ở các nơi, đều lấy việc tư lẫn vào việc công, lấy phần ngọn để chỉnh phần gốc. Người trên chỉ vụ lợi không nghĩ tới đạo, kẻ dưới thì cướp lợi không đoái đến nghĩa. Trên dưới rối bời, khách chủ hỗn loạn, làm sao các nột tử có thể quay về đường chính mà làm hưng thịnh tùng lâm được vậy ư?
Thư gởi Vưu Thị Lang.
Thư gởi Vưu Thị Lang.
268.- CHỮ HÁN: Tự Ðắc viết: Lương ngọc vị phẫu, ngõa thạch vô vị. Danh ký vị trì, nô đài tương tạp. Ðãi kỳ phẫu nhi oánh chi trì nhi thí chi, tắc ngọc thạch nô ký phân hỹ. Phù nột tử chi hiền đức nhi vị dụng dã, hỗn ư trù nhân trung kính hà biện diệt. Yếu tại cao minh chi sĩ, dĩ công luận cử chi, nhậm dĩ chức sự, nghiệm dĩ tài năng, trách dĩ thành sự, tắc dữ dong lưu quýnh nhiên bất đồng hỹ.
Dữ Hoặc Am thư.
Dữ Hoặc Am thư.
268.- DỊCH NGHĨA: Tự Ðắc nói: Ngọc quí khi còn nằm trong quặng nào khác chi sỏi đá, ngựa ký khi chưa dong ruổi đường trường thì lẫn cùng với ngựa nô, ngựa đài (ngựa hèn). Tới khi bửa quặng đá để mài giũa viên ngọc, dong ruổi đường trường để thử con ngựa ký, thì phân biệt ngay ngọc đá, ngựa nô ngựa ký rõ ràng. Ôi! Kẻ nột tử hiền đức, khi chưa dùng đến thì họ lẫn lộn ở đám đông người, làm sao mà biện biệt được. Vậy nên, điều cốt yếu là các bậc cao minh phải đem công luận cất nhắc họ, đem họ ra làm các chức vụ, để chiêm nghiệm tài năng trách nhiệm công việc, thì khác xa hẳn với bọn tầm thường vậy.
Thư gởi Hoặc Am (1).
Thư gởi Hoặc Am (1).
CHÚ THÍCH:
(1) Hoặc Am: Hoặc Am thiền sư, pháp tự của Hộ Quốc Cảnh Nguyên thiền sư.
269.- CHỮ HÁN: Hoặc Am Thể Hòa thượng, sơ sam Thử Am Nguyên Bá Ðại, ư Thiên Thai Hộ Quốc. Nhân thượng đường cử Bàng Mã Tuyển Phật tụng. Chí thử thị tuyển Phật tràng chi cú. Thử Am hát chi. Hoặc Am đại ngộ. Hữu đầu cơ tụng viết: "Thương lượng cực xứ kiến đề mục, đồ lộ cùng biên nhập thí tràng. Niêm khởi hào đoan phong vũ khoái, giá hồi bất tác Thám hoa lang" Tự thử nặc tích Thiên Thai, Thừa tướng Tiền Công, mộ kỳ vi nhân, nãi dĩ Thiên Phong Chiêu Ðề, miễn linh ứng thế. Hoặc Am văn chi viết: "Ngã bất giải huyền dương đầu mãi cẩu nhục dã". Tức tiêu độn khứ.
269.- DỊCH NGHĨA: Hoặc Am Thể (1) Hòa thượng, khi mới tới tham thiền ngài Thủ Am Nguyên Bá Ðại ở chùa Hộ Quốc núi Thiên Thai. Nhân khi lên pháp đường, Hoặc Am đem bài tụng "Mã Bàng Tuyển Phật" (2) ra để hỏi. Khi nhắc đến câu: "Ðây là tuyển Phật tràng", ngài Tử Am quát lên một tiếng lớn, Hoặc Am nhân thế đại ngộ, liền trích bài tụng đầu cơ rằng:
Suy lường thấu triệt thấy tiêu đề,
Tuyển Phật tràng thi quyết một bề.
Ngọn bút tung hoành mưa gió cuốn,
Thám Hoa chức ấy chẳng ham mê.
Tuyển Phật tràng thi quyết một bề.
Ngọn bút tung hoành mưa gió cuốn,
Thám Hoa chức ấy chẳng ham mê.
Rồi ngay sau đó, ngài ẩn tích ở núi Thiên Thai. Quan Thừa Tướng Tiền Công (3) mến ngài là danh nhân muốn thỉnh ngài về trụ trì chùa Chiêu Ðề ở Thiên Phong và khuyên ra ứng thế. Hoặc Am nghe biết, ngài nói: (4) "Tôi không biết treo đầu dê bán thịt chó". Ngài liền trốn đi ngay đêm ấy.
CHÚ THÍCH:
(1): Ðoạn này cốt để minh thị bậc trí thức có đủ tuệ nhãn thì chỉ cần một lời hay nói nửa câu cũng đủ để làm cơ duyên liễu ngộ.
(2) Bàng Mã Tuyển Phật: Bàng cư sĩ có tới tham học hai ngài Mã Tổ và Thạch Ðầu. Một hôm Bàng cư sĩ hỏi ngài Mã Tổ: "Người không cùng muôn pháp làm bạn là người thế nào?". Mã Tổ trả lời: "Ðợi khi nào ông uống một ngụm hết cả nước sông Giang Tây, ta sẽ nói cho ông hay". Bàng cư sĩ đại ngộ, bèn trình bài kệ:
(2) Bàng Mã Tuyển Phật: Bàng cư sĩ có tới tham học hai ngài Mã Tổ và Thạch Ðầu. Một hôm Bàng cư sĩ hỏi ngài Mã Tổ: "Người không cùng muôn pháp làm bạn là người thế nào?". Mã Tổ trả lời: "Ðợi khi nào ông uống một ngụm hết cả nước sông Giang Tây, ta sẽ nói cho ông hay". Bàng cư sĩ đại ngộ, bèn trình bài kệ:
Mười phương cùng tụ hội,
Mọi người học vô vi.
Ðây là tuyển Phật tràng,
Tâm không cập đệ quy.
Mọi người học vô vi.
Ðây là tuyển Phật tràng,
Tâm không cập đệ quy.
(3) Tiền Công: tên là Tiền Tượng Tiên, tên chữ là Tư Nguyên, người đất Tô Châu.
(4) Treo đầu dê bán thịt chó: Bạch Vân Ðoan thiền sư một hôm ở trong trượng thất có nhắc đến bài thị chúng của Vân Môn, trong đại chúng đều không ai khế ngộ, nên đem hỏi ngài Ngũ Tổ Diễn. Ngài trả lời: "Ðó là chuyện treo đầu dê bán thịt chó".
(4) Treo đầu dê bán thịt chó: Bạch Vân Ðoan thiền sư một hôm ở trong trượng thất có nhắc đến bài thị chúng của Vân Môn, trong đại chúng đều không ai khế ngộ, nên đem hỏi ngài Ngũ Tổ Diễn. Ngài trả lời: "Ðó là chuyện treo đầu dê bán thịt chó".
270.- CHỮ HÁN: Càn Ðạo sơ, Hạt Ðường trụ Quốc Thanh, nhân kiến Hoặc Am tán Viên Thông tượng viết: "Bất y bản phận, não loạn chúng sanh. Chiêm chi ngưỡng chi, hữu nhãn như manh. Trường An phong nguyệt quán kim tích, na cá nam nhi mô bích hành". Hạt Ðường kinh hỷ viết: "Bất vị Thử Am hữu thử nhi". Tức biến sách chi, toại đắc ư Giang Tâm, cố ư trù nhân trung, thỉnh sung đệ nhất tọa.
Thiên Thai Dã Lục.
Thiên Thai Dã Lục.
270.- DỊCH NGHĨA: Năm đầu niên hiệu Càn Ðạo (1), Hạt Ðường (2) trụ trì chùa Quốc Thanh, nhân một hôm thấy Hoặc Am làm bài tán khắc vào chân tượng ngài Viên Thông rằng:
Không y bản phận, não loạn chúng sanh,
Ngắm đấy nhìn đấy, có mắt như manh.
Trường An trăng gió xưa nay tỏ,
Sờ vách mà đi kẻ lữ hành.
Ngắm đấy nhìn đấy, có mắt như manh.
Trường An trăng gió xưa nay tỏ,
Sờ vách mà đi kẻ lữ hành.
Hạt Ðường vừa kinh ngạc vừa mừng và nói: "Ðâu biết Thử Am có đứa trẻ này". Ngài liền tìm kiếm khắp nơi, cuối cùng gặp Hoặc Am ở đất Giang Tam, liền thỉnh sung vào ngôi vị thứ nhất đám đông người.
Thiên Thai Dã Lục.
Thiên Thai Dã Lục.
CHÚ THÍCH:
(1): Ðại ý đoạn này chỉ rõ cách trọng vọng người xưa có tài đức.
(2) Hạt Ðường: Linh Ẩn Hạt Ðường Tuệ Viễn thiền sư, pháp tự của Viên Ngộ Cần thiền sư.
(2) Hạt Ðường: Linh Ẩn Hạt Ðường Tuệ Viễn thiền sư, pháp tự của Viên Ngộ Cần thiền sư.
271.- CHỮ HÁN: Hoặc Am Càn Ðạo sơ, phiên nhiên phỏng Hạt Ðường ư Hổ Khâu. Cô Tô đạo tục văn kỳ cao phong, tức nghệ quận cử thỉnh trụ thành trung Giác Báo. Hoặc Am văn chi viết: "Thử Am tiên sư chúc ngã tha nhật phùng Lão Thọ chỉ, kim nhược hợp phù khế hỹ". Toại hân nhiên ứng mệnh. Cái Giác Báo cựu danh Lão Thọ am dã.
Hổ Khâu Ký Văn.
Hổ Khâu Ký Văn.
271.- DỊCH NGHĨA: Năm đầu niên hiệu Càn Ðạo (1), Hoặc Am bỗng nhiên tới thăm Hạt Ðường ở chùa Hổ Khâu. Kẻ đạo người tục đất Cô Tô, nghe biết phong cách cao qúy của Hoặc Am, liền nô nức tới thăm và thỉnh ngài trụ trì chùa Giác Báo ở trong thành. Hoặc Am nhận lời và nói: "Thủ Am tiên sư trước khi tịch, ngài có dặn ta, ngày sau này nếu gặp chùa Lão Thọ thì ở, nay hình như hợp với sấm ký". Ngài liền vui vẻ ứng mệnh. Bởi lẽ chùa Giác Báo xưa kia có tên là Lão Thọ Am.
Hổ Khâu Ký Văn.
Hổ Khâu Ký Văn.
CHÚ THÍCH:
(1) Càn Ðạo: Niên hiệu đời vua Hiếu Tôn nhà Nam Tống.
272.- CHỮ HÁN: Hoặc Am nhập viện hậu. Thí chủ thỉnh tiểu sam. Viết: "Ðạo thường nhiên nhi bất du. Sự hữu tệ nhi tất biến. Tích Giang Tây, Nam Nhạc chư Tổ. Ngược kê cổ vi huấn, khảo kỳ đáng phủ, trì dĩ trung đạo, vụ hợp nhân tâm, dĩ ngộ vi tắc. Sở dĩ tố phong lăng nhiên, đại kim vị dẫn. Nhược ước nột tăng môn hạ, ngôn tiền tiến đắc khuất ngã tông phông, cú hạ phân minh trầm mai Phật Tổ. Tuy nhiên như thị, hành đáo thủy cùng xứ, tọa khán vân khởi thời". Do thị truy tố hỷ sở vị văn, qui giả như thị.
Ngữ Lục Dị Thử.
Ngữ Lục Dị Thử.
272.- DỊCH NGHĨA: Hoặc Am sau khi đã trụ trì chùa Giác Báo, nhân có thí chủ thỉnh ngài tiểu sam (thuyết pháp). Ngài nói: "Ðạo vẫn thường trụ vắng lặng mà không biến đổi, sự có cũ mới tốt xấu nên có biến thiên. Xưa kia các Tổ Giang Tây, Nam Nhạc đều thường chiêm nghiệm lời của cổ nhân làm bài học, để xem xét sự việc nên làm, giữ đúng mức trung đạo, cốt hợp với lòng người, lấy liễu ngộ làm pháp tắc. Vậy nên phong cách thuần phác của các ngài vẫn siêu việt cho đến tận đời nay vẫn chưa mất. Nếu đem ước vào môn hạ của nột tăng đây, thì những người tuy đã tiến được ở phần đầu của câu nói, đó chỉ là những kẻ làm khuất tông phong ta, những người tuy hiểu rõ được phần cuối của câu nói, thì đó cũng là những kẻ chôn chìm Phật Tổ. Tuy thế, những ai đi được tới chỗ cùng tận của bến nước, thì khi đó cũng có thể ngồi an tĩnh để thưởng thức mây bay". Bởi thế, tăng tục rất mừng rỡ được nghe, và qui tụ về với ngài đông như họp chợ.
Ngữ Lục Dị Thử.
Ngữ Lục Dị Thử.
273.- CHỮ HÁN: Hoặc Am ký lĩnh trụ trì, sĩ thứ hấp nhiên lai khứ. Nột tử truyền chỉ Hổ Khâu. Hạt Ðường viết: "Giả cá sơn man đỗ ảo tử, phóng phạ manh thiền trị nễ na, nhất đội dã Hồ tinh". Hoặc Am văn chi dĩ kệ đáp viết: "Sơn man đỗ oảo đắc năng tăng, lĩnh chúng khuông đồ tự bất tằng. Việt cách đảo niêm thiều chửu bính, phạ manh thiền trị dã hồ tăng". Hạt Ðường tiếu nhi dĩ.
Ký Văn.
Ký Văn.
273.- DỊCH NGHĨA: Hoặc Am đã nhận lãnh chức trụ trì (1), kẻ sĩ thứ qui tụ về với ngài rất đông. Các nột tử đưa tin này đến ngài Hạt Ðường chùa Hổ Khâu. Ngài thấy vậy liền nói đùa:
Gã kia ương ngạnh tựa sơn man,
Víu thứ thiền mù chạy dọc ngang.
Ðánh phách gõ sênh ra vẻ lạ,
Bảo ban một bọn dã hồ tinh.
Víu thứ thiền mù chạy dọc ngang.
Ðánh phách gõ sênh ra vẻ lạ,
Bảo ban một bọn dã hồ tinh.
Hoặc Am sau khi nghe biết chuyện, cũng viết bài kệ đáp lại:
Sơn man ương ngạnh ghét mà chi,
Lãnh chúng khuông đồ mới trụ trì.
Cán chổi ngược chiều như việt cách,
Thiền mù vịn lấy chữa tăng si.
Lãnh chúng khuông đồ mới trụ trì.
Cán chổi ngược chiều như việt cách,
Thiền mù vịn lấy chữa tăng si.
Hạt Ðường chỉ cười mà thôi.
Ký Văn.
Ký Văn.
CHÚ THÍCH:
(1): Ðại ý đoạn này trình bày về cách dùng chỗ vi diệu của cổ nhân để khen chê hóa độ.
274.- CHỮ HÁN: Hoặc Am vị Thị Lang Tằng Công Ðãi viết: Học đạo chi yếu hành thạch chi định vật, trì kỳ bình nhi dĩ, thiên trọng khả hồ. Suy tiền cận hậu kỳ thiên nhất dã. Minh thử khả học đạo hỹ.
Kiến Tằng Công thư.
Kiến Tằng Công thư.
274.- DỊCH NGHĨA: Hoặc Am bảo Thị Lang Tằng Công Ðãi: Yếu chỉ của sự học đạo, cũng như quả cân để định vật nặng nhẹ, chỉ cần giữ nó cho thăng bằng. Nếu nó nghiêng nặng về một bên nào đó có thể được chăng? Ðẩy về phía trước hoặc dịch về phía sau là bị nghiêng về một bên rồi. Người hiểu rõ được nghĩa này mới có thể học đạo được.
Thư gởi Tằng Công.
Thư gởi Tằng Công.
275.- CHỮ HÁN: Hoặc Am viết: Ðạo đức nãi tùng lâm chi bản, nột tử nãi đạo đức chi bản. Trụ trì nhân khí yếm nột tử, thị vong đạo đức giả. Ðạo đức ký vong, tương hà dĩ tu giáo hóa chỉnh tùng lâm dụ học lai. Cổ nhân thể bản dĩ chính mạt. Ưu đạo đức chi bất hành, bất ưu tùng lâm chi thất sở. Cố viết: "Tùng lâm bảo ư nột tử, nột tử bảo ư đạo đức". Trụ trì vô đạo đức tắc tùng lâm phế hỹ.
Kiến Giản Ðường thư.
Kiến Giản Ðường thư.
275.- DỊCH NGHĨA: Hoặc Am nói: Ðạo đức tức là gốc của tùng lâm, nột tử là gốc của đạo đức. Người trụ trì chán ghét và bỏ rơi kẻ nột tử tức là quên mất đạo đức. Nếu đã quên mất đạo đức thì còn đem gì để sửa sang việc giáo hóa, chỉnh đốn chốn tùng lâm, dụ dẫn kẻ tới học. Cổ nhân xét gốc để chỉnh ngọn, nên chi lo không học hành được phần đạo đức, chứ không lo mất nơi chốn của tùng lâm. Cho nên nói: "Tùng lâm giữ gìn nột tử, nột tử giữ gìn đạo đức". Người trụ trì mà không có đạo đức,thì chốn tùng lâm phải hoang phế vậy.
Thư gởi Giản Ðường.
Thư gởi Giản Ðường.
276.- CHỮ HÁN: Hoặc Am viết: Phù vi thiện tri thức yếu tại tri hiền bất tại tự hiền. Cố thương hiền giả ngu, tế hiền giả ám, tật hiền giả đoản. Ðắc nhất thân chi vinh, bất như đắc nhất thế chi danh, đắc nhất thế chi danh, bất như đắc nhất hiền nột tử. Sử hậu học hữu sự, tùng lâm hữu chủ dã.
Dữ Viên Cực thư.
Dữ Viên Cực thư.
276.- DỊCH NGHĨA: Hoặc Am nói: Ôi! Làm sao bậc thiện trí thức, điều cốt yếu là ở chỗ biết người hiền, không phải ở chỗ tự mình là người hiền. Cho nên kẻ hại người hiền là kẻ ngu, che đậy người hiền là kẻ tối, ghét người hiền là kẻ dỡ. Gây được cái vinh hiển cho thân mình, không bằng gây được cái tiếng thơm một đời. Ðược tiếng thơm một đời không bằng gây được một kẻ nột tử có hiền đức, để kẻ hậu học có thầy, chốn tùng lâm có chủ vậy.
Thư gởi Viên Cực (1).
Thư gởi Viên Cực (1).
CHÚ THÍCH:
(1) Viên Cực: Ẩn Tĩnh Viên Cực Ngạn Sầm thiền sư, pháp tự của Vân Cư Như thiền sư.
277.- CHỮ HÁN: Hoặc Am thiên Tiêu Sơn chi tam tải. Thực Thuần Hy lục niên bát nguyệt tứ nhật dã. Tiên thị vi dạng, tức thủ thư tịnh nghiên nhất chích, biệt quận thú Thị Lang Tằng Công Ðãi. Chí trung dạ hóa khứ. Công dĩ kệ điệu chi viết: "Phiên phiên chích lý trực tây phong, nhất vật hồn vô bá đại trung. Lưu hạ Ðào hoằng tương để dụng. Lão phu vô bút phán hư không".
Hành trạng.
Hành trạng.
277.- DỊCH NGHĨA: Hoặc Am dời về trụ tri chùa Tiêu Sơn được ba năm, đến ngày mồng 4 tháng 8, niên hiệu Thuần Hy năm thứ sáu, trước khi nhuốm bệnh, ngài liền viết một lá thư và gởi kèm theo một nghiên mực tới cáo biệt quan Quận thú Thị Lang Tằng Công Ðãi, và vào nửa đêm hôm đó ngài thị tịch. Tằng Công Ðãi có làm bài kệ truy điệu ngài như sau:
Gió Tây phơi phới chiếc giày bay,
Chẳng một vật dung túi vải này.
Ðể lại nghiên sành thêm nhớ tiếc,
Hư không bút tả dễ ai hay.(1)
Hành Trạng.
Chẳng một vật dung túi vải này.
Ðể lại nghiên sành thêm nhớ tiếc,
Hư không bút tả dễ ai hay.(1)
Hành Trạng.
CHÚ THÍCH:
(1): Câu này ý nói công đức lớn lao của Hoặc Am ví như hư không, khó thể đem bút nào diễn tả hết được.
278.- CHỮ HÁN: Hạt Ðường Viễn Hòa thượng vị Hoặc Am viết: Nhân chi tài khí tự hữu đại tiểu, thành bất khả giáo. Cổ chử tiểu giả bất khả hoài đại, cánh đoản giả bất khả cập thâm. Si cưu dạ loát tảo sát thu hào. Chú xuất sân mục chi bất kiến khâu sơn, cái phận định dã. Tích Tĩnh Nam Ðường truyền Ðông Sơn chi đạo. Dĩnh ngộ u áo thâm thiết trứ minh. Ðãi ứng thế trụ trì, sở chí bất chấn. Viên Ngộ tiên sư qui Thục. Ðồng Phạm Hòa thượng phỏng chi Ðại Tùy. Kiến Tĩnh xuất lược phàm bách thỉ phế. Tiên sư chung bất vấn. Hồi chí trung lộ. Phạm viết: "Tĩnh dữ công vi đồng sam đạo hữu, vô nhất ngôn khải địch chi hà dã". Tiên sư viết: "Ứng thế lâm chúng yếu tại pháp lệnh vi tiên. Pháp lệnh chi hành tại kỳ trí năng. Năng dữ bất năng dĩ kỳ tố phận, khởi khả giáo dã". Phạm hạm chi.
Hổ Khâu Ký Văn.
Hổ Khâu Ký Văn.
278.- DỊCH NGHĨA: Hạt Ðường Viễn Hòa thượng bảo Hoặc Am: Tài khí của con người tự nó có lớn nhỏ, thực không thể do nơi giáo hóa. Cho nên, giấy nhỏ không thể gói được vật lớn, dây ngắn đâu múc được nước nơi giếng sâu. Chim cú mèo tìm ăn ban đêm, mắt nó có thể thấy được con bọ chét, xét được sợi lông tơ ở mùa thu. Nhưng về ban ngày, dù nó có dương mắt lên cũng không thấy được vật lớn như gò núi. Vì lẽ chúng đã có sự an bài phân định riêng biệt. Xưa kia Tĩnh Nam Ðường (1) truyền bá đạo pháp của phái Nam Sơn, ngài là người thông minh dĩnh ngộ, u áo thâm huyền, thấu đáo khúc triết. Nhưng tới khi ra ứng thế trụ trì, ngài đến bất cứ nơi nào cũng không thể làm cho nơi đó chấn hưng được. Một hôm Viên Ngộ thiền sư trở về đất Thục, có ghé thăm chùa Ðại Tùy, các ngài thấy Tĩnh Nam Ðường là người hốt lược không cẩn thận, phàm trăm việc trong chốn tùng lâm đều bỏ bê. Tuy vậy mà tiên sinh không có một lời hỏi han khuyên nhủ. Khi về tới giữa đường, Phạm Hòa thượng nói: "Tĩnh Nam Ðường cùng với ngài là bạn đạo cùng tham học với nhau, sao ngài không ngỏ một lời mở bảo dắt dẫn". Tiên sư nói: "Ứng thế lãnh chúng, điều cần yếu là pháp lệnh làm đầu. Thực hành pháp lệnh là do trí tuệ tài năng. Tài năng và không có tài năng là tố phận của mỗi người, đâu có thể giáo hóa được vậy". Phạm Hòa thượng gật đầu.
Hổ Khâu Ký Văn.
Hổ Khâu Ký Văn.
CHÚ THÍCH:
(1) Tĩnh Nam Ðường: Nam Ðường Nguyên Tĩnh thiền sư chùa Ðại Tùy, pháp tự của Ngũ Tổ Diễn thiền sư.
279.- CHỮ HÁN: Hạt Ðường viết: Học đạo chi sĩ yếu tiên chính kỳ tâm, nhiên hậu khả dĩ chính kỷ chính vật. Kỳ tâm ký chính tắc vạn vật định hỹ. Vi văn tâm trị nhi thân loạn giả. Phật Tổ chi giáo do nội cập ngoại, tự cận chi viễn. Thanh sắc hoặc ư ngoại, tứ chi chi tật giả. Vị kiến tâm chính nhi bất năng tri vật, thân chính nhi bất năng hóa nhân. Cái nhất tâm vi căn bản, vạn vật di chi diệp. Căn bản trác thực, chi diệp vinh mậu. Căn bản khô tụy, chi diệp yểu triết. Thiện học đạo giả trị nội dĩ dịch ngoại, bất tham ngoại dĩ hại nội. Cố đạo vật yếu tại thanh tâm. Chính nhân cố tiên chính kỷ, tâm chính kỷ lập nhi vạn vật bất tòng hóa giả vị chi hữu giả.
Dữ Nhan Thị Lang thư.
Dữ Nhan Thị Lang thư.
279.- DỊCH NGHĨA: Hạt Ðường nói: Kẻ sĩ học đạo cần biết chính tâm làm đầu, vậy sau mới có thể chính mình và chính sự vật. Tâm đã chính thì an định được vạn vật. Ta chưa hề nghe thấy tâm đã trị mà thân lại loạn. Giáo pháp của Phật Tổ do từ bên trong mà kịp đến bên ngoài, từ gần đến xa. Mê hoặc thanh sắc ở bên ngoài là bệnh của tứ chi, vọng tình phát khởi ở trong là bệnh của tâm phúc. Ta chưa bao giờ thấy tâm đã chính mà không hay giáo hóa được người. Bởi lẽ, lấy nhất tâm làm cội gốc, vạn vật làm cành lá, nếu cội gốc khỏe chắc thì cành lá tốt tươi, cội gốc khô gầy, cành lá tất héo gãy. Người khéo học đạo, trước hết phải trị nơi nội tâm để chống lại ngoại vật, đừng có tham ngoại vật để hại nội tâm. Cho nên muốn dẫn đạo được vật, điều cần thiết là ở chỗ tâm thanh tịnh. Muốn chính người tất nhiên trước phải chính mình. Nếu tâm đã chính, mình đã lập mà vạn vật không theo chỗ giáo hóa của mình, thì việc đó chưa từng có vậy.
Thư gởi Nhan Thị Lang (1).
Thư gởi Nhan Thị Lang (1).
CHÚ THÍCH:
(1) Nhan Thị Lang: Người triều nhà Tống, tên là Nhan Kỳ Phục, tên chữ là Di Trọng, theo học ở Lã Vinh Công, làm chức quan Thị Lang.
280.- CHỮ HÁN: Giản Ðường Cơ Hòa thượng, trụ Bà Dương Quản Sơn cận nhị thập tải. Canh lê phạn thử, nhược tuyệt ý ư vinh đạt. Thường hạ sơn văn lộ bàng ai khấp thanh. Giản Ðường trắc nhiên đãi tuân chi. Nhất gia hàn tật, cận vong lưỡng khẩu, bần vô liễm cụ đặc tựu thi đại quan táng chi. Hương nhân cảm thán bất dĩ. Thị Lang Lý Công (Thung Niên) vị sĩ đại phu viết: "Ngô hương cơ lão hữu đạo nột tử dã. Gia dĩ từ huệ cập vật, Quản Sơn an năng cửu xử hồ". Hội Khu Mật Uông (Minh Viễn), Tuyên Phủ chư lộ đạt vu Cửu Giang, Quận thú Lâm Công (Thúc Ðạt), hư Viên Thông pháp tịch nghinh chi. Giản Ðường văn mệnh nãi viết: "Ngô đạo chi hành hỹ". Tức hân nhiên duệ trượng nhi lai. Ðang tọa thuyết pháp viết: "Viên Thông bất khai sinh dược phố, đan đan chỉ mãi tử miêu đầu. Bất tri na cá vô tư toán, khiết trược thông thân lãnh hãn lưu". Chuy tố kinh dị. Pháp tịch nhân tư đại chấn.
Lại Am Tập.
Lại Am Tập.
280.- DỊCH NGHĨA: Giản Ðường Cơ Hòa thượng, trụ trì chùa Quản Sơn huyện Bà Dương đã gần hai mươi năm. Ngài chỉ ăn cơm gạo nếp, canh rau lê, dường như tuyệt ý nghĩ về đường vinh đạt. Một hôm ngài xuống núi, bên đường đi, nghe thấy tiếng khóc ai oán thảm thiết. Ngài động lòng trắc ẩn, liền tìm tới hỏi đầu đuôi sự việc, mới biết rõ, đó là một gia đình bị bệnh thương hàn, vừa chết mất hai người, nhưng vì nhà quá nghèo, nên không có tiền sắm đồ liệm. Ngài vội tới chợ mua áo quan để mai táng cho họ. Người trong làng thấy thế ai nấy đều cảm thán nghĩa cử của ngài không ngớt. Quan Thị Lang Lý Công Thung Niên, nói với các sĩ đại phu rằng: "Làng tôi có Giản Ðường Cơ lão sư là người nột tử có đạo, lại thêm lòng nhân huệ từ ái với mọi người, chùa Quản Sơn đâu phải là nơi cư trụ lâu dài của ngài vậy ư?". Ông liền họp quan Khu Mật Uông Minh Viễn cùng các quan tuần phủ các quận để trình bày sự việc về quan Quận thú đất Cửu Giang là Lâm Công Thúc Ðạt, để đón ngài về trụ trì chùa Viên Thông, vì chùa này còn vắng ngôi pháp chủ. Ngài Giản Ðường nghe biết và thuận mệnh nói: "Ðạo của ta sẽ được thực hành vậy". Rồi ngài vui vẻ chống gậy tới nhậm chức trụ trì. Khi thăng tòa thuyết pháp ngài nói:
Viên Thông chẳng mở thuốc trường sinh,
Chỉ bán đầu mèo chết lại tanh.(1)
Vật ấy đâu hay suy tính được,
Nuốt rồi mình mẩy nhẹ tênh tênh.
Chỉ bán đầu mèo chết lại tanh.(1)
Vật ấy đâu hay suy tính được,
Nuốt rồi mình mẩy nhẹ tênh tênh.
Tất cả hai hàng Tăng tục nghe thấy ai nấy đều kinh dị. Pháp tịch của ngài nhân thế mà vang dội khắp nơi.
Lại Am Tập (2).
Lại Am Tập (2).
CHÚ THÍCH:
(1) Ðầu mèo chết: Vật này vốn dĩ khi đã chết thì tanh hôi lạ thường, nhưng đây lại cốt để tỷ dụ cho sự việc quí báu để hướng thượng.
(2) Lại Am: Lại Am Dĩnh Nhu thiền sư, pháp tự của Kính Sơn Cảo thiền sư.
(2) Lại Am: Lại Am Dĩnh Nhu thiền sư, pháp tự của Kính Sơn Cảo thiền sư.
281.- CHỮ HÁN: Giản Ðường viết: Cổ giả tu thân trị tâm, tắc dữ nhân cộng kỳ đạo. Hưng sự lập nghiệp, tắc dữ nhân cộng kỳ công. Ðạo thành công trứ tắc dữ nhân cộng kỳ danh. Sở dĩ đạo vô bất minh, công vô bất thành, danh vô bất vinh. Kim nhân tắc bất nhiên. Chuyên kỷ chi đạo, duy khủng nhân chí thắng ư kỷ. Hựu bất năng tòng thiện vụ nghĩa, dĩ tự quảng dã. chuyên kỷ chi công, bất dục tha nhân hữu chi. Hựu bất năng nhậm hiền dữ năng, dĩ tự đại dã. Thị cố đạo bất miễn ư tế, công bất miễn ư tổn. danh bất miễn ư nhục. Thử tam giả nãi cổ kim học giả chi đại phân dã.
[b]281.- DỊCH NGHĨA: Giản Ðường nói: Người xưa tu thân trị tâm thì cùng với người cùng chung cái đạo đó. Dấy việc lập nghiệp thì cùng với người cùng chung cái công đó. Khi đạo đã thành, công đã hiển thì cùng với người cùng chung cái danh đó. Vậy nên đạo không có gì là chẳng sáng, công không có gì là chẳng thành, danh không có gì là chẳng vinh. Người đời nay thì không thế, họ chỉ chuyên cái đạo vị kỷ, chỉ sợ người ta hơn mình. Họ không biết theo điều thiện làm việc nghĩa để tự rộng. Chỉ chuyên đưa cái công về mình, không muốn người khác dự phần vào đó. Họ lại không biết dùng người hiền cùng kẻ tài năng để tự lớn mình. Vì thế, nên đạo không tránh khỏi sự che lấp, công không tránh khỏi sự tổn hại, danh không tránh khỏi sự nhục nhã. Ðó là ba điều phân cách giữa người học đạo xưa và nay vậy.
282.- CHỮ HÁN: Giản Ðường viết: Học đạo do như chủng thụ, phương vinh nhi phạt chi, khả dĩ cấp tiều tân. Tương thịnh nhi phạt chi, khả dĩ tác suy giác. Sảo tráng nhi phạt chi, khả dĩ sung doanh phương. Lão đại nhi phạt chi, khả dĩ vi lương đống. Ðắc phi thủ công viễn, nhi kỳ lợi đại hồ. Sở dĩ cổ chi nhân, duy kỳ đạo cố đại nhi bất hiệp, kỳ chí viễn áo nhi bất cận, kỳ ngôn sùng cao nhi bất ty. Tuy thích thời chở ngữ, cùng ư cơ hàn, đãi vong khâu hác, dĩ kỳ di phong dư liệt, cắng bách thiên niên hậu, nhân do dĩ vi pháp nhi truyền chi. Hướng sử hiệp đạo cẩu dung, nhĩ chí cầu hợp, ty ngôn sự thế, kỳ lợi chỉ vinh ư nhất thân, an hụu dư trạch, phổ cập ư hậu thế tai.
Dữ Lý Thị Lang thư.
Dữ Lý Thị Lang thư.
282.- DỊCH NGHĨA: Giản Ðường nói: Người học đạo cũng như trồng cây. Cây vừa tốt mà đã chặt, chỉ để cung cấp làm củi. Cây sắp lớn mà đã chặt, chỉ có thể cung cấp làm rui mè. Cây hơi lớn mà đã chặt, chỉ có thể sung làm kèo cột. Cây đã già và lớn mới chặt, thì có thể dùng làm xà nóc. Như vậy, há chẳng phải là dùng công xa rộng thì lợi đó cũng lớn vậy ư? Sở dĩ người xưa chỉ duy ở cái đạo đó cố nhiên là rộng lớn mà không chật hẹp, cái chí đó xa vời mà không thiển cận, coi lời nói đó cao thượng mà không thấp hèn. Tuy có lúc gặp phải thời thế dở dang, gặp lúc đói rét khốn cùng, hay dù phải vong thân nơi rừng núi, nhưng cái di phong dư liệt đó, cũng vẫn còn rạng rỡ suốt hàng trăm năm sau, người ta cũng vẫn còn lấy đó làm phép tắc mà truyền trì. Trước đây, giả sử những người xưa chỉ coi đạo một cách chật hẹp để cầu chỗ tạm dung, chỉ lập chí một cách thiển cận để cầu hợp, phát ngôn một cách ty tiện để chuộng quyền thế, thì sự lợi ích đó chỉ vinh đạt ở một mình mình, đâu còn có ân huệ thấm nhuần phổ cập tới tận đời sau được.
Thư gởi Lý Thị Lang.
Thư gởi Lý Thị Lang.
283.- CHỮ HÁN: Giản Ðường Thuần Hy ngũ niên tứ nguyệt, tự Thiên Thai Cảnh Tinh Nham, tái phò Ẩn Tĩnh, Cấp Sự Ngô Công Phất, dật lão vu Hưu Hưu Ðường, họa Uyên Minh thi tập tam thiên tống hành.
- Kỳ nhất viết:
Ngã tự qui lâm hạ,
Dĩ dữ thế tương sơ.
Lại hữu thiện trí thức,
Thời năng quá ngã lô.
Bạn ngã thuyết đạo thoại,
Ái ngã độc Phật thư.
Tức vị nham thượng khứ,
Ngã diệc vị cao sa.
Ngã tự qui lâm hạ,
Dĩ dữ thế tương sơ.
Lại hữu thiện trí thức,
Thời năng quá ngã lô.
Bạn ngã thuyết đạo thoại,
Ái ngã độc Phật thư.
Tức vị nham thượng khứ,
Ngã diệc vị cao sa.
Tiện dục triển ngã bát,
Tùy sự đồng phạn sơ.
Thoát thử trần tục luỵ,
Trường dữ nham thạch cư.
Thử nham cố cao hỹ,
Trác xuất Sơn Hải Ðồ.
Nhược tỷ ngô sư cao,
Thử nham hoàn bất như.
Tùy sự đồng phạn sơ.
Thoát thử trần tục luỵ,
Trường dữ nham thạch cư.
Thử nham cố cao hỹ,
Trác xuất Sơn Hải Ðồ.
Nhược tỷ ngô sư cao,
Thử nham hoàn bất như.
- Nhị:
Ngã sinh sơn quật lý,
Tứ diện thị sàn nhan.
Hữu nham hiệu Cảnh Tinh,
Dục đáo tri kỷ niên.
Kim thủy tín kỳ tuyệt,
Nhất lãm tiểu chúng sơn.
Cánh đắc sư vi chủ,
Nhị Diêu vị di ngôn.
Ngã sinh sơn quật lý,
Tứ diện thị sàn nhan.
Hữu nham hiệu Cảnh Tinh,
Dục đáo tri kỷ niên.
Kim thủy tín kỳ tuyệt,
Nhất lãm tiểu chúng sơn.
Cánh đắc sư vi chủ,
Nhị Diêu vị di ngôn.
- Tam:
Ngã gia hồ sơn thượng,
Xúc mục thị lâm khâu.
Nhược tỷ tư sơn tú,
Bồi lũ cố nan trù.
Vân sơn thiên lý biện,
Tuyền thạch tứ thời lưu.
Ngã kim tài nhất đáo,
Dĩ thắng Ngũ hồ du.
Ngã gia hồ sơn thượng,
Xúc mục thị lâm khâu.
Nhược tỷ tư sơn tú,
Bồi lũ cố nan trù.
Vân sơn thiên lý biện,
Tuyền thạch tứ thời lưu.
Ngã kim tài nhất đáo,
Dĩ thắng Ngũ hồ du.
- Tứ:
Ngã niên thập nhất ngũ,
Mộc mạt quải tàn dương.
Túng sử thân vi thệ,
Diệc năng khởi cửu trường.
Thượng ký lâm gian trụ,
Dữ sư công mạt quang.
Cô vân nga tạm xuất,
Viễn cận hãi thương hoàng.
Ngã niên thập nhất ngũ,
Mộc mạt quải tàn dương.
Túng sử thân vi thệ,
Diệc năng khởi cửu trường.
Thượng ký lâm gian trụ,
Dữ sư công mạt quang.
Cô vân nga tạm xuất,
Viễn cận hãi thương hoàng.
- Ngũ:
Ái sơn đoan hữu tố,
Câu tục diệc khả lân.
Tạc thủ đương đồ quận,
Bất thức Ẩn Tĩnh Sơn.
Tiện sư lai hựu khứ,
Qui ngã phục hà ngôn.
Thượng kỳ vô cửu trụ,
Qui tống ngã tàn niên.
Ái sơn đoan hữu tố,
Câu tục diệc khả lân.
Tạc thủ đương đồ quận,
Bất thức Ẩn Tĩnh Sơn.
Tiện sư lai hựu khứ,
Qui ngã phục hà ngôn.
Thượng kỳ vô cửu trụ,
Qui tống ngã tàn niên.
- Lục:
Sư Tâm như tử khôi,
Hình diện như cảo mộc.
Hồ vi nột tử qui,
Tự ưởng đáp không cốc.
Cố ngã trần cấu thân,
Chính đãi đề hồ dục.
Cánh nguyện trương Phật đăng,
Vị ngã đại minh chúc.
Sư Tâm như tử khôi,
Hình diện như cảo mộc.
Hồ vi nột tử qui,
Tự ưởng đáp không cốc.
Cố ngã trần cấu thân,
Chính đãi đề hồ dục.
Cánh nguyện trương Phật đăng,
Vị ngã đại minh chúc.
- Thất:
Phù sơ nham thượng thụ,
Nhập hạ tổng thành âm.
Kỷ niên kim cức địa,
Nhất đán thành tùng lâm.
Ngã phương dữ nột tử,
Cộng thính Hải triều âm.
Nhân sinh đa tụ tán,
Ly biệt hốt kinh tâm.
Phù sơ nham thượng thụ,
Nhập hạ tổng thành âm.
Kỷ niên kim cức địa,
Nhất đán thành tùng lâm.
Ngã phương dữ nột tử,
Cộng thính Hải triều âm.
Nhân sinh đa tụ tán,
Ly biệt hốt kinh tâm.
- Bát:
Ngã dữ sư lai vãng,
Tuế nguyệt tuy vị trường.
Tương khán hành nhị lão,
Phong lưu diệc dị thường.
Sư yến tọa nham thượng,
Ngã phương vị tụ lương.
Thảng sư năng tảo qui,
Thử lạc do vị ương.
Ngã dữ sư lai vãng,
Tuế nguyệt tuy vị trường.
Tương khán hành nhị lão,
Phong lưu diệc dị thường.
Sư yến tọa nham thượng,
Ngã phương vị tụ lương.
Thảng sư năng tảo qui,
Thử lạc do vị ương.
- Cửu:
Phân phân học thiền giả,
Yêu bao cạnh bôn tẩu.
Tài năng thuyết cát đằng,
Si ý tiện tự phụ.
Cầu kỳ đạo đức tôn,
Như sư cái hy hữu.
Nguyện truyền thượng thừa nhân,
Vinh quang Lâm Tế hậu.
Phân phân học thiền giả,
Yêu bao cạnh bôn tẩu.
Tài năng thuyết cát đằng,
Si ý tiện tự phụ.
Cầu kỳ đạo đức tôn,
Như sư cái hy hữu.
Nguyện truyền thượng thừa nhân,
Vinh quang Lâm Tế hậu.
- Thập:
Ngô ấp đa chuy đồ,
Hạo hạo nhược vân hải.
Ðại Cơ cửu dĩ vong,
Lại hữu Tiểu Cơ tại.
Nhưng cánh dữ Nhất Sầm,
Thuần toàn lưỡng vô hối.
Ðường đường nhị lão thiền,
Hải nội cộng kỷ đãi.
Ngô ấp đa chuy đồ,
Hạo hạo nhược vân hải.
Ðại Cơ cửu dĩ vong,
Lại hữu Tiểu Cơ tại.
Nhưng cánh dữ Nhất Sầm,
Thuần toàn lưỡng vô hối.
Ðường đường nhị lão thiền,
Hải nội cộng kỷ đãi.
- Thập nhất:
Cổ vô trụ trì sự,
Ðản chỉ truyền pháp chỉ.
Hữu năng ngộ sắc không,
Tiện khả siêu sinh tử.
Dong năng muội bản lai,
Khởi thức Tây qui lý.
Mại thiệp tọa thiền sàng,
Phật pháp tương hà thị.
Cổ vô trụ trì sự,
Ðản chỉ truyền pháp chỉ.
Hữu năng ngộ sắc không,
Tiện khả siêu sinh tử.
Dong năng muội bản lai,
Khởi thức Tây qui lý.
Mại thiệp tọa thiền sàng,
Phật pháp tương hà thị.
- Thập nhị:
Tăng trung hữu cao tăng,
Sĩ diệc hữu cao sĩ.
Ngã tuy bất vị cao,
Tâm thô năng tri chỉ.
Sư thị cá trung nhân,
Ðặc hoạn bất vi nhĩ.
Hà hạnh ngã dữ sư,
Câu thị lân gia tử.
Tăng trung hữu cao tăng,
Sĩ diệc hữu cao sĩ.
Ngã tuy bất vị cao,
Tâm thô năng tri chỉ.
Sư thị cá trung nhân,
Ðặc hoạn bất vi nhĩ.
Hà hạnh ngã dữ sư,
Câu thị lân gia tử.
- Thập tam:
Sư bản cùng Hòa thượng,
Ngã diệc tùng Tú Tài.
Nhẫn cùng tâm dĩ triệt,
Lão khẳng bất qui lai.
Kim sư tuy tạm biệt,
Tuyền thạch mạc tương sai.
Ưng duyên liêu phục ngã,
Sư khởi hữu tâm tai.
Cảnh Tinh thạch khắc.
Sư bản cùng Hòa thượng,
Ngã diệc tùng Tú Tài.
Nhẫn cùng tâm dĩ triệt,
Lão khẳng bất qui lai.
Kim sư tuy tạm biệt,
Tuyền thạch mạc tương sai.
Ưng duyên liêu phục ngã,
Sư khởi hữu tâm tai.
Cảnh Tinh thạch khắc.
283.- DỊCH NGHĨA: Tháng tư niên hiệu Thuần Hy năm thh1 5, Giản Ðường từ Cảnh Tinh Nham núi Thiên Thai trở lại chùa Ẩn Tĩnh. Quan Cấp sự Ngô Công Phất đang ẩn dật di dưỡng tuổi già ở Hưu Hưu Ðường, liềnhọa theo vần thơ của Ðào Uyên Minh gồn mười ba thiên để tiển chân Giản Ðường như sau:
1.- Từ khi bạn núi rừng,
Tôi cùng đời cách xa.
Nhờ có thiện trí thức,
Ðôi lúc tới thăm nhà.
Thân tôi, nói chuyện đạo,
Mến tôi, đọc Phật đà.
Khi quay về trên núi,
Tôi cũng tiễn chân qua.
Tôi cùng đời cách xa.
Nhờ có thiện trí thức,
Ðôi lúc tới thăm nhà.
Thân tôi, nói chuyện đạo,
Mến tôi, đọc Phật đà.
Khi quay về trên núi,
Tôi cũng tiễn chân qua.
Thầy cho tô thưởng thức,
Cơm rau vị đậm đà.
Thoát khỏi lụy trần tục,
Muốn ở núi ngâm nga.
Núi này cao cao ngất,
Vượt cả Sơn Hải Ðồ.(1)
Nhưng sánh cao đức thầy,
Núi này còn kém xa.
Cơm rau vị đậm đà.
Thoát khỏi lụy trần tục,
Muốn ở núi ngâm nga.
Núi này cao cao ngất,
Vượt cả Sơn Hải Ðồ.(1)
Nhưng sánh cao đức thầy,
Núi này còn kém xa.
2.- Tôi sinh trong hang núi,
Bốn mặt cao chênh vênh.
Có núi gọi Cảnh Tinh,
Muốn đến đã mấy lần.
Núi ấy thật kỳ tuyệt,
Mọi núi nhỏ quanh mình.
Lại có thầy làm chủ,
Nhị Diệu (2) khó tả tranh.
Bốn mặt cao chênh vênh.
Có núi gọi Cảnh Tinh,
Muốn đến đã mấy lần.
Núi ấy thật kỳ tuyệt,
Mọi núi nhỏ quanh mình.
Lại có thầy làm chủ,
Nhị Diệu (2) khó tả tranh.
3.- Nhà tôi hồ trên núi,
Nhìn ra toàn núi rừng.
So cảnh đẹp của thầy,
Bên tôi khó sánh cùng.
Mây tỏa xa ngàn dặm,
Suối biếc chảy không ngừng.
Tôi tuy vừa mới tới,
Ngũ hồ cảnh sao bằng.
Nhìn ra toàn núi rừng.
So cảnh đẹp của thầy,
Bên tôi khó sánh cùng.
Mây tỏa xa ngàn dặm,
Suối biếc chảy không ngừng.
Tôi tuy vừa mới tới,
Ngũ hồ cảnh sao bằng.
4.- Bảy mươi lăm tuổi lẽ,
Tàn dương treo ngọn cây.
Ví rằng thân chưa mất,
Cũng chẳng được bao ngày.
Còn mong ở rừng núi,
Cùng thầy hưởng dư quang.
Cô vân vụt biến mất,
Gần xa thấy bàng hoàng.
Tàn dương treo ngọn cây.
Ví rằng thân chưa mất,
Cũng chẳng được bao ngày.
Còn mong ở rừng núi,
Cùng thầy hưởng dư quang.
Cô vân vụt biến mất,
Gần xa thấy bàng hoàng.
5.- Yêu núi là số phận,
Nợ tục cũng đáng thương.
Xưa coi Ðương Ðồ Quận,
Núi Ẩn Tĩnh đâu tường.
Khen thầy nay đi lại,
Lòng tôi thấy ngỡ ngàng.
Mong đừng đi lâu lắm,
Về thăm tôi năm tàn.
Nợ tục cũng đáng thương.
Xưa coi Ðương Ðồ Quận,
Núi Ẩn Tĩnh đâu tường.
Khen thầy nay đi lại,
Lòng tôi thấy ngỡ ngàng.
Mong đừng đi lâu lắm,
Về thăm tôi năm tàn.
6.- Tâm thầy như tro lạnh,
Hình vóc tựa cây khô.
Nột tử đều quy tụ,
Tựa vang dội hư vô.
Ðoái tới thân trần cấu,
Nước đề hồ gội trong.
Xin thầy nêu đèn Phật,
Vì tôi rọi sáng lòng.
Hình vóc tựa cây khô.
Nột tử đều quy tụ,
Tựa vang dội hư vô.
Ðoái tới thân trần cấu,
Nước đề hồ gội trong.
Xin thầy nêu đèn Phật,
Vì tôi rọi sáng lòng.
7.- Lơ thơ cây trên núi,
Vào hạ bóng rợp trời.
Bao năm nơi lau sậy,
Tùng lâm nay sáng ngời.
Tôi mới cùng nột tử,
Cùng nghe tiếng hải trào.
Ðời người nhiều tụ tán,
Ly biệt chạnh lòng đau.
Vào hạ bóng rợp trời.
Bao năm nơi lau sậy,
Tùng lâm nay sáng ngời.
Tôi mới cùng nột tử,
Cùng nghe tiếng hải trào.
Ðời người nhiều tụ tán,
Ly biệt chạnh lòng đau.
8.- Tôi cùng thầy đi lại,
Năm tháng tuy chưa lâu.
Coi như hai đại lão,
Phong lưu rất một màu.
Thầy ngồi yên trên núi,
Tôi góp gạo lo âu.
Giá thầy về đây sớm,
Vui này đậm mà sâu.
Năm tháng tuy chưa lâu.
Coi như hai đại lão,
Phong lưu rất một màu.
Thầy ngồi yên trên núi,
Tôi góp gạo lo âu.
Giá thầy về đây sớm,
Vui này đậm mà sâu.
9.- Kẻ học thiền nhộn nhàn,
Khom lưng chạy ngược xuôi.
Nói toàn chuyện cát đằng,(3)
Gậy ý si tuyệt vời.
Tìm bậc tôn đạo đức,
Như thầy được mấy người.
Nguyện truyền người thượng thặng,
Phái Lâm Tế sáng ngời.
Khom lưng chạy ngược xuôi.
Nói toàn chuyện cát đằng,(3)
Gậy ý si tuyệt vời.
Tìm bậc tôn đạo đức,
Như thầy được mấy người.
Nguyện truyền người thượng thặng,
Phái Lâm Tế sáng ngời.
10.- Làng ta nhiều Tăng đồ,
Mông mênh như mây bể.
Ðại Cơ (4) mất đã lâu,
Tiểu Cơ (5) còn tại thế.
Nhưng còn lại Nhất Sầm,(6)
Hai vị tìm đâu dễ.
Ðường đường hai lão thiền,
Người mong trong bốn bể.
Mông mênh như mây bể.
Ðại Cơ (4) mất đã lâu,
Tiểu Cơ (5) còn tại thế.
Nhưng còn lại Nhất Sầm,(6)
Hai vị tìm đâu dễ.
Ðường đường hai lão thiền,
Người mong trong bốn bể.
11.- Xưa không chức trụ trì,
Mà chỉ truyền pháp chỉ.
Ai ngộ được sắc không,
Liền vượt đường sanh tử.
Tăng hèn mờ bản lại,(7)
Há biết Tây qui lý.(8)
Mua thiếp ngồi giường thiền,(9)
Phật pháp cậy đâu nhỉ.
Mà chỉ truyền pháp chỉ.
Ai ngộ được sắc không,
Liền vượt đường sanh tử.
Tăng hèn mờ bản lại,(7)
Há biết Tây qui lý.(8)
Mua thiếp ngồi giường thiền,(9)
Phật pháp cậy đâu nhỉ.
12.- Trong Tăng có cao Tăng,
Sĩ cũng có cao sĩ.
Tôi tuy chẳng là cao,
Tâm thô biết chế chỉ.
Thầy là người trong ấy,
Làm cao Tăng phải nghĩ.
May thay tôi cùng thầy,
Ðều làm người hương lý.
Sĩ cũng có cao sĩ.
Tôi tuy chẳng là cao,
Tâm thô biết chế chỉ.
Thầy là người trong ấy,
Làm cao Tăng phải nghĩ.
May thay tôi cùng thầy,
Ðều làm người hương lý.
13.- Thầy ngôi cùng Hòa thượng,
Tôi cùng cực Tú Tài.
Tâm nhẫn đều đã triệt,
Già rồi trở lại thôi.
Nay thầy tuy tạm biệt,
Suối, đá cũng bồi hồi.
Ung duyên xong trở lại,
Thầy đâu nỡ bỏ tôi.
Khắc bia đá chùa Cảnh Tinh.
Tôi cùng cực Tú Tài.
Tâm nhẫn đều đã triệt,
Già rồi trở lại thôi.
Nay thầy tuy tạm biệt,
Suối, đá cũng bồi hồi.
Ung duyên xong trở lại,
Thầy đâu nỡ bỏ tôi.
Khắc bia đá chùa Cảnh Tinh.
CHÚ THÍCH:
(1) Sơn Hải Ðồ: Ðào Uyên Minh sau khi đọc xong Sơn Hải Ðồ Kinh, có làm mười ba bài thơ để diễn tả nội dung của kinh đó. Sơn Hải Ðồ, là bản đồ vẽ núi và bể phụ thuộc trong Sơn Hải Ðồ kinh. Kinh này được thành lập ra đều bởi trí óc không tưởng ở thời đại Thần Tiên. Quách Phát đời Tấn có làm bài tán "Sơn Hải Kinh Ðồ".
(2) Nhị Diệu: Tên là Vệ Quán, tên chữ là Bá Ngọc, người An Ấp tỉnh Hà Ðông, học vấn uyên bác, có tài văn nghệ, và có tên hiệu là Nhị Diệu. Tài miêu tả như Nhị Diệu cũng khó mà tả hết được cảnh đẹp của núi Cảnh Tinh.
(3) Cát đằng: Dây leo, phàm nói đến sự việc gì cứ quanh co không rõ ràng thì gọi đó là chuyện cát đằng.
(4) Ðại Cơ: Cơ Minh Cơ thiền sư, pháp tự của Huyền Sa Bị thiền sư.
(5) Tiểu Cơ: Giản Ðường Hành Cơ thiền sư.
(6) Nhất Sầm: Viên Cực Ngạn Sầm thiền sư.
(7) Bản lai: Bản lai diện mục, chỉ cho Phật tánh, chân tâm.
(8) Tây qui lý: Nhân duyên ngài Ðạt Ma xách chiếc giày trở về Tây Trúc.
(9) Mua thiếp ngồi giường thiền: Như đem thơ mua chùa làm trụ trì, hay mua cầu sự vinh hoa quyền quý, hoặc mua chuộc người ngồi trên giường thiền nói chuyện đạo.
(2) Nhị Diệu: Tên là Vệ Quán, tên chữ là Bá Ngọc, người An Ấp tỉnh Hà Ðông, học vấn uyên bác, có tài văn nghệ, và có tên hiệu là Nhị Diệu. Tài miêu tả như Nhị Diệu cũng khó mà tả hết được cảnh đẹp của núi Cảnh Tinh.
(3) Cát đằng: Dây leo, phàm nói đến sự việc gì cứ quanh co không rõ ràng thì gọi đó là chuyện cát đằng.
(4) Ðại Cơ: Cơ Minh Cơ thiền sư, pháp tự của Huyền Sa Bị thiền sư.
(5) Tiểu Cơ: Giản Ðường Hành Cơ thiền sư.
(6) Nhất Sầm: Viên Cực Ngạn Sầm thiền sư.
(7) Bản lai: Bản lai diện mục, chỉ cho Phật tánh, chân tâm.
(8) Tây qui lý: Nhân duyên ngài Ðạt Ma xách chiếc giày trở về Tây Trúc.
(9) Mua thiếp ngồi giường thiền: Như đem thơ mua chùa làm trụ trì, hay mua cầu sự vinh hoa quyền quý, hoặc mua chuộc người ngồi trên giường thiền nói chuyện đạo.
284.- CHỮ HÁN: Cấp Sự Ngô Công vị Giản Ðường viết: Cổ nhân khôi tâm dẫn trí vu thiên nham vạn hác chi gian, giản ẩn mộc thực, nhược tuyệt ý ư công danh, nhi nhất đán phụng tử nê chi chiếu, thao quang nặc tích, ư phụ thung tiện dịch chi hạ. Sơ vô niệm ư vinh đạt, nhi thốt đáng truyền đang chi liệt. Cố đắc chi ư vô tâm, tắc kỳ đạo đại, kỳ đức hoành. Kế chi ư hữu cầu, tắc kỳ danh ty, kỳ chí hiệp. duy sư độ lượng ngưng viễn, kế sủng cổ nhân, nãi năng thê trì ư Quản Sơn, nhất thập thất niên, toại thành tùng lâm lương khí. Kim chi nột tử, nội vô sở thủ, ngoại trục phân hoa, thiểu viễn mưu vô đại thể. Cổ bất năng phù trợ tôn giáo, sở dĩ bất đãi sư viễn hỹ.
Cao Thị Giả Ký Văn.
Cao Thị Giả Ký Văn.
284.- DỊCH NGHĨA: Quan Cấp Sự Ngô Công nói với Giản Ðường: Cổ nhân nguội lòng hết trí ở trong chỗ ngàn núi muôn hang, uống nước suối ăn trái cây, như tuyệt ý về công danh. Nhất đán nhận được chiếu chỉ của nhà vua, các ngài liền che ánh sáng dấu hình tích trong những công việc hèn hạ như kiếm củi, giả gạo v.v... Vì không có ý nghĩa về vinh đạt ở buổi đầu, nhưng ngẫu nhiên được liệt vào ngôi truyền đăng. Vì thế, được địa vị ở chỗ vô tâm thì cái đạo đó lớn, đức đó rộng. Nếu tính toán ở chỗ có mong cầu thì danh đó thấp, chí đó hẹp. Duy có thầy là người độ lượng xa rộng, nối gót được cổ nhân, nên ngài mới hay kiên tâm trụ trì chùa Quản Sơn tới mười bảy năm trường, mà trở thành bậc lương khí trong chốn tùng lâm. Các hàng nột tử ngày nay, trong tâm thì không có giữ gìn, bề ngoài lại đua danh trục lợi, ít có mưu xa, không có đại thể. Cho nên họ không hay giúp đỡ được tôn giáo và dĩ nhiên không theo kịp với thầy rất xa vậy.
Cao Thị Giả Ký Văn (1).
Cao Thị Giả Ký Văn (1).
CHÚ THÍCH:
(1) Cao Thị Giả: Văn Phong Diệu Cao thiền sư, pháp tự của Văn Yển Khê thiền sư.
285.- CHỮ HÁN: Giản Ðường viết: Phù nhân thường tình, hản năng vô hoặc. Ðại để tế ư sở tín, trở ư sở nghi, hốt ư sở khinh, nịch ư sở ái. Tin ký thiên tắc thinh ngôn bất khảo kỳ thực, toại hữu quá đáng chi ngôn. Nghi ký thậm, tắc tuy thực nhi bất thính kỳ ngôn, toại hữu thất thực chi thính. Khinh kỳ nhân tắc di kỳ khả trọng chi sự. Ái kỳ sự tắc tồn kỳ khả khí chi nhân. Tư giai cẩu túng tư hoài, bất kê đạo lý, toại vong Phật Tổ chi đạo, thất tùng lâm chi tâm. Cố thường tình cho sở khinh nãi thánh hiền chi sở trọng. Cổ đức vân: "Mưu viễn giả tiên nghiệm kỳ cận. Vụ đại giả tất cẩn ư vi". Tương tại bác thái nhi thẩm dụng kỳ trung, cố bất tại mộ cao nhi hiếu dị dã.
Dữ Ngô Cấp Sự thư.
Dữ Ngô Cấp Sự thư.
285.- DỊCH NGHĨA: Giản Ðường nói: Thường tình của con người, ít có ai là không bị mê hoặc lầm lỗi. Ðại để có những việc như bị che lấp ở chỗ cả tin, bị cản trở ở chỗ ngờ vực, bị hốt lược ở chỗ khinh thị, bị trầm nịch ở chỗ ham đắm. Lòng tin đã thiên lệch, nghe lời nói không xét định sự thật, nên có lời nói quá đáng. Ngờ vực đã nhiều, lời nói tuy đúng sự thật mà chẳng chịu nghe, nên có cái lỗi mất sự thật ở chỗ nghe. Khinh thị người thì bỏ mất những việc quan trọng. Ham đắm vào sự việc thì cố giữ những con người đáng bỏ. Ðó đều là những việc do chỗ phóng túng theo lòng riêng của mình, không xét đến đạo lý, quên mất cái đạo của Phật Tổ, mất thiện tâm đối với tùng lâm. Cho nên, chỗ khinh thị của thường tình là chỗ trọng của Thánh nhân. Cổ nhân nói: "Kẻ mưu xa phải nghiệm việc gần trước, người chuộng việc lớn, phải cẩn thận ở chỗ vi tế làm đầu". Phàm bất cứ việc chi cần phải đem ra xem cho rộng mà xét chỗ dùng ở trong đó, chứ không phải ở chỗ chuộng cao xa mà thích lạ vậy.
Thư gởi Ngô Cấp Sự.
Thư gởi Ngô Cấp Sự.
286.- CHỮ HÁN: Giản Ðường thanh minh thản di, từ huệ cập vật. Nột tử sảo hữu quái ngộ, tế hộ bảo tích, dĩ thành kỳ đức. Thường ngôn: "Nhân thùy vô quá, tại cải chi vi mỹ". Trù Bà Dương Quản Sơn nhật, thích trị long đông, vũ tuyết liên tác, thiện chúc bất kế. Sư như bất kiến văn. Cố hữu tụng viết: "Ðịa vô lô hỏa khách lang không, tuyết tự mai hoa lạc tuế cùng. Nột bị mông đầu thiêu cốt đốt, bất tri thân tại tịch liêu trung". Bình sinh dĩ đạo tự thích, bất cập vu vinh danh. Phó Lô Sơn Viên Thông thỉnh nhật, trụ trượng thảo lý nhi dĩ. Kiến giả sắc trang ý giải. Cửu Giang Quận Thú Lâm Công Thúc Ðạt, mục chi viết: "Thử Phật pháp trung tân lương giả". Do thị danh trọng tứ phương. Kỳ khứu tựu chân đắc tiền bối thể cách. Một chi nhật tuy tẩu sử chí lực, vị chi thế há.
286.- DỊCH NGHĨA: Giản Ðường là người thanh bạch sáng suốt, bình thản công bằng, có từ tâm ân huệ tới mọi người. Kẻ nột tử nào hơi có chút lỗi lầm, ngài đều che dấu bảo hộ khuyên răn, để mong trở thành nghười có đức. Ngài thường nói: "Người ta ai mà không có lỗi, nhưng cần ở chỗ biết sửa đổi là tốt". Khi ngài trụ trì chùa Quản sơn, gặp lúc trời quá rét, mưa tuyết liên miên suốt ngày, cháo cơm không có, mà ngài vẫn coi như không hề nghe biết gì. Nên lúc đó có bài tụng rằng:
Bếp lò nguội ngắt khách ngồi không,
Tuyết tựa hoa Dương rụng năm cùng.
Áo vá chùm đầu châm thanh củi,
Biết đâu thân ở chốn tịch không.
Tuyết tựa hoa Dương rụng năm cùng.
Áo vá chùm đầu châm thanh củi,
Biết đâu thân ở chốn tịch không.
Bình sinh, ngài lấy đạo làm sở thích, không chạy theo vinh hoa danh lợi. Ngày nhận lời mời tới trụ trì chùa Viên Thông ở Lư Sơn, chỉ chống gậy tre, đi dép cỏ mà tới. Những người thấy thế, ai nấy đều tỏ vẻ cung kính vui mừng. Quan Quận Thú đất Cửu Giang là Lâm Công Thúc Ðạt khi thấy ngài cũng nói: "Ðây là người trụ cột trong Phật pháp". Do đó tên ngài được trọng vọng khắp bốn phương. Chỗ đi hay tới của ngài thật đúng như thể cách của tiền bối. Khi ngài mất, dù là những người hầu hạ sai khiến, cũng đều thương tiếc ngài mà rơi lệ.
287.- CHỮ HÁN: Thị Lang Trương Công Hiếu Tường, chí thu vị Phong Kiều Diễn Trưởng lão viết: "Tòng thượng chư Tổ, vô trụ trì sự, khai môn thụ đồ, bách bất đắc dĩ. Tượng pháp suy thế, nãi chí hữu thực phong đầu trạng mại viện chi thuyết. Như hướng lai Phong Kiều phân phân, giai thị vật dã. Công chi xuất xứ, nhân cụ tri chi. Thối chác đồng thời, nguyên bất trước lực. Hữu duyên tức trụ, duyên tận tiện hành. Nhược ti phiến chi bối, dục yếu thử địa, tạo địa ngục nghiệp. Bất nhược lưỡng thủ phân phó vi giai nhĩ".
Hàn Sơn Tự thạch khắc.
Hàn Sơn Tự thạch khắc.
287.- DỊCH NGHĨA: Quan Thị Lang Trương công Hiếu Tường, gởi thư nói với Diễn Trưởng lão chùa Phong Kiều rằng: "Các Tổ xưa kia, không có việc trụ trì, khai tràng nhận môn đồ là một việc cưỡng bách bất đắc dĩ. Trong thời Tượng phápsuy vi, đã phát sinh ra những thuyết thư, Các tăng sĩ đưa đồ châu báu hối lộ quan liên để mua bán chùa viện. Những việc này từ trước tới nay, tại nơi chùa Phong Kiều của ngài cũng thường xảy ra. Nơi xuất xứ của ngài ai ai cũng đều biết. Nhưng còn việc tương ứng đồng thời, con hát mẹ khen hay,để không ai chịu cố gắng hết sức mình, mà chỉ là những người có duyên thời ở, hết duyên thì đi. Nếu ngài để những ngườibuôn bán Phật pháp như thế ở trong chốn ấy, thì chỉ là gây cho họ cái nghiệp địa ngục mà thôi. Vậy chẳng bằng chia tay nhau là tốt hơn vậy".
Khắc bia đá chùa Hàn Sơn (1).
Khắc bia đá chùa Hàn Sơn (1).
CHÚ THÍCH:
(1) Hàn Sơn: Chùa Hàn sơn trước kia có tên là Phong Kiều.
288.- CHỮ HÁN: Từ Thụ Thâm Hòa thượng vị Kính Sơn Nột Hòa thượng viết: Nhị tam thập niên lai, thiền môn tiêu xách, đãi bất kham khan. Chư phương Trưởng lão, bôn Nam tẩu Bắc, bất tri kỳ số. Phân Yên tán hỏa, mãn mục giai thị. Duy sư huynh thần tình bất động, tọa hưởng an dật. Khởi khả dữ lục lục dã, đồng nhật nhi ngữ dã. Khâm thán, khâm thán! Thử đoạn nhân duyên, tự phi đạo sung đức thực, hành giải tương ứng, khởi đa đắc dã. Cánh ký miễn lực, dụ dẫn hậu côn, sử Tào Nguyên hạc nhi phục trướng, giác thụ điêu nhi tái xuân. Thực khu khu hạ hoài chi vọng dã.
Bút Thiếp.
Bút Thiếp.
288.- DỊCH NGHĨA: Từ Thụ Thâm (1) Hòa thượng nói với Kính Sơn Nột (2) Hòa thượng rằng: Trong hai ba mươi năm trở lại đây, chốn thiền môn trở nên tiêu điều vắng vẻ, đến nỗi tôi không muốn ngó nhìn tới. Bậc trưởng lão ở các nơi thì bôn Nam tẩu Bắc, số đó có không biết bao nhiêu mà kể. Việc chia rẽ môn phái cũng đầy rẫy khắp nơi, đâu đâu cũng đều thế. Duy có sư huynh là không động thần tình, ngồi hưởng an nhàn, thực khác xa với kẻ hèn mọn hàng ngày. Ðáng kính thay, đáng khen thay! Ở vào nhân duyên trường hợp ấy, nếu tự mình không phải là người đạo đức đầy đủ, hành giải tương ưng thì đâu có thể làm được. Tôi rất mong sư huynh gắng sức, dụ dẫn hậu côn, khiến cho nguồn Tào Khê đang khô cạn, mà trở lại tràn đầy, cây giác ngộ điêu tàn mà trở nên xanh tốt. Tôi thành thật khấu đầu kỳ vọng ở sư huynh rất nhiều vậy.
Bút Thiếp.
Bút Thiếp.
CHÚ THÍCH:
(1) Từ Thụ Thâm: Tuệ Lâm Từ Thụ Hoài Thâm thiền sư, pháp tự của Trường Lư Sùng Tín thiền sư.
(2) Kính Sơn Nột: Kính Sơn Diệu Không Trí Nột thiền sư, pháp tự của Trường Lư Sùng Tín thiền sư.
(2) Kính Sơn Nột: Kính Sơn Diệu Không Trí Nột thiền sư, pháp tự của Trường Lư Sùng Tín thiền sư.
289.- CHỮ HÁN: Linh Chi Chiếu Hòa thượng viết: "Sàm dữ báng đồng da dị da?". Viết: Sàm tất giả báng nhi thành. Cái hữu báng nhi bất sàm giả, vị kiến sàm nhi bất báng giả dã. Phù sàm chi sanh dã, kỳ thủy nhân ư tăng tật, nhi chung thành ư khinh tín, vi chi giả xiểm nịnh tiểu nhân dã. Cổ chi nhân, hữu thâu trung dĩ phụ quân giả, tận hiếu dĩ sự thân giả, bão nghĩa dĩ kết hữu giả. Tuy quân thần chi tương đắc, phụ tử chi tương ái, bằng hữu chi tương thân, nhất nhật vi nhân sở sàm, tắc phản mục nhương tý, sấn trục ly gián, chí ư tương thị như khấu thù, tuy tại cổ thánh hiền, sở bất năng miễn dã. Nhiên hữu sơ bất năng biện, cửu nhi hậu minh giả. Hữu sinh bất năng biện, tử nhi hậu minh giả. Hữu chí tử bất năng biện, chung cổ bất năng minh giả, bất thả thắng số hỹ. Tử Du viết: "Sự quân xác tư nhục hỹ, bằng hữu xác tư sơ hỹ". Thử sở dĩ giới nhân viễn sàm dã. Ô hô! Sàm dữ báng bất khả bất sát dã. Thả kinh sử tải chi, bất vi bất minh. Học giả lãm chi, mạc bất chi kỳ phi, vãng vãng thân tụ hãm ư sàm khẩu, ế uất chí tử bất năng tự minh giả. Thị tất nộ thụ sàm giả chi bất sát, vi sàm giả chi xiểm nịnh dã. chí hữu quần tiểu chi ký tiền, phục sàm ư tha nhân, tắc hựu thính chi dĩ vi nhiên, thị khả vị thông minh hồ? Cái thiện vi sàm giả, sảo tiện đấu cấu, nghinh hợp mông tế, sử kỳ mãng nhiên, như vi quỷ sở muội, chí hữu chung thân bất năng sát giả. Khổng tử viết: "Sâm nhuận chi tiếm, phu thụ chi tố". Ngôn kỳ Sâm nhuận chi lai, bất sử nhân dự giác. Thị phi lâm tẩu, nhân tất nghi kỳ hữu hổ. Gián hữu bất hành yên giả, tắc vị chi minh đạo quân tử hỹ. Dư dĩ ngu chuyết sơ lai bất hỷ xiểm phụ, vọng duyệt ư nhân, toại đa vị nhân sở sàm báng. Dư văn chi, thiết tự tỉnh viết: "Bỉ ngôn quả thị dư? Ngô đương cải quá bỉ tắc ngã sư dã. Bỉ ngôn quả phi dư? Bỉ diệc đồ vi nhĩ, yên năng mỗi ngã tai. Ư thị nhĩ tuy văn chi, nhi khẩu vị thường biện. Sĩ quân tử sát bất sát, tại bỉ tài thức minh bất minh nhĩ. Ngô thục năng thân kỳ uổng trực, cầu tri ư nhân tai. Nhiên thả bất tri, cửu nhi hậu minh da? Hậu thế nhi hậu minh da? Chung cổ bất minh da? Văn Trung Tử viết: "Hà dĩ tức báng?" Viết: "Vô biện". Ngô đưong sự tư ngữ hỹ.
Chi Ðồ Tập.
Chi Ðồ Tập.
289.- DỊCH NGHĨA: Linh Chi Chiếu (1) Hòa thượng nói: "Dèm pha và chê bai cùng nghĩa hay khác nghĩa vậy ư?". Ðáp: Dèm pha tất phải nhờ vào chê bai mà thành. Vì lẽ, có kẻ chỉ có chê bai mà không có dèm pha, chưa có kẻ dèm pha mà lại không chê bai. Ôi! Nơi phát xuất của sự dèm pha đầu mối là từ chỗ ghen ghét, sau trở thành tâm tin tưởng mỏng manh. Kẻ làm việc ấy tức là kẻ tiểu nhân, xiểm nịnh. Người đời xưa, có kẻ dốc lòng trung để với vua, hết lòng hiếu để thờ cha mẹ, mang điều nghĩa để kết bạn bè, tuy có chỗ tương đắc giữa vua tôi, chỗ tương ái giữa cha con, chỗ tương thân giữa bạn bè. Nhưng một ngày nào đó nếu bị người ngoài dèm pha thì có thể sinh ra những sự việc nhìn nhau bằng hờn giận, sinh ẩu đả lẫn nhau, xua đuổi ly gián nhau, đưa đến chổ coi nhau như quân thù hằn. Những việc này tuy ở ngay địa vị Thánh hiền xưa cũng khó thể tránh được. Song, những việc đó, có việc lúc mới xảy ra không thể biện minh được, nhưng mãi tới sau khi chết rồi mới sáng tỏ. cũng có những việc sau khi chết rồi mà vẫn chưa biện minh và cho đến trọn cả những đời sau cũng vẫn không thể làm cho sáng tỏ được. Những việc như thế rất nhiều không thể kể xiết. Thầy Tử Du (2) nói: "Bầy tôi thờ vua mà can gián nhiều, ấy là nguyên nhân đem lại sự nhục nhã. Bạn bè mà khuyên can nhau nhiều, nhân thế cũng đem lại sự xa nhau". Lời nói trên đây cốt để răn người đới tránh xa lời dèm pha thôi vậy. Ôi! Dèm pha cùng với chê bai, không thể không xét cho kỹ. Và như kinh sử cũng đã chép những điều đó rõ ràng. Người học giả xem đến những chỗ ấy, ai cũng biết nó là trái, thường thường chính thân mình cũng tự giam hãm ở miệng lưỡi kẻ dèm pha, uất ức đến chết mà không thể tự làm sáng tỏ được. Người như thế tất sẽ giận những người chấp nhận lời dèm pha là họ không biết xem xét, nên bị kẻ dèm pha xiểm nịnh ton hót! Dĩ chí có những bọn tiểu nhân đến trước mặt mình mà lại nói lời dèm pha ở những người khác, thì mình lại nghe lời nói ấy cho là phải, như thế sao có thể bảo là người thông minh được ư? Vì lẽ, kẻ giỏi nói lời dèm pha, thì họ rất khéo léo, họ tranh đấu biện bạch, họ đón hợp ý người, họ ngăn che sự thật, khiến cho người nghe mờ mịt, như bị quỷ ếm, làm cho người ta đến suốt đời cũng không thể xét rõ được. Ngài Khổng Tử nói: "Lời dèm pha cũng như nước thấm nhuần, lời tố giác cũng như da cảm thụ". Nói về sự thấm nhuần, nghĩa là nó lặng lẽ từ từ tới không để cho người ta dự đoán mà biết. Tuy Tăng Sâm (3) là người con chí hiếu, thế nhưng người mẹ vẫn ngờ con mình giết người. Tuy ở quán chợ đông người không phải là rừng rậm, mà người ta vẫn ngờ là trong chợ có hổ (4). Vì khiến có những người họ không tin những việc như thế, thì đáng gọi họ là minh đạo quân tử vậy. Tôi vốn dĩ lấy sự ngu muội lười biếng, không thích xiểm nịnh xu phụ, để lừa dối làm đẹp lòng người, nên tôi bị nhiều người sàm báng. Tôi nghe biết chuyện đó, nhưng tôi lại tự trộm nghĩ rằng: Lời nói kẻ kia hẳn là đúng chăng? Nếu đúng thì ta nên đổi lỗi sửa sai và như vậy người kia là thầy ta. Lời nói của kẻ kia hẳn là trái chăng? Nếu quả là trái thì cho kẻ kia chỉ là nơi những lời không đâu mà thôi. Sao có thể hay làm nhơ được tâm tôi. Bởi thế tai tôi tuy có nghe mà miệng tôi chưa từng biện minh. Còn những kẻ sĩ quân tử xét được hay không xét được là do ở tài năng trí thức của họ sáng suốt đó vậy. Tôi cần gì phải giải bày phải trái để mong cầu người ta biết rõ. Song nếu họ không biết được, thì mãi về sau này họ mới rõ được vậy ư? Hay ở đời sau mà họ mới rõ được vậy ư? Hay mãi đời này qua đời khác mà họ cũng vẫn chẳng được rõ vậy ư? Văn Trung Tử (5) nói: "Ðem gì để tắt được sàm báng". Ðáp rằng: "Không cần biện minh". Tôi rất ưa chuộng lời nói đó vậy.
Chí Ðồ Tập.
Chí Ðồ Tập.
CHÚ THÍCH:
(1) Linh Chi Chiếu: Viên Chiếu thiền sư chùa Linh chi, tên chữ là Trạm Nhiên, pháp tự Không Tướng.
(2) Tử Du: Tử Du là đệ tử ngài Khổng tử, tên là Uyển, tên chữ là Tử Du.
(3) Tăng Sâm: Họ Tăng tên Sâm, đệ tử ngài Khổng Tử. Cam Mậu đời Tấn nói: "Nước Lỗ cũng có người tên là Tăng Sâm giết người. Có người đến nói với mẹ ngài Tăng Sâm: "Con bà giết người". Mẹ thầy Tăng Sâm nói: "Con ta là người hiếu thảo không bao giờ giết người". Trả lời xong bà vẫn ngồi yên dệt vải. Lát sau lại có người đến bảo: "Tăng Sâm giết người", bà vẫn thản nhiên. Sau đó lại có người thứ ba tới nói với bà. Bà liền quăng con thoi trèo tường mà chạy.
(4) Trong chợ có hổ: Hàn Tử nói: "Bàng Công Thái Sử Chất ở Hàm Ðan, bảo Nguỵ Vương rằng: Hôm nay có một người nói trong chợ có hổ. Ðại vương nói: Không có. Người thứ hai nói vua có tin chăng? Vua nói: không tin. Người thứ ba nói có hổ vua có tin chăng? Vua nói: Quả nhân tin lời nói đó. Bàng Công nói: Trong chợ không có hổ thì rõ lắm vậy. Nhưng ba người nói trong chọ có hổ vua đã tin cậy, vậy lời nói sàm nịnh phải cẩn thận chớ nên tin vội, xin vua phải xét cho rõ. Vua rất mừng".
(5) Văn Trung Tử: Họ Vương tên Thông, tên chử là Trọng Yêm, người đất Lạc Dương sau khi mất, môn nhân đặt tên hiệu cho ông là Văn Trung Tử.
(2) Tử Du: Tử Du là đệ tử ngài Khổng tử, tên là Uyển, tên chữ là Tử Du.
(3) Tăng Sâm: Họ Tăng tên Sâm, đệ tử ngài Khổng Tử. Cam Mậu đời Tấn nói: "Nước Lỗ cũng có người tên là Tăng Sâm giết người. Có người đến nói với mẹ ngài Tăng Sâm: "Con bà giết người". Mẹ thầy Tăng Sâm nói: "Con ta là người hiếu thảo không bao giờ giết người". Trả lời xong bà vẫn ngồi yên dệt vải. Lát sau lại có người đến bảo: "Tăng Sâm giết người", bà vẫn thản nhiên. Sau đó lại có người thứ ba tới nói với bà. Bà liền quăng con thoi trèo tường mà chạy.
(4) Trong chợ có hổ: Hàn Tử nói: "Bàng Công Thái Sử Chất ở Hàm Ðan, bảo Nguỵ Vương rằng: Hôm nay có một người nói trong chợ có hổ. Ðại vương nói: Không có. Người thứ hai nói vua có tin chăng? Vua nói: không tin. Người thứ ba nói có hổ vua có tin chăng? Vua nói: Quả nhân tin lời nói đó. Bàng Công nói: Trong chợ không có hổ thì rõ lắm vậy. Nhưng ba người nói trong chọ có hổ vua đã tin cậy, vậy lời nói sàm nịnh phải cẩn thận chớ nên tin vội, xin vua phải xét cho rõ. Vua rất mừng".
(5) Văn Trung Tử: Họ Vương tên Thông, tên chử là Trọng Yêm, người đất Lạc Dương sau khi mất, môn nhân đặt tên hiệu cho ông là Văn Trung Tử.
290.- CHỮ HÁN: Lại Am Khu Hòa thượng viết: Học đạo nhân đương dĩ ngô vi kỳ. Cầu chân thiện trí thức quyết trạch chi. Ty đầu tình kiến bất tận, tức thị sinh tử căn bản. Tình kiến tận xứ, tu cứu kỳ tận chi sở dĩ. Như nhân thường tại gia, sầu thập mạ gia trung sự bất thiện. Qui sơn văn: "Kim thời nhân tuy tòng duyên đắc nhất niệm đốn ngộ tự lý, do hữu vô thủy tập khí vị năng đốn tận. Tu giáo cừ,tịnhtrừ hiện nghiệp lưu thức, tức thị tu dã, bất thị biệt hữu hành môn, linh cừ xung hướng". Qui Sơn cổ Phật, cố năng phát thử ngữ. Như hoặc bất nhiên, nhãn quang lạc địa thời, vị miễn thủ cước mang loạn, y cựu như lạc thang bàng giải dã.
290.- DỊCH NGHĨA: Lại Am Khu (1)Hòa thượng nói: Người học đạo phải lấy chỗ liễu ngộ làm kỳ hạn, phải tìm bậc chân thiện trí thức để quyết trạch việc liễu ngộ ấy. Nếu tình kiến còn vướng vít nhưu đầu sợi tơ chưa gột hết, tức vẫn còn là cái cội gốc sanh tử. Khi tình kiến đã gột hết rồi, nên phải xét đến nguyên do chỗ hết tình kiến đó. Cũng như người ở trong nhà, thì những việc ở trong nhà, bất cứ diều gì đều phải hiểu rõ. Ngài Qui Sơn nói: "Người thời nay, tuy theo cơ duyên đã chứng được một niệm đốn ngộ tư lý, nhưng vẫn còn vướng vô thủy tập khí chưa thể gột hết được, còn nên phải dạy cho họ trừ sạch hiện nghiệp lưu thức, đó tức là tu vậy. Nếu không làm như thế thì không có lối đi nào khác để cho họ xu hướng". Qui sơn là bậc cổ Phật, nên mới có thể thốt ra những lời nói ấy, gia hoặc nếu người ta không làm theo như thế, tới khi mắt sáng rơi xuống đất (chết), tất không thế nào tránh khỏi tay chân run rẩy quờ quạng như con cua rớt và vạc nước sôi vậy.
CHÚ THÍCH:
(1) Lại Am Khu: Lại Am Ðạo Khu thiền sư chùa Linh Ẩnn, pháp tự của Ðạo Tràng Cư Tuệ thiền sư.
291.- CHỮ HÁN: Lại Am viết: Luật trung văn: "Tăng vật hữu tứ chủng: Nhất giả thường trụ thường trụ, nhị giả thập phương thường trụ, tam giả hiện tiền thường trự, tứ giả thập phương hiện tiền thường trụ. Thả thường trụ chi vật, bất khả ty hào hữu phạm, kỳ tội phi khinh. Tiên thánh hậu thánh, phi bất đinh ninh. Vãng vãng văn giả, vị tất năng tín, tín giả vị tất năng hành. Sơn Tăng hoặc xuất hoặc xử, vị thường bất dĩ thử, thiết thiết giới ý, do khủng hữu sở vị chí, nhân thuật kệ dĩ tự cảnh vân: "Thập phương Tăng vật trọng như sơn, vạn kiếp thiên sinh khởi dị hoàn. Kim khẩu cộng đàm tằng vị tín, tha niên tranh miễn thiết thành quan. Nhân thân nan đắc hảo tư lường, đầu giác sinh thời tuế nguyệt tràng. Kham tiếu tham tha nhật nạp mễ, đẳng nhàn thất khước bán niên lương".
291.- DỊCH NGHĨA: Lại Am nói: Trong Luật nói: Tăng vật có bốn thứ:
a.- Thường trụ thường trụ,
b.- Thập phương thường trụ.
c.- Hiện tiền thường trụ.
d.- Thập phương hiện tiền thường trụ.
b.- Thập phương thường trụ.
c.- Hiện tiền thường trụ.
d.- Thập phương hiện tiền thường trụ.
Ðã là vật của thường trụ thì không được xâm phạm vào một mảy may, vì tội ấy rất nặng. Bậc tiên thánh hậu thánh cũng đều đinh ninh khuyên răn. Thường thường những người nghe biết, nhưng vị tất đã hay tin. Vì người đã tin cũng vị tất chịu làm theo. Sơn Tăng này hoặc đi ra ngoài, hoặc ở trong chùa, lúc nào cũng ghi lời răn ấy trong tâm khảm. Tuy thế còn sợ có chỗ chưa tới được, nên thuật bài kệ để tự cảnh rằng:
Mười phương Tăng vật nặng như sơn,
Muôn kiếp ngàn đời dễ trả đền.
Lời Phật nói ra mà chẳng giữ,
Ngày kia ngục sắt chớ kêu oan.
Thân người khó được phải suy lường,
Thú vật sinh vô kiếp số trường.
Hạt gạo tham chi cho khổ cực,
Ðền bù mất cả nửa năm lương.
Muôn kiếp ngàn đời dễ trả đền.
Lời Phật nói ra mà chẳng giữ,
Ngày kia ngục sắt chớ kêu oan.
Thân người khó được phải suy lường,
Thú vật sinh vô kiếp số trường.
Hạt gạo tham chi cho khổ cực,
Ðền bù mất cả nửa năm lương.
292.- CHỮ HÁN: Lại Am viết: Niết Bàn kinh văn: "Nhược nhân văn thuyết Niết bàn nhất cú nhất tự, bất tác tự tướng, bất tác cú tướng, bất tác văn tướng, bất tác Phật tướng, bất tác thuyết tướng, như thị nghĩa giả danh vô tướng tướng". Ðạt Ma đại sư hàng hải nhi lai, bất lập văn tử giả, cái minh vô tớng chi chỉ, phi Ðạt Ma tự xuất tân ý, biệt lập môn hộ. Cận thế học giả bất ngộ tư chỉ, ý vị thiền tôn biệt thị nhất chủng pháp môn. Dĩ thiền vi tôn giả, phi kỳ giáo, dĩ giáo vi tôn giả, phi kỳ thiền. Toại thành lưỡng gia chi thuyết, hỗ tương để tí, nao nao bất năng tự dĩ. Y sở văn thiển lậu, nhất chí ư thử. Phi ngu tức cuồng, thậm khả thán tức dã.
Tâm Ðịa pháp môn.
Tâm Ðịa pháp môn.
292.- DỊCH NGHĨA: Lại Am nói: Kinh Niết Bàn chép: "Nếu có người nào nghe người nói kinh Ðại Niết Bàn một câu hay một chữ, mà người đó không khởi ra tướng của chữ, không khởi ra tướng của câu, không khởi ra tướng nghe, không khởi ra tướng Phật, không khởi ra tướng nói, những người như thế gọi là Vô tướng tướng". Ðạt ma đại sư vượt biển tới Ðông độ, ngài không lập ra văn tự, đó là làm sáng tỏ ý chỉ của Vô tướng, chứ không phải ngài đặt ra ý mới, hay lập riêng pháp môn nào khác. Ðời gần đây, những người học đạo không liễu ngộ được ý đó, nên họ bảo rằng Thiền tôn là một pháp môn riêng biệt. Người lấy môn Thiền làm tôn thì lại chê môn Giáo. Người lấy môn Giáo làm tôn thì lại chê môn Thiền. Như vậy liền trở thành học thuyết của hai nhà, rồi trở nên tranh chấp chê bai lẫn nhau, kéo dài liên miên mãi không dứt. Ôi! Do nơi nghe hiểu nông cạn mà đưa đến như thế thì quả thật không phải là ngu cũng tức là cuồng, thật đáng thở dài mà than trách vậy.
Tâm Ðịa pháp môn.
Tâm Ðịa pháp môn.
THIỀN LÂM BẢO HUẤN Quyển Thứ Tư
Hết Toàn bộ gồm tất cả là hai trăm chín mươi hai (292) bài.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.28/8/2019.
Hết Toàn bộ gồm tất cả là hai trăm chín mươi hai (292) bài.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.28/8/2019.


No comments:
Post a Comment