Wednesday, February 3, 2021

Phat A Di Da GIẢI: PHẨM THUYẾT PHÁP - KINH VÔ LƯỢNG NGHĨA Bồ Tát Đạo - Độ Chúng Sanh Thoát Sanh Tử (Audio) Audio Player Lúc ấy, Đại Bồ Tát Đại Trang Nghiêm cùng với tám mươi ngàn vị đại Bồ Tát khác đọc kệ khen Phật như vậy rồi, cùng nhau bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn ! Chúng con cả thảy tám mươi ngàn Bồ Tát, nay đối với giáo pháp của Như Lai có chỗ muốn thưa hỏi, chẳng biết Thế Tôn có rủ lòng thương mà nghe chăng ?” Phật bảo Bồ Tát Đại Trang Nghiêm và tám mươi ngàn Bồ Tát ấy rằng: “Lành thay, lành thay ! Thiện nam tử, khéo biết đúng lúc thưa hỏi, hãy cứ tùy ý. Còn chẳng bao lâu Như Lai sẽ nhập Niết-bàn. Ta sẽ khiến cho sau đó chẳng còn ai nghi ngờ gì nữa. Như [các ông] có điều muốn hỏi, Ta sẽ nhân đây mà giảng giải cho.” Liền đó, Bồ Tát Đại Trang Nghiêm và tám mươi ngàn Bồ Tát (các vị thực hiện Bồ tát đạo) đồng thanh bạch Phật rằng: “Thế Tôn ! Bồ Tát muốn mau thành quả Phật nên tu hành những pháp môn nào ? Những pháp môn nào có thể khiến Bồ Tát mau thành quả Phật ?” Phật bảo các vị Bồ Tát rằng: “Thiện nam tử ! Có một pháp môn có thể khiến Bồ Tát mau thành quả Phật. Nếu Bồ Tát nào học pháp môn ấy, có thể mau thành quả Phật.” “Bạch Thế Tôn ! Pháp môn ấy gọi tên là gì ? — Ý nghĩa như thế nào ? — Bồ Tát phải tu hành như thế nào ?” Phật dạy: “Thiện nam tử ! Pháp môn ấy gọi là Vô Lượng Nghĩa. Bồ Tát muốn tu học pháp Vô Lượng Nghĩa ấy, nên quán sát hết thảy các pháp: từ xưa cho đến nay tánh tướng vốn không tịch, chẳng lớn chẳng nhỏ, chẳng sanh chẳng diệt, không phải trụ, không phải động, không tiến, không lùi, giống như hư không. Chẳng hề có hai pháp (chỉ một pháp duy nhất), nhưng chúng sanh hư vọng chấp kể rằng: đây là cái này, đây là cái kia, thế này là được, thế này là mất… khởi lên ý nghĩ chẳng lành, tạo ra những nghiệp dữ, luân hồi trong sáu nẻo [sáu cõi], chịu mọi thứ khổ độc. Trải qua vô lượng kiếp, không thể tự ra khỏi được (không thể tự thoát sanh tử luân hồi). Bồ Tát quán xét thật kỹ như vậy, sanh lòng thương xót, phát tâm đại từ bi, muốn cứu bạt hết thảy khổ nạn “Rồi lại quán sâu vào hết thảy các pháp (thâm nhập tất cả các pháp): pháp tướng như thế này, sanh ra pháp như thế này; pháp tướng (pháp tướng) như thế này, trụ pháp như thế này (không biến đổi trong một thời gian); pháp tướng (hình tướng + hữu vi) như thế này, biến đổi pháp như thế này (thành vô tướng); pháp tướng như thế này, hoại diệt pháp như thế này (các lời giảng cuối cùng sẽ là “Không”). pháp tướng như thế này có thể sanh ác pháp (sanh khởi lời giảng không đúng); pháp tướng như thế này có thể sanh thiện pháp (sanh khởi lời giảng đúng). Các tướng trụ, dị, diệt lại cũng như vậy. Bồ Tát quán sát bốn tướng từ khởi đầu đến cuối cùng, tất theo đó mà hiểu biết được cùng khắp tất cả. “Kế đó [Bồ tát] lại quán xét hết thảy các pháp : trong từng giây phút chẳng hề trụ yên, liên tục sanh ra rồi diệt đi. Lại quán xét thấy cả bốn tướng sanh, trụ, dị, diệt đều đồng thời xảy ra. Quán xét như vậy rồi, Bồ Tát hiểu rõ được căn tánh (nhận biết được chỗ hiểu), chỗ tham muốn của từng chúng sanh. Vì [chúng sanh] tham muốn vô lượng, nên [Phật] thuyết pháp vô lượng. Vì thuyết pháp vô lượng, nên nghĩa cũng vô lượng. “Vô Lượng Nghĩa ấy (là : những nghĩa do từ chỗ hiểu, chỗ tham muốn của chúng sanh _ mà có) từ một pháp sanh ra. Một pháp ấy, tức là vô tướng. Cái vô tướng như thế (cũng là : cái vô tướng do từ chỗ hiểu theo căn tánh và chỗ tham muốn của chúng sanh _ mà có) là chẳng có tướng nào không phải tướng (=> không có cái nào là vô tướng cả). Chẳng có tướng nào không phải tướng, gọi đó là thật tướng.“ Bồ Tát trụ yên nơi tướng chân thật như thế rồi (trụ yên nơi chỗ hiểu sai), có phát khởi lòng từ bi sẽ đúng thật minh bạch, chẳng hề hư vọng. Đối với chúng sanh, thật có thể cứu bạt mọi khổ nạn. Cứu bạt khổ nạn rồi, lại thuyết pháp cho [chúng sanh] nghe, khiến [chúng sanh] được thọ hưởng sự khoan khoái, vui vẻ. “Thiện nam tử ! Nếu Bồ Tát có thể theo như thế (thực hành theo lời dạy vừa rồi) mà tu pháp môn Vô Lượng Nghĩa ấy, ắt sẽ mau đắc thành Vô thượng Bồ đề. “Thiện nam tử ! Kinh Đại thừa Vô Lượng Nghĩa này sâu xa, cao cả hơn hết, ý nghĩa chân thật, chính đáng, tôn quý hơn hết. Ba đời chư Phật đều giữ gìn, bảo hộ (gồm : chư Phật cõi đức Phật A-di-đà, chư vị trong cõi Ta Bà của đức Phật Thích Ca và chư vị đức Phật Di Lạc _ giáo hóa) ; chúng ma, ngoại đạo không thể xâm nhập vào. Tất cả tà kiến sanh tử không thể làm cho hư hoại được. “Thiện nam tử ! Vì vậy nên Bồ Tát muốn mau thành Vô thượng Bồ-đề, nên tu học kinh Đại thừa Vô Lượng Nghĩa thâm sâu, cao cả nhất này.” Lúc ấy, Bồ Tát Đại Trang Nghiêm lại bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn ! Chỗ thuyết pháp của Thế Tôn không thể nghĩ bàn. Căn tánh (chỗ hiểu) của chúng sanh cũng không thể nghĩ bàn. Pháp môn giải thoát lại cũng không thể nghĩ bàn. Chúng con đối với các pháp (đối với các lời giảng) mà Phật thuyết không còn nghi nan, nhưng vì tâm tánh chúng sanh còn sanh mê hoặc, nên phải thưa hỏi lại thế này. “Bạch Thế Tôn ! Từ khi Như Lai đạt Vô thượng Chánh Đẳng Giác đến nay, hơn bốn mươi năm, thường vì chúng sanh diễn thuyết các pháp: Nghĩa của bốn tướng, nghĩa khổ, nghĩa không, vô thường, vô ngã, không lớn không nhỏ, không sanh không diệt ; một tướng vô tướng, từ xưa đến nay pháp tánh pháp tướng vốn là không tịch, chẳng đến, chẳng đi, chẳng hiện ra, chẳng biến mất. Người nghe thuyết pháp (nghe các lời giảng này của Như Lai), hoặc được Noãn pháp, Đỉnh pháp, Nhẫn pháp, Thế đệ nhất pháp, được quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, quả A-la-hán, quả Bích-chi Phật, hoặc phát tâm Bồ-đề, được Đệ nhất địa, Đệ nhị địa, Đệ tam cho đến Đệ thập địa. Nghĩa của các pháp đã thuyết ngày trước với nghĩa được thuyết hôm nay có gì khác nhau chăng mà nói rằng: Kinh Đại thừa Vô Lượng Nghĩa sâu xa, cao cả nhất này, nếu Bồ Tát tu hành ắt mau được thành Vô thượng Bồ-đề ? Việc ấy là thế nào ? — Nguyện đức Thế Tôn rủ lòng thương xót hết thảy chúng sanh mà phân biệt rõ, giúp cho người nghe pháp hôm nay cũng như về sau không còn nghi ngờ nữa.” Liền đó, Phật bảo Bồ Tát Đại Trang Nghiêm rằng: “Lành thay, lành thay ! Đại thiện nam tử, có thể thưa hỏi Như Lai về nghĩa Đại thừa thâm sâu, vi diệu, cao cả hơn hết như thế (hỏi : ý nghĩa lời giảng về Bồ tát đạo – sâu xa và tối thượng do đức Phật thuyết giảng). Nên biết rằng ông có thể giúp nhiều lợi ích, an lạc cho người và chư thiên, cứu bạt khổ não cho chúng sanh (: cứu chúng sanh thoát sanh tử luân hồi). Thật là đại từ bi, có lòng tin chân thật chẳng thể hư hoại. Vì nhân duyên ấy (tức là : do có lòng tin chân thật về ý nghĩa sâu xa và tối thượng của kinh Đại thừa Vô Lượng Nghĩa), Ông sẽ mau được thành Vô thượng Bồ-đề, lại khiến cho nhiều chúng sanh hiện tại và sau này được thành Vô thượng Bồ-đề. * Bồ tát đạo là đạo của các cõi Phật và cõi Ta Bà để độ hóa chúng sanh thoát sanh tử luân hồi – quy luật của cõi Dục. “Thiện nam tử ! Từ khi Ta ở nơi đạo tràng dưới cội Bồ-đề thành tựu Vô thượng Chánh Đẳng Giác [A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề], dùng Phật nhãn quán sát thấy tất cả các pháp không thể tuyên thuyết được. Vì sao vậy ? — Vì căn tánh (chỗ hiểu), lòng tham muốn (sự mong cầu) của chúng sanh chẳng đồng như nhau. Vì căn tánh và lòng tham muốn chẳng đồng nhau, nên phải dùng nhiều phương cách thuyết pháp. Hơn bốn mươi năm qua ta dùng sức phương tiện mà thuyết pháp, thật chưa nói rõ được lẽ chân thật đệ nhất. Vì thế mà chúng sanh tuy đắc đạo nhiều bậc khác nhau, nhưng chẳng được mau thành Vô thượng Bồ-đề. “Thiện nam tử ! Pháp tỷ như nước, có thể rửa sạch được sự dơ nhớp (nghiệp luân hồi). Dù là nước giếng, nước ao, nước sông, nước biển… thảy đều rửa sạch được sự dơ nhớp. Pháp cũng như vậy, có thể rửa sạch được sự dơ nhớp phiền não của chúng sanh (=> lời giảng nào cũng đều giải được nghiệp luân hồi cho chúng sanh). “Thiện nam tử ! Tánh của nước chỉ là một mà thôi, nhưng giếng, ao, sông, biển… thì khác nhau. Tánh của các pháp cũng vậy, đều rửa trừ được bụi bặm trần lao (=> các lời Phật giảng đều giải được nghiệp luân hồi cho chúng sanh), không có khác biệt. Tuy nhiên, Tam pháp, Tứ quả, Nhị đạo là phân biệt, chẳng phải một. “Thiện nam tử ! Nước ở các nơi tuy đều có thể dùng để rửa sạch được cả, nhưng giếng chẳng phải là ao, ao chẳng phải là sông, sông chẳng phải là biển. Như Lai là bậc Thế hùng tự tại đối với các pháp, thuyết diễn các pháp cũng giống như vậy (=> đều giải được nghiệp luân hồi cho chúng sanh). Những pháp (các lời giảng) mà Ngài thuyết ra ban đầu, khoảng giữa, về sau, thảy đều có thể trừ sạch phiền não của chúng sanh. Tuy nhiên, ban đầu chẳng phải khoảng giữa, khoảng giữa chẳng phải về sau. Những pháp thuyết ra, văn từ tuy là một, nhưng vào lúc đầu, khoảng giữa, về cuối lại mang nghĩa (mang ý nghĩa) khác nhau. “Thiện nam tử ! Ta rời khỏi cây Thọ vương đến vườn Lộc-dã thành Ba-la-nại, vì nhóm ông A-nhã Câu-lân năm người mà chuyển bánh xe pháp Tứ đế, thuyết dạy rằng: ‘Các pháp xưa nay vốn không tịch (vô tướng), chuyển đổi không dừng nghỉ, niệm niệm sanh diệt (vô thường).’ “Khoảng thời gian sau đó, Ta thuyết pháp ở đây và khắp mọi nơi khác, vì chư Tỳ-kheo và Bồ Tát mà phân biệt giảng thuyết Mười hai nhân duyên, Sáu ba-la-mật. Cũng thuyết dạy rằng: ‘Các pháp xưa nay vốn không tịch, chuyển đổi không dừng nghỉ, niệm niệm sanh diệt.’ “Nay Ta ở đây, diễn thuyết kinh Đại thừa Vô Lượng Nghĩa (lời giảng về Bồ tát đạo cho các cõi). Cũng lại thuyết dạy rằng: ‘Các pháp xưa nay vốn không tịch, chuyển đổi không dừng nghỉ, niệm niệm sanh diệt.’ “Thiện nam tử ! Vậy nên sự thuyết pháp [của Như Lai] lúc ban đầu, khoảng giữa, hiện nay, văn từ tuy là một nhưng nghĩa khác nhau (nhưng ý nghĩa khác nhau). Bởi nghĩa khác nhau, nên chỗ hiểu của chúng sanh cũng khác nhau. Bởi chỗ hiểu khác nhau, nên sự đắc pháp, đắc quả, đắc đạo cũng khác nhau. “Thiện nam tử ! Ban đầu ta thuyết Tứ đế với những người cầu Thanh văn, nhưng có tám trăm ngàn chư thiên cũng đến nghe pháp phát tâm Bồ-đề. “Thời gian sau đó, Ta giảng thuyết Mười hai nhân duyên rất thâm sâu với những người cầu quả Phật Bích-chi, nhưng có vô lượng chúng sanh phát tâm Bồ-đề, hoặc được đắc nhập vào pháp Thanh văn. “Về sau, Ta thuyết dạy Mười hai bộ kinh Phương đẳng, Ma-ha Bát-nhã, Hoa nghiêm Hải không, nói việc Bồ Tát tu hành trải qua nhiều kiếp, nhưng có trăm ngàn tỳ-kheo, vạn ức người và chư thiên, vô lượng chúng sanh được đắc quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, hoặc đắc nhập vào pháp nhân duyên của hàng Phật Bích-chi. ** Phật giảng pháp này – thì đệ tử Phật, chư thiên, người đời … đạt quả khác. Nghĩa là – ngay khi đức Phật Thích Ca còn tại thế – chúng sanh cõi Dục đã không hiểu được ý nghĩa lời Phật giảng “Thiện nam tử ! Vì nghĩa ấy, nên phải biết rằng sự thuyết dạy tuy giống như nhau nhưng nghĩa lại khác nhau. Bởi nghĩa khác nhau, nên chỗ hiểu của chúng sanh cũng khác nhau; sự đắc pháp, đắc quả, đắc đạo cũng khác nhau. “Thiện nam tử ! Vậy nên từ khi Ta thành đạo bắt đầu thuyết pháp, cho tới ngày nay diễn thuyết kinh Đại thừa Vô Lượng Nghĩa, chưa có khi nào mà chẳng thuyết những lẽ khổ, không, vô thường, vô ngã, chẳng phải chân, chẳng phải giả, chẳng phải lớn, chẳng phải nhỏ, xưa vốn chẳng sanh, nay cũng chẳng diệt, một tướng vô tướng, pháp tánh pháp tướng chẳng đến chẳng đi; nhưng có sự chuyển đổi bốn tướng của chúng sanh. “Thiện nam tử ! Hiểu theo nghĩa ấy (là hiểu : đức Phật – tuy thuyết giảng pháp vô tướng – nhưng cũng có thuyết giảng về sự chuyển đổi – vô thường của pháp tướng), chư Phật chẳng nói hai lời. Nhưng [chư Phật] có thể dùng một thứ tiếng mà phổ ứng các thứ tiếng, có thể dùng một thân mà chỉ ra cho thấy vô số thân nhiều như số cát của trăm ngàn vạn ức na-do-tha vô lượng vô số sông Hằng. Mỗi một thân ấy, đều lại chỉ ra cho thấy các loại hình khác nhau nhiều vô số như số cát của trăm ngàn vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ sông Hằng. Mỗi một hình ấy, lại chỉ ra cho thấy vô số hình nhiều như số cát của trăm ngàn vạn ức na-do-tha a-tăng-kỳ sông Hằng. “Thiện nam tử ! Đó là cảnh giới thâm sâu không thể nghĩ bàn của chư Phật, chẳng phải chỗ mà hàng Nhị thừa có thể biết được. Cho đến Bồ Tát Thập trụ cũng không thấu đến, chỉ có Phật với Phật mới có thể hiểu rõ. “Thiện nam tử ! Vậy nên Ta nói rằng kinh Đại thừa Vô Lượng Nghĩa (lời giảng về Bồ tát đạo cho các cõi) là vi diệu, sâu xa, cao cả hơn hết ; ý nghĩa chân thật, chính đáng, tôn quý hơn hết. Ba đời chư Phật đều giữ gìn, bảo hộ ; chúng ma, ngoại đạo không thể xâm nhập vào. Tất cả tà kiến sanh tử không thể làm cho hư hoại được. Nếu Bồ Tát muốn mau thành Vô thượng Bồ-đề, nên tu học (tu học theo lời hướng dẫn của) kinh Đại thừa Vô Lượng Nghĩa, thâm sâu, cao cả hơn hết như thế này.” Phật thuyết như vậy rồi, liền đó tam thiên đại thiên thế giới đều chấn động sáu cách. Tự nhiên trên không mưa xuống đủ các loại hoa cõi trời như ưu-bát-la, bát-đàm-ma, câu-vật-đầu, phân-đà-lỵ. Lại mưa xuống vô số các loại hương cõi trời, các loại y phục, chuỗi ngọc, châu báu vô giá trên cõi trời. Các món ấy từ trên không trung dần dần hạ xuống cúng dường Phật và chúng Bồ Tát, Thanh văn. Lại có những món ăn đủ trăm mùi vị được nấu ở nhà bếp cõi trời, đựng trong các chén bát cõi trời, hiện ra đầy đủ, dư dật. Các loại cờ xí, lọng phướn, nhạc cụ vi diệu trên cõi trời được bày biện ra khắp nơi, trỗi lên âm nhạc cõi trời để ca ngợi, tán thán Phật (=> quang cảnh cúng dường pháp hội Phật _ như đã diễn tả trong phẩm Đức Hạnh) : Lại chấn động sáu cách lần nữa. Các thế giới chư Phật ở phương đông, nhiều như số cát sông Hằng, cũng mưa xuống những hoa, hương cõi trời, các loại y phục, chuỗi ngọc, châu báu vô giá trên cõi trời. Lại có những món ăn đủ trăm mùi vị được nấu ở nhà bếp cõi trời, đựng trong các chén bát cõi trời; các loại cờ xí, lọng phướn, nhạc cụ vi diệu trên cõi trời trỗi lên âm nhạc cõi trời để ca ngợi, tán thán chư Phật cõi ấy và chúng Bồ Tát, Thanh văn. Ở phương nam, phương tây, phương bắc, bốn phương phụ, phương trên, phương dưới cũng đều như vậy. Bấy giờ trong chúng hội có ba mươi hai ngàn vị đại Bồ Tát liền được phép Tam-muội Vô Lượng Nghĩa. Hai mươi bốn ngàn vị đại Bồ Tát được vô lượng vô số môn Tổng trì, có thể chuyển bánh xe Pháp của hết thảy chư Phật ba đời, chẳng để thối lui…HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.4/2/2021.

No comments:

Post a Comment