GIẢI THOÁT ĐẠO LUẬNVIMUTTI MAGGA
|
PHẦN TÌM HIỂU
Phần Tìm hiểu Phẩm 12: Phân biệt Đế.
Chi 1: Phân biệt trí, Khởi Diệt trí, Quán Diệt trí.
Chuyển tiếp: Trong Phẩm 11, Chi 2: Thánh đế Phương tiện, Luận văn trình bày nội dung của Bốn Chơn Lý Nhiệm mầu: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế.Nơi Phẩm 12 nầy, Luận văn chỉ cách vận dụng Trí huệ để nhìn thấy rõ ràng và thực hành theo lời dạy trong Tứ đế. Riêng trong Chi 1, Luận văn phân tách Trí huệ ra: Phân biệt trí, Khởi Diệt trí và Quán Diệt trí, là các giai đoạn của Trí Huệ lần lượt trải qua khi học tập về Bốn Chơn lý Nhiệm mầu. 089. Dàn bài chi tiết của Chi 1, Phẩm 12:I. Nhập đề: Người toạ thiền sau khi đã hiểu rõ năm phương tiện: ấm, nhập, giới, nhân duyên và bốn thánh đế, còn phải làm sao cho Trí huệ Bát-nhã khởi lên để nhìn thấy rõ ràng bằng huệ nhãn, sự sanh khởi, sự tồn tại và sự tiêu diệt của năm thọ ấm. Phẩm 12 nầy nói rõ sự phân biệt các Đế, bằng con mắt của Trí huệ. II. Thân bài: Chi 1 lần lượt xét qua các Trí sau đây: (1) Phân biệt tri, (2) Khởi Diệt trí, và (3) Quán Diệt trí. - chỉ có Danh và Sắc (= chư hành) thôi - khi nào khổ ấm khởi lên - khi nào khổ ấm diệt đi - con đường nào đầy đủ để tận diệt các nguyên nhân đã làm khởi lên khổ ấm. 22. Danh-Sắc đó biến chuyển mãi: vô thường23. Khổ ấm theo đó khởi lên tương tục: khổ;24. Danh-Sắc đó do nhân duyên mà khởi lên, vì chẳng có tự tánh, chẳng thật: vô ngã. và vô ngã, bằng huệ nhãn. 1. Ba cách nắm giữ tướng của ba đặc tướng: - tiếp xúc với đối tượng của năm ấm; bằng Huệ nhãn, theo ba cách: 54. Do thấy tướng khởi của Nhân duyên, mà thông đạt được mối tương quan giữa sự hiện hữu và sự khởi thành: cái nầy khởi, nên khiến cái kia cùng khởi theo55. Do thấy tướng diệt của Nhân duyên, mà thông đạt được mối tương quan giữa sự tận diệt và sự vô sanh: cái nầy đã diệt, nên khiến cái cùng diệt theo.56. Như thế, nhờ Huệ nhãn thông đạt được Khổ đế và Diệt đế, mà hành giả chứngđược tướng vô sanh.57. Đoạn trừ được các tà kiến: - bỏ thường kiến, đoạn kiến, chứng được vô thường kiến; 1. Quán đối tượng của sắc, thọ, tưởng, hành và thức. 2. Quán sự sanh khởi và tàn diệt của các tâm sở đang quán sát đối tượng của mỗi ấm; 3. Do ba cách mà huệ nhãn nhìn thấy sự diệt của Tâm và các tâm sở: 32. Do song hành: - Theo sắc là vô thường, quán về vô thường, mà thấy được tâm và tâm sở khi sanh, khi diệt, cũng vô thường. 42. Các pháp Danh-Sắc đó do nhân duyên sanh khởi, rồi do nhân duyên mà biến diệt 43. Chúng tồn tại được cũng tùy thuộc vào các pháp khác, lại sanh thêm pháp hữu lậu. 44. Thân nầy cũng thế, yếu ớt, luôn tùy thuộc vào chư hành, chẳng biết được từ đâu đến, cũng chẳng rõ được sẽ đi về đâu. 45. Tâm nầy vô ngã, ràng buộc với khổ, lạc; chẳng có trong quá khứ, chẳng hiện ở vị lai: ''hiện trú đây chỉ toàn là các ấm."46. Muôn pháp như Hư-không, chỉ phút chốc hiện lên rồi diệt mất tựa như điện chớp. 6. Lúc đó, nếu chưa rõ được pháp Thiền, tâm sẽ tán loạn hoặc sanh kiêu mạn. Phân biệt trí: Phân = chia ra, lựa ra; Biệt = riêng rẻ. Trí Phân biệt là khả năng của Trí huệ biết lựa chọn chẳng lẫn lộn, mỗi thứ riêng biệt ra, trong chỗ còn chưa có thứ tự. Thí dụ như thấy có hai người giống nhau, biết nhận ra người nào tên gì, đó là khả năng của Trí Phân biệt. Khởi Diệt trí: Khởi = khởi lên, sanh ra, có mặt ở đó; Diệt = tiêu mất, chẳng còn hiện hữu nữa, vắng bóng luôn luôn; Khởi Diệt trí là khả năng của Trí huệ biết nhận thấy rõ hai sự kiện: (1) Khởi, sự khởi sanh lên của sự vật; (2) Diệt, sự tận diệt của sự việc ấy. Khởi Diệt trí như thế nhìn thấy rõ sự việc: từ lúc khởi đầu, mãi cho đến lúc tận diệt. Thí dụ như nhìn thấy sự giận dữ nổi lên ở tâm một người rồi lần lần nguôi giận, đó là khả năng quán sát của Trí Khởi Diệt, tức là cái Trí quán sát sự Khởi và sự Diệt của muôn sự vật. Quán Diệt trí: Quán = quan sát trong tâm; Diệt = sự tiêu diệt, sự mất hết đi; Quán Diệt trí là khả năng quán sát của Trí Huệ nhìn thấy rõ ràng sự tận diệt của sự việc. Như thế, so với Khởi Diệt trí bên trên, thì Quán Diệt trí có khả năng hẹp hơn Khởi Diệt trí, vì trí sau nầy quán sátđược hai sự việc: khởi sanh và tiêu diệt; trong khi Quán Diệt trí chỉ quán sát có một sự việc: sự tận Diệt mà thôi. Tuy nhiên, khả năng quán sát của Quán Diệt trí tuy hẹp nhưng mà thâm sâu hơn Trí Khởi Diệt. Tại sao? Vì Quán Diệt trí chẳng những nhìn thấy sự Diệt rõ ràng, mà còn nhận thức được cả các nguyên nhân xa, gần đã gây nên sự tận diệt nữa, cùng cảnh giới yên vắng nầy. Vô thủy = Vô thỉ: Vô = chẳng có, Thủy, Thỉ = buổi đầu, lúc mới bắt đầu. Kinh sách thường nói "Từ vô thuỷ đến nay", có nghiã là từ lúc xa xưa, thật là xưa, chẳng thể biết được lúc nào là lúc khởi đầu. Sát-na: Xem lại trang 536, Ph. 11 Mâu kích: Mâu = một thứ binh khí thời xưa, cán dài, mũi nhọn, dùng để đâm; Kích = một thứ binh khí thời xưa, cán cũng dài, mũi nhọn có móc, cũng dùng để đâm. Luận văn có nói "Thí dụ về ba trăm mâu kích" trong một bản Kinh, tôi còn chưa tìm thấy xuất xứ, có lẽ đó chỉ sự nguy hiểm đang phải đối đầu vì đang gặp nhiều binh khí chực giết chết. Tương ưng: Tương = gần gũi; Ưng= Ứng = hiện lên đúng theo, hợp với. Tương ưng là phù hợp với. Câu "ý tưởng tương ưng theo tự tướng", có nghiã là hình tướng như thế nào thì phải có ý tưởng về hình tướng đó cho thật đúng, thật giống. Xem lại trang 369, Phẩm 6. Tự tướng: Tự = riêng cho mình; Tướng = hình tướng. Tự tướng là tướng đặc biệt của một sự vật. Trái nghiã với chữ tự tánh, là đặc tánh riêng tánh chất riêng biệt. Di chuyển: Di = dời đi chỗ khác; Chuyển = động, thay đổi. Di chuyển là rời đi chỗ khác, có sự động đậy tiến tới. Kết tụ: Kết = gom lại và buộc lại chung với nhau; Tụ = họp lại. Kết tụ là hội nhau lại thành một nhóm; trái nghiã với chữ phân tán, rời nhau ra, rã rời. Tri kiến thanh tịnh như thật: Tri = biết; Kiến = thấy; Thanh = trong; Tịnh = sạch; Như = như thế; Thật = sự thật. Tri kiến thanh tịnh như thật có nghiã là sự hiểu biết trong sạch đúng như sự thật. Mô tả = miêu tả, tả hình dáng. Toạ thiền: Toạ = ngồi; Toạ thiền là ngồi thiền. Khổ ấm: Khổ = sự đau khổ; ấm = sự tập hợp chung lại thành nhóm. Kinh sách dùng chữ Khổ ấm để chỉ toàn thể các nỗi khổ nói chung. Thức thân: Thức = biết, hay biết; Thân = thân thể. Có lẽ chữ Thức thân nói đến các sự hay biết của thân, thường gọi là thân thức chăng? Nơi trang 278, Luận văn viết sáu thức thân, có lẽ muốn nói các cảm giác, tri giác về các giác quan ở trên thân. Tư thân: Tư = suy nghĩ, tư duy; Thân = thân thể; Có thể hiểu hai cách: (1) suy nghĩ về thân tâm; (2) sự suy nghĩ nơi thân tâm. Ái thân: Ái = thương, thích; Thân = thân thể; Ái thân là sự quá mê thích, tríu mến tấm thân. Giác thân: Giác = hay biết, biết rõ; Thân = thân thể; Giác thân có thể là (1) sự hay biết liên quan đến thân tâm, (2) hay là chính thân tâm đó đang hay biết. Thăng trầm: Thăng = lên cao; Trầm = chìm xuống thấp. Thăng trầm là sự lên xuống, lúc cao lúc thấp. Bất động: Bất = chẳng, chẳng phải, chẳng có; Động = lay động, biến động; Bất động là chẳng lay động, giữ im lìm. Lạc tưởng: Lạc = vui; Tưởng = ý tưởng; Lạc tưởng là có ý vui, vừa ý. Ở đây, trang 279, Luận văn nói đến lạc tưởng là muốn nói rằng có ý vui trước một sự việc đáng lẽ phải có tư tưởng buồn khổ. Lạc tưởng trái nghiã với khổ tưởng. Vô tướng: Vô = chẳng có; Tướng = hình tướng. Chữ vô tướng dùng để chỉ tình trạng các sự vật vô vi, chẳng do sự tạo dựng mà nên, vì thế chẳng có hình tướng. Giữ tâm an trú trong cảnh giới vô tướng, có nghiã là, tâm vắng vẻ, thanh tịnh, chẳng bị vướng bận vì hình tuớng, chẳng vì sự đổi thay hình dạng của các sự vật cụ thể, hữu vi, do sự tạo tác mà nên. Nói cách khác, tình trạng vô tướng tương đương với Không giới, nơi trống rỗng, vắng lặng, chẳng chứa đựng gì. Xem lại chữ Vô tướng, trang 338, Ph.2 Vô nguyện: Vô = chẳng có; Nguyện = lời cầu nguyện, sự mong muốn, ao ước. Vô nguyện là giữ tâm chẳng mong cầu điều gì cả, tức là tâm bình thản, thơ thới, chẳng bận rộn vì lòng ham muốn. ước mong điều chi. Tại sao lại thế? Vì biết rằng, nếu mong cầu mà chẳng được thoả mãn, thì lại sanh ra đau khổ, thế cho nên tốt hơn hết là chẳng mong cầu gì cả; đó là vô nguyện. Ba đặc tướng: Đặc = riêng biệt, khác biệt, đặc thù; Tướng = hình tướng. Kinh sách giáo lý Nam tông dùng từ ngữ ba đặc tướng để chỉ ba tướng: vô thường, khổ và vô ngã. Đây là ba đặc tánh của tất cả các sự vật hữu vi, có nghiã là các sự vật cụ thể, do sự tạo tác mà thành, đều mang ba tánh cách: (1) vô thường (biến đổi theo điều kiện, nhân duyên), (2) khổ (gây ra sự bất như ý làm cho phải đau khổ) và (3) vô ngã (chẳng tự mình mà hiện hữu được, do nhiều sự việc khác kết tụ lại mà thành nên chẳng có một tự ngã thật sự và riêng biẹt). Con thiêu thân: một loại côn trùng có cánh, bay gần ánh đèn, rồi nhào vào ngọn lửa mà chết. Quản tượng: Quản = cai quản, coi sóc, chăn; Tượng = con voi. Người quản tượng chăn voi, dùng cây móc sắt, đánh voi, để dạy nó. Móc câu = móc sắt nhọn tựa như lưỡi câu. Huệ nhãn: Huệ = trí huệ; Nhãn = con mắt; Huệ nhãn là con mắt của Trí huệ, dùng theo nghiã bóng, tức là tâm nhìn vào muôn sự vật thấy ra được tánh cách vô thường, vô ngã và khổ; lại nữa Huệ nhãn chẳng phải có con mắt thịt nào có thêm nữa, đó chỉ là khả năng chiếu sáng của Trí huệ nhìn thấu được bản thể rỗng rang của muôn vật. Vô sanh: Vô = chẳng; Sanh = sống, sanh ra, tái sanh. Vô sanh có nghiã là chẳng khởi sanh lên, chẳng phải tái sanh trong cảnh Luân hồi, nhưng chẳng có nghiã là chết, vì người chứngđược vô sanh thoát vòng sanh tử; chẳng có sanh lại nữa làm sao mà phải chết đi. Ý muốn nói được tự tại, cứ như thế mãi mãi, chẳng bị tiêu diệt, sống trong cảnh tịch diệt Niết-bàn. Thượng trí: Thượng = trên. Trí = trí huệ. Thượng trí là trí cao; tức là cũng trí huệ sẵn có đấy nhưng nay chiếu sáng lên nên cao hơn trí thông thường. Thấy đến tận bờ ranh = Đây là lời nói bóng bảy, nói đến sức nhìn thấy thật xa, xa đến tận bờ biên giới, tức là nhìn thấy sự vật đến tận bản thể thâm sâu bên trong, đến tận các nguồn gốc xa xôi bên ngoài. Pháp vô sự: Pháp = phép, định luật; Vô = chẳng có; Sự = sự việc, công việc. Pháp vô sự là định luật thiên nhiên theo đó chẳng có sự vật hữu vi nào mà chẳng do nhân duyên khởi sanh, rồi tồn tại và sau đó biến diệt. Chỗ vô sự là chỗ bảo rằng chẳng có nhân duyên làm khởi sanh và biến diệt, tức là cho rằng tự nhiên, vô sự, mà thành khởi, mà tiêu diệt. Phải có nhân duyên, chớ chẳng phải vô sự, ngẫu nhiên mà nên được. Chỉ có những pháp vô vi, chẳng do nhân duyên mà tạo tác nên, tồn tại và biến diệt đi, vì pháp vô vi vốn có tự tánh thường hằng, chẳng biến diệt; đó là pháp Niết-bàn. Pháp chỉ trú: Pháp = định luật thiên nhiên; Chỉ = ngừng, chẳng chuyển động nữa; Trú = ở yên. Pháp Chỉ trú là nói về các sự vật tồn tại một thời gian dài, chưa biến dịch. Chủng chủng chấp: Chủng chủng = các loại; Chấp = sự cố chấp, sự nắm giữ khư khư, mặc dầu biết nắm chặt như như thế là sai lầm, nhưng chẳng chịu buông ra cho lơi lỏng. Chủng chủng chấp là sự cố chấp cho rằng muôn vật khác nhau về chủng loại, chẳng có điểm nào giống nhau về hình dáng, hay về bản thể. Như thế là tin sai, là nghĩ lầm. Tại sao vậy? Vì muôn sự vật tuy hình dáng, tự tánh có khác nhau, nhưng bản thể thì do nhân duyên mà sanh ra. Chối bỏ điểm tương đồng về bản thể đó giữa muôn vật là chủng chủng chấp. Nhứt chấp: Nhứt = một; Chấp = chấp thủ, cố chấp, nắm giữ mãi khư khư, cho rằng chỉ có ý của mình về điều nào đó là đúng mà thôi. Sự chấp nhứt là sự quả quyết rằng muôn sự vật đều giống nhau như một vậy. Cái chấp nầy trái ngược với cái chủng chủng chấp ở trên. Sự thật là ở đâu? Chẳng còn sự chấp nữa, cho dầu là chấp một, cho dầu là chấp khác loại, vì chính sự cố chấp mới là sai lầm, thái độ nầy đóng chặt cửa Chơn lý, khép chặt trí óc lại, chẳng mở ra đón tiếp các ý kiến mới mẻ, đúng đắn hơn. Sở tác: Sở = chỗ, nơi; Tác = làm, làm việc; Sở tác là những gì đã làm, những chỗ đã tạo ra. Vô tri: Vô = chẳng có; Tri = hiểu biết; Vô tri là chẳng hiểu biết, bị mê mờ. Vô tri đồng nghiã với Vô minh. Chư Hành: Chư = tất cả, những; Hành = ở đây, trong đoạn nầy của Luận văn, các trang 284 và kế tiếp, chẳng có nghiã là hành ấm, mà chỉ sự tập hợp, kết thành của một thực thể, như thế chữ chư hành đồng nghiã với chữ muôn pháp, muôn sự vật, tất cả những sự vật cụ thể, được tạo nên trong võ trụ, đồng thời cũng bao gồm các tâm sở cùng các ý tưởng, tình cảm v.v. Chưa từng thấy có danh từ nào có nghiã rộng rãi và bao quát như chữ chư hành. (Trong khi đó chữ hành ấm chỉ chỉ vào các hành động của thân, khẩu, ý và các tâm hành thôi). Song hành: Song = hai, một cặp, một đôi; Hành = đi. Song hành là đi song song, cùng tiến tới chung với nhau, nương tựa vào nhau mà tiến tới. Oai nghi = uy nghi: Trong Kinh sách chữ oai nghi, uy nghi dùng như một danh từ thì chỉ bốn tư thế của thân thể: đi, đứng, nằm, ngồi; bốn tư thế đó phải tề chỉnh, nghiêm trang, nên gọi là oai nghi, hay bốn uy nghi. Uy nghi dùng như một tĩnh từ, chỉ sự trang nghiêm, đứng đắn trong tư cách. Ban sơ = lúc ban đầu; lúc mới khởi sự. Kiệt quệ = khô héo, tàn tạ. Lắt lẻo = yếu ớt, lung lay, chẳng đúng vững được. Chuyển độ: Chuyển = dời, di chuyển; Độ = đưa sang sông. Chuyển độ có nghiã là tiến tới, thay đổi tốt. Ảo ảnh thành càn thát: Ảo ảnh = hình ảnh giả, do mắt nhìn lầm; thí dụ ban đêm thấy bóngđen động đậy cho là ma nhát. Thành càn-thát-bà là từ ngữ trong Phật học để chỉ một ảo ảnh: nhìn về phía chơn trời, thấy như có một dãy thành, cho đó là thành lũy của Càn-thát-bà. Càn-thát-bà là loại chúng sanh ở cõi Trời, phụ trách thiên nhạc, còn gọi là nhạc thần, phiên âm từ chữ Pàli là Gandhabba. Dị biệt: Dị = khác thường, kỳ dị; Biệt = riêng. Chỗ dị biệt có nghiã là các điểm khác nhau. Vô tâm: Vô = chẳng có; tâm = lòng. Chữ vô tâm có nghiã là chẳng có sự chú ý, cũng như nói cái tâm đi vắng, theo nghiã bóng bảy. Cùng nghiã nhau vô tâm = không tâm. Vô tận: Vô = chẳng có; Tận = tận cùng, chỗ cuối cùng. Vô tận có nghiã là chẳng bao giờ tận cùng, kéo dài mãi mãi. 091. Suy gẫm về Trí Huệ Bát-nhã nói trong Chi 11) Nhắc lại cách học tập về bốn Thánh đế: Như đã biết, chỉ khi nào đã thông hiểu rõ ràng về Bốn Chơn lý Nhiệm mầu mới đáng gọi là người có đủ Trí Huệ Bát-nhã. Nhờ có Trí huệ nầy mà hành giả: 12. trừ bỏ sự tham ái bám níu, nơi Tập đế; 13. chứng đắc sự an tịch, nơi Diệt đế; 14. tu tập theo con đường giải thoát, nơi Đạo đế. Như đã biết, định nghiã của Trí huệ, là khả năng lựa chọn giữa điều thiện và điều ác. Sự phân biệt rõ ràng đó là công năng của Phân biệt trí, giúp ta thấy được bằng huệ nhãn: (1) sự khởi sanh, sự tiêu diệt của toàn bộ Khổ ấm, nơi Khổ đế; (2) kế đến là các nguồn gốc thâm sâu đã khiến cho Khổ ấm khởi lên, nơi Tập đế; (3) sau đó là tình trạng tịch diệt của Khổ ấm đã bị tận trừ, nơi Diệt đế; và (4) chót là con đường đầy đủ đưa đến sự giải thoát khỏi toàn bộ Khổ ấm, nơi Đạo đế. Khả năng phân biệt đó của Trí Huệ Bát-nhã, ứng dụng vào việc học tập Tứ Thánh đế, được Phân biệt trí hỗ trợ; đây chẳng phải là một thứ trí huệ nào riêng biệt, mà chính là một khả năng, trong vô số các khả năng của Trí Huệ Bát-nhã, giúp ta nhìn thấy thấy rõ ràng, đúng như thật, bằng huệ nhãn: - sự tiêu diệt hết của các nỗi Khổ trong Khổ ấm. Mặt khác, khi Trí Huệ Bát-nhã quán sát sự tiêu diệt các nỗi Khổ trong toàn bộ Khổ ấm nơi thân tâm, thì một khả năng khác của Trí huệ đó khởi lên, đó là Quán Diệt trí, phân biệt thật rành rẽ khi nào các nỗi Khổ đã thật sự tiêu diệt, và khi ấy chứng đắc được một tình trạng an tịch khởi lên trong tâm thanh tịnh, đó là cảnh tịch diệt của Niết-bàn. Như thế, rõ ràng là ba Trí: Phân biệt trí, Khởi Diệt trí và Quán Diệt trí, đều phát xuất từ Trí Huệ Bát-nhã đang quán sát về mục tiêu của Bốn Thánh đế. Lại nữa, do nhận xét nầy mà ta có thể kết luận, mặc dầu được gọi dưới ba tên khác nhau, cũng vẫn một Trí Huệ Bát-nhã đang được vận dụng để tìm hiểu và học tập về Bốn Chơn lý Nhiệm mầu. 3) Về Khổ ấm, cần phân biệt các điạ hạt nào? Nơi Phẩm 11: Năm Phương tiện vừa qua, hành giả có dịp nhận thấy Ấm, Nhập, Giới, Nhân Duyên và bốn Thánh đế. Năm phương tiện nầy nhằm mục tiêu giúp cho hành giả biết rõ được thân tâm của mình qua các mục về Ấm, Nhập, Giới, thấy rõ do mười hai Nhân Duyên mà các môn Ấm, Nhập, Giới đó khởi sanh, tồn tại và tiêu diệt, và thông đạt được bốn Thánh đế để theo con đường giải thoát khỏi các nỗi Khổ của toàn bộ Khổ ấm, đang ràng buộc thân tâm mình. Bước quan trọng đầu tiên, được chỉ dạy rõ trong Chi 1, Ph.12 nầy, là cần phải nhận định rõ mỗi yếu tố trong thân tâm, qua Ấm, Nhập, Giới, khi khởi lên do Nguyên nhân nào và phải dùng đến phương tiện Thánh đế nào để tiêu trừ. Các hình thức khởi lên của Ấm, Nhập, Giới nơi thân tâm, đều được Luận văn chỉ rõ tỉ mĩ qui về dưới hai dạng: Danh và Sắc. Danh-Sắc có khởi lên, thì Khổ ấm mới xảy ra; Danh cùng Sắc đều mang ba đặc tướng: vô thường, khổ và vô ngã. Vô thường, vì chúng cứ thay đổi và biến diệt theo thời gian. Khổ, vì chúng tạo nên sự bất như ý, vì sự thay đổi chẳng bền vững, cho nên mới gây ra đau khổ. Vô ngã, vì chúng chẳng có tự tánh, phải tùy thuộc vào nhân duyên mà sanh khởi và tồn tại, rồi lại cũng do nhân duyên mà bị diệt tận. Sau khi đã nhận định rõ hai hình tướng tổng quát Danh và Sắc, thấy thật đúng ba đặc tướng của chúng:vô thường, khổ và vô ngã, hành giả liền an trú tâm vào ba cảnh giới: vô tướng, vô nguyện, và không. Vì Danh-Sắc đã vô thường, biến diệt, nên tìm sự an tâm vào nơi chẳng còn có hình tướng nào nữa, tức là cảnh giới vô tướng. Vì Danh-Sắc tạo nên nỗi Khổ, do sự mong cầu mà chẳng được, nên phải bỏ lòng mong cầu đi để an trú tâm trong cảnh giới vô nguyện. Vì Danh-Sắc chẳng có tự tánh, luôn luôn phải thay đổi tùy thuộc vào các nhân duyên, nên phải an trú tâm vào cảnh giới Không, nơi chẳng còn sự vật hữu vi biến đổi nào đến khuấy rầy nữa. Làm cho thấy rõ: (1) thế nào là ấm, nhập, giới, đang qui về hai pháp: Danh và Sắc; (2) Danh-Sắc ấy mang ba đặc tướng: Vô thường, Khổ, và vô ngã như thế nào; (3) Tâm được an trú trong ba cảnh giới: vô tướng, vô nguyên và Không như thế nào, đó là công năng của Trí Huệ Bát-nhã được thể hiện qua ba khả năng Phân biệt trí, Khởi Diệt trí và Quán Diệt trí. Nhận định rõ được các mối liên hệ chặt chẽ giữa: 2. Ba đặc tướng Vô thường, Khổ và Vô ngã của Danh và Sắc; 3. Ba cảnh giới an trú Tâm: vô tướng, vô nguyện và Không; Thông đạt, ở đây, có nghiã là nhìn thấy bằng huệ nhãn; hay nói cách khác, tự mình nhận thấy thật rõ, chẳng chút nghi ngờ nào nữa, nói cách khác, đã chứng đắc thấy rõ, chớ chẳng phải chỉ nghe, chỉ đọc đến và chỉ hiểu lờ mờ mà đủ! 4) Nhìn thẳng vào nỗi Khổ, thấy được gì? Thông thường con người thường than vắn thở dài: "Tôi đau khổ quá!", nhưng thử hỏi, tôi ở đâu mà vào chịu khổ đây, cái khổ đó ra sao, nó hành hạ tôi như thế nào, thì cũng chẳng có ai trả lời cho thật chính xác. Tại sao? Tôi đang khổ đây! Tôi là ai? Ra sao? Chỗ nào trong tôi đang cảm thấy khó chịu, bứt rứt? Các câu trả lời đều qui về một phần nào đó trên thân thể đang thiếu mất sự an ổn. Thế thì, đúng ra phải nói, hoặc là cái chân nầy đang mỏi, cái răng nầy đang nhức, cái đầu nầy đang lo buồn, chớ chẳng hề thấy có cái Tôi nào đang mỏi, đang nhức, đang lo buồn. Chẳng qua, người ta đã đồng hoá cái chân, cái răng, cái đầu, cái thân với cái Ta vu vơ nào đó mà thôi. Đây là sự níu chặt vào tà kiến thân kiến, ngã kiến, nghĩ lầm rằng trong thân thể nầy có cái Ta, cái Ta đang làm chủ thân tâm đó. Tà kiến đó khiến cho cảm thấy nỗi khổ đang đè lên thân tâm và cuối cùng Ta phải khổ. Luận văn đã chỉ rõ, thật rõ, nơi thân tâm nầy, chỉ có Danh và Sắc, chẳng thấy có yếu tố nào là cái Ta, cái Ngã cả. Chỉ vì quen theo lối suy tư từ lúc biết đi biết nói đến nay, cho rằng Ta đang đi, Ta đang nói, mà dính chặt vào thân kiến, rồi vì thế mà phải bị cái khổ buộc ràng cả đời mình. Chơn mỏi, răng nhức, tâm buồn, cứ nhìn thẳng vào các chỗ ấy, xem cái khổ nó lên đến mức nào. Lạ thay, khi nhìn thẳng vào, lại cảm thấy, chẳng quá đau khổ như mình tưởng, sao lại có lúc khó chịu, cũng có lúc chẳng cảm thấy quá nhức nhối, thế là cơn đau nó chẳng quá ghê gớm như mình đã tưởng tượng. Lại nữa, Luận chỉ cho thấy cái khổ nơi thân thường khiến ta sanh ra bực dọc, khó chịu, hai việc bực dọc và khó chịu nầy lại chính là một nỗi Khổ mới đấy, mối khổ về tâm linh, mà chỉ vì ta tưởng rằng ta đang khổ, nên lại phải gánh thêm nỗi khổ mới về tinh thần đó thôi. Luận văn gọi đó là Khổ khổ, một mối khổ khác chồng lên một nỗi khổ đang gánh chịu. Sao lại dại dột đi gánh thêm nỗi khổ khổ? Sao lại chẳng biết rằng, bỏ đi thân kiến, nỗi khổ khổ nầy tự nhiên phải biến đi mất. Mặt khác, đang vui mà cảm thấy cuộc vui chóng tàn, nên thấy tiếc tiếc, muốn kéo dài thêm nữa chẳng được. Thế là tâm sanh ra buồn, luyến nhớ đến cuôc vui đã qua, đó cũng là một hình thức Khổ, mà Luận văn gọi là hoại khổ, nghiã là Khổ xảy đến vì sự biến hoại. Nếu biết rằng, muôn sự sự vật vật đều vô thường luôn luôn thay đổi, chẳng chút bền vững, thì sao lại nuối tiếc chi để đeo Khổ vào thân, vào tâm? Trước đây, nơi cuối Phẩm 11, Luận văn có viết, vì "Thân tâm năm ấm nầy bám níu vào cuộc sống, đó là hành khổ". Đây là nguyên nhân căn bản khiến mọi chúng sanh phải khổ: cuộc sống trầm luân trong vòng Luân hồi nơi cõi Ta bà nầy đâu có gì vui sướng mãi mà cố bám níu vào. Sao chẳng biết cảnh an tịch Niết-bàn mới là hơn, vì nơi đây mọi phiền não đã chấm dứt vĩnh viễn.
-----*-----
Phần Tìm hiểu Phẩm 12: Phân biệt Đế.
Chi 2: Các loại Trí và Định
Chuyển tiếp: Phẩm 12: Phân biệt Đế, nơi Chi 1 đã phân tách các khả năng của Trí Huệ Bát-nhã ra Phân biệt trí, Khởi Diệt trí và Quán Diệt trí để phân biệt rõ ràng về bốn Thánh đế, nhứt là sự khởi sanh và sự tiêu diệt của Khổ ấm.Nay trong Chi 2 nầy, là phần chót của Luận văn, các hình thức khác còn lại của Trí Huệ Bát-nhã được nêu rõ, kèm theo các loại Định mà tâm trí ấy đã đắc được khi chứng được đạo và quả. Sau cùng, Luận văn giải thích thêm các vấn đề linh tinh về Thiền, rồi kết thúc bộ Luận bằng một bài Kệ khuyến khích hành giả nên tinh tấn tiến tu để sớm đạt được mục tiêu giải thoát. 092. Dàn bài chi tiết của Chi 2, Phẩm 12:I. Nhập đề: Người toạ thiền một khi đã thấy rõ được sự khởi sanh và tiêu diệt của Khổ ấm nơi thân tâm, mới khởi lên Trí muốn giải thoát và nỗ lực tu tập các loại Trí khác, hầu chứng được đạo và quả, trên con đường tiến đến Niết-bàn. II. Thân bài: Chi 2 bàn đến nhiều vấn đề: trước hết, tiếp tục nói về các loại Trí khác của Trí huệ Bát-nhã, kế đến các đạo và quả của hàng Thanh văn, sau đến các vấn đề linh tinh về Thiền, quan trọng nhứt là chánh thọ và Diệt tận định. Một bài Kệ ngắn kết thúc bộ Luận văn nầy. 11. về sự tái phát khởi của các ấm;12. về sự tái sanh vào các nẻo dữ; 21. quán vô thường để khởi lên vô tướng22. quán khổ và vô ngã để khởi lên tướng vô sanh 11. cửa Vô tướng: hằng quán lẽ vô thường12. cửa Khổ: hằng quán lẽ khổ của các ấm13. cửa vô nguyện: hằng quán và tu tập tâm chẳng mong cầu. 21. Dẫn tâm đến nơi hoan hỉ;22. Vượt qua ưu não, làm trở ngại Đạo. 11. Nhắc lại 37 Phẩm Trợ Đạo gồm có gì? 21. sự kết tụ và sự tận diệt của năm ấm;22. vượt qua sự kết tụ và tận diệt đó 11. trừ được sự sanh gọi là Tánh;12. đến được cõi vô sanh gọi là Tánh;13. trừ nguyên nhân của sự sanh gọi tánh trừ14. đến được cõi vô tướng, gọi là tánh trừ. 3. Nơi chẳng còn pháp phàm phu nữa, cũng gọi là tánh trừ; Tánh lại có nghiã là Niết-bàn. 4. Tánh trừ trí khi hiện biết rõ, chẳng gián đoạn, bốn Thánh đế, khởi lên Thánh trí: 41. Khổ đế: biết rõ sự khởi sanh của Khổ ấm42.Tập đế: tận trừ các nguyên nhân của Khổ43. Diệt đế: chứng thấy sự tận diệt của Khổ44. Đạo đế: tu tập theo Bát Chánh Đạo, để giải thoát khỏi Khổ và chứng đắc Niết-bàn. 11. Diệt trừ tam kết và các phiền não tương ứng 21.Thấy rõ sự sanh diệt từ buổi ban sơ và hiện quán; 31.Thấy sự sanh diệt; lấy chỗ sơ kiến đó hiện quán; 41. Đến giai đoạn nầy, khởi tinh tấn dõng mãnh, thấy rõ sự sanh diệt buổi ban sơ, lấy đó làm hiện quán; 11. Thiền quán đã đắc Định rồi lấy định lực để hàng phục các triền cái; 3. Hỉ: Nơi Sơ thiền, Nhị thiền, nhờ tương tự trí thấy dứt Khổ, quán Đạo và Quả khiến Hỉ khởi. Nơi Tam và Tứ thiền, nhờ huệ lực quán Đạo và Quả khiến Hỉ chẳng khởi. 4. Thọ: Nơi Tam thiền, nhờ huệ lực quán Đạo và Quả khiến niệm xả khởi, nên dứt được hỉ thọ và lạc thọ. 5. Điạ: là phạm vi, lãnh vực hay địa hạt; có hai loại: 51. Kiến điạ và Tư duy điạ: 61. Căn biết điều chưa từng biết: Tu-đà-huờn đạo 71. cửa Vô tướng: nhờ tương tự trí nên chẳng khởi lên các hình tướng nữa; 8. Phiền não: có 134 phiền não được Luận văn liệt kê đầy đủ và giải thích rõ ràng. 9. Chánh thọ: hai quả chánh thọ: 91. Phàm phu ngồi Thiền khi tâm an trú bất động, gọi tình trạng đó là Định. 10.1. Chỉ bực A-la-hán, đã đoạn tận phiền não mới nhậpđược Diệt thọ tưởng định.10.2. Từ Định ở Sơ thiền đi lần đến Định ở Phi tưởng phi phi tưởng xứ, rồi diệt tư tưởng;10.3. Khác với kẻ chết, thiền giả nhập Diệt thọ tưởngđịnh vẫn còn thọ mạng, hơi nóng, tuy thân, miệng, ý đều dứt hoạt động. Yếm ly: Yếm = chán ghét; Ly = lià xa; Yếm ly là sự nhàm chán nên lià xa, chẳng còn ham muốn, chẳng ưa nên bỏ. Lạc giải thoát trí: Lạc = vui; Giải thoát = ra khỏi; Trí = trí huệ; Lạc giải thoát trí là trí huệ mong muốn sớm được giải thoát. Kham nhẫn: Xem lại trang 416, Ph. 8. Tương tự trí: Tương tự = giống với; Trí = trí huệ. Tương tự trí có nghiã là Trí có khả năng tương tự với... Ở đây, đó là Trí có khả năng giống với Trí huệ hiểu biết và thực hành theođúng 37 Phẩm Trợ Đạo. Đạo trí: Đạo = con đường; Đạo ở đây là đường lối tu tập; như Tu-đà-huờn đạo trí có nghiã là Trí huệ tu tập theo con đường dẫn đến việc chứng đắc đạo quả Tu-đà-huờn. Xem lại trang 326, Phẩm 1. Tánh trừ trí: Tánh = theo nghiã trong Luận văn, tánh có nghiã liên quan đến Niết-bàn; Tánh trừ có nghiã là trừ bỏ các pháp phàm phu, để tu theo các pháp Niết-bàn, tức là tu theo các pháp xuất thế gian, vượt khỏi các sự ràng buộc của đời sống thế tục. Vô hành: Vô = chẳng có; Hành = Xin xem lại chữ Chư Hành, trang 569, Phẩm 12, Chi 1. Hành ở đây chẳng có nghiã về Hành ấm, mà lại chỉ sự tập hợp, kết thành một thực thể; có thể hiểu cùng nghiã với chữ pháp là sự sự vật vật trong trời đất. Ở đây, nơi trang 297, chữ vô hành phản nghiã với chữ chư hành; vô hành là các hành đã bị tiêu diệt hết. Thừa = chiếc xe; chữ Thừa ở đây được dùng với ý nghiã chuyên chở. Tam kết: Tam = ba; Kết = ràng buộc. Chữ tam kết ở đây chỉ ba mối ràng buộc mà người tu theo Đạo Tu-đà-huờn phải gở ra cho xong. Tam kết là thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Ngã sở: Ngã = tôi, ta; Sở = chỗ, nơi; Ngã sở là danh từ chuyên môn trong Phật học, để chỉ những gì thuộc quyền sở hữu của ta, những gì mà ta có, những gì do ta làm chủ. Phạm hạnh: Xem lại trang 341, Phẩm 2. Si ngã: Si = ngu si, si mê; Ngã = ta. Si ngã là sự si mê gây ra vì chấp thủ vào cái Ta. Tu-đà-huờn hướng, Tu-đà-huờn quả: Hướng = hướng về, sẽ đưa đến; Quả = quả vị; Tu-đà-huờn hướng là chứng đắc tình trạng hướng về quả vị Tu-đà-huờn; nói cách khác, khi tu theoĐạo Tu-đà-huờn, thực hành đúng theo đạo đó thì sẽ chứng được cấp Tu-đà-huờn hướng, trước khi đắc được Tu-đà-huờn quả một cách viên mãn. Lại nói cách khác, Tu-đà-huờn có hai cấp, một cấp là Tu-đà-huờn hướng và một cấp cao hơn là Tu-đà-huờn quả. Giác trí: Giác = biết rõ; Trí = trí huệ;Giác trí là trí hiểu rõ tường tận Giác minh: Giác = biết rõ; Minh = sáng; Giác minh là sự thông hiểu sáng suốt. Sơ kiến: Sơ = ban sơ, buổi đầu; Kiến = thấy; Sơ kiến là cái thấy ban đầu, khác với hiện kiến là cái đang thấy. Sắc dục và vô sắc dục: Sắc = vật chất; Dục = ham muốn. Sắc dục, nghiã thông thường là sự tham đắm về sắc đẹp phụ nữ; nhưng ở đây chữ sắc dục lại có nghiã khác, đặc biệt, trong Phật học, để chỉ sự ham muốn được sanh vào cõi sắc giới (Có ba cõi: dục giới, sắc giới và vô sắc giới; dục giới là cõi chúng ta đang sống, còn nhiều dục vọng; cõi sắc giới còn dựa trên vật chất; cõi vô sắc giới chỉ có tư tưởng, chẳng còn vật chất). Như thế, trong đoạn nầy, trang 301, sắc dục là sự ham muốn được tái sanh vào cõi sắc giới. Thủ hộ: Thủ = giữ gìn, nắm giữ; Hộ = bảo vệ, phòng vệ, bảo bộ. Thủ hộ là người lo bảo vệ kẻ khác, hay giữ gìn vật hay việc gì qúi báu. Tà đế: Tà = xiêng xéo; chẳng chơn chánh; Đế = chơn lý Tà đế là những sự tin tưởng sai lầm mà lấy đó làm Chơn lý. Tác chứng: Tác = làm; chứng = chứng cớ, chứng đắc. Tác chứng, ở đây, trang 304, có nghiã là chứng đắc, thấy rõ với đầy đủ bằng cớ xác thật. Vô giác địa: Vô = chẳng có; Giác = biết rõ; đây là một thiền chi của Sơ thiền, khi tâm nhận biết đối tượng; Điạ = đất; ở đây có nghiã là phạm vi hay lãnh vực. Vô giác địa là những lãnh vực mà tâm chẳng khởi lên sự giác, chẳng màng biết đến đối tượng của tâm nữa. Vô hỉ địa: Vô = chẳng có; Hỉ = mừng; Điạ = lãnh vực; Vô hỉ điạ là lãnh vực mà tâm chẳng còn khởi lên sự mừng nữa; vì Hỉ ở đây là một thiền chi của Sơ thiền và Nhị thiền. Kiến địa: Kiến = thấy rõ, nói về tâm; Điạ = điạ hạt, lãnh vực, phạm vi; Kiến điạ là những lãnh vực mà tâm nhìn thấy; ở đây là tâm nhìn thấy rõ, chứng kiến sự sanh và sự diệt của khổ ấm. Tu-đà-huờn thuộc về Kiến địa. Tư duy địa: Tư duy = suy nghĩ, trầm tư; Điạ = điạ hạt, phạm vi. Tư duy điạ là những điạ hạt mà tâm sau klhi đã thấy rõ nơi Kiến địa, bắt đầu quán tưởng, tư duy, để tu tập. Ba đạo về Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán thuộc về Tư duy điạ. Vị tri trí: Vị = chưa; Tri = biết; Trí = trí huệ; Vị tri trí là Trí huệ biết được điều trước đây chưa từng biết. Trí của bực Tu-đà-huờn thuộc về Trí nầy Dĩ tri trí: Dĩ = đã qua; Tri = biết; Trí = trí huệ; Dĩ tri trí là Trí đã hiểu biết các pháp một cách rốt ráo. Trí của các bực từ Tư-đà-hàm đến A-la-hán thuộc về loại Trí nầy. Tri dĩ trí: Tri = biết; Dĩ = đã qua; Trí = Trí huệ; Tri dĩ trí là Trí đã biết rõ rằng mình đã thông hiểu rốt ráo mọi pháp, chẳng còn sót một pháp nào. Chỉ riêng Trí của bực A-la-hán mới thuộc về loại Trí nầy. Quán kiến: Quán = xem xét bằng tâm; Kiến = thấy. Cùng một nghiã với các chữ: Quán tưởng, quán chiếu. Tứ lưu: Tứ = bốn; Lưu = chảy, tràn ngập. Tứ lưu, theo Luận văn, trang 310, gồm có: (1) dục lưu, sự tràn ngập của các ham muốn, dục vọng; (2) hữu lưu, sự tràn ngập của cuộc sống, hiện hữu; (3) kiến lưu, sự tràn ngập của các tà kiến; (4) vô minh lưu, sự tràn ngập của sự si mê. Tứ thủ: Tứ = bốn; Thủ = chấp thủ, bám níu vào điều sai lầm chẳng chịu nới lỏng ra. Tứ thủ được Luận văn kể ra: (1) dục thủ, bám níu vào sự ham muốn, đam mê; (2) kiến thủ, bám níu vào các vọng kiến, tà thuyết; (3) giới cấm thủ, bám níu vào các nghi thức mê tín, cúng tế dịđoan của ngoại đạo; (4) ngã ngữ thủ, bám chặt vào lời tôi nói, cứ cho rằng tôi nói là đúng, còn kẻ nào nói khác là sai. Ỷ ngữ: Ỷ = nương tựa, ở đây có nghiã là nói trau chuốt để dựa vào ai hay vật gì; Ngữ = lời nói. Ý ngữ là lời nói chẳng được thật tình, cố trau chuốt nói ra cốt để chiều theo ý của ai hay sự vật gì mà mình muốn. Ngoại duyên: Ngoại = ngoài; Duyên = nhân duyên, duyên cớ. Ngoại duyên ở đây, trang 312, chỉ đến các điều kiện bên ngoài gây ảnh hưởng đến. Sa-môn quả: Sa-môn = tu sĩ theo Phật giáo, sống ẩn cư; phiên âm từ chữ Pàli Samana. Quả = quả vị. Sa-môn quả là bốn quả: Tu-đà-huờn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán. Phái Bắc tông thường gọi bốn quả vị đó là tứ quả, hay là bốn quả vị hàng Thanh văn. An tường: An = yên ổn; Tường = tốt đẹp. Nơi trang 316, Luận văn viết: "...theo thứ lớp nhập vào và xuất ra an tường", có nghiã là: lần lượt nhập vào Định của các bực Sơ, Nhị, Tam, Tứ thiền, ... và xuất ra khỏi các cơn Định ấy một cách yên ổn và tốt đẹp. 094. Suy gẫm về Chi 2, Ph. 12: Phân biệt Đế. 1) Chỉ có một Trí Huệ nhưng với nhiều khả năng khác nhau: 11) Câu chuyện ngụ ngôn ở Quốc văn giáo khoa thư: Ngày còn nhỏ đi học, đọc Quốc văn giáo khoa thư về chuyện con cọp và người nông phu, ta chẳng khỏi buồn cười. Một người nông phu đang cày ruộng, có con cọp đi đến, hỏi: - Nghe nói loài người các anh thông minh lắm, vậy trí khôn anh để ở đâu? - Trí khôn tôi để ở nhà, anh muốn xem, phải chịu cho tôi trói lại, vì nếu không, khi tôi về nhà lấy trí khôn đem lại; ở đây anh ăn thịt mất con trâu của tôi. Cọp ưng thuận, chịu cho người nông phu trói lại. Trói xong, người ấy vác cày đập cọp, vừa đập vừa nói: - Trí khôn của ta đây nầy! Câu chuyện ngụ ngôn vừa kể nêu cao trí khôn của người nông phu và ngầm chê bai sự ngu mê của con cọp. Trí thông minh của người nông phu là trí thông thường giúp người dành lấy chỗ hơn đối với kẻ khác. Trí ấy thể hiện qua ba hình thức:(1) trước, do ý nghĩ sắp đặt mưu kế để hại cọp; (2) kế đến nói ra lời lẽ để gạt gẫm cọp, và (3) bằng hành động vác cày đập cọp tơi bời. Sự ngu mê của cọp thể hiện ra bằng ý nghĩ chẳng hiểu trí khôn là gì, ở đâu, và bằng hànhđộng chịu cho người trói lại. Sự ngu mê đó chứng tỏ sự vắng mặt của trí khôn nơi loài súc sanh. Trí Huệ Bát-nhã khác hơn trí thông minh thông thường là ở chỗ Trí ấy chẳng nghĩ đến việc lợi mình hại người, mà lại có khả năng đưa con người đến nơi giác ngộ và giải thoát; đấy mới là việc lợi to tát nhứt, bền vững nhứt, cao qúi hơn tất cả các mối lợi ở đời. Tại sao? Vì một khiđã giác ngộ và được giải thoát rồi, thì cuộc sống sẽ tự tại, dứt khoát ra khỏi vòng ràng buộc của mọi sự khổ đau, thân tâm an ổn trong cảnh vắng lặng thanh nhàn của Niết-bàn. 12) Phẩm 12: "Phân biệt Đế" mô tả các khả năng của Trí Huệ Bát-nhã hướng về bốn Thánhđế. Nơi Chi 1, Phẩm 12, Trí huệ Bát-nhã được phân tách thành ra ba Trí: (1) Phân biệt Trí, (2) Khởi Diệt trí, (3) Quán Diệt trí. Tuy gọi là ba Trí, chớ thật ra chỉ một Trí Huệ Bát-nhã với ba khả năng: (b) Tập đế, cần diệt trừ các nguyên nhân gây ra Khổ; (c) Diệt đế, cần chứng đắc sự tận diệt các nỗi Khổ; (d) Đạo đế, cần tu tập theo con đường Bát Chánh để được giác ngộ và giải thoát. - Thứ ba, khả năng quán thấy rõ sự tận diệt của các nỗi Khổ trong toàn bộ Khổ ấm. Nơi Chi 2, Phẩm 12, Luận văn mô tả Trí huệ Bát-nhã ra thành bốn Trí: (1) Trí biết lo sợ, (2) Trí muốn giải thoát, (3) Trí tương tự, (4) Trí tánh trừ. Tuy gọi là bốn Trí, chớ thật ra chỉ có một Trí huệ Bát-nhã với bốn khả năng mới: - Thứ hai, khả năng muốn được giải thoát để ra khỏi vòng Luân hồi; - Thứ ba, khả năng quán Vô thường, Khổ, Vô ngã, vượt khỏi sự kết tụ của Khổ ấm, đến ba cửa giải thoát: vô tướng, vô nguyện và Không, (giống với hiệu năng của 37 Phẩm Trợ đạo, nên được gọi là Trí tương tự.) - Thứ tư, khả năng vượt qua các pháp phàm phu để tiến tới cõi vô sanh của pháp Niết-bàn. (Vô sanh đã trừ xong sự sanh, nên gọi là Tánh và khả năng nầy được gọi là Tánh trừ trí.) Khi Trí huệ Bát-nhã đã hội đủ bảy khả năng vừa kể, ba ở Chi 1, và bốn ở Chi 2, hành giả đãđến ngưỡng cửa Niết-bàn. Vấn đề quan trọng chẳng phải là cố tìm cách phân biệt mỗi khả năng, bàn cãi về công năng của mỗi Trí, mà thiết yếu là việc cần phải tu tập. Luận văn kể rõbảy giai đoạn mà Trí huệ Bát-nhã lần lượt trải qua, chẳng cần phải hiểu cho cặn kẽ sự khác biệt của chúng, mà việc cần thiết là tu tập, tu tập thật tinh cần, tu tập với nhiệt tâm, rồi cùng với thời gian, khi Trí Huệ ấy hiển lộ ra, hành giả sẽ tự biết lấy, đâu cần chi phải quan ngại Trí nào sẽ đến sớm, Trí nào còn chưa đến, v.v. 2) Trí Huệ Bát-nhã là Trí Huệ thông suốt bốn Thánh đế và đưa hành giả đến bờ giác 21) Thế nào là Trí Huệ Bát-nhã Ba-la-mật? Theo định nghiã thông thường trong Kinh sách Phật giáo, thì chữ Bát-nhã có nghiã là trí năngthông hiểu và phân biệt rõ ràng giữa điều thiện và điều ác; chữ Ba-la-mật chỉ sự toàn thiện, rốt ráo, chẳng còn chi hoàn mỹ hơn nữa. Nói đến Trí Huệ Bát-nhã Ba-la-mật là để phân biệt với trí thông minh ở đời, giành lấy mối lợi cho mình, cho dầu có gây tổn hại cho kẻ khác. Trí Hưệ Bát-nhã vượt lên trên đời sống thế tục, cũng đem lại một mối lợi cho người, nhưng chẳng gây tổn hại cho bất cứ chúng sanh nào, mối lợi ấy, như đã biết, chính là sự giải thoát khỏi mọi ràng buộc của khổ đau do cuộc sống trong vòng Luân hồi gây nên, tạo thành nguồn an lạc thật vĩnh cửu. Vì lẽ đó, nên mới gọi Trí Huệ Bát-nhã là Ba-la-mật, chẳng còn sự toàn thiện nào tranh nổi sức chiếu sáng của nó, chẳng còn phương tiện nào hữu hiệu hơn để đưa chúng sanh đến bờ giải thoát. Khác với các tôn giáo hữu thần khác, Phật giáo chẳng hề chủ trương phải nhờ vào ân điển, hoặc phải dựa vào sự cứu rỗi mới được giải thoát. Sự giải thoát phải tự mình cứu lấy mình; và phương tiện hữu hiệu nhứt để đạt được sự giải thoát lại chính là Trí Huệ Bát-nhã, dùng trí lực của mình mà vượt qua mọi khổ đau ách nạn của cuộc đời. 22)Trí Huệ Bát-nhã hướng về Bốn Thánh đế để làm phương tiện đưa hành giả đến bờ giác. Đế có nghiã là Chơn lý, cái chơn lý tuyệt đối, luôn luôn đúng với sự thật, khắp mọi nơi, vào mọi thời. Nhưng ở đây nói đến Bốn Thánh đế là bốn Chơn lý nhiệm mầu, do bực Thánh giảng, chỉ rõ con đường tu tập cho phàm phu trở thành bực Thánh, nghiã là bực đã tận trừđược tất cả phiền não và chứng được cõi vô sanh. Bốn Thánh đế chẳng bàn luận đến không gian vô biên, hoặc đến thời gian vô tận, mà đề cập tới một vấn đề thiết thân, huyết mạch của chúng sanh: khổ đau dính chặt vào cuộc sống hiện tại và phương cách giải thoát ra khỏi gánh nặng đó. Bốn Thánh đế đã trả lời chính xác cho các câu hỏi vừa giản dị, vừa thực tiễn, mà lại vừa trọng yếu nhứt: Diệt tận hết khổ sẽ được gì? Làm cách nào để tận diệt khổ? Nội dung của bốn Thánh đế, rất ư là giản dị, rõ ràng, chẳng ai là người chẳng hiểu được, thế mà cứ mãi trôi lăn trong vòng khổ đau mãi, cũng chỉ vì chẳng có quyết tâm dấn bước lên conđường giải thoát. Thử tóm tắt nội dung ấy: 2. Cái gì gây ra Khổ?Chính là sự bám niú, sự tham ái; vì cố đeo chặt vào nên phải mãi chịu khổ đau. 3.Tận diệt gốc Khổ sẽ được gì? Hết Khổ thì được an lạc, đó là cảnh Niết-bàn. 4. Làm sao để diệt Khổ? Tu tập theo Bát Chánh Đạo, con đường đưa đến sự giải thoát hoàn toàn. Ai ai cũng có Trí, được phú sẵn từ lúc ra đời. Trí đó phát triển được là nhờ biết xử dụng đến. Xử dụng đúng cách là theo con đường Chánh Đạo. Càng bước theo con đường Chánh Đạo, Trí Huệ càng khai triển, thấy rõ mục tiêu giải thoát và cứu cánh an lạc đang chờ mình ở cuốiđoạn đường.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.31/8/2018. |
No comments:
Post a Comment