IIA. Chú giải Bồ Tát SUMEDHA [1].
Giờ đây:
IIA I. Một trăm ngàn đại kiếp và bốn A Tăng Kỳ vừa qua có một thành phố tên là Amara, hình dáng rất xinh xắn và hấp dẫn.[2]
Đã xuất hiện cơ hội thực hiện việc Chú giải tác phẩm Phật Tông được truyền lại theo phương pháp như đã ghi lại trong các đoạn kệ tiếp theo sau đây. Vì sau khi đã khảo sát nghiên cứu việc trình bày các bài thuyết pháp, chính vì thế tác phẩm Chú giải Lịch sử Chư Phật đã trở nên rõ ràng kể từ việc khảo sát nghiên cứu các bài thuyết pháp đã được đề cập đến ở trên. Việc trình bày các bài thuyết pháp này gồm bốn loại[3]: dựa theo khuynh hướng của diễn giả, dựa theo khuynh hướng của nhiều người khác, dựa vào kết quả câu hỏi được đặt ra và lý do nhu cầu nổi lên. Những bài thuyết pháp đó do Đức Thế Tôn trình bày không có người nào khác đặt câu hỏi và chỉ theo khuynh hướng riêng của Đức Thế Tôn mà thôi: như thể bài thuyết pháp kaṅkheyya,[4] bài thuyết pháp về sự vật (Vatthu)[5] – là những bài thuyết pháp được trình bày theo khuynh hướng của chính Đức Thế Tôn. Nhưng những bài thuyết pháp được trình bày theo khuynh hướng của những người khác và sau khi ngài đã khảo sát khuynh hướng của những người đó, liên quan đến đặc tính kiên trì của họ, về danh (tình trạng tâm linh) và hiện trạng Giác Ngộ, suy nghĩ, (thí dụ như): “Nơi Rāhula giờ đây các sự vật đạt đến trưởng thành đều đem lại giải thoát. Giả dụ như ta phải huấn huyện cho Rāhula hơn nữa về cách đoạn trừ các lậu hoặc thì sao?”* Những bài thuyết pháp như Lời Cổ Vũ Rāhula,[6] bài thuyết pháp về Chuyển Pháp Luân[7] - việc trình bày những bài này là theo khuynh hướng của người khác.
Sau khi tiến lại gần đức Thế Tôn các vị chư Thiên và nhân loại đã nêu lên một câu hỏi. Và đặt câu hỏi như sau: việc trình bày những bài thuyết pháp đức Thế Tôn đã trình bày như Devatsaṃyutta[8] và Bojjhaṅgasaṃyutta[9] lại là kết quả của một vấn đề và việc trình bày các bài đó được thuyết giảng là do có nguyên nhân nổi lên, như bài những người Thừa Kế Phật Pháp[10] và chuyện Ẩn Dụ về Thịt[11] của Nam Nhi. Đây chính là do nhu cầu nổi lên[12]. Như vậy bốn loại thuyết trình về một bài thuyết pháp, thì việc trình bày bài thuyết pháp về Phật Tông được coi là kết quả của một vấn đề mà thôi. Vì đây chính là cách Đức Thế Tôn trình bày như là kết quả của một vấn đề nổi lên. Do kết quả của vấn đề kẻ nào đã nêu lên? Của ngài Trưởng lão Sāriputta. Chính vì thế liên quan đến vấn đề này người ta nói bắt đầu như sau:
[65] Sāriputta, người đại trí thông minh kiệt tác, tài giỏi trong việc định và thiền, đã chứng đắc trí tuệ Ba la mật, đã đặt vấn đề với vị lãnh tụ thế gian như sau: Ôi vị đại anh hùng, tuyệt vời nơi các chúng sanh, quyết tâm của ngài thuộc loại nào vậy?*1
Vì thế cho nên giáo lý này nói về Phật Tông nên được hiểu là kết quả của một vấn đề đã được nêu lên.
1. Trong trường hợp này Một trăm ngàn đại kiếp (kappa): ở đây từ kappa đã gặp thấy ở nhiều văn cảnh khác nhau[13], có nghĩa là tin tưởng, cho phép. Thời gian, biểu thị, cắt đứt. Giải thích, lý do, tính chất hoàn toàn, thời gian tuổi thọ. Đại kiếp. v.v... Như vậy, “Điều này được tin là (okappaniya) đối với Đức Cồ Đàm tốt lành được coi như là một vị A-la-hán. Một Phật Nhân Toàn Giác.”* - Trong các đoạn văn cảnh như vậy “niềm tin” là điều đã được nhận thấy rõ ràng. “Hỡi các vị tỳ khưu, ta cho phép các ngươi sử dụng trái cây theo năm cách các vị Sa môn được phép (kappa) làm.”*1 Trong các đoạn văn cảnh như vậy thì đây chính là “được phép”. “Trong đó tôi liên tục (nicca-kappa) cư ngụ trong đó”*2 Trong văn cảnh này đây chính là “thời gian”. “Trưởng lão Kappa nói.”*3 “Họ cho rằng Kappa Banyan là tên Đức Thế Tôn đặt cho người Ba-la-môn này” *4 Trong văn cảnh như vậy đó là “cách biểu thị”. “Được trang điểm, tóc và râu được cắt tỉa kỹ càng (kappata)” *5 Trong văn cảnh như vậy ý nghĩa là “cắt bỏ”. “Việc tu tập (kappa) liên quan đến bề ngang hai ngón tay có được phép thực hiện chăng? *6 – Trong văn cảnh như vậy đây là một cách giải thích(vikappa) “Có lý do thoả đáng (kappa) để nằm xuống”*7 trong văn cảnh như vậy thì đó là một “lý do, cái cớ”. “Sau khi đã thắp sáng lên toàn bộ (kevalakappa) khu rừng Jeta” *8 trong văn cảnh như vậy đây chính là một “đặc tính trọn vẹn” (hoàn toàn) – “chớ gì Đức Thế Tôn lưu lại trong vòng một thọ mệnh (kappa) chớ gì đấng lo hạnh phúc cho chúng sanh lưu lại trong vòng một thọ mệnh” *9 - Trong những văn cảnh như vậy ý nghĩa là “tuổi thọ.” “Thưa ngài kính mến, một kiếp (kappa) thuộc loại nào vậy?” *10 đây ý nghĩa là một “đại kiếp”. bằng cách dùng các từ “vân vân” – “ Đương nhiên chúng ta đang cùng thảo luận với một đồ đệ, người này không hay biết gì là chúng ta rất giống (kappena) với vị đạo sư.” *11 – Ở đây ý nghĩa là sự “tương đồng” (giống nhau). “Nếu như điều gì được phép làm (kappa) đã bị triệt tiêu, giả dụ như cơ hội nhằm thực hiện việc cho phép này đã trở nên mai một đi”*12 đây chính là việc cho phép theo Luật. Nhưng ở đây ta nên hiểu là “một đại kiếp” chính vì thế một trăm ngàn kiếp chính là một trăm ngàn đại kiếp.
1. Và bốn A Tăng Kỳ có nghĩa là đoạn còn lại nên được hiểu như là “vào lúc kết thúc bốn A Tăng Kỳ. Ý nghĩa ở đây là: vào lúc kết thúc bốn A Tăng Kỳ thêm vào đó là một trăm ngàn đại kiếp.
1. Một thành phố có tên gọi là Amara có nghĩa là thành phố đó được gọi bằng cả hai tên Amara và Amaravatī. Nhưng có một số người[14] giải thích điều đó ngay cả ở đây theo một cách khác. Họ làm thế nào được trong khi đó đây chỉ là một tên thành phố?
1. Rất dễ coi (xinh đẹp) có nghĩa là dễ coi là vì thành phố được trang điểm với rất nhiều đường xá.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.31/3/2020.


No comments:
Post a Comment