NGUỒN GỐC VÀ PHÁT TRIỂN NHỮNG BẢN CHÚ GIẢI KINH PHẬT.
Đặc tính một bản chú giải.
Trước khi tiến hành tường trình về những bản chú giải tuyệt vời và nhiều tác phẩm đa dạng khác chúng ta còn mắc nợ với ngài Buddhaghosa, theo thiển ý của chúng tôi, thật rất có lợi nếu như chúng ta mổ xẻ một vấn đề quan trọng: đó là tìm hiểu đôi chút về nguồn gốc và sự phát triển những bản chú giải Kinh Phật biểu hiện nơi các công trình chú giải, diễn giải và cắt nghĩa những lời dạy của Phật Thích Ca (Sākyas.)
Tuy nhiên, trước tiên đưa ra một vài nhận định về những đặc tính một bản chú giải xem ra cũng không kém phần cần thiết. Theo truyền thống Ấn Độ, một bản chú giải phải được hiểu là đọc được những ý nghĩa mới mẻ nơi những bản văn cổ, kết hợp với chính nền giáo dục và quan điểm của mỗi người chúng ta. Bản chú giải còn nhằm giải thích các từ và những suy đoán của người khác thật chính xác và trung thực, có thể và những nhận định được áp dụng cho bất kỳ bản chú giải nào khác bằng tiếng Phạn (Sankrit) cũng như tiếng Pāli. Một bản chú giải hay là bhasya, như tiếng Phạn thường gọi như vậy, đương nhiên bao gồm phần quảng diễn những lời phát biểu cô đọng hoặc những lời diễn đạt súc tích về ý nghĩa và biểu thị như nhà thơ Phạn vĩ đại Magha đã diễn tả trong tác phẩm nổi tiếng Kavya [1] của ông. Nhưng đồng thời luôn thấy xuất hiện một yếu tố độc đáo tương tự như định nghĩa do Bharata đưa ra trong cuốn tự điển ông biên đã chỉ rõ: "Những ai thành thạo trong việc chú giải (Bhaysas) gọi là một bản chú giải (Bhasya) xét dưới góc độ người ấy lột ra được ý nghĩa một câu kinh (sutra) được cô đọng, chính là diễn tả được bằng từ những diễn tiến theo bản văn và, hơn thế nữa, phải diễn tả được ý nghĩa các từ của chính nhà chú giải đề ra." [2] Chúng ta sẽ thấy ngay trong bài tường trình dưới đây bàn về tiến triển liên quan đến một bản chú giải văn học Phật giáo, đó là phương pháp dùng từ của mình được định hướng theo những tác giả chú giải nổi tiếng, tuy nhiên điều này luôn được thích ứng với cách quảng diễn một đoạn văn nguyên bản.
Sự cần thiết phải có những bản chú giải kinh Phật
Trước khi tiến hành thảo luận về nguồn gốc các bản chú giải Kinh Phật, chúng ta đang phải đối mặt với một thực tế đó là: nhu cầu cần thiết phải có sự diễn giải chính xác về các từ Kinh Phật đã được hình thành làm nguyên tắc hướng dẫn cho cuộc sống và sinh hoạt nơi các cộng đồng Tăng Già (Saṅgha,) được cảm nhận ngay từ lúc đầu khi Đức Phật còn đang sinh tiền. Tuy nhiên, có điểm lợi là vào thời điểm đó những vấn đề tranh cãi có thể đến hỏi ngay Đức Phật để tìm ra biện pháp giải quyết ngay và ở điểm này chúng ta đã bắt gặp, đó là giai đoạn đầu tiên xuất hiện những bản chú giải Kinh Phật như chúng ta sẽ thấy dưới đây. Những chứng cớ có được đã chỉ rõ một thực tế là chỉ một vài năm sau khi Đức Phật đạt đến giác ngộ, những trung tâm Phật giáo đã được thiết lập tại những vùng kế cận nhiều thị trấn quan trọng và các thành phố lớn hồi đó như: Benares, Rājāgaha, Vesāli, Nalanda, Pava, Ujjeni, Campa, Uttara Madhura, Ulumpa, Savaṭṭhi v.v... Mỗi nơi này thường xuất hiện một cộng đoàn các vị Tỳ-khưu dưới sự lãnh đạo và hướng dẫn của một hay nhiều đồ đệ nổi tiếng của Đức Phật như Mahākassapa, Mahākaccāyana, Mahākotthita, Sāriputta, Moggallāna. Tuân thủ luật giới của những vị lãnh đạo lưu động, hay những nhà thông thạo triết lý Phật, họ thường qua mùa mưa tại công viên nghỉ mát hoàng gia hay tại một thiền viện và sau đó thường gặp lại nhau một lần trong năm tại Rājāgaha, Veluvana, Savaṭṭhi hay một nơi nào khác. Họ thường trao đổi với nhau và đôi khi còn mời cả những vị thông thạo triết lý Phật đương thời nữa. Đó là điều ai cũng đã được biết.
Trao đổi tư tưởng nơi những đồ đệ tiên khởi của Đức Phật
Trong số những vị lãnh đạo các Tỳ-khưu khác nhau, một số rất nổi tiếng và hiểu biết về giáo lý Phật giáo, số khác nổi bật hơn về luật giới, có người nổi tiếng về bình luận và phân tích, số khác về luyện tập khổ hạnh, một số có tài kể truyện, tài diễn giảng, số khác thông thạo kinh Phật, văn kệ v.v... [3] Trong số các đồ đệ và Phật tử có những người xuất thân từ các gia đình thuộc đẳng cấp Bà-la-môn và rất thông thạo tiếng Phệ-đà và toàn bộ nền văn học đó. Tự nhiên ta thấy nổi lên một vấn đề, "Toàn bộ khoảng thời gian trong ngày những vị Tỳ-khưu học thức uyên bác và thâm túy đó đã bận bịu vào những công việc gì?
Các bản văn Phật giáo và Jaina còn lưu truyền cho chúng ta thấy các vị thiền sư lưu động vào thời đó đã chu du khắp mọi miền đất nước, bất kỳ nơi nào họ dừng chân, họ đều tiến hành những cuộc thảo luận hết sức nghiêm túc về những đề tài liên quan đến tôn giáo, triết học, đạo đức, luân lý và chính trị. [4] Những cuộc thảo luận như vậy nhằm làm sáng tỏ những bài nói chuyện của các vị thiền sư nổi tiếng thường cũng là nguyên nhân giúp văn học Phật giáo phát triển, đặc biệt là các bản chú giải Kinh Phật. Có rất nhiều đoạn văn thật hấp dẫn trong Tam Tạng (Tripiṭaka) đã chỉ rõ điều đó, thỉnh thoảng những biến cố đương thời cũng làm nẩy sinh nơi các vị Tỳ-khưu rất nhiều đề tài thảo luận, hay sự bình thản của họ đôi khi bị quấy nhiễu do những nghi kỵ nghiêm trọng cũng cần đến chính Đức Phật hay các đồ đệ của ngài giải quyết. Cứ mỗi lần các nhà thông thạo kinh Phật liên quan phát biểu hăng say và mãnh liệt "nhiều khi lại nhằm chê bai ý kiến của Đức Phật, chê bai cả Giáo Pháp hoặc chỉ trích các vị có thẩm quyền trong giáo hội" [5]; cứ mỗi khi một vị thông thái kiểu đó diễn giải sai ý Đức Phật, [6] cứ mỗi lần những cuộc tranh luận gây cấn nổ ra nơi bất kỳ nhóm đồ đệ đương thời nào, [7] hay một vài vị Tỳ-khưu hành động không đúng, thường họ sẽ nhóm họp lại tại sảnh đường để mổ xẻ vấn đề, thường là chính Đức Phật hoặc các đồ đệ Đức Phật động viên thôi thúc để cứu vãn những lợi ích chung. Nhờ những cơ hội như vậy Đức Phật đã đưa ra một số diễn giải mang tính lịch sử về những giới luật đạo đức thích hợp với Giáo Pháp rất nổi tiếng như, "Ngươi phải tránh những điều xấu xa, và thực hành những gì tốt đẹp." [8] nghĩa là ngài đã giải thích Luật Giới liên quan đến những khía cạnh tích cực hay tiêu cực. Luật giới này hiện giờ đã được sát nhập vào mười ba Kinh (Suttas) đầu tiên trong Dīgha-Nikāya, và cũng khá phổ biến trong kinh Sīlakkhandha -"Tiểu Luận Luân Lý Phật giáo," là tên cuốn sách đầu tiên trong bộ sách Digha. [9] Một dịp khác Ngài Potaliputta, một nhân vật du hành hoằng giáo, đã đến thăm Samādhi, và nói như sau, "Theo như Đức Phật Cồ Đàm, tôi thực sự đã nghe ông nói, Nghiệp (Kamma) bằng hành động hay trong lời nói thì chẳng phải là nghiệp (Kamma) chút nào cả. Nghiệp thực sự (Kamma) chỉ phát xuất từ phương cách suy tư hoặc do ý muốn (volition) mà thôi. Vì chỉ có tri thức sau khi chúng ta cảm nhận được hư vô. (nghĩa là điều vượt ra ngoài mọi kinh nghiệm giác quan, vui sướng hay đau khổ)"
Đáp lại những lời lẽ trên Samiddhi phát biểu như sau, "Xin đừng nói vậy, ông bạn già Pataliputta ơi, xin đừng nói về Ngài kiểu đó. Làm ơn đừng bóp méo quan điểm sư phụ chúng ta kiểu đó, chẳng có gì tốt lành đâu. Ngài chẳng bao giờ nói như vậy cả."
"Nhưng này Samiddhi, hãy cho tôi biết, con người ta sẽ trải qua điều gì do hậu quả của hành động cố ý của mình cả trong tư tưởng, hành động và lời nói."câu trả lời là chỉ gây ra "đau khổ" mà thôi. [10]
Chú giải của Đức Phật
Khi cuộc tranh luận này lọt đến tai Đức Phật, ngài rất lấy làm tiếc là Samiddhi đần độn lại đưa ra câu trả lời một chiều như vậy về điểm thứ nhì của Tỳ-khưu hoằng đạo lãng du mà Đức Phật chưa bao giờ gặp khi còn sinh thời. Câu trả lời chính xác và hoàn chỉnh trong trường hợp này phải là: "Chúng ta nhất định phải trải qua sung sướng hay đau khổ, hoặc chẳng phải trải qua điều gì cả (sung sướng cũng không đau khổ cũng vậy)"Nhưng liên quan đến câu trả lời Samiddhi cho vế thứ nhất, ngài không có gì chống lại.
Vấn đề là cho dù Samiddhi có khôn ngoan hay điên rồ đến mấy đi nữa, ngay từ lúc còn nhỏ, đã tạo thành một luận chứng minh bạch và dài dòng của Đức Phật liên quan đến một vấn đề vô cùng hệ trọng đó là diễn giải về Nghiệp chướng (Kamma), được gọi là Mahākammavibhaṅga, [11] tương phản với điều diễn giải ngắn gọn hơn của ông, đó là Culakamma-vibhaṅga [12] được giải thích cho một học giả Bà-la-môn trẻ tuổi tên là Subha. Chính vì thế ta có thể khẳng định được là Mahākamma vibhaṅga chính là Kinh (Sutta) cơ bản nhất dùng để diễn giải Abhidhamma về Sikkhapada Vibhaṅga được gộp vào cuốn sách thứ nhì trong bộ Abhidhamma Piṭaka. [13] Nhưng trên thực tế, sau này cả hai việc diễn giải này đã để lại ấn tượng trong văn học mang tính chất bình luận tôn giáo, như tác phẩm Nettipakana và Atthasālinī [14] cũng như các tác phẩm tương tự đã chứng minh và phân tích kỹ lưỡng hơn. Chúng ta có thể cho là việc diễn giải Kamma do Buddhaghosa thực hiện trong cuốn Atthasālini chính là điểm hội tụ của cả hai tác phẩm trên.
Tác phẩm Majjhima Nikāya còn chứa đựng nhiều bài diễn giải nổi tiếng khác của Đức Phật, đặc biệt là các tác phẩm Salayatana Vibhaṅga, [15] Raraṇa Vibhaṅga [16] Dhātu Vibhaṅga [17] và Dakkhina Vibhaṅga [18] đã chiếm được vị trí thích đáng trong văn học Abhidhamma và rất nhiều bài diễn giải có giá trị hơn đã được bổ xung thêm. Các tác phẩm trên cũng đã dọn đường cho những bản chú giải Kinh Phật sau này, đương nhiên bao gồm cả những tác phẩm bất hủ của Ngài Buddhaghosa.
Bản chú giải Kinh Phật của ngài Sāriputta
Người kế tiếp phải kể đến là Ngài Sāriputta, đồ đệ chính của Đức Phật, chúng ta còn biết được một bộ chú giải về bốn Chân Lý Aryan, đó là tác phẩm Saccavibhaṅga, [19] đã chiếm vị trí xứng đáng trong cuốn thứ hai tác phẩm Abhidhamma Piṭaka, một bản chú giải cao cấp hơn gọi là Abhidhammabhajniya đã bổ xung thêm, dựa trên bản chú giải kinh Sutta. Bản chú giải của Ngài Sāriputta gồm nhiều đoạn có sẵn, hay những tư liệu không liên tục với nhau cổ hơn so với toàn bộ nền văn học Piṭaka đã được vun đắp. Đoạn bình luận riêng rẽ này đã được thêm vào Kinh Sattipatthana Sutta, tự nó đã là một bản chú giải, và chứa đựng đủ các dữ kiện để phân biệt giữa Kinh Satipatthana Sutta trong tác phẩm Majjhima Nikāya và Kinh Mahāsatipatthana Sutta trong cuốn Dīgha Nikāya.
Một giáo lý hoàn chỉnh bao gồm các từ và các đoạn mang tính diễn giải như thế đã được gán cho ngài Sāriputta viết và rất phổ biến với tên gọi là Kinh Sangīti Suttanta [20] hiện còn một bản dịch bản Kinh Phật từ tiếng Phạn sang tiến Tây Tạng và tiếng Trung Hoa mang tựa đề là Kinh Sangīti Parayāya. Ngài Sāriputta đã dùng phương pháp tập hợp nhiều đề tài khác nhau mang tiêu đề được đánh số thứ tự và giải thích bằng cách liệt kê thông thường, cách này đã được áp dụng trong bộ giáo lý bất hủ vừa đề cập đến ở trên, điều đó cũng biểu thị rõ đặc điểm của hai bộ sưu tập cổ hơn, đó là Saṃyutta và Anguttara và một số tác phẩm Abhidhamma khác, đặc biệt là tác phẩm Puggala Paññātti, gồm các tư liệu đa số được trích từ tác phẩm Anguttara Nikāya. Chỉ nguyên sự kiện này cho ta thấy rõ bản chất tác phẩm của ngài Sāriputta có liên quan mật thiết với nền văn học Tam Tạng (Piṭaka). Nhưng ngài Sāriputta không nghiên cứu hết mọi vấn đề đã được liệt kê ở trên. Chúng ta cũng cần lưu ý đến một vài đồ đệ nổi tiếng, có học vấn uyên thâm khác nữa của Đức Phật, trong số đó có một vài phụ nữ, bằng cách riêng của mình họ đã giúp đẩy mạnh quá trình phát triển diễn giải Kinh Phật.
Phát triển chú giải Kinh Phật do một số đồ đệ của Đức Phật thực hiện - Ngài Mahākaccāyana
Lấy ví dụ, trường hợp Ngài Mahākaccāyana, là một người rất nổi tiếng vì đã để lại cho chúng ta một công trình diễn giải chính xác đến từng chi tiết và rất vắn gọn về những gì Đức Phật đã giảng dạy. Chỉ riêng tác phẩm Majjihima Nikāya cũng đã cung cấp cho chúng ta được bốn mảng tư liệu mang tính diễn giải do ngài Mahākaccāyana viết [21] rất có giá trị làm nền tảng lịch sử trong việc hình thành ba tác phẩm tiếp theo sau này. [22] Cả ba tác phẩm này, hai viết bằng tiếng Pāli và một bằng tiếng Phạn đều được gán cho Ngài là tác giả. Số chi tiết ít ỏi Ngài Mahākaccano đã truyền đạt cho chúng ta hiện nay lại rất quan trọng vì một lý do khác nữa: đó là chúng đã phơi bầy được hoạt động của tư duy nhân loại dưới nhiều phương hướng khác nhau. Điều thú vị đáng cho chúng ta quan tâm đó là tác phẩm Mahākaccano, ở một mức độ nào đó đã giúp chúng ta đánh giá được từ những mảng tư liệu ít ỏi này, rất ít khi theo đuổi việc liệt kê máy móc và tạo ra những từ chuyên môn như ngài Sāriputta đã làm. Trái lại, Ngài đã tự hạn chế bằng cách đưa ra những ý nghĩa nội tại và triết lý thực sự truyền tải những nguyên tắc cơ bản của Đức Phật. Cuốn Gandhavamsa, một tác phẩm mang tính chất hơi hiện đại, có lẽ đã do Ngài Nandapaññā viết tại Miến Điện vào thế kỷ 17, [23] đã chọn ngài Mahākaccāyana như một vị thiền sư, không những đã tham gia Hội Nghị đầu tiên hay đã diễn giải những giáo lý của Đức Phật, nhưng còn là người đã biên soạn lại dưới dạng những luận án riêng biệt. [24] Ngài Mahākaccāyana được đề cập đến với tư cách là một Jambudvīpa, có nghĩa là một vị tư vấn tôn giáo (chaplain) cho nhà vua Candapradyota nước Avanti, có thủ đô đặt tại Ujjayinī. [25] Những tác phẩm chú giải tôn giáo sau đây đã được gán cho nhà thông thái Mahākaccāyana là tác giả:
1) Kaccāyanagandho.
2) Mahāiniruttigandho
3) Cullaniruttigandho
4) Nettigandho.
5) Peṭakopadesagandho
6) Vaṇṇanītigandho
2) Mahāiniruttigandho
3) Cullaniruttigandho
4) Nettigandho.
5) Peṭakopadesagandho
6) Vaṇṇanītigandho
Mahākottita
Sau đây chúng ta sẽ làm quen với Ngài Makotthita, một nhân vật uy tín không thua kém bất kỳ một ai, ngoại trừ Đức Phật về phương diện Patisambhida, được gọi là phương pháp luận Đức Phật thường dùng để phân tích. Trong tác phẩm Majjhima Nikaya chúng ta đọc được những tài liệu nghiên cứu của ông về những điểm đặc trưng hay những khác biệt cụ thể liên quan đến các từ trừu tượng thông thường hàm chứa nhiều yếu tố kinh nghiệm đa dạng. [26] Cùng lúc đó ông lưu ý chúng ta dựa vào một nhận thức sai lạc khả dĩ có thể xảy ra. Lý trí, hiểu biết, nhận thức, cảm giác v.v... không phải là những thực thể. Chúng ta có thể phân tích, nhưng tất cả đều liên đới với nhau trong một thực tại bất khả ly. Phần giải thích đầu tiên coi như là nền móng lịch sử của Lakkhanāhāra trong tác phẩm Nettipakarana, gồm một số đoạn trích trong tác phẩm Milanda-Pañho [27] và một số quảng diễn trong các bản chú giải của Buddhaghosa; [28] chúng ta cũng có những cống hiến tương tự như thế trong các tác phẩm Moggallana, Ananda, Dhammadinna và Khema, nhưng không nhất thiết phải trưng ra nhiều ví dụ khác nữa.
Tác phẩm Abhidhamma, một bản chú giải kinh Phật
Nghiên cứu kỹ nội dung Tạng Diệu Pháp Abdhiammapiṭaka quyển thứ nhì cho thấy có sự phân biệt rành mạch và rõ ràng giữa hai tác phẩm Kinh (Sutta) và Diệu Pháp (Abhidhamma Piṭakas), cách phân biệt này chủ yếu chỉ dựa trên sự khác biệt trong cách thực hiện (modus operandi) mà thôi. Phương pháp tạng Diệu Pháp áp dụng chủ yếu dựa trên và theo sát đường hướng chú giải Kinh, điều này rõ ràng đã được áp dụng trước đó. Tất nhiên sự khác biệt giữa hai phương pháp không những chỉ tùy thuộc vào mức độ, nhưng thỉnh thoảng còn tùy ở chủng loại nữa. Cho dù trong thực tế cách chú giải tạng Abhidhamma thì trực tiếp, rõ ràng và có hệ thống, chúng ta không thể cho là trong mọi tình huống giá trị chú giải tác phẩm này lúc nào cũng trội hơn phần chú giải Kinh. Giữa các học giả Phật giáo vẫn luôn có nhiều ý kiến khác nhau, không hiểu những gì tác phẩm Abhidhamma ghi lại có thực sự là lời của Đức Phật Cồ Đàm hay không [29]. Nhưng có điều chắc chắn là phần lớn mạch văn được dựa trên những lời giảng thuyết và chú giải của Nhà Thông Thái Vĩ Đại này. Rất có thể là ngài Sāriputta hay một số bàn tay vô hình nào đó can thiệp vào công việc này bên ngoài hậu trường, nhưng xét một cách toàn diện, niềm tin, cũng như lịch sử cuối cùng đã chứng minh đó chính là những lời của Đức Phật. Ngài Buddhaghosa đã sắp xếp toàn bộ tạng Diệu Pháp thành Veyyākaraṇa hay là chú giải. Chúng ta còn được biết: công việc sắp xếp này bao gồm cả bản kinh viết bằng văn xuôi, không thấy lưu lại trong bản lưu văn học Phật giáo cổ đại [30]. Những tranh cãi vẫn còn tiếp diễn cho thấy Văn học Phệ-đà không nhất thiết phải sắp xếp thành các loại khác nhau. Không có lý do gì mà Kinh Cūlavedalla và Mahāvedalla trong tác phẩm Majjhima Nikaya lại không được liệt kê trong nhóm Veyyākaraṇa.
Hai lớp Veyyākaraṇa trong văn học Phật giáo cổ đại
Trong mọi trường hợp điều đã được chứng minh rõ ràng trong Tam tạng (Tripiṭakas), ngoại trừ bộ Katthāvatthu được biên soạn vào thế kỷ thứ 3 trước CN, ta có thể khẳng định vẫn còn có hai lớp Veyyākaraṇa, tức là Suttabhajaniya và Abhidhammabhajaniya. Khandha, Vibhaṅga, Niddesa - chỉ là những từ đồng nghĩa của cùng một thuật ngữ. Điều này có nghĩa là Kinh chứa đựng thuật ngữ (terminology), định nghĩa (definition), liệt kê và giải nghĩa. Mặc dù các từ như Khandha, Vibhaṅga, Niddesa được liệt kê hay không cũng tạo ra một khoảng cách đầu tiên rất lớn; và sáu cuốn Abhidhamma, hoàn toàn dựa vào Kinh, lại tạo ra khoảng cách thứ nhì cho việc chú giải Kinh Phật. Khoảng cách thứ ba không dễ gì xác định được.
Các tác phẩm của Mahākaccāyana
Ta có một lựa chọn nơi một số tác phẩm [31] được gán cho Ngài Mahākaccano và tác phẩm Katthāvatthu trong số những người đó có Ngài Maggliputta Tissa được coi là tác giả. Liên quan đến thời điểm tác phẩm được viết, có điều chắc chắn là tác phẩm này được viết vào khoảng thời gian Hội Nghị Phật giáo thứ ba được tổ chức dưới sự bảo trợ của nhà vua Aśoka. Trường hợp tác phẩm của Ngài Mahākaccano lại có khác hơn một chút. Một cuộc nghiên cứu cẩn thận về tác phẩm chép tay Petakapadeso cho thấy cho dù tác phẩm này được biên soạn vào thời kỳ nào đi nữa, nó cũng chỉ là một bản luận án bổ xung cho tác phẩm Nettikarana do giáo sư E. Hardy phát hành bằng Châu Âu. Một tác phẩm Phật giáo viết bằng tiếng Phạn, cuốn Jñāprasthāna Śāstra do một công dân người Mahākātyāyana viết, theo như giáo sư Tākākusu cho biết, tác phẩm này được coi là bản văn chính thức do người Sarvāstivādins viết. Bản luận án Śāstra này được ngài Vasuvandhu đề cập đến trong tác phẩm Abhidharmakoṣa [32] như là một trong số bảy cuốn Abhidhamma. Tác phẩm này đã được Ngài Saṅghadeva chuyển dịch sang tiếng Trung Hoa vào khoảng năm 383 sau CN. Một bản dịch khác nữa do nhà văn Hiuen Tsang dịch vào năm 657 sau CN, ông cũng dịch Abhidharma mahā-vibhāsaśāstra, một tác phẩm chú giải tác phẩm Mahākātyāyana được biên soạn trong thời gian Hội Nghị dưới thời Kaniṣka làm hoàng đế. Một lữ khách Trung Quốc cho biết tác phẩm Jñāprasthāna Śāstra được viết ba trăm năm sau ngày Đức Phật viên tịch. Tuy nhiên những học giả Phật giáo vẫn còn phải giải quyết câu vấn nạn liệu tác phẩm Jñāprasthāna có gì liên quan với tác phẩm Nettipakaraṇa và tác phẩm Paṭṭhāna, là cuốn thứ bảy trong bộ Abhidhammapiṭaka hay không. Tác phẩm Netti, mà hiện nay chúng ta có trong tay, trong đó có một đoạn mang tựa đề bao gồm một bài phân loại các đoạn trong Tam tạng theo những ý tưởng chủ đạo của các tác giả. Đánh giá những trích đoạn giá trị trích từ tác phẩm Jnanáasthana được giáo sư Takakusu cung cấp, chúng ta có thể thẩm định ngay tất cả tác phẩm đó đồng nhất với tác phẩm Abhidhamma viết bằng tiếng Phạn, tuy nhiên còn cuốn Patthana, thì ta có thể phỏng đoán có liên quan chút ít với các tác phẩm sau này, hai tác phẩm Netti và Jnanaprasthana lại có nhiều điểm tương đồng, vì cả hai được viết với cùng một mục đích giống nhau.
Trong những đoạn mở đầu hay những trang viết trong hai tác phẩm của mình, Mahākaccayna đã thẳng thắn cho là tác phẩm của ông không nhằm bắt đầu bằng một ý tưởng mới mà chỉ nhằm đưa ra một bản chú giải có hệ thống và phân tích những diễn đạt của người khác (parathoghosā). Tác phẩm Parikkhārahāra [33] do Netti viết chỉ là một chương được viết dựa trên tác phẩm Patthana, tuy nhiên đoạn trên cũng đã rọi một vài tia sáng mới về chủ đề tương quan nhân quả. Như đã xuất hiện trong đoạn viết về Mayasamutthana. Ngài Mahākaccāyana lại đề cập đến các vụ ly giáo hay dị giáo khác, ông đã phân biệt rõ ràng với những người ngoài tôn giáo khác. Một điều như vậy không thể xảy ra vào thế kỷ thứ nhất sau khi Đức Phật đã nhập Niết-bàn (Nibbāṇa). Điều này lại hàm chứa trong bốn cuốn Nikāya và tất cả các cuốn sách cổ hơn thuộc ba tạng (Piṭakas) như đã được trích dẫn nhiều đoạn. Không cần đi sâu thêm vào nhiều chi tiết khác nữa, chúng ta không còn xa sự thật để phỏng đoán là những tác phẩm của Ngài Mahākaccāyana chắc hẳn là mối dây liên kết hữu cơ giữa Tam tạng ở một phía và các bản văn kế tiếp. Thế nên nếu như chúng ta phải tiến hành lựa chọn giữa các tác phẩm của Buddhaghosa và tác phẩm Katthāvatthu, lẽ đương nhiên ưu tiên phải dành cho các phẩm của ông.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.20/11/2015.
No comments:
Post a Comment