Ý nghĩa xuất gia.
Ý NGHĨA XUẤT GIA.
Đức Phật
ra đời trong loài người, mở ra cho chúng ta nguồn sống bất tử. Giáo lý
của ngài dành trọn vẹn cho con người. Những người đệ tử có nhân duyên
phát tâm sống theo con đường giải thoát của Đức Phật, họ có hai hướng đi
do Phật vạch ra. Một hướng dành cho Phật tử tại gia và một hướng của
Phật tử xuất gia.
Đức Phật
phân định rõ ràng tư cách, vị trí, việc làm khác nhau của đệ tử xuất gia
và tại gia. Dù hai hàng xuất gia và tại gia cùng đi chung lộ trình giải
thoát, nhưng Đức Phật đã đề cao tư cách của đệ tử xuất gia là chúng
trung tôn, là trưởng tử của Như Lai, là giường cột của đạo pháp. Điều
này đã nói lên vai trò quan trọng chính yếu của người xuất gia trong
công việc hoằng truyền chánh pháp Như Lai.
Ngoài ra,
theo quan niệm thông thường, mọi người đều nghĩ rằng người xuất gia được
nhiều công đức; nên Phật tử nào cũng ham muốn xuất gia. Tuy nhiên, khi
bước chân vào sống trong giới xuất gia, họ chẳng được chút công đức gì,
mà chỉ gặp toàn là sóng gió. Họ bị đẩy từ khó khăn này đến khó khăn
khác; đến độ phải thoái tâm, bỏ cuộc. Số người hoàn tục không ít và trở
về đời sống tại gia thường nhật, họ cũng gặp nhiều trở ngại mà người ta
thường phê phán là lỡ đời, lỡ đạo.
Muốn cho
vấn đề sáng tỏ, để việc xuất gia tu học đúng theo con đường của Đức Phật
vạch ra, chúng ta cùng tìm hiểu ý nghĩa xuất gia. Để có thể tiêu biểu
cho hình ảnh của Phật trên cuộc đời và thay ngài giáo hóa chúng sinh,
người xuất gia phải thể hiện trọn vẹn ý nghĩa hai chữ xuất gia trong đời
sống tu hành. Đối với Tăng Ni đang đi theo con đường xuất gia, không
mang ý nghĩa gì khác hơn là chúng ta đang nỗ lực hoàn chỉnh ba việc làm
chính yếu là xuất thế tục gia, xuất phiền não gia và xuất tam giới gia.
Trước tiên,
khi bước theo lộ trình của người xả tục xuất gia, chúng ta nhìn đời
khác với cái nhìn đầy tham vọng trước kia; nghĩa là chúng ta bắt đầu
thay đổi cách nhìn về nhân sinh. Quán sát theo lời Phật dạy về con người
và thế giới con người đều chịu sự chi phối của định luật vô thường sinh
diệt. Nói chung, nhìn vào thật tướng các pháp, thấy được tất cả
vật luôn thay đổi. Thay đổi từ thân vật chất, đến tinh thần, hay hoàn
cảnh bên ngoài và xa hơn nữa, thay đổi cả vận hành của muôn pháp trong
vũ trụ.
Tất cả
những hiện hữu trên cuộc đời dưới dạng giả hợp này thường được Phật dạy
rằng các pháp hữu vi như chiêm bao, như bọt nước, như ảo thuật, chỉ là
cái bóng mà thôi. Tuy nhiên, người thế gian mê lầm bị những ảo hóa giả
tạm đó xoay chuyển, làm mất bản tâm. Ví như người xem ảo thuật, say mê
cái giả đến độ quên mất cảnh sống thật của mình.
Trái lại,
người xuất gia nhận chân được mọi loài hữu tình, vô tình, vật chất, tinh
thần, đều nằm trong quy luật sinh diệt biến hóa. Vì thế, bước đi đầu
tiên của chúng ta tu hành là ra khỏi nhà thế tục, không chạy theo cuộc
đời huyễn mộng. Chúng ta từ bỏ những gì không thật, không cần thiết cho
đời sống thường hằng của người tu.
Chúng ta
còn nhớ xưa kia động cơ thúc đẩy Đức Phật đi tìm chân lý, cũng vì ngài
thấu rõ và nhàm chán cái giả tạm của vạn vật. Và hơn nữa, ngài không
chịu khuất phục, mặc cho vô thường tiêu diệt mình. Trong năm năm tìm
đạo, sáu năm khổ hạnh, ngài cắt đứt mọi liên hệ thế gian, không cho
những phiền hà bên ngoài quấy nhiễu. Ngài để tâm, suy tư, tập trung đến
mức độ cao nhất, gọi là tuệ đã sinh, minh đã sinh. Ngài nhìn vật chính
xác, không còn lỗi lầm. Ở trong cảnh giới vô thường, Đức Phật đã tìm
được cái chơn thường. Ngài mới trở thành vĩnh hằng bất tử, sống mãi với
nhân loại cho đến ngày nay.
Chúng ta
xuất gia cũng vậy, tập nhìn theo Phật, biết rõ mọi vật không bền chắc.
Từ đó, không sinh vọng tâm, tham đắm; chúng ta được giải thoát. Những gì
người thế tục nói, làm, ưa thích, người xuất gia hoàn toàn không làm,
không ưa thích, gọi là “tâm hình dị tục”.
Tuy nhiên,
không phải chúng ta giác ngộ mọi việc vô thường, để rồi chán nản, buông
xuôi hai tay, mặc kệ nó. Trái lại, chúng ta quan sát sự vật thay đổi và
an thân lập mạng, uyển chuyển theo sự thay đổi của nó, nhịp nhàng thích
nghi, mới được giải thoát; giống như chúng ta thay đổi y phục tùy theo
thời tiết. Chúng ta tự đặt mình nằm ngoài sự biến đổi, không để hoàn
cảnh chi phối, tác hại cuộc sống vật chất và tinh thần của chúng ta.
Từ bước căn
bản là người xuất gia từ bỏ những gì sinh diệt, để hướng tâm đến cái
không sinh diệt. Lần hồi chúng ta phát hiện thường tánh của mọi vật và
tu dưới dạng thường tánh, mới là điều quan trọng. Bấy giờ, an trú trong
thế giới nội tâm, tiếp nhận niềm vui kỳ diệu tồn tại, luân chuyển trong
tâm hồn; không bị lệ thuộc ở ngoại cảnh hay người. Đạt được sở đắc này,
hành giả đã thể hiện được phần nào mẫu người xuất gia đáng quý.
Sau khi
vượt bỏ ngôi nhà thế tục, với nhận thức rằng mọi việc giả tạm, thay đổi,
biến hóa theo nhân duyên, là điều tất yếu. Người tu quyết chí tu hành,
không bận tâm đến những thị phi, danh lợi, hơn thua làm gì. Nhờ không để
tâm mà không sinh buồn phiền, tức giận. Và những phiền muộn nổi dậy
trong lòng, chúng ta cũng biết nó là giả, phải tự dập tắt.
Đối với
người xuất gia, muốn theo con đường giải thoát, nhà phiền não là chướng
ngại thứ hai dứt khoát phải vượt qua. Vì chúng ta nhận chân được phiền
não đồng nghĩa với vô minh; nó tiêu hủy đức hạnh và trí tuệ, làm cách ly
chúng ta với Phật.
Đức Phật
dạy rằng chúng ta cũng có kho tàng tri kiến Như Lai như ngài. Chúng ta
không sử dụng được, chỉ vì dại khờ để bọn ma phiền não đánh cướp thánh
tài vô giá ấy.
Để nhận
diện được giặc phiền não, chúng ta căn cứ theo phân tích của ngài Thế
Thân trong luận Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn, thấy được sáu căn bản phiền
não và 21 tùy phiền não. Kiểm tra cho kỹ từng phiền não đã đốt
chết chơn tánh, người xuất gia nỗ lực khắc phục chính bản thân mình, xóa
tan những phiền não tồn tại.
Trên bước
đường tu, chúng ta đoạn diệt được một phần phiền não, tầm nhìn theo đó
sáng ra. Xóa sạch phiền não nhiễm ô và làm cho mình thanh tịnh, mới lấy
đó làm hạt nhân tác động cho người trong sạch theo. Ngược lại, mang tâm
nhiễm ô, tội lỗi mà giáo hóa chúng sinh thì thật vô ích; chẳng khác gì
hai người mù dẫn nhau đi.
Đức Phật
giác ngộ, thấy phiền não khởi từ tâm. Nhưng chúng ta đối cảnh sinh phiền
não, nên lầm tưởng nó ở ngoài. Nói cách khác, ta nhận lầm phiền não là
ta, nên luôn luôn khổ đau. Thật vậy, cảnh bên ngoài dù có thay đổi, tâm
chúng ta vẫn tự tại, bình thản, thì tác động của cảnh cũng chẳng ảnh
hưởng gì đến ta. Tu hành cần lưu ý điều chỉnh nội tâm hơn là hướng về
ngoại cảnh. Phiền não tận diệt thì hoàn cảnh tự tốt đẹp theo. Không đoạn
trừ phiền não trong tâm, nhưng siêng năng làm nhiều, thì càng làm,
phiền não càng nổi dậy; trở thành tự ái, bất mãn, chúng ta đã tu sai
pháp.
Qua hai
chặng đường xuất thế tục và xuất phiền não, sinh hoạt bình thường của
con người về vật lý và tâm lý không còn chi phối người xuất gia được.
Chúng ta tiến đến mục tiêu thứ ba của người xuất gia là cố gắng vượt ra
khỏi ba cõi là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Chúng ta nhận chân
được cách sống của ba cõi, từ cuộc sống vật chất của cõi Dục, đến cuộc
sống bằng ý thức nhiễm ô của Sắc giới, và sống với những phiền não chất
chứa từ bao đời của kho A lại da thức trong cảnh Vô Sắc.
Ba cách
sống này muôn đời đeo đẳng, nhận chìm mọi người trầm luân sinh tử trong
tam giới. Hành giả nương theo giáo pháp tam thừa tu tập, vượt qua sinh
diệt pháp của thế gian và đoạn trừ tận gốc tham sân, phiền não. Hành giả
không còn bị định luật thiên nhiên và tình cảm dày xéo, nhưng sống với
giới thân huệ mạng thường còn bất biến.
An trụ
trong thế giới tri thức, đạo đức; hành giả nhận thức về cuộc sống con
người chính xác hơn, việc làm đúng đắn, thánh thiện hơn. Vì thế, hành
giả không bị thế gian ràng buộc. Tuy thân còn hiện hữu ở thế gian,
nhưng không bị cuộc đời làm ô nhiễm. Đó là chân hạnh phúc trên trần thế,
hay hữu dư y Niết bàn.
Dù thế gian
không có gì hấp dẫn, hành giả vẫn tiếp tục hiện diện ở cõi đời, làm mẫu
người mô phạm tác động lợi ích cho thế gian. Thành tựu xong hạnh nguyện
này, bất cứ lúc nào thân vô thường hoại diệt theo định luật thời gian,
hành giả không buồn quan tâm đến nó; nhẹ nhàng bỏ sanh thân tạm bợ, trở
về với Pháp thân vĩnh hằng.
Ngoài ba
nghĩa trên, ý nghĩa xuất gia cũng được đề cập trong kinh Duy Ma. Qua
phẩm Thanh Văn, chúng ta nhận thấy Duy Ma chỉnh lý sự sai lầm về vấn đề
xuất gia. Ngài mượn nhận thức sai lầm của một số người mà gán cho La Hầu
La, để chỉ chúng ta thế nào là xuất gia đúng pháp.
La Hầu La
không dám đến thăm bệnh Duy Ma, nhằm nói lên sự hối hận của La Hầu
La. Điều này muốn ám chỉ sự hối hận của người tu sĩ đã vì lầm lẫn khuyên
người bỏ nhà đi tu để mong cầucông đức. Người quan niệm xuất gia có
phước đức rồi xuất gia, họ đã phạm sai lầm từ căn bản. Vì mong cầu lợi
mà xuất gia, tham chấp lợi thì có khác gì phát xuất từ lòng tham, thuộc
về nghiệp và phiền não. Xuất gia như vậy chắc chắn không thể hiện đúng
con đường xuất gia của Phật.
Theo Duy
Ma, xuất gia đúng nghĩa là phát tâm Bồ đề. Bồ đề tâm còn có tên khác là
tuệ giác, tức khả năng nhận thức sáng suốt. Chính vì xuất gia mang ý
nghĩa đích thực là Bồ đề tâm, nên người xuất gia thường dùng khẩu hiệu
“Duy tuệ thị nghiệp” làm kim chỉ nam trong cuộc sống tu hành.
Thật vậy,
sự nghiệp của người xuất gia là trí tuệ; vì trí tuệ, hay tánh sáng suốt
quyết định tất cả. Trong hầu hết kinh điển, Đức Phật đều đề cao vai trò
quan trọng của trí tuệ và đưa ra phương pháp tu để phát triển tánh sáng
suốt. Riêng đối với Đức Phật, mọi người tôn thờ kính ngưỡng cũng vì ngài
đã đạt quả vị Toàn giác; đó là đỉnh cao nhất của trí năng.
Đối với
hàng Thanh văn, trong quá trình tu tập phát triển Bồ đề tâm, họ thường
xuyên gạn lọc tội lỗi, luôn suy nghĩ lời Phật dạy để đem pháp lành vào
tâm. Nhờ chận đứng dục nhiễm, trau giồi đạo hạnh, tâm được bình ổn,
sáng suốt, Thanh văn thấy được mặt thật của cuộc đời, sống đúng theo
hoàn cảnh, làm gương tốt cho người. Trên căn bản đó, đời sống của Thanh
văn bỏ tục xuất gia, hưởng thụ của đời rất ít; trong khi họ đóng góp lợi
lạc cho đời rất nhiều.
Tiến lên
một nấc cao hơn và quan trọng hơn là Bồ đề tâm của Bồ tát không phải chỉ
mang tính chất thuần lý như Thanh văn ngồi yên suy nghĩ, đối chiếu lời
Phật dạy, để thấy chính xác. Bồ tát không nhất thiết phải mang hình thức
xuất gia của Phật. Bồ tát thật sự thể hiện trọn vẹn tư cách xuất gia,
vì các ngài dấn thân vào cuộc đời, sống ở tình huống nào cũng vận dụng
được trí năng để giải quyết thành công mọi việc. Chẳng những Bồ tát
không bị hoàn cảnh bức bách, mà còn chuyển hướng trở thành tốt đẹp.
Dưới kiến
giải của Duy Ma, hành giả dù sống ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng đều là
xuất gia, nếu vận dụng được trí tuệ đặc thù củamình mà vượt qua mọi khó
khăn và giải quyết vấn đề nhẹ nhàng, đúng đắn. Trong lịch sử Phật giáo
Việt Nam, chúng ta thấy rõ cuộc đời của các vị Thiền sư xuất hiện dưới
nhiều việc làm khác nhau. Các ngài đóng góp đáng kể cho dân tộc, nên mọi
người phải kính ngưỡng. Các ngài thể hiện trọn vẹn ý nghĩa xuất gia
theo Duy Ma dạy.
Tóm lại,
hàng nhị thừa Thanh văn, hay Bồ tát xuất gia đúng pháp, đều phải hành sử
trên căn bản phát huy trí tuệ. Và các ngài thể hiện sinh khí trong sáng
của chánh pháp vào đời sống phạm hạnh, thanh tịnh. Như vậy, mới xứng
danh là chúng trung tôn tiếp nối mạng mạch Như Lai, hiện hữu như một
người khách quý mà mọi người mong chờ. Các ngài đến hay đi, đều lưu lại
trong lòng người biết bao niềm kính mến, mang an lạc, giải thoát khắp
muôn nơi. Đó cũng chính là con đường xuất gia mà Đức Thích Ca Mâu Ni đã
chọn và thể hiện trên cuộc đời này.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.22/8/2017.
No comments:
Post a Comment