Ý nghĩa kinh hành niệm Phật.
Ý NGHĨA KINH HÀNH NIỆM PHẬT.
Đức Phật
hiện thân trên cuộc đời thuyết giảng tám muôn bốn ngàn pháp môn tu khác
nhau, để chữa trị tám muôn bốn ngàn phiền não trần lao cho chúng sinh.
Tùy người, tùy chỗ, tùy thời, ngài nói pháp không đồng; nhưng chỉ nhằm
mục tiêu duy nhất là giúp chúng ta được cứu cánh giải thoát. Pháp môn
kinh hành niệm Phật cũng không ngoài mục tiêu này.
Kinh hành
không phải là đi nghêu ngao. Đó là một pháp tu mang ý nghĩa quan trọng.
Tuy pháp kinh hành niệm Phật xem có vẻ đơn giản, nhưng sự hành trì đúng
pháp chỉ vài lần phải mang lại sự thay đổi tốt đẹp cho thân tâm. Tùy
giai đoạn tu và trình độ tu chứng khác nhau của mỗi người mà có kết quả
khác biệt.
Thật vậy,
nương theo pháp kinh hành, chư Phật và Bồ tát đều đắc đạo. Trong kinh
Pháp Hoa, Đức Phật dạy hành giả đi kinh hành đúng pháp, phải phát sinh
trí tuệ. Không phải đi suông, đi để mà đi thì muôn đời vẫn ở trong sinh
tử luân hồi. Như bà già ăn mày đi theo Phật, đi hoài vẫn giữ nguyên vị
trí ăn mày của bà.
Đức Phật
Thích Ca đi kinh hành dưới cây Bồ đề, từng bước tư duy để quán sát pháp
giới và ngài chứng được Như Lai huệ. Như vậy, chúng ta hiểu được việc đi
kinh hành của Như Lai nhằm mục tiêu tập trung tư tưởng, quán sát vũ trụ
và đạt được trí tuệ siêu việt.
Kinh hành
nghĩa là đi một mình hoặc đi nhiều người, khoảng cách và bước đi đều
đặn, liên tục như sợi dây xâu chuỗi. Niệm Phật là miệng xưng tán danh
hiệu Phật và tâm tưởng nhớ đến ngài. Hằng ngày, thường ghi nhớ những
chuyện phiền muộn thế gian. Nay hành giả đi kinh hành niệm Phật để tưởng
nhớ hình bóng giải thoát củaĐức Phật và những lời dạy cao quý
của ngài. Nhờ đó, hành giả cảm thấy nhẹ nhàng, vui tươi, quên đi những
dục lạc trần gian và cao hơn nữa, phát sinh được sự hiểu biết chân thật
về các pháp.
Đi là một
trong bốn oai nghi của Đức Phật dạy. Lúc mới tập đi kinh hành, hành giả
cảm thấy bước đi ngượng ngập; vì nhiều đời đã quen với bước đi của thế
gian. Nay học đi theo Phật, đi nhẹ nhàng thanh thoát. Đức Phật trải qua
vô lượng kiếp tu pháp này, ngài có dáng đi nhẹ nhàng như mây bay, nhưng
không ai theo kịp. Như Vô Não cầm dao rượt theo hại Phật mà vẫn không
đuổi kịp. Kinh hành theo bước đi của Như Lai, trên lộ trình từ phát tâm
tuđến thành Phật, thân tâm hành giả phải chuyển biến và thăng hoa theo
từng bước chân đi.
Mỗi bước đi
của hành giả được quy định là bốn tấc. Bốn bước chân trái và bốn
bước chân phải tròn một câu niệm Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật, nằm trong
bốn tiếng mõ rơi đều nhau. Đây là quy tắc đầu tiên phải tuân thủ.
Mỗi bước luôn cách nhau bốn tấc. Từ trước ta đi tự do, bước dài bước
ngắn, không đều; nên người lao chao, tâm hay bị giao động và làm máu lưu
thông không đều, dễ sinh bệnh. Bước đi nào cũng bốn tấc sẽ tạo thế đi
vững vàng. Đều khoảng cách và đều nhịp, thì thân trở nên nhẹ nhàng, hơi
thở sẽ đều và nhịp tim cũng đều theo.
Như vậy,
hành giả điều chỉnh bước đi để điều chỉnh hơi thở; vì bước đi ảnh hưởng
đến hơi thở. Đi không đều, hơi thở sẽ không đều. Hơi thở không đều dễ
sinh bệnh, không tu được; vì thán khí không thải ra hết, còn tích tụ
trong buồng phổi lâu ngày dễ bị đau phổi. Hành giả lấy pháp điều hòa hơi
thở làm chính, vì dễ kiểm soát nó.
Sơ tâm tu,
hành giả dùng tâm kiểm tra bước đi. Nhờ đó, tâm không phóng túng theo
trần duyên bên ngoài. Tâm hoàn toàn ký thác vào bước đi; miệng niệm
Phật; tai nghe tiếng mõ; mắt nhìn xuống, theo dõi khoảng cách của bước
đi cho đều đặn. Và hơi thở cũng nhẹ nhàng đều đặn, hòa theo nhịp của
bước đi. Nói chung, sáu căn tập trung vào bước đi, thì tâm không vướng
bận tưởng nhớ trần duyên.
Giai đoạn
một, kinh hành niệm Phật để hành giả tách ra khỏi hệ lụy của cuộc sống
Ta bà. Tâm phiền não của hành giả hoàn toàn biến mất, vì không còn điều
kiện để chạy theo nó. Đây chỉ mới ở giai đoạn điều chỉnh thân.
Sau khi
hành giả kiểm thấy bước đi đúng khoảng cách và đều nhịp, chân phải luôn
bước đúng vào tiếng mõ; hành giả bắt đầu điều chỉnh hơi thở. Hành giả
kiểm soát xem hơi thở trong lúc đi như thế nào, có đều hay không, hay là
đã thở nhanh hơn hoặc yếu hơn. Đến đây bước sang giai đoạn điều chỉnh
hơi thở cho hòa hợp với bước đi. Đi kinh hành một lúc cảm thấy mệt, mỏi
chân, ra mồ hôi, hơi thở dồn dập, tim đập mạnh, là đã hành trì sai pháp.
Vì khi đi hay đứng, cần phải giữ cho thân thể ở trạng thái bình thường.
Hành giả
dùng hơi thở kiểm soát bước đi, xem trong một câu niệm Phật tám bước,
thở mấy hơi. Nếu chỉ thở một hơi, thì hành giả hít vào từ từ và đủ tám
bước rồi, mới thở ra. Hoặc hai bước lấy hơi thở vào và hai bước thở ra.
Cứ như thế tiếp tục đều đặn. Bao nhiêu hơi thở ra và hơi thở vào vừa nói
trên, chỉ là con số ví dụ. Nó có thể thay đổi cho thích hợp với hơi thở
dài ngắn của từng người khác nhau.
Vấn đề
chính là phải thở cho đều đặn, nhẹ nhàng, tự nhiên và hòa được với nhịp
bước đi của mình. Ở giai đoạn đầu, hành giả cố gắng đi cho đúng nhịp và
khoảng cách, nên hơi thở bị dồn dập, không đúng pháp. Khi qua được giai
đoạn một, bước đi đều rồi, hành giả dùng hơi thở kết hợp với bước đi. Vì
vậy, hơi thở và bước đi kiểm soát lẫn nhau. Hơi thở và bước đi điều
hòa, lượng máu lưu thông cũng điều hòa theo. Có một sự điều hòa cơ thể
tốt như vậy, tật bệnh sẽ khó phát sinh, nên thân được an lành.
Điều chỉnh
thân và hơi thở được bình thường, khỏe mạnh, chỉ là giai đoạn đầu nằm
trong thuật dưỡng sinh của thế gian. Đó không phải là mục tiêu của pháp
kinh hành. Vì có mạnh khỏe đến đâu chăng nữa, hành giả cũng phải bỏ xác
thân này. Vì vậy, cần bước sang giai đoạn ba để điều chỉnh tâm.
Ở giai đoạn
một, tâm hành giả buộc vào bước đi và hơi thở. Nhưng nếu cứ tiếp tục
trụ hoài chỗ này cũng luống công vô ích. Thật vậy, khi tâm chỉ cục bộ
vào hơi thở và bước đi, đến lúc nhắm mắt lìa đời, bỏ thân này, hành giả
cũng chẳng được lợi lạc gì. Vì vậy, Thiền sư thường răn : “Sống ngồi,
không nằm; chết nằm, không ngồi”. Ý này nhằm nói những việc làm vô ích
của người tu theo hình thức, không chứa đựng được nội dung nào bên
trong.
Khi dùng
tâm kiểm tra thấy hơi thở đã ăn nhịp với bước đi đều đặn, tự tại, thanh
thoát, là hành giả đã thỏa hiệp được với thân nghiệp. Việc sắp xếp cho
thân tâm thích hợp với pháp tu là một vấn đề quan trọng để duy trì thân
mạng sống còn mà tu hành. Ý thức được rằng hành giả không có một sức
mạnh vô song và một trí tuệ siêu việt như Đức Phật, nên không thể làm y
như ngài. Vì vậy, phải thỏa hiệp với thân nghiệp của mình, từng bước
điều chỉnh hơi thở cho thân khỏi bệnh. Thân điều hòa, hơi thở điều hòa
thì chắc chắn tâm cũng bớt phiền não.
Thân, hơi
thở và tâm trở lại bình thường rồi, bấy giờ Tổ dạy rằng “Bình thường tâm
thị đạo”. Từ đây, hành giả mới khởi tu được. Trở thành con người bình
thường, bắt đầu quán sát, suy nghĩ, mới nhìn vật một cách khách quan,
chính xác. Hành giả tập trung tư tưởng để suy tư pháp Phật, gọi là quán
tâm, thuộc phần chánh tu. Pháp tu quán là dùng lời dạy cao quý của Đức
Phật và hình ảnh từ bi, giải thoát của ngài để phá trừ phiền não từ vô
lượng kiếp của hànhgiả.
Hành giả
bắt đầu tư duy về ý nghĩa tại sao khi đi kinh hành, mỗi bước phải đi
cách nhau bốn tấc. Bốn bước chân phải đặt xuống đúng tiếng mõ mang ý
nghĩa gì và bốn bước chân trái mang ý nghĩa gì ?
Pháp số bốn
có ý nghĩa quan trọng đối với pháp quán. Mỗi bước đi cách nhau bốn
tấc tiêu biểu cho cuộc sống của hành giả lúc nào cũng đi theo pháp tứ
Thánh đế, hay đi trên chân lý. Trên bước đường tìm chân lý, hành giả
quán sát hai pháp của Tục đế và hai pháp của Chân đế. Hiểu được hai pháp
của Tục đế, hành giả nhìn về thế gian, thấy thế giới chúng sinh đầy
phiền não nhiễm ô. Ở lập trường Chân đế, thấy thế giới Phật thanh tịnh,
giải thoát. Bên này có khổ và nguyên nhân của khổ; bên kia có giải thoát
và con đường giải thoát.
Khi đã ý
thức đang đi trên tứ Thánh đế, tiến lên một nấc, hành giả quán rằng bốn
bước chân trái tiêu biểu cho bốn việc khổ đau trên trần thế, là những
việc sai trái dẫn mọi người vào sinh tử. Bốn bước chân phải tiêu biểu
cho sự thanh tịnh, giải thoát của thế giới Niết bàn, chân hạnh phúc. Có
thế giới Ta bà khổ đau, vì có bốn việc tạo thành thế giới đau khổ. Trái
lại, cảnh giới Niết bàn an vui, giải thoát; vì được kết hợp bằng bốn
pháp thanh tịnh.
Đi kinh hành, khi bốn bước chân trái đặt xuống, hành giả liền quán tưởng bốn pháp sau đây :
1 – Quán thân bất tịnh
Bước chân
trái thứ nhất, hành giả nghĩ rằng thân vật chất này bất tịnh, ô uế, nhơ
nhớp, thường được hình dung như một túi da đựng đồ hôi thối. Trái lại,
thân Phật ở Niết bàn thanh tịnh, trang nghiêm. Ngài lấy tánh của muôn
vật làm thân, nên thân Phật là Pháp thân thường trú. Và khi ngài hiện
hữu trên thế gian, tuy cũng mang thân phàm như mọi người, nhưng Phật có
đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp.
Quán sát
thấy Đức Phật và hành giả mang thân phàm giống nhau. Tại sao ngài
được mọi người kính trọng, còn hành giả lại bị ghét bỏ ? Đức Phật dạy
rằng ngài trải qua vô lượng kiếp tu hành đạo Bồ tát, thân chỉ làm việc
thiện; miệng chỉ nói lời đúng đắn, nhu hòa; tâm hoàn toàn nhớ nghĩ điều
lành và mọi việc làm của ngài chỉ nhằm mang an vui đến cho mọi người.
Với thân, khẩu, ý thuần khiết như vậy, mới kết thành thân Phật thanh
tịnh, trong suốt như lưu ly.
Trái lại,
hành giả mãi sống với tâm tham lam, ghét ganh, bỏn xẻn, kiêu mạn; miệng
nói lời dối trá, sai quấy, độc ác; thân làm chuyện tội lỗi và sống một
cuộc đời ích kỷ, vô nghĩa, không giúp ích gì cho ai. Thân tâm xấu xa
như vậy mới tạo thành hình hài đau khổ, khó thương. Tâm hẹp hòi, mới trở
thành thiển cận. Ngày tháng trôi qua, thân tâm tàn tệ lần mà không hay
biết. Trải qua vô số kiếp, hành giả lăn lóc trên con đường khổ đau này.
Ngày nay hiểu đạo, hành giả không còn ưa thích thân ô uế. Muốn bỏ nó để
cầu chứng Pháp thân thanh tịnh như chư Phật, hay ít nhất có thân từ hoa
sen hóa sinh.
Kinh hành,
biết đưa hình ảnh thanh tịnh vào tâm, hành giả liền trở thành Phật; Phật
này là Phật tâm. Chỉ cần một niệm tâm thanh tịnh, Phật xuất hiện. Từ
một Đức Phật bên ngoài ảnh hưởng vào tâm, làm Phật tâm của hành giả sống
dậy. Đức Phật có lòng từ bao la, nên tâm hành giả nghĩ đến ngài, liền
trở nên hiền diệu. Người nhìn thấy hành giả cũng hiền theo. Đó là Đức
Phật đã hiện vào nhân gian, hay thân hành giả đã được Phật hóa. Trên
bước đường tu, hành giả giống Phật một phần, sẽ xóa được một phần trần
tục.
2 – Quán thọ thị khổ
Bướm tung
tăng bay lượn trong vườn hoa rất đẹp. Nhưng tham lam, dại khờ bắt nó,
nắm vào tay, thì chỉ cầm được mớ lông độc tả tơi. Mọi người thường khởi
tâm ham muốn tất cả vật trên trần thế. Tuy nhiên, Đức Phật dạy rằng
người càng có nhiều vật sở hữu càng khổ; vì bị nó ràng buộc. Chẳng những
họ khổ vì sự vật bên ngoài, thân ngũ ấm cũng bị nhiều bức bách khổ đau
từ lúc chào đời đến khi nhắm mắt, không thể kể hết.
Trái lại,
Đức Phật có phước đức viên mãn. Vì thế, đối với ngài, tất cả vật đều là
phương tiện hành đạo; khi cần liền tự có đầy đủ. Và ngài trang nghiêm
bằng Pháp thân thanh tịnh, nên ở thế giới của ngài chỉ có lạc thọ, mà
không hề có khổ thọ.
Khi hành
giả còn ở vị trí phàm phu, cần phải dùng pháp quán để phân biệt hai điều
đối nhau là phải và trái, chơn và vọng, con đường tội lỗi và con đường
giải thoát. Quán như vậy, hành giả xa lìa cái xấu, hướng tâm về thế
giới cao đẹp.
Ở đây chỉ
tạm dùng danh từ “lạc thọ” diễn tả những cảm nhận ở thế giới Phật, để
đối lại danh từ “khổ thọ” ở thế gian. Sự thật trong thế giới Phật không
còn sự đối đãi, tốt xấu, khổ vui. Vì tất cả pháp đều ở trạng thái tịch
tĩnh; khó dùng ngôn ngữ phàm phu để diễn tả được. Chỉ khi nào hành giả
thật sự bước vào sống trong thế giới của ngài, mới có được cảm nhận chân
thật, chính xác. Vì thế, mọi sự diễn tả trạng thái cảm nhận về thế giới
Niết bàn của chư Phật nằm ngoài sự lạm bàn của phàm phu.
3 – Quán tâm vô thường
Hành giả
phải nhớ rằng tất cả vật trên thế gian này luôn luôn biến đổi. Vật biến
đổi, nên tâm cũng biến đổi theo. Vì vậy, Đức Phật dạy rằng tâm này vô
thường. Hiểu được tâm vô thường của thế gian, hành giả sẽ thản nhiên
trước sự thất hứa của người khác. Vật cũng như hoàn cảnh luôn thay đổi,
thì lòng người thay đổi theo là điều tất yếu. Ngoài ra, quan niệm của
con người về mọi vấn đề cũng thay đổi theo từng giai đoạn, từng thời kỳ.
Ở thời kỳ thần quyền, phân quyền, dân quyền, thì người ta đều có cái
nhìn khác nhau trên mọi lãnh vực.
Từ thế giới
vô thường của Ta bà, hành giả kinh hành, bước vào thế giới thường còn
bất biến của chư Phật. Tâm của Đức Phật và thế giới của ngài không thay
đổi. Vì ngài an trú trong tịch tĩnh, hay ở dạng thể của các pháp, thường
được gọi là thật tướng các pháp. Trên căn bản này, những gì Đức Phật
dạy đều là chân lý tuyệt đối.
4 – Quán pháp vô ngã
Bước chân
trái thứ tư, hành giả liên tưởng đến mọi cố gắng tích lũy của con người
trên thế gian này. Đến cuối cùng, ba tấc hơi chấm dứt cuộc đời, tất cả
sẽ hoàn không. Lúc sống, thường chấp tất cả vật xung quanh là của ta, mà
khổ với cái ta này. Cũng vậy, thân của con người không bền chắc, thường
được Phật ví như bọt bong bóng hay ánh nắng. Nhưng người ta si mê, lầm
tưởng nó là vĩnh viễn; nên khổ mãi trong kiếp luân hồi.
Đức Phật
dạy pháp vô ngã để dẫn dắt mọi người đến chân ngã. Trên bước đi kinh
hành, dứt bỏ tất cả mộng tưởng điên đảo của trần gian và an trú trong
chân ngã là thân chân thật. Hành giả sẽ trở thành bất tử như Đức Phật,
có khả năng thâm nhập vũ trụ, lấy vũ trụ làm thân, hiện hữu khắp Pháp
giới. Ngược lại, cố chấp trong thân xác hạn hẹp, thì muôn đời khổ đau
với nó.
Như vậy,
bốn bước chân trái giúp hành giả nghĩ đến bốn pháp là vô thường,
khổ, không, vô ngã của thế giới Ta bà đau khổ, nhiễm ô. Và bốn bước chân
phải gợi lên bốn pháp là thường, lạc, ngã, tịnh của thế giới Cực Lạc
trong sạch. Hai hình ảnh này tương phản nhau. Theo bước đi kinh hành,
mỗi ngày hành giả nhàm chán, xa lần đau khổ nhiễm ô của Ta bà và đến gần
an vui, thanh tịnh của Niết bàn.
Với bốn
bước chân phải, bước vô đúng tiếng mõ để cảnh tỉnh, nhắc hành giả nhớ
đến thế giới thường hằng, bất biến. Bốn bước chân trái bước vào khoảng
không, tiêu biểu cho pháp Không, nên trần tục đối với hành giả trở thành
vô nghĩa.
Khởi đầu,
hành giả phải quán hai pháp tương phản nhau là thanh tịnh, an lạc,
giải thoát và khổ đau, triền phược để so sánh, lựa chọn. Nhưng với sự
gia công tu tập, những buồn phiền khổ đau của phía trái từ từ biến mất
theo bước lặng, trống không. Bấy giờ, quán sát đổi khác; vì chỉ còn bốn
tiếng mõ và danh hiệu Phật giúp hành giả hướng tâm đến Đức Phật Thích
Ca. Ngài là người duy nhất chỉ dạy cho hành giả nhận thức được con đường
từ phàm phu đến thế giới Phật.
Bước chân phải thứ nhất đúng
vào tiếng niệm Nam Mô. Nghĩa là hành giả đứng ở lập trường chúng sinh
nhìn về Phật, chắp tay cung kính, đặt trọn niềm tin nơi ngài và nguyện
theo bước chân ngài.
Niềm tin
của hành giả đối với Đức Phật là một niềm tin được trí tuệ hướng dẫn.
Hành giả quan sát trên thế gian này, có những biểu tượng tốt được loài
người phong là Thánh. Những ông Thánh này chỉ tạo được ảnh hưởng và làm
lợi ích trong một phạm vi nào thôi. Lời nói của các vị này cũng chỉ có
giá trị ở một thời điểm nào đó.
Riêng Đức
Phật, trong các vị Thánh, ngài ra đời trước nhất, thuyết kinh nhiều
nhất, mà không phạm phải lỗi lầm nào. Kho tàng giáo lý của Đức Phật để
lại cách nay hàng ngàn năm, mọi người trên thế giới còn đang tìm hiểu,
nghiên cứu và chưa ai dám kết luận Đức Phật sai. Vì vậy, hành giả chọn
Đức Phật làm đối tượng tu hành, đặt trọn niềm tin cung kính ngài.
Bước chân phải thứ hai đúng
vô chữ Thích Ca. Thích Ca là Năng Nhơn, nghĩa là đấng vạn năng, toàn
năng, trọn lành. Vì ngài đã làm những việc mà người đương thời không làm
được và cả người hậu thế cũng không làm được. Ngài ra đời trong một
nước có nhiều sắc tộc, vào thời kỳ phức tạp, đầy dẫy các học thuyết.
Giáo lý trong sáng của ngài đã đánh đổ được các học thuyết ấy.
Sống trong
xã hội mà mọi người cúi đầu khuất phục chế độ giai cấp, ngài dám chủ
trương xóa bỏ giai cấp, nhưng không ai làm hại ngài được. Vô Não chuyên
giết lén, đuổi theo sát hại Phật. Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp thả rắn hại
Phật và vua A Xà Thế cho voi say giết Phật. Thế mà họ không thể hại được
ngài và sau cùng đều trở thành đệ tử ngài.
Xuất thân
từ giai cấp cao nhất, ngài thản nhiên từ bỏ tất cả, để sống với giai cấp
thấp nhất. Và giáo đoàn của ngài đã dung hóa được mọi giai cấp chung
sống hài hòa với nhau. Đức Phật không dùng một tấc sắt hay dụ dỗ để
chinh phục người, mà tất cả đều quy ngưỡng, tôn kính ngài.
Bước chân phải thứ ba đúng
vào chữ Mâu Ni là tịch mặc, vắng lặng. Vắng lặng từ nét mặt, cho đến
tâm hồn. Tất cả phiền não, khổ đau, ghét thương không có trong tâm Phật.
Ngài không bao giờ tranh chấp với người. Đức Phật luôn luôn an trụ
trong trạng thái tĩnh lặng và thể hiện sâu sắc hạnh nhu hòa nhẫn nhục.
Kinh hành bước theo Phật, để tâm hành giả trở thành trầm tĩnh và hiền lành đối với tất cả mọi người.
Bước chân phải thứ tư đúng
vô chữ Phật, nghĩa là giác ngộ, sáng suốt. Hành giả theo Phật là nương
với trí tuệ sáng suốt của ngài, nương sự chỉ đạo và lòng từ bi của ngài,
xây dựng một cuộc sống cao đẹp có ý nghĩa.
Tóm lại,
pháp kinh hành niệm Phật bên ngoài chỉ thấy động tác đơn giản. Tuy
nhiên, thực hành pháp phương tiện này, tâm trở thành thanh tịnh và đưa
hành giả trở về bến giác.
Từng bước
chân đi kinh hành niệm Phật, hành giả đem Phật vào tâm, dùng gươm trí
tuệ cắt đứt dây tham ái là cái phát xuất ra mọi tội lỗi, si mê. Vì vậy,
hành giả càng hành trì pháp kinh hành niệm Phật, thì thế giới Phật càng
đến gần hơn và tri kiến Phật càng được khai mở. Từ đó, hành giả nhận
chân được con đường của Đức Phật đi thật là trong sáng và bất diệt. Hành
giả đem cả thân mạng mà quy y Phật; nguyện làm những việc như ngài đã
dạy; phát tâm vô thượng, cầu đắc quả vị Chánh đẳng giác.
Muốn phát
tâm vô thượng, phải bỏ tâm hẹp hòi, tham chấp; mở rộng tâm để thông được
với tâm Phật. Hành giả sẽ dễ dàng khoan dung, tha thứ mọi ám hại, hay
phỉ báng vô tình hoặc cố ý.
Kinh hành
luôn ghi nhớ lời dạy của Đức Phật, lần sửa đổi tâm tánh cho giống Phật,
làm theo hạnh Phật. Nương theo ngài, tâm hành giả bừng sáng. Nhờ Phật
bên ngoài ảnh hưởng Phật tánh bên trong của hành giả, tâm trở thành
thanh tịnh, sáng suốt; vụt bỏ được dại khờ từ vô lượng kiếp. Được như
vậy, hành giả thấy mình cũng vạn năng như Đức Thích Ca, làm được những
việc khó làm trong đời ác trược. Và hành giả nguyện cho mọi người cùng
hiểu, cùng đi trên con đường vô thượng cao quý của Đức Phật.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.22/8/2017.
No comments:
Post a Comment