Ý nghĩa tĩnh tâm.
Ý NGHĨA TĨNH TÂM.
Tĩnh tâm
nghĩa là gội rửa thân tâm cho trong sạch, để thấy Phật và nghe được pháp
âm của ngài, tiến tu đạo hạnh. Pháp tĩnh tâm giúp hành giả điều chỉnh
thân của một con người không bình thường trở thành bình thường. Từ thân
bình thường nâng lên thành thân phi thường, chuyển đổi tình cảm và lý
trí của phàm phu thành đạo đức và trí tuệ của Thánh nhân.
Muốn thanh
lọc tâm, trước tiên phải thanh lọc thân. Thanh lọc thân bằng cách tập
thở cho điều hòa; vì hơi thở chi phối mạng sống củahành giả. Trước khi
bắt đầu thực hành pháp tĩnh tâm, cần chuẩn bị một số điều kiện sau đây.
1 – Nơi
hành giả ngồi tĩnh tâm phải sạch sẽ, thoáng khí để hít thở được không
khí trong lành, cần thiết cho việc thanh lọc cơ thể. Những nơi thiếu vệ
sinh, chật hẹp, ngột ngạt, dơ bẩn, ẩm thấp, hoặc có những chất độc hại,
nhiều ruồi muỗi, không phải là nơi thích hợp cho việc điều hòa hơi thở
và dễ sinh bệnh.
2 – Thời
gian tĩnh tâm, cần chọn những lúc thật yên tĩnh, thanh vắng; không có
người qua lại; không có tiếng động ồn ào; không có tiếng nói chuyện hoặc
tiếng xe cộ ầm ĩ. Tất cả những tạp âm hỗn loạn bên ngoài đều gây trở
ngại cho việc định tâm và suy tư.
3 – Trước
khi ngồi tĩnh tâm, hành giả không được làm những việc quá sức về trí óc
lẫn tay chân. Vì làm việc nhiều, số lượng chất hữu cơ bị đốt phải lớn và
sẽ thải ra nhiều thán khí. Lúc ấy, phải thở nhanh và mạnh, mới kịp tống
khứ những chất độc ra ngoài. Vì thế, hành giả ngồi tĩnh tâm ngay, thì
hơi thở nhẹ và chậm, sẽ không đủ sức để thải ra ngoài những thán khí độc
hại còn tích tụ trong máu. Điều này khiến cho hành giả cảm thấy đầu óc
lừ đừ, mê mệt, bị tức ngực, hay tay chân rã rời, v.v…
Vì vậy, nếu
hành giả có làm việc hơi nặng nhọc, thì trước khi tĩnh tâm, cần làm
động tác như sau. Hít thở độ năm đến mười hơi cho mạnh, để tống khứ hoàn
toàn ra khỏi cơ thể những thán khí độc hại. Sau đó, mới bắt đầu từ từ
thở nhẹ lại.
Tuy nhiên,
không nên đang từ giai đoạn thở thật mạnh chuyển sang thở chậm ngay. Ở
khoảng giữa chuyển tiếp, phải thở nhịp độ trung bình của lúc thở nhanh
và lúc thở chậm; để tránh sự mất thăng bằng cho nhịp đập của tim. Phương
pháp này chỉ áp dụng đối với những hành giả khi vào tĩnh tâm, mà thân
tâm chưa ở trạng thái bình thường, nên phải điều chỉnh như vậy.
Sau khi đã
chuẩn bị xong chỗ ngồi tĩnh tâm, thời gian tĩnh tâm và điều chỉnh hơi
thở, không cho rơi vào trạng thái bất thường nêu trên; hành giả bắt đầu
thở nhẹ và quán tưởng theo phương pháp sẽ nói dưới đây.
Riêng đối
với những hành giả đang tu pháp kinh hành niệm Phật và trở về ngồi tĩnh
tâm, thì thân tâm họ đã được điều chỉnh bìnhthường ngay trong lúc đi
kinh hành. Họ không cần áp dụng phương pháp hít thở mạnh trước
nữa. Phương pháp điều chỉnh hơi thở sẽ diễn tiến như sau.
Khi ngồi tĩnh tâm, lưng hành giả phải thật thẳng.
Ngồi thẳng lưng giúp cho máu cũng như không khí lưu thông trong cơ thể
được điều hòa dễ dàng. Bàn tay trái của hành giả đặt lên bàn tay phải,
tượng trưng cho ý nghĩa nội bí ngoại hiện. Nghĩa là bên ngoài hành giả
có thân tướng bình thường như mọi người; nhưng bên trong nỗ lực tu hành,
trau giồi đạo đức, luôn mang tâm niệm xây dựng an vui cho mọi người. Dù
hành giả thành tựu nhiều việc lợi ích và công đức rộng lớn đến đâu,
cũng không khoe khoang, không tự mãn, vẫn giữ hạnh khiêm tốn và một lòng
trau giồi giới hạnh.
Khi ngồi tĩnh tâm, cổ của hành giả cũng phải thẳng. Mắt nhìn xuống đất trước mặt, cách hành giả độ một thước; vì tầm nhìn quá gần dễ bị mỏi mắt. Mắt mở khoảng một phần ba của mắt mở bình thường là
thích hợp nhất và cũng tiêu biểu cho đôi mắt từ bi của Đức Phật. Hành
giả không nhắm mắt; vì mắt nhắm lại, dễ làm hành giả buồn ngủ và mắt mở
to dễ bị tán loạn, khó định tâm. Khi mắt đã chọn được điểm nhìn vừa vặn,
thích hợp, hành giả tập trung cái nhìn vào điểm cố định; không liếc qua
liếc lại, để tránh không bị loạn tâm.
Để tôn
trọng sự yên tịnh cần thiết trong lúc tĩnh tâm của đạo tràng, cũng như
để bảo đảm điều kiện vệ sinh tối thiểu cho đại chúng, những hành giả bị
cảm, sổ mũi, ho, v.v…, nói chung hành giả không được khỏe, hoặc bị bệnh
truyền nhiễm, thì không nên ngồi tĩnh tâm chung với đại chúng. Vì khi
hành giả nhảy mũi, ho, hay lắc lư thân người, cựa quậy hoài, để sửa đổi
thế ngồi, sẽ làm động chúng và gây trở ngại cho việc quán tưởng của
mọi người; chưa kể đến việc lây bệnh cho người khác.
Điều chỉnh dáng ngồi cho ngay thẳng, vững vàng xong, hành giả bắt đầu điều chỉnh hơi thở,
từ từ hít vào thật nhẹ. Hít thở vào càng nhẹ và kéo dài lâu càng tốt;
từ mười giây đến nửa phút là tốt nhất. Hít vào nhẹ nhàng để không khí di
chuyển trong phế quản một cách bình thường, đều đặn, không làm tổn
thương các tế bào của phế quản. Hít vào thật lâu cho lồng ngực nở ra,
chứa đầy không khí.
Hít vào
xong, hành giả ngưng lại một giây, cho không khí đi cùng khắp buồng phổi
đầy đủ; rồi từ từ thở ra. Thở ra cũng phải thật nhẹ nhàng và kéo dài
lâu như lúc hít vào, để hoàn toàn thải sạch thán khí dơ bẩn ra ngoài.
Thở ra
xong, hành giả cũng nghỉ một giây, rồi lại tiếp tục từ từ hít không khí
vào. Lúc hít vào, hành giả đừng hít mạnh; vì hít mạnh, phế quản sẽ tiếp
nhận một lực tác động quá mạnh, không tốt cho phổi. Cũng vậy, lúc thở
ra, đừng thở quá nhanh và ngắn, sẽ không thải được hết những thán khí
còn sót trong buồng phổi.
Khi hít hơi
thở vào, hành giả không được lấy sức kéo bụng lên, nâng ruột lên và thở
ra, không được dồn hơi hạ xuống ruột. Thở sai như vậy, một thời gian sẽ
bị đau ruột.
Hơi thở dồn
dập, không đều, lúc nhanh lúc chậm; hoặc hít vào lâu, thở ra mau, hay
ngược lại, hít vào mau, thở ra lâu; hoặc có cảm giác tức ngực, khó thở,
đau bụng, chóng mặt. Tất cả cách thở như vậy đều là những trạng thái bất
thường, không tốt. Điều chỉnh thân không đúng pháp, nếu tiếp tục tĩnh
tâm theo cách ấy, ít lâu sẽ sinh ra vô số bệnh.
Hành giả
hít vào và thở ra chậm rãi, nhẹ nhàng, đều đặn bằng nhau, giúp cho nhịp
tim điều hòa. Và nhờ đó, lượng máu lưu thông trong cơ thể cũng điều hòa,
thanh lọc được những chất không cần thiết và máu đi đều khắp thân thể.
Vì vậy, hành giả không cảm thấy tê chân tay, hoặc khó chịu bất cứ phần
nào trong thân thể.
Điều chỉnh
hơi thở cho được bình thường, khỏe mạnh, chỉ là giai đoạn đầu theo
thuật dưỡng sinh của thế gian; không phải là mụctiêu tĩnh tâm của hành
giả. Vì có mạnh khỏe đến đâu, rồi cũng phải bỏ xác thân này; cho
nên hành giả cần bước sang giai đoạn hai để điều chỉnh tâm.
Sau khi điều chỉnh hơi thở đều đặn, hành giả bắt đầu cột tâm vào hơi thở.
Không cho tâm nghĩ tán loạn, bằng cách một hơi hít vào và thở ra thì
đếm một và hơi thở kế tiếp, đếm hai. Cứ tiếp tục đếm như vậy cho đến hơi
thở thứ mười và hành giả sẽ đếm lại từ đầu; không để lầm lộn.
Vừa đếm vừa
theo dõi hơi thở, không cho tâm nghĩ việc khác, là pháp quán sổ tức.
Pháp quán này chỉ nhằm giúp hành giả tập trung vào việc trụ tâm, nên
chưa phải là trạm dừng chân. Khi áp dụng pháp quán sổ tức thuần thục,
nghĩa là tâm an định dễ dàng rồi, hành giả tiến sang tu pháp quán khác.
Hành giả
ngồi yên, tĩnh tâm, bắt đầu suy nghĩ về lời dạy nào đó của Đức Phật, hay
nhớ đến công hạnh của vị Bồ tát mà hành giả có độ cảm, hoặc liên tưởng
đến thế giới Phật mình ưa thích. Tất cả hình ảnh thánh thiện của Phật,
Bồ tát, hay lời dạy cao quý của các ngài, đều là đại tiền đề cho hành
giả tập trung, suy tư; để tạo thành thắng phước nhân duyên giữa hành giả
và các ngài.
Tu tập pháp
quán thuần thục giúp cho tâm hành giả thanh tịnh, sáng suốt. Càng quán
tưởng, tâm hành giả càng mở rộng theo hạnh nguyện và việc làm của các
ngài.
Tóm lại,
tĩnh tâm để tu tập pháp quán là một trong những pháp mà hành giả lựa
chọn, suy tư và thể hiện trong cuộc sống hằng ngày, nhằm mang đến an
lạc, giải thoát cho chính bản thân và cho những người xung quanh.
Trên bước
đường tu hành, tùy trình độ tu chứng khác nhau, mà hành giả có pháp quán
đổi khác. Tuy nhiên, dù quán bất cứ pháp nào, mọi gia công tu quán
trong thời tĩnh tâm đúng pháp phải mang lại cho hành giả trí tuệ sáng
suốt, thân thể khỏe mạnh, tánh tình diệu hiền, hài hòa với mọi người.
Ngoài ra, hành giả luôn có tâm nguyện đem phước lạc đến cho người và thể
hiện tâm nguyện ấy bằng những việc làm tốt đẹp để tạo lập một gia đình
hạnh phúc, xây dựng đoàn thể phát triển và rộng hơn, kiến tạo một xã hội
thái bình, thịnh vượng, mọi người biết thương yêu nhau.
Đạt được
mục đích này, hành giả đền đáp được ơn lớn của Đức Thế Tôn và thể hiện
một cách thiết thực bổn hoài của Đức Phật hiện hữu trên thế gian vì hạnh
phúc cho chúng sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an
lạc cho chư Thiên và loài người.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.26/8/2017.
No comments:
Post a Comment