Tam Bảo
TAM BẢO.
Hạnh phúc thay chư Phật giáng sinh
Hạnh phúc thay giáo pháp cao minh
Hạnh phúc thay chư Tăng hòa hợp
Hạnh phúc thay tứ chúng đồng tu.
Bài kệ biểu
lộ niềm hoan hỷ bất tận của người đệ tử Phật khi tiếp nhận được ba ngôi
báu vô song, khi bắt đầu bước vào ngưỡng cửa an lạc, giải thoát của
ngôi nhà Phật pháp.
Tam Bảo là
điểm nương tựa khởi đầu của người Phật tử. Bài pháp này còn là nền tảng
căn bản rất quan trọng mà chúng ta cần ý thức và thể hiện trong cuộc
sống phục vụ nhân sinh.
Chúng ta
nương tựa Tam Bảo không chỉ đơn giản giới hạn ở bước khởi điểm. Pháp này
cần được phát huy sâu rộng trong suốt quá trình tu tập của chúng ta cho
đến ngày đạt quả vị Vô thượng Đẳng giác. Vì nếu lệch ra ngoài hướng đi
của Tam Bảo, chắc chắn chúng ta sẽ lạc vào con đường tà giáo.
Vì tính
chất quan trọng của ba ngôi báu này, hàng Phật tử cần ôn lại quá trình
phát triển ý nghĩa của Tam Bảo. Từ đó, xây dựng mô hình Tam Bảo cho phù
hợp với nếp sống hiện nay, để mang lại lợi lạc cho bản thân mình và cho
người. Đó chính là những gì tôn quý nhất mà chúng ta thành kính dâng lên
cúng dường Đức Thế Tôn trong ngày kỷ niệm Phật Đản
Trước nhất,
người Phật tử cần xây dựng niềm tin căn bản trên ngôi Phật bảo. Vì Đức
Phật không hiện hữu trên cuộc đời này, Pháp và Tăng cũng không có; đạo
Phật chẳng nương đâu mà phát khởi và chúng ta cũng không là Phật tử.
Chúng ta
biết rằng Đức Phật từ khi tu hành cho đến khi đạt được quả vị Vô thượng
Chánh đẳng giác, ngài không có đối tượng nào để tôn thờ. Ngài khẳng định
rằng ngài là bậc vô sư tự ngộ. Vốn bản chất thông minh, hiếu học, ngài
đọc tất cả sách vở của ngoại đạo. Nhưng ngài không bằng lòng cúi đầu an
phận theo chủ trương của ngoại đạo là phú thác vận mạng mình cho thần
linh. Ngài hạ quyết tâm tự tìm chân lý.
Sau 49 ngày
tư duy dưới cây Giác Ngộ, ngài đã thành tựu Vô thượng Bồ đề. Nghĩa là
ngài nắm bắt được thật tướng của vũ trụ và vạn vật; thấy được nguyên
nhân sinh tử của mình và của tất cả mọi người, mọi loài. Không có gì mà
ngài không biết, không thấy. Ngài thành Phật, thành bậc Toàn giác.
Trên bước
đường hoằng hóa độ sinh, với trí tuệ của bậc Thiện thệ Thế gian giải,
Đức Phật đã thuyết phục các hàng ngoại đạo quy về Phật đạo. Ngài nhẹ
nhàng chuyển đổi truyền thống cố chấp của hàng quyền thế Bà la môn có từ
lâu đời, khiến họ cởi bỏ xiêm y tế lễ, theo ngài làm đệ tử. Dưới sự
khai ngộ của Đức Phật, họ đều trở thành những người phạm hạnh kiểu mẫu
trong thời Phật tại thế.
Có trí tuệ
thấy đúng như thật của bậc Chánh Biến Tri, Đức Phật thấy rõ chánh nhân,
duyên nhân của từng người. Ngài chọn đúng đối tượng, sử dụng người đúng
chỗ, giao nhiệm vụ đúng. Vì vậy, ngài thuyết pháp giáo hóa thành tựu
viên mãn.
Điển hình
như vừa thành đạo, rời Bồ đề đạo tràng, Đức Phật đến độ năm anh em Kiều
Trần Như, dẫn họ đến quả vị Vô Sanh một cách dễ dàng. Nhưng kế đó, Đức
Phật không trực tiếp đến giáo hóa Xá Lợi Phất. Ngài dạy Mã Thắng mang
hình bóng giải thoát của người vừa chứng đắc A la hán, đi khất thực một
cách thanh thản. Mã Thắng không nói lời nào, nhưng khiến cho Xá Lợi Phất
là một đại luận sư của ngoại đạo đương thời trông thấy, phải phát tâm
theo về Lộc Uyển. Xá Lợi Phất gặp được Phật, cũng liền đắc quả A la hán
một cách đơn giản.
Sau khi Xá
Lợi Phất trở thành La hán giải thoát, Đức Phật thấy rõ Mục Kiền Liên
lãnh đạo một tu viện lớn gồm 100 tu sĩ và ông rất kính nể Xá Lợi Phất.
Đức Phật lại dạy Xá Lợi Phất đến độ Mục Kiền Liên.
Khi hai vị
lãnh đạo tên tuổi của hàng ngoại đạo là Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên trở
thành đệ tử của Phật, uy thế của ngài càng lớn mạnh. Điều này làm cho
Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp là quốc sư của Bình Sa vương cảm thấy khó chịu.
Lúc ấy, Đức Phật không bảo Mục Kiền Liên đi giáo hóa ông này, mà chính
ngài đích thân đến tu viện của ông. Và Đức Phật đã giáo hóa ông trở
thành người đạo đức.
Chỉ một vài sự thật lịch sử nói trên đã biểu lộ rõ nét Đức Phật là bậc Đạo sư sáng suốt, giác ngộ (Phật bảo).
Những lời
của Đức Phật giảng dạy trong suốt 49 năm không chỉ là lời nói suông.
Trái lại, ngài đã thể hiện chân lý trong cuộc sống dưới mọi tình huống.
Khi thì ngài đích thân đến chiến trường để ngăn chặn chiến tranh giữa
hai đạo binh. Hoặc có lúc ngài giáo hóa ông vua cực ác như A Xà Thế trở
thành nhà cai trị hiền lành, sáng suốt, người hộ pháp đắc lực nhất. Thậm
chí, có trường hợp Đức Phật thản nhiên, bình tĩnh vô hiệu hóa âm mưu
bôi lọ của 500 Bà la môn dẫn một cô gái bụng chửa đến vu oan Phật.
Chân lý hay
Pháp bảo mà Đức Phật tỏa ra cho cuộc đời quả thật đã nhẹ nhàng giải
quyết êm đẹp những khó khăn vướng mắc của cuộc sống thế nhân.
Sau cùng,
tính chất Tăng bảo, hay tính chất hòa hợp đại chúng cũng thể hiện đậm
nét nơi Đức Phật. Thật vậy, cuộc đời của Đức Phật chứng tỏ ngài là người
thật sự vì nhân sinh. Tuy là bậc Đạo sư cao minh, ngài vẫn tùy thuận,
sống hài hòa với mọi tầng lớp xã hội, để lần dìu dắt họ trở thành những
người sáng suốt, thánh thiện.
Sự thật
lịch sử chứng minh Đức Phật có khả năng thu hút mọi tầng lớp xã hội
đương thời đến với ngài. Từ một nhóm người nhỏ gồm Đức Phật và năm Tỳ
kheo ở Lộc Uyển có sinh hoạt bề ngoài thấy bình thường, nhưng đã tác
động vào xã hội thật mãnh liệt. Đồ chúng của Phật lan rộng mạnh mẽ, lên
đến 1.250 người, rồi 12.000 người. Chẳng bao lâu cả xứ Ấn, từ vua chúa
cho đến người cùng đinh, từ hàng trí thức đến người dốt nát, đều quy
ngưỡng Đức Phật.
Tính chất
Tam Bảo tuy tiềm tàng đầy đủ trong Đức Phật, nhưng mô hình Tam Bảo thật
sự chỉ phát xuất kể từ khi ngài lập giáo khai tông ở Lộc Uyển, thuyết
pháp Tứ Thánh đế độ năm anh em Kiều Trần Như. Lúc ấy mới hình thành mô
hình Tam Bảo đầu tiên.
Sở dĩ Tam
Bảo được coi như báu quý, vì giải đáp được thắc mắc nội tâm, thỏa mãn
được yêu cầu tri thức đối với người tu luôn hướng về đời sống tinh thần.
Đối với họ, những báu vật thế gian chỉ có giá trị hữu hạn. Năm anh em
Kiều Trần Như được Đức Phật giải tỏa những khắc khoải đè nặng họ từ lâu.
Đồng thời ngài còn khai thông trí tuệ cho họ, dạy họ pháp Tứ Thánh đế
chấm dứt sự khổ đau và mở ra con đường dẫn đến hạnh phúc, an lạc thường
còn. Họ nương theo nhau sống chung, tạo thành một tập thể đoàn kết, hài
hòa, an vui, giải thoát. Vì vậy, Tam Bảo, Phật Pháp Tăng rất quý báu đối
với năm em Kiều Trần Như.
Từ đó, quy y
Tam Bảo là khuôn mẫu, hay luật đầu tiên cho những người muốn gia nhập
Tăng đoàn. Quy y Phật là nhận Đức Phật làm Thầy, tin Phật hoàn toàn sáng
suốt. Người buồn phiền, hay có nhiều điều nan giải đến với Phật đều
được ngài hóa giải.
Ngài là vị
Đạo sư gần gũi mọi người, được người tin cậy ở mọi lãnh vực. Như vua A
Xà Thế tin tưởng hoàn toàn trí tuệ siêu việt của Đức Phật. Ông muốn đem
binh đánh nước Bạt Kỳ, cũng sai sứ đến hỏi ý Phật. Tính chất giáo dục
của một vị Thầy toàn giác, toàn trí biểu lộ rõ nét nơi Đức Phật. Ngài
không phải là một vị thần linh xa lạ ở nơi nào.
Quy y Pháp
là tin và chấp nhận những quy luật đúng đắn, không bao giờ sai lầm, do
Đức Phật truyền dạy. Vì trên bước đường thuyết pháp, giáo hóa chúng
sinh, lời nói và việc làm của Đức Phật luôn tương ưng với nhau. Ngài đáp
ứng được yêu cầu của quần chúng, mới cảm hóa được mọi tầng lớp cùng
thăng hoa thánh thiện.
Quy y Tăng
là chấp nhận tập thể hòa hợp của những đệ tử Phật cùng tu hành, cùng lý
tưởng tìm chân lý và đang thực hiện mục tiêu hướng đến quả vị Phật. Tăng
đoàn khi Phật tại thế đều là tam Hiền, tứ quả giải thoát Tăng. Họ sống
chung cả ngàn người, nhưng không hề xích mích, tranh cãi nhau.
Đến đây
hình thức tín ngưỡng tôn giáo cũng chưa phát sinh. Vì Tam Bảo : Phật,
Pháp, Tăng bấy giờ đều là sự thật thể hiện rõ nét ngay trong cuộc sống
gần gũi mọi người; không phải tìm ở chốn xa xăm nào. Tín ngưỡng của Phật
giáo trong thời Phật giáo nguyên thủy thật đơn giản. Đó là tin sự sáng
suốt của Đức Phật, tin chân lý là tứ Thánh đế và tin sự giải thoát, hòa
hợp của chư Tăng.
Ngày nay,
Phật tử Bắc tông hay Nam tông, khởi đầu đến với đạo Phật, đều phải quy y
Tam Bảo. Tuy nhiên, tùy trình độ và giai đoạn lịch sử mà hiểu Tam Bảo
có khác nhau, tạo thành quá trình tin Tam Bảo và phát triển Tam Bảo đổi
khác.
Khi Phật
tại thế, nương vào sự chỉ đạo đúng đắn của ngài, mọi việc được giải
quyết chính xác êm đẹp. Nhưng kể từ khi vị Đạo sư sáng suốt vào Niết
bàn, vấn đề nan giải được đặt ra làm Tam Bảo đổi dạng.
Thật vậy,
Đức Phật là ngọn đèn soi sáng đã tắt. Ngọn đèn rọi vào vật hay Pháp mất,
làm cho Pháp bảo cũng không thể tồn tại. Vì thế, chỉ còn lại tụ thứ ba
là Tăng. Nhớ lại Phật Niết bàn, ngài có di chúc cho chư Tăng được quyền
thay Phật quyết định, với điều kiện ý này phải được toàn thể đại chúng
chấp nhận.
Từ đó, phát
sinh quan niệm Tam Bảo hội nhập đầy đủ trong Tăng đoàn. Chư Tăng còn là
Phật pháp còn. Phật sống và Pháp sống là sống trong sinh hoạt của tập
đoàn Tăng. Phật còn trong suy nghĩ đúng đắn, hòa hợp của chư Tăng. Pháp
còn trong quyết định chung của tập thể Tăng. Hình thức này được tôn
trọng triệt để và tồn tại kéo dài đến 200 năm sau Phật Niết bàn, vẫn lấy
hòa hợp Tăng làm nền tảng của Tam Bảo.
Tuy nhiên,
sau đó, đoàn thể Tăng mỗi ngày một phát triển, nên sinh ra nhiều quan
điểm khác nhau. Vì không cùng suy nghĩ, không cùng pháp tu, đứng dưới
nhiều góc độ khác biệt mà nhìn về Đức Phật và lời dạy của ngài, tất
nhiên tính chất hòa hợp khó duy trì. Đó là lý do đưa đến tình trạng phân
hóa, tách rời đoàn thể Tăng thành 20 bộ phái riêng biệt. Mô hình Tam
Bảo theo quan niệm chư Tăng tiêu biểu đầy đủ cho Tam Bảo bị sụp đổ cũng
từ đó.
Vì sự mất
mát trầm trọng đó, quan niệm thế gian trụ trì Tam Bảo ra đời thay thế.
Thế gian trụ trì Tam Bảo là những gì có thật trên cuộc đời. Phật bảo
được tiêu biểu bằng lá Bồ đề tượng trưng cho trí giác. Hoặc hoa sen
tượng trưng cho sự trong sạch, lần đến vẽ hình Phật và làm tượng Phật.
Pháp bảo là những lời Phật dạy được ghi chép lại trong tam tạng kinh
điển và Tăng bảo là đoàn thể Tăng đi theo con đường mà Đức Phật đã vạch
ra, tiếp nối sự nghiệp của ngài.
Khi mượn
hình thức thế gian trụ trì Tam Bảo để tu tập có tính cách danh nghĩa hay
tượng trưng, nhưng người ta lại phạm phải sự chấp trước vào Tam Bảo
tượng trưng là thật; nên dễ sinh ra phiền muộn, bất mãn. Vì thế, mọi
người không khỏi ước mơ hướng tâm đến hình thành ngôi Tam Bảo lý tưởng,
tốt đẹp thật sự. Đó là yêu cầu tất yếu của sự xuất hiện kế tiếp tư tưởng
xuất thế gian Tam Bảo.
Dưới lý
giải của tinh thần Phật giáo phát triển đặt căn bản trên sự chuyển biến
của thực tại mà vận dụng giáo lý, các nhà truyền giáo Đại thừa nhận thấy
hình thức thế gian Tam Bảo không đáp ứng được niềm tin của Phật tử. Và
lúc bấy giờ, cũng để đối trị lại mô hình thiên đường ảo tưởng của Phạm
Thiên do Bà la môn giáo dựng lên được mọi người ưa thích, Phật giáo phát
triển kịp thời sản sinh ra mô hình xuất thế gian Tam Bảo. Theo đó, Phật
là đấng giác ngộ chỉ vắng bóng trên cuộc đời. Ngài không chết, ngài vẫn
luôn hiện hữu ở Niết bàn.
Tin xuất
thế gian Tam Bảo là tin Đức Phật bất tử vẫn thường hằng miên viễn, gọi
là Báo thân viên mãn, hay Pháp thân vượt ra ngoài nhục thân hữu hạn của
con người.
Xuất thế
gian Tam Bảo hàm chứa đầy đủ chân lý sống thực, đã được Phật mang theo
về Niết bàn. Ngài để lại cho chúng ta những lời dạy góp nhặt thành kinh
điển. Kinh thường được ví như ngón tay chỉ mặt trăng, hay thuyền bè đưa
ta qua bờ giác. Vì ngón tay không phải là mặt trăng; thuyền bè không
phải là bờ giác; nên vấn đề được đặt ra cho chúng ta là phải cố vận dụng
được chân lý sống thực.
Từ niềm tin
Phật bảo và Pháp bảo đã vượt ra khỏi thế gian, dẫn đến hình dung xuất
thế gian Tăng bảo. Đó là chúng hội của Đức Phật xưa kia đã là tam Hiền
tứ quả giải thoát Tăng; nên chắc chắn hiện tại các ngài cũng phải bất
tử, đang cùng sống chung với Đức Phật ở Niết bàn.
Kế tiếp,
dựa trên mô hình xuất thế gian Tam Bảo, tư tưởng Tịnh độ mười phương bắt
đầu hình thành. Phật tại thế, ngài xây dựng cho mọi người một nhân gian
Tịnh độ. Nhưng Phật vào Niết bàn, Tịnh độ cũng chắp cánh bay theo. Bấy
giờ, Bắc truyền Phật giáo kiết tập kinh điển căn cứ vào lời dạy của Đức
Phật, tìm nghĩa lý sâu xa bên trong mà phát hiện hai mẫu Tịnh độ. Đó là
Tịnh độ ở phương Đông của Đức Phật Dược Sư và Tịnh độ ở phương Tây của
Đức Phật A Di Đà.
Phải chăng ý
niệm hướng về phương Đông cầu Đức Phật Dược Sư mang ý nghĩa liên tưởng
đến sự xuất hiện của Đức Phật có trí tuệ tuyệt luân và sự tinh khiết
thuần thiện. Hai đặc tính siêu việt này của Đức Phật Dược Sư có khả năng
làm cho bầu trời nhân loại trở thành trong sạch, giống như mặt trời mọc
ở phương Đông xóa tan màn đêm đen tối.
Và khi Phật
Niết bàn, ánh sáng soi đường cho thế gian không còn, ví như mặt trời
lặn ở phương Tây. Mọi người tiếc thương, hướng tâm về phương Tây, hình
dung ra Tây phương Tịnh độ của Đức Phật Di Đà.
Đến giai
đoạn này, với sự phát triển mạnh của quan niệm xuất thế gian Tam Bảo thì
Tam Bảo không còn trên cuộc đời nữa. Vì trong thế gian không có vốn quý
báu; Cực Lạc không thể có ở đây. Tam Bảo, Phật Pháp Tăng đã bay khắp
mười phương. Tinh thần Tam Bảo được nâng lên thế giới Tây phương của
Phật Di Đà, thế giới Đông phương của Phật Dược Sư, hay ở cung trời Đâu
Suất của Đức Di Lặc.
Từ đây đánh
dấu một sự chuyển biến quan trọng trong sinh hoạt tín ngưỡng của đệ tử
Phật. Do hoài vọng về Đức Phật và Thánh chúng ở thế giới khác mà phát
sinh ra cầu nguyện và lễ bái. Điều này khác với niềm tin ban đầu được
đặt trên căn bản tu hành là chính.
Quan niệm
tôn thờ xuất thế gian Tam Bảo hiện hữu khắp mười phương, không còn ở thế
gian cũng không khác gì quan niệm tôn thờ Thượng đế của Bà la môn. Phật
giáo Đại thừa mới chỉnh lý sự sai lầm này, xác định lại khả năng và vai
trò của con người tự quyết định vận mạng của chính mình.
Nhằm mục
tiêu này, kinh Hoa Nghiêm ra đời, trả lại cho con người những gì họ đã
đánh mất do hướng ngoại quá nhiều. Kinh Hoa Nghiêm kết hợp hai mô hình
Tam Bảo là thế gian trụ trì Tam Bảo và xuất thế gian Tam Bảo. Vì thế
gian trụ trì Tam Bảo không đáp ứng được yêu cầu thực tế và xuất thế gian
Tam Bảo thì lại quá lý tưởng. Kết hợp hai mô hình Tam Bảo nói trên,
kinh Hoa Nghiêm đưa ra mô hình Tam Bảo mới là tự tánh Tam Bảo, hay đồng
thể Tam Bảo.
Theo Hoa
Nghiêm, Phật bảo là Tỳ Lô Giá Na tánh, hay tánh sáng suốt tiềm tàng
trong mỗi con người chúng ta và trong cả muôn loài. Phật không chỉ riêng
cho Phật Thích Ca, mà ngài là tổng thể của Tỳ Lô Giá Na bao trùm muôn
loài muôn vật. Trên mặt hiện tượng, có muôn ngàn sai biệt đủ loài đủ
dạng; nhưng hiểu ở mặt thể tánh thì muôn loài muôn vật đều là Phật không
khác, không có gì trên cuộc đời không phải là Phật.
Từ tự tánh
sáng suốt của chúng ta nhìn thấy muôn sự muôn vật đúng như thật, thì đó
là chân lý hay Pháp bảo. Và khéo điều hợp để bản thể không xa rời thực
tế là Tăng bảo.
Với ba pháp
tự quy y đưa Tam Bảo trở về tâm, hay tự tánh, kinh Hoa Nghiêm đã khéo
léo điều hợp hai mô hình thế gian và xuất thế gian Tam Bảo. Theo tinh
thần này, Đức Phật mang ý nghĩa tượng trưng, hay xuất thế gian cũng
được. Vấn đề chính yếu là làm cho tánh sáng suốt của chúng ta bừng lên
và trở về chơn như tâm, một trạng thái tỉnh thức lắng yên tuyệt đối,
không còn bị phiền não chi phối.
Đức Phật
dạy rằng tánh sáng suốt này có sẵn trong chúng ta từ vô thủy; nó không
thiếu, không dư, không được, không mất. Sau này, Phù Vân quốc sư cũng
khai ngộ cho vua Trần Thái Tôn tánh sáng suốt ấy với câu nói : “Trong
núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm
ấy, tức khắc thành Phật ngay tại chỗ. Không phải đi tìm cực khổ ở bên
ngoài”.
Chúng ta vì
vô minh ngũ ấm ngăn che, chạy theo vọng tưởng, rời bỏ chơn tánh; nên
không thấy được bản giác của mình. Trong khi Đức Phật diệt trừ hoàn toàn
tham sân phiền não, trở về Tỳ Lô Giá Na tánh, thành Phật. Ngài khẳng
định rằng ngài là Phật đã thành và chúng ta là Phật sẽ thành.
Vì vậy, tin
Phật và tự quy y Phật theo kinh Hoa Nghiêm là nương theo hình thức
tượng trưng của Phật bên ngoài, hay Phật mười phương, để đánh thức ông
Phật trong lòng ta sống dậy. Nói cách khác, trở về phát huy tánh giác
của chúng ta. Ý này được ngài Nhật Liên ví như chim trong lồng nghe chim
ngoài trời hót mà biết được vạn hữu bao la để xổ lồng tung bay.
Chúng ta
càng thờ Phật, kính trọng Phật, thì càng mài dũa cho tâm sáng suốt. Trở
về với bản tánh vốn sáng suốt của mình, trí tuệ tự nhiên bừng sáng và
thể nhập chân lý; vượt ngoài mọi diễn tả của ngôn từ mà Tổ Bách Trượng
nói là “Tâm địa nhược không, huệ nhựt tự chiếu”. Sống được với thể tánh
sáng suốt, chúng ta mong cho mọi người cũng được như ta.
Trước khi
Niết bàn, Đức Phật Thích Ca dạy chúng ta phải nương tựa chánh pháp;
vì ngài đã nương tựa chánh pháp mà thành Phật. Pháp hay chân lý mà Đức
Phật nắm bắt, hay vận dụng, không dùng lời nói diễn tả được; nhưng có
một tác dụng rất mãnh liệt thể hiện trọn vẹn trong cuộc đời hoằng hóa độ
sinh của ngài.
Chân lý
tuyệt đối này thường được Đức Phật ví như lá trong rừng. Những gì phương
tiện Phật nói ra như lá trong tay. Lá trong rừng chỉ cho sự sống luôn
phát triển, thay đổi theo thời gian. Suốt quá trình hành đạo của Đức
Phật từ Lộc Uyển đến khi rời bỏ cuộc đời ở Ta La song thọ, hơn 300 hội,
ngài nói pháp không giống nhau. Tùy thời, tùy chỗ, tùy người, mà Đức
Phật vận dụng chân lý làm lợi ích cho chúng hữu tình.
Tu theo
kinh Hoa Nghiêm, tự quy y Pháp có nghĩa là cố gắng phát huy Pháp bảo có
sẵn trong ta, bằng cách nương theo kinh điển, suy tư, tìm hiểu nghĩa lý
sâu xa ẩn bên trong. Và lấy hiểu biết của Phật trang nghiêm cho mình,
trắc nghiệm vào cuộc sống; nhìn sự kiện diễn biến thế nào mà tùy theo đó
thuyết minh, không chấp chặt vướng mắc trong ngôn ngữ, văn tự. Người
nào nương theo thuyết minh của ta đều được an vui, giải thoát. Đạt được
tự tánh Pháp bảo lưu xuất từ chơn tâm thanh tịnh, chúng ta mong ước mọi
người cũng sử dụng được Pháp bảo của chính họ.
Chẳng những
Phật, Pháp, mà ngay cả Tăng bảo cũng có sẵn trong con người chúng ta và
muôn vật. Tự quy y Tăng theo Hoa Nghiêm là nương theo sự hòa hợp của
đoàn thể Tăng bên ngoài, hay thanh tịnh giải thoát Tăng bảo mười phương,
trở về bản tánh thanh tịnh của tâm ta.
Bản tánh
thanh tịnh này vẫn hằng hữu, nhưng bị phiền não nhiễm ô che lấp, nên trí
giác không sinh ra được. Nay thấy được chân lý, nhận rõ muôn vật dù đối
lập hay thuận hành đều từ một thể sinh ra, đều thanh tịnh hòa hợp. Và
khi sống đúng với chân lý, những chống trái, mâu thuẫn không còn; ta
được an vui, giải thoát, thể hiện được tự tánh Tăng bảo.
Mang tính
chất giải thoát, hòa hợp cùng đại chúng, để lãnh đạo, mới không gặp
chướng ngại, chống đối. Còn đứng trên lập trường cá nhân đầy dẫy muôn
ngàn sai biệt mà áp đặt, chỉ đưa đến bất mãn, suy sụp. Từ thanh tịnh của
chính mình làm hạt nhân cho mọi người, mọi vật xung quanh hòa hợp thanh
tịnh theo; chúng ta mong ước mọi người cũng được như vậy.
Chúng ta đã
ngược dòng lịch sử quan sát quá trình phát triển ý nghĩa Tam Bảo, thấy
được từng mô hình Tam Bảo thích ứng với từng thời kỳ, mang lại lợi lạc
khác nhau. Để tiếp nối việc xây dựng, phát triển niềm tin đúng chánh
pháp, làm an lạc cho chính mình và người; chúng ta nghĩ gì về mô hình
Tam Bảo ngày nay ? Sinh hoạt của Phật giáo chúng ta hiện tại có thể hiện
được ý nghĩa Tam Bảo mà Đức Phật đã dạy hay không ?
Trước nhất,
dựa trên tinh thần phóng khoáng vận dụng chân lý một cách lợi ích,
thiết thực của Phật giáo Đại thừa qua câu nói rằng : “Y kinh giải nghĩa,
Phật oan tam thế. Ly kinh nhứt tự, tức đồng ma thuyết”. Chúng ta không
rập y khuôn các mô hình Tam Bảo đã có trước, nhưng cũng không phủ nhận
những đóng góp thiết thực có ý nghĩa của các bậc tiền bối.
Chúng ta
nương theo kinh nghiệm quý báu của người đi trước, để xây dựng một hướng
đi riêng đúng đắn, lợi ích, phù hợp với cuộc sống hiện tại. Tổng hợp
những mô hình Tam Bảo là Tam Bảo theo nguyên thủy, thế gian trụ trì Tam
Bảo, xuất thế gian Tam Bảo và tự tánh Tam Bảo, cho chúng ta có sự hiểu
biết đúng về Tam Bảo trong thời đại ngày nay, được thể hiện qua sinh
hoạt sống động và lợi ích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Dưới sự
lãnh đạo của Giáo hội, Tăng Ni và Phật tử đã tích cực đóng góp vào các
phong trào ích nước lợi dân. Ngoài ra, Giáo hội không quên trách nhiệm
lớn lao của mình trong việc xây dựng Phật pháp, tiếp dẫn hậu lai, bằng
cách đặc biệt quan tâm đến sự truyền bá giáo lý, tổ chức giới đàn, an cư
kiết hạ, đào tạo Tăng tài, nghiên cứu văn hóa tư tưởng, v.v…
Hiến
chương, nội quy sinh hoạt của các Ban và những nghị quyết triển khai bổ
sung kế tiếp của Giáo hội (Pháp bảo) là cương lãnh vạch ra cho Tăng Ni,
Phật tử cùng chung sinh hoạt, phát triển lợi lạc. Đó là nhờ phát xuất từ
nhận thức đúng đắn của Giáo hội (Phật bảo) luôn hướng về sự lợi ích của
dân tộc, đạo pháp. Vì vậy, những quyết án này đã được Tăng Ni, Phật tử
hưởng ứng nồng nhiệt (Tăng bảo), giúp cho hoạt động của Giáo hội ngày
thêm tươi sáng.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.22/8/2017.
No comments:
Post a Comment