Đức Phật đã ra đời tại thành Ca Tỳ La Vệ, nay thuộc xứ Népal. Sự nghiệp hoằng hóa độ sinh của ngài đã ghi đậm dấu ấn sâu sắc, làm đảo lộn toàn bộ tư tưởng và đời sống của xã hội Ấn Độ thời bấy giờ. Và ảnh hưởng thánh thiện ấy tiếp tục lan rộng không ngừng, vượt khỏi không gian hạn hẹp của xứ Ấn cũng như vượt qua thời gian hơn 25 thế kỷ, để trở thành mô hình kiểu mẫu chỉ đạo cho toàn thể nhân loại ngày nay.
Thành quả
toàn thiện, toàn giác của Đức Phật, mà loài người tôn xưng ngài là siêu
nhân, bậc Thánh trên thế gian, không phải tự nhiên có được. Cũng không
thể trong một sớm một chiều mà Phật thành tựu đạo hạnh viên mãn. Chính
Đức Phật đã xác định ngài phải trải qua vô lượng kiếp mới đạt đến quả vị
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Lộ trình Bồ
tát mà Phật dấn thân tu hành không gì khác hơn là thể hiện trọn vẹn sáu
pháp ba la mật trong từng việc làm cứu nhân độ thế. Chính vì vậy, sáu
pháp ba la mật là pháp căn bản tất yếu cần phải thể nghiệm trong cuộc
sống tu hành của những hành giả muốn tiến lên quả vị Toàn giác.
Thật vậy,
lộ trình Bồ tát đạo từ sơ phát tâm cho đến Bồ tát thập Trụ, thập Hạnh,
thập Hồi hướng, cũng tu sáu pháp ba la mật; không tu pháp gì khác. Pháp
không thay đổi, nhưng tác động của pháp, hay nói cách khác, tu chứng của
hành giả đạt được, phải có thay đổi.
Thay đổi
nội dung bên trong là việc tiến tu của hành giả, để cuối cùng tất cả
pháp đều quy về “Không”, nhất như bình đẳng. Tuy nhiên, khi chưa qua
sông, chưa đạt đến đại huệ bình đẳng, hành giả vẫn phải sử dụng phương
tiện. Và sáu pháp ba la mật là phương tiện đưa hành giả từ sinh tử về
Niết bàn.
Điều cần
lưu ý rằng trên mỗi đoạn đường, hành giả vận dụng sáu pháp ba la mật
khác nhau; vì mỗi giai đoạn phải kết hợp phương tiện khác biệt, không
thể giống nhau. Trên phương diện tu tập, triển khai sáu pháp ba la mật
thật vô cùng tận, không đơn giản như chúng ta hiểu suông theo danh tự.
Thật vậy,
hành giả bắt đầu tu một pháp thì các vấn đề tự nảy sinh. Giải quyết được
việc này, tự nhiên lại có việc khác phải đối phó; mà đứng ở lập trường
“Thức”, chúng ta khó lường được hậu quả tốt xấu. Nói cho dễ hiểu, khi
chúng ta còn nhiều tội lỗi, nếu không giữ một chức vụ gì thì không ai để
ý, phê phán chúng ta. Nhưng nếu ra ứng cử là có vấn đề ngay.
Trên bước
đường tu, nâng mình lên một chút, việc sẽ xảy ra. Vấn đề nảy sinh trên
cuộc đời là hiện tượng đơn giản, dễ thấy, mà chúng ta còn không giải
quyết nổi. Trong khi tu chứng của Bồ tát, nhiều đời nhiều kiếp làm mãi
không rồi, nên gọi là Bồ tát tạng, hay cái kho vô tận. Thu lại chỉ có ba
chữ Bồ tát tạng, nhưng khai triển thì vấn đề sáu pháp ba la mật nảy
sinh trước.
Hành giả
chọn một pháp thực hành, kết hợp với năm pháp còn lại; nếu chỉ sử dụng
riêng rẽ một pháp sẽ hỏng. Thí dụ khi trải tâm từ đối với tha nhân,
chúng ta thường thấy xảy ra biết bao phiền phức. Vì thương người sẽ dẫn
đến kết quả hại mình, hại người; nếu hành giả không sử dụng được yếu tố
trí tuệ kèm theo.
Tuy nhiên,
thực hiện một pháp, nó tự tác động sang năm pháp kia. Vì thế, trong năm
pháp này, có một pháp bị hỏng thì pháp mà chúng ta thực hiện cũng bị
hỏng theo.
Sáu pháp ba
la mật là sáu tụ mang tính đồng bộ; sáu vấn đề tự cuộn lại với nhau,
không thể tách rời. Chính vì vậy, chúng ta tu khó đắc đạo. Chẳng những
không được công đức, còn thọ quả báo; phải chấp nhận trôi lăn trong sinh
tử, chịu khổ, rồi phát tâm tu lại nữa, trật nữa, tuột thêm nữa.
Trên tinh
thần này, không thể nào kể hết việc thực hành sáu pháp ba la mật của một
vị Bồ tát từ khởi tu đến thành Phật; huống là hành đạo của vô số Bồ
tát. Kinh Hoa Nghiêm diễn tả Bồ tát vượt qua biển khổ, nghĩa là giải
quyết được tất cả việc cho người mà không làm mất lòng ai. Không còn vấn
đề đặt ra, Bồ tát thành tựu sáu pháp ba la mật, đạt đến rốt ráo Niết
bàn giải thoát.
Khởi đầu việc bố thí, chỉ lo cho người thân, nên thuộc thế giới tương đối, sinh diệt;
vì còn thân, còn thù, không phải là hạnh Bồ tát. Làm thế nào phát triển cho người thân,
mà không gây thiệt hại cho người thù; đó là vấn đề không đơn giản. Điểm này để chúng ta phân biệt được ông vua phàm phu với Bồ tát
sơ địa hiện thân làm Hộ Quốc nhân vương tu hạnh bố thí, lo cho quyến thuộc mình đầy đủ vẫn không xâm hại người khác. Bồ tát trụ
sơ địa là Hoan Hỷ địa khi làm vua Diêm Phù Đề phải thành tựu được hạnh bố thí trên căn bản này.
vì còn thân, còn thù, không phải là hạnh Bồ tát. Làm thế nào phát triển cho người thân,
mà không gây thiệt hại cho người thù; đó là vấn đề không đơn giản. Điểm này để chúng ta phân biệt được ông vua phàm phu với Bồ tát
sơ địa hiện thân làm Hộ Quốc nhân vương tu hạnh bố thí, lo cho quyến thuộc mình đầy đủ vẫn không xâm hại người khác. Bồ tát trụ
sơ địa là Hoan Hỷ địa khi làm vua Diêm Phù Đề phải thành tựu được hạnh bố thí trên căn bản này.
Vì vậy,
trước khi thực hành hạnh bố thí, hành giả phải trang bị tâm bố thí.
Nghĩa là dùng bốn tâm vô lượng Từ, Bi, Hỷ, Xả mà hành bố thí. Không có
bốn tâm vô lượng, hành giả bố thí, dễ rớt qua ngoại đạo; vì hành giả
thường tự cho mình là người ban ơn. Nếu người thọ nhận không biết ơn và
trả ơn, hành giả sẽ khó chịu; từ đó phiền não nổi dậy.
Trái lại,
Bồ tát hành bố thí không có dụng ý nào khác ngoài mục tiêu mang an lành
cho tha nhân, gánh bớt khổ đau cho họ. Giúp đỡ xong, không còn gì tồn
tại trong tâm Bồ tát.
Phát xuất
từ bốn tâm vô lượng, tiến đến hành động mang tiền của cho người (Tài
thí), mang an vui cho người (Vô úy thí) và hướng dẫn người đi trên Thánh
đạo (Pháp thí). Đó là ba cách bố thí của Bồ tát.
Trong ba
cách bố thí này, chúng ta cần ý thức rằng việc giúp đỡ bằng tiền của chỉ
có giá trị nhứt thời. Vì mang của cho hoài, bao nhiêu cũng không đủ. Và
tệ hơn nữa, làm cho họ trở thành tầm thường, chỉ còn ý niệm chờ mong
người cho, hoặc họ cứ lo nghĩ cách đi xin. Bố thí kiểu này, chúng ta đã
biến họ trở thành người ăn hại thật sự.
Dưới kiến
giải của Bồ tát, bố thí bằng tài vật chỉ có tính cách cấp thời, cần
thiết ở bước ban đầu; không nên kéo dài. Điều chính yếu muốn giúp đỡ tha
nhân lâu dài, đối với người có chí cầu tiến, chúng ta sẵn sàng giúp họ
phát triển khả năng; đó chính là pháp thí. Trên tinh thần này, không nên
hiểu pháp thí theo nghĩa hạn hẹp là đem một số giáo lý giảng dạy, mà
cuộc sống của người nghe vẫn y như cũ. Nếu nói pháp không làm an vui,
lợi lạc cho người, chúng ta đã phá pháp; vì pháp Phật chỉ có một vị giải
thoát.
Hành giả
thuyết pháp nhằm giúp cho người xây dựng được đời sống vật chất ấm no và
phát triển đời sống tinh thần thăng hoa thánh thiện. Như vậy, vấn đề bố
thí cần được cân nhắc trên hiệu quả, hơn là nhắm mắt hành động suông.
Từ đó, bố thí phải mang lại tác dụng tốt trong hiện tại cho thế hệ này,
mà còn ảnh hưởng đến các thế hệ kế tiếp. Đó là mô hình lý tưởng của Bồ
tát hành bố thí.
Nếu xét về
hiệu quả lợi ích lâu dài, tất yếu phải nghĩ đến vấn đề giáo dục. Riêng
tôi, ngày nay thành tựu một số Phật sự, chính là nhờ chư tôn đức cha anh
đã đào tạo, xây dựng cho tôi phát triển tri thức, từ Phật học đường Nam
Việt cho đến du học nước ngoài. Ngoài ra, tôi còn may mắn nhận được
tiền của giúp đỡ từ những người mang tâm vô lượng. Nhờ đó, tâm vô lượng
của tôi cũng phát triển theo. Vì thế, tôi tự nghĩ phải nỗ lực học cho
thành tài, tu cho thành đức và hoằng dương chánh pháp, để đền đáp công
ơn Thầy Tổ, đàn na tín thí.
Trên bước
đường tu, chúng ta cần lưu ý rằng tâm kèm theo phẩm vật cho rất
quan trọng. Khi người cho đầu tư vào chúng ta tâm vô lượng, thì lòng
chúng ta theo đó mở rộng. Trái lại, không may mắn nhận trúng tâm xấu,
thì sau này chúng ta cũng giống như họ vậy. Tâm người cho tác động qua
tâm người nhận và nhân chỗ các pháp theo nhân duyên sinh mà chúng ta tu
hành. Nói cách khác, khi hành bố thí, hành giả phải xét hiệu quả của
việc làm. Và ngược lại, căn cứ vào hiệu quả này mà biết được cái nhân bố
thí của chúng ta làm là đúng hay sai.
Tôi trắc
nghiệm pháp tu này, thấy rõ khi tôi khởi tâm tốt để bố thí, người nhận
cảm thấy nặng lòng và cố gắng phát triển khả năng để làm việc bố thí
thay tôi. Trái lại, bố thí mà thấy họ trở thành người ăn hại, hành giả
cần kiểm lại tâm mình để điều chỉnh pháp tu bố thí.
Trên bước
đường tu, không phải lúc nào chúng ta cũng khởi được tâm niệm tốt. Chỉ
có tâm Phật là niệm niệm tương tục hoàn toàn trong sạch, thuần thiện.
Đối với hành giả đang tiến tu lộ trình Bồ tát đạo, trong tâm bao la còn
nhiều tâm xấu tồn tại, cần khắc phục, hạn chế.
Tâm ta thế
nào thì cuộc đời sẽ đối xử với ta tương ưng như vậy. Vì thế, hành giả
không nên bố thí khi tâm chưa mở rộng. Lúc ấy, bố thí chỉ mang lại kết
quả xấu; tốt hơn, chúng ta nên trụ vào Thiền thất mà điều chỉnh nội
tâm. Thật vậy, khi khởi tâm từ đối với chúng sinh, chúng ta dễ lạc vào
cố chấp, chấp ngã và chấp pháp. Đây là vấn đề nan giải. Nếu không khởi
niệm độ chúng sinh thì trở thành vô tình, mà Đức Phật thường quở các vị
Thanh văn tu trở thành gỗ đá. Trái lại, chỉ khởi một niệm tâm là
có chúng sinh để độ và ta là người độ, thì ta liền rớt trở lại tâm chúng
sinh, không phải tâm Bồ tát.
Bồ tát vào
đời, tâm vẫn phẳng lặng như trụ định, hiện hữu trong trần lao mà tâm
không bị giao động. Bồ tát không có ý thức độ chúng sinh và không có
chúng sinh nào bị Bồ tát độ. Từ bản tâm thanh tịnh, Bồ tát hành đạo,
chúng sinh theo đó phát tâm, là không độ mà độ. Không có chúng sinh bị
giáo hóa mới thật là Bồ tát giáo hóa chúng sinh. Về điểm này, khi còn
đứng ở địa vị phàm phu luận bàn việc Bồ tát, thiết nghĩ khó giải thích
cho đúng. Chúng tôi chỉ gợi ý để quý vị hiểu được phần nào pháp ba la
mật của Bồ tát mà thôi.
Bồ tát thực
hiện đàn na, hay bố thí, độ chúng sinh để dẫn họ đến giải thoát môn.
Và giải thoát này có liên hệ nhiều mặt, không phảimột mặt. Tu một pháp
bố thí, hành giả phát hiện nó tương quan năm pháp còn lại; nên vấn đề
bố thí của hành giả chịu ảnh hưởng của việc trì giới.
Thật vậy,
cùng một việc, nhưng hai người làm thì lại dẫn đến kết quả khác nhau. Ví
dụ chúng ta đem vật cho, nhưng người không nhận; trong khi ông B cho
thì họ nhận. Sự khác biệt này làm chúng ta phát hiện được tồn tại bên
trong là đức hạnh của chúng ta còn kém. Từ góc độ đó, muốn hành bố thí
phải quay trở về tự rèn luyện giới đức của mình. Lúc ấy, trì giới là
chính, bố thí là phụ.
Đức Phật
cho biết ngài đã trải qua vô lượng kiếp thực hành thi la (trì giới). Nhờ
vậy, giới đức của ngài tròn đầy, mới hiện 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp; nên
người nào nhìn thấy ngài cũng có thiện cảm. Đức Phật chưa cho người vật
gì, họ đã sinh tâm kính trọng, biết ơn. Vì thế, có giới đức trang
nghiêm, việc hành bố thí tự động thành dễ dàng.
Trên bước
đường tu trì giới, trong giai đoạn đầu, cổ nhân dạy : “Các nhân tự tảo
môn tiền tuyết”. Nghĩa là chúng ta lo quét dọn tuyết phủ trước sân nhà,
tức lo rèn luyện đức hạnh của chính mình. Theo kinh nghiệm tu hành của
riêng tôi, trên căn bản này, cần nhận rõ vị trí của chính mình đối với
đại chúng. Nhờ vậy, chúng ta sẽ bớt nóng, bớt nói; vì thấy được thân
phận mình không ra sao mà muốn làm thầy thiên hạ, thật là vô lý.
Tu giới
đức, phải lóng tai nghe nhiều hơn nói, quan sát nhiều hơn làm, để chúng
ta tìm ra được lẽ sống, học được ở người nhiều hơn. Lầm lỗi của người đi
trước chính là thầy dạy chúng ta tốt nhất.
Giai đoạn
một, trì giới nhằm rèn luyện ta thành người tốt trên cuộc đời; không bị
phê phán mới có tư cách, điều kiện nói chuyện với người. Nếu giới đức
không thành tựu, tất cả việc khác chúng ta làm đều là ma sự, hay xây lâu
đài trên cát. Người xuất gia mà thiếu phần giới bổn thì tu một lúc, họ
hoàn tục. Tu đúng pháp, cuộc sống phải thăng hoa. Ngược lại, chúng ta
châm chước, sửa đổi cho dễ dàng, thích hợp với ta; trong khi chúng ta
chưa đắc đạo thì e rằng thích hợp đó trở thành thích hợp với người thế
tục hay ngoại đạo.
Mới bắt đầu
tu, lấy giới luật tự hạn chế sinh hoạt của mình; xem giới như là vòng
đai an toàn giúp mình yên ổn. Giới được chia ra ba loại khác nhau, áp
dụng cho ba hạng người, gồm có giới của nhân thiên, của nhị thừa và của
Bồ tát.
Người Phật
tử tại gia giữ năm giới, mười giới, hay tôn trọng những nguyên tắc sống
để giữ cho mình không rơi xuống ngang hàng với loài thú, địa ngục, ngạ
quỷ và được an vui, hạnh phúc. Căn cứ vào thân khẩu ý mà xét biết được
người giữ giới có thanh tịnh hay không. Thấy thân họ đẹp thì biết thân
giới thanh tịnh. Lời nói dễ thương, chân thật thì biết được miệng họ
thanh tịnh. Ai cũng quý mến là được ý thanh tịnh.
Tuy nhiên,
ba nghiệp thân khẩu ý của chúng ta không phải kết tựu do hành vi tạo tác
trong một đời hiện tại. Nó là tổng hợp của hành vi tạo tác từ quá khứ
vô số kiếp trước. Cho nên khi mang thân không tốt, lời nói không ai ưa,
tâm hồn không sáng suốt, chúng ta tự biết tổng nghiệp của mình quá xấu.
Và ngược lại, nếu thân khẩu ý của chúng ta hoàn toàn tốt là nhờ có được
tổng hợp thiện nghiệp vậy.
Trên tinh
thần này, giới mà chúng ta hành trì không mang tính giới điều, nhưng là
quy luật. Nhận rõ được quy luật tất yếu như vậy, chúng ta thích giữ
giới; không phải bị bắt buộc giữ giới. Thích giữ giới thì hành giả thanh
tịnh; bị bắt buộc thì không thanh tịnh, hay chỉ thanh tịnh bề ngoài mà
thôi.
Ngoài ra,
vượt hơn giới của nhân thiên là giới của nhị thừa, hay một số nguyên tắc
sống giúp người xuất gia ra khỏi vòng sinh tử luân hồi. Trong kinh Bảo
Tích, Đức Phật cho biết sau khi ngài diệt độ, có hạng Tỳ kheo phá giới,
chưa đắc La hán mà thích giáo hóa chúng sinh. Họ làm ô uế đạo, nên Tỳ
kheo chánh hạnh tự tìm chỗ ẩn tu. Ngài chỉ rõ hành trạng phá giới của
họ, chưa đắc đạo nhưng cầu lợi dưỡng thế gian, kẹt vào tham sân, phiền
não. Xuất gia tu hành, nhưng họ không hướng tâm giải thoát, chỉ nghĩ đến
quyền lợi cá nhân. Vì thế, họ thường tiếp xúc với người quyền thế, trở
thành người môi giới làm ăn, buôn bán, đi lần vào con đường tội lỗi. Tâm
và hạnh của Tỳ kheo hoàn toàn biến mất, họ chỉ còn chiếc áo thầy tu,
sinh hoạt hoàn toàn thế tục, cho đến khi hoàn tục.
Để tránh con đường tội lỗi này, khi chúng ta còn nghiệp chướng trần lao, phải dùng giới luật ràng buộc, ngăn chặn tội lỗi.
Để tránh
con đường tội lỗi này, khi chúng ta còn nghiệp chướng trần lao, phải
dùng giới luật ràng buộc, ngăn chặn tội lỗi và phát huy đạo đức, trí
tuệ. Đức Phật dạy rằng đắc quả La hán rồi mới tin được mình. Chưa đắc La
hán, phải theo đúng luật nghi mà sống.
Đối với
hàng La hán sạch nghiệp, trần lao nhiễm ô không còn quấy rầy, Phật
khuyên mỗi người đi một hướng, đừng đi chung. Có khả năng cứu độ chúng
sinh mới tu Bồ tát đạo được, không bị ngũ dục lôi cuốn, tác hại. Ngược
lại, chưa đắc La hán, hãy nghiêm trì giới luật; không nên đi một mình.
Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni phải sống cách ly rõ ràng.
Muốn hành
Bồ tát đạo, phải tịnh hóa thân tâm trước. Và khi hành đạo thấy hơi nguy
hiểm, phải lui trở về tu hạnh Thanh văn, cũng có kết quả. Vì vượt thêm,
chúng ta lạc ra ngoài vòng đai giới luật, sẽ không được an toàn. Tuy
nhiên, đắc đạo rồi, hàng nhị thừa chuyển sang tu Bồ tát đạo, thọ Bồ tát
giới.
Giới Bồ tát
có xuất gia Bồ tát giới và tại gia Bồ tát giới. Xuất gia Bồ tát giới
khó hơn tại gia Bồ tát. Vì giới của người xuất gia là giới biệt giải
thoát, tức giới ngoài sinh tử. Thành tựu giới này, chứng A la hán, hay
Niết bàn Vô sinh. Mà đã ở trạng thái Vô sinh rồi, không thể phát tâm Bồ
đề được. Vì vậy, hàng xuất gia Bồ tát rất hiếm.
Hàng La
hán chỉ phát tâm Bồ đề, với điều kiện phải có Phật ra đời. Vì họ an trú
Niết bàn; không ai thâm nhập vào Niết bàn của họ được. Họ ở Niết bàn thì
có thấy khổ trần gian đâu mà phát tâm. Đặc biệt, duy chỉ có Phật là La
hán phát được tâm Bồ đề, sống với chúng sinh. Trong thế giới giải thoát,
ngài ở bậc nhất, nhưng vẫn không rời bỏ thế giới sinh tử.
Tại gia Bồ
tát dễ phát tâm hơn. Vì sống đối diện với đau khổ của cuộc đời, nên hàng
tại gia Bồ tát gặp Bồ tát cũng phát tâm được. Trong khi La hán gặp Bồ
tát, không thể phát tâm. Điều này dễ hiểu, vì thực tế cho thấy chúng ta
là người xuất gia thì chỉ có Phật khuyên chúng ta mới nghe. Trái lại, cư
sĩ khuyên, chúng ta khó chấp nhận. Ý này được kinh diễn tả rằng chỉ có
Phật ra đời, A la hán mới phát tâm Bồ đề, tu được.
Ngoài ra,
tại gia Bồ tát lấy năm giới cấm của cư sĩ cộng thêm giới Bồ tát, nên rất
dễ. Ngược lại, Tỳ kheo Bồ tát giới lấy giới Tỳ kheo cộng thêm giới Bồ
tát thì rất khó. Thật sự phải nhận thấy giới của Bồ tát cao hơn, khó hơn
giới của Thanh văn và cư sĩ. Sống đúng như vậy, mới thành tựu giới Bồ
tát, không phải chỉ đọc suông 10 giới trọng, 48 giới khinh mỗi kỳ Bố tát
là đủ.
Thật vậy,
Đức Phật dạy giới Bồ tát do Đức Lô Xá Na tụng, mà Lô Xá Na thì
phước đức, trí tuệ đầy đủ. Nói cách khác, tụng giới Bồ tát bằng phước
đức, trí tuệ. Vì vậy, ai có phước đức, trí tuệ thì nghe được giới này,
tụng được giới này.
Từ căn bản
giới Bồ tát là giới của phước đức, trí tuệ, không bằng ngôn ngữ; chúng
ta hiểu giới Bồ tát cũng phải hiểu qua phước đức, hiểu qua Vô thượng Bồ
đề và thọ giới Bồ tát cũng khác.
Nếu chúng
ta là Tỳ kheo phát tâm Bồ đề, phải tìm một Tỳ kheo Bồ tát giới tiêu biểu
cho Phật, tức trọn cả hai giới Thanh văn và Bồ tát. Nhờ vị này dắt đến
bạch Phật, xin giới, chấp nhận cho chúng ta là Bồ tát. Nhưng chúng ta
nghiệp chướng nặng, làm sao dắt vào Thật Báo trang nghiêm được, nên phải
dẫn lên chùa, chỉ tượng Phật là Phật.
Vì thuộc
thế giới tâm linh, giới sư phải dắt giới tử bằng tâm; nghĩa là ở trong
Thiền định, thế giới Thật Báo hiện ra, được ánh quang Phật chiếu đỉnh
đầu, đắc giới; không phải ai truyền. Đắc giới từ nguồn tâm, tự thanh
tịnh; không phải từ bên ngoài có, nên giới không nhất định là điều 1, 2,
3 …, nhưng làm gì cũng là Phật pháp.
Từ góc độ
này, hành trì giới Bồ tát khác giới Thanh văn. Bước đầu tu giữ giới
tướng, lần vào giới tánh. Thí dụ đối với giới sát, từ Phật, Hiền Thánh
trở xuống, cho đến loài nhỏ nhất có mạng sống, chúng ta cũng không được
xâm phạm. Đó là giữ giới tướng thanh tịnh, nhưng chưa thể xem là trì
giới ba la mật. Quan sát kỹ, thấy trong cơ thể chúng ta có rất nhiều vi
trùng; khi chữa bệnh cho ta chính là hại nó. Nó hại ta, ta hại nó. Như
vậy đã trở lại căn bản chúng sinh ăn nuốt lẫn nhau, thì công phu của Bồ
tát cũng bị gẫy đổ; đối với một giới sát, chúng ta cũng không giữ nổi
trọn vẹn.
Có thể nói
rằng chúng ta còn sự sống là còn phạm giới. Bao giờ mất sự sống, đáo bỉ
ngạn, lên Vô dư Niết bàn, sống ngoài sự sống, mới không phạm giới. Sống
ngoài sự sống nghĩa là sống với tánh của sự vật, không phải sống trên
tướng. Tánh của sự vật muôn đời không thay đổi, là trạng thái nhất như
bình đẳng, hay bản thể sự vật không sinh diệt.
Từ tánh
không sinh diệt mà hiện sinh diệt là chỉ cho Đức Phật. Giới tánh của
ngài hoàn toàn thanh tịnh và ngài sống với bản tâmthanh tịnh. Vì thế,
hiện hữu trên cuộc đời, thân tướng của ngài cùng tất cả việc làm cũng
trở thành thanh tịnh. Thí dụ điển hình là khi Đức Phật tu Bồ tát đạo,
ngài giết tên cướp để cứu 500 thương buôn. Kết quả của việc làm này là
ngài thành Phật, khác với người giữ giới, ngồi yên run sợ trước tên
cướp, không cứu được người mà cũngchẳng bảo toàn được mạng sống của
chính mình.
Từ bản tâm
thanh tịnh, Bồ tát khởi niệm hiện trong sinh tử, vì tâm đại bi. Ngài
hành động có lợi cho cả đôi bên. 500 người thương buôn được ngài cứu,
sau này họ trở thành 500 Bồ tát hộ đạo. Đối với người bị giết, ngài
khởi lòng từ. Nếu để yên cho người này giết 500 người, oan gia sẽ theo
đó trả vay trong kiếp luân hồi, không bao giờ dứt. Phật giết tên cướp,
hồn ma của hắn luôn hướng về ngài, chờ cơ hội trả thù. Nhờ theo Phật
rình mãi mà hồn ma vẫn không tìm thấy điểm xấu của ngài. Hắn chỉ thấy ở
ngài toàn là điều tốt và học được hạnh tốt của ngài, nên oan nghiệp được
xóa bỏ. Kết quả ngài thành Phật thì hắn ta cũng được sinh ở cõi Trời.
Bài học này cho chúng ta thấy nhờ nghịch duyên mới tu, nhờ để tâm theo
tìm hiểu mới biết.
Vì vậy,
trên bước đường tu, chúng ta không sợ người tìm lỗi mình, chỉ sợ nhất
mình có lỗi. Theo lộ trình Bồ tát đạo, từ Bồ tát sơ địa là Hộ Quốc nhân
vương, bước sang Bồ tát nhị địa làm Chuyển luân Thánh vương, tu trì giới
thanh tịnh trong tâm. Bồ tát chỉ khởi tâm đại bi mà quả báo không còn,
giết người không tội, mới có đủ khả năng giáo hóa người theo ác duyên.
Riêng chúng ta chưa đăng địa Bồ tát, nghiệp ác còn, mà chúng ta lại hành
động ácthì oan nghiệp bám sát, quả báo sẽ xảy ra ngay.
Trong hàng
cư sĩ và xuất gia đều có Bồ tát, đó là khúc quanh thay đổi cách nhìn từ
kinh tạng Tiểu thừa sang Đại thừa. Không giữ giới để trở thành chấp
pháp, không giải thoát, không làm được gì. Nhưng buông lung, phá giới,
trở thành thế tục hóa đạo Phật cũng hoàn toàn sai.
Giới Bồ tát
được Đức Phật quy lại thành ba điều chính yếu. Trước nhất, Nhiếp Luật
nghi giới là trở lại phần căn bản thì Tỳ kheo có luật của Tỳ kheo, cư sĩ
có luật của cư sĩ. Ai thọ giới nào phải giữ giới đó cho đúng phát
nguyện của mình.
Tuy nhiên,
trì giới của Bồ tát có mặt tích cực và tiêu cực. Mặt tiêu cực là những
gì chúng ta hứa trước Tam Bảo thì phải giữ. Nhưng trì giới tích cực theo
Đại thừa là phải phát huy khả năng của chính mình, lấy việc làm thiện
là chính, gọi là Nhiếp Thiện pháp giới. Cao hơn một bậc nữa, hành giả
không những tự lo phát triển bản thân, mà còn giúp đỡ người thăng hoa
cuộc sống vật chất lẫn tinh thần; đó là Nhiêu ích hữu tình giới của Bồ
tát.
Tóm lại,
trì giới thanh tịnh, hành giả phải trở về giới tánh thanh tịnh, tu từ
chơn tánh của mình, không phải do thầy dạy hay bạn giúp. Bồ tát trì giới
thanh tịnh, đạt đến ba la mật, thành tựu mọi việc trên cuộc đời. Tuy Bồ
tát không làm gì, nhưng không có loài nào không được ảnh hưởng tốt. Các
ngài thường hiện hữu dưới dạng Chuyển luân Thánh vương, là vua không
cần mang quân chinh phạt, đánh dẹp mà bốn phương nghe danh đều quy
thuận.
Tuy nhiên,
trên bước đường thực hành pháp tu trì giới, nếu hành giả không có trí
tuệ chỉ đạo, sẽ lạc vào giới cấm thủ. Thật vậy,hành giả phải biết rõ
giới được Phật chế ra trong hoàn cảnh nào, nhằm xây dựng tầng lớp người
nào. Chúng ta cần có trí tuệ để thấy trường hợp nào nên áp dụng giới;
nếu không sẽ rớt qua thiên ma,ngoại đạo. Thí dụ quý vị thọ giới Sa di
hay Tỳ kheo, tất yếu phải giữ giới. Không giữ giới, coi như phá giới;
nhưng ngược lại, chúng ta cố chấp giới điều, sẽ bị thiên ma lợi dụng
ngay sự cố chấp này mà phá chúng ta. Trường hợp điển hình như Phật giáo
Ấn Độ, nếu tuân thủ triệt để giới điều của Tỳ kheo, cho đến cọng cỏ cũng
không được làm hại,thì chỉ còn cách khoanh tay ngồi yên cho Bà la môn
giết.
Hành giả có
trí tuệ trì giới không nhất thiết phải hành động như vậy. Dùng trí tuệ
quan sát thấy đáng ngồi yên thì ngồi yên, đáng phải tự vệ, giết nó thì
giết, hay đáng bỏ đi để an lành thì sẵn sàng đi. Vì vậy, các hàng Thánh
Tăng ứng xử tùy trường hợp khác nhau. Như Thánh Đề Bà ngồi yên cho Bà la
môn đâm đổ ruột, để rồi tên sát nhân này phải quy phục, trở thành đệ tử
của ngài. Và người khác nhìn thấy tấm gương cao thượng này mà phát tâm.
Trong khi
có các vị Thánh Tăng khác sẵn sàng bỏ đi, vì nhận thấy vận mạng Phật
giáo Ấn Độ đã chấm dứt, duyên hành đạo nơi đó không còn. Vì thế, các
ngài chuyển hướng sang Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, v.v… để hành đạo.
Nơi nào có nhân duyên đắc độ, các ngài đến; không để chết vô ích, vì có
được thân người không đơn giản. Cần phải bảo vệ thân người như pháp khí
làm đạo.
Trường hợp
thứ ba thì các Thiền sư Việt Nam không bỏ đi, cũng không ngồi yên cho
giết. Các ngài sẵn sàng chống lại giặc để giữ được đạo. Dù tham gia
chiến trận, tâm các ngài vẫn thanh tịnh, đạo đức vẫn ngời sáng.
Đối với
hành giả giữ giới có trí tuệ, sống trong ba trường hợp nói trên đều
thanh tịnh. Như vậy, trí tuệ là chính; mặc dù trong sáu pháp ba la mật,
trí tuệ đứng vào hàng thứ sáu. Theo tôi, phải xếp trí tuệ vào hàng đầu;
vì không có trí tuệ, năm pháp kia không thể thành tựu. Thật vậy, kinh
Pháp Hoa dạy rằng người nào trải qua vô lượng kiếp tu hành, nhưng không
có trí tuệ thì không bằng người niệm câu Diệu Pháp Liên Hoa, nghĩa là
người đạt được trí tuệ.
Trí tuệ
hành giả chứng được ở quả vị A la hán, phát tâm Bồ đề, đi vào lộ trình
Bồ tát thập Tín, thập Trụ, thập Hạnh, thập Hồi hướng và đạt quả vị Như
Lai, từng bước có trí tuệ khác nhau. Do tu năm pháp ba la mật trước mà
phát sinh trí tuệ và nhờ trí tuệ chỉ đạo mà thành tựu năm pháp kia;
không phải tách trí tuệ riêng biệt khỏi năm pháp trên.
Từ căn bản
này, trí tuệ không được rời cuộc sống. Có trí tuệ chỉ đạo cho việc giữ
giới, thấy được người nào đáng dạy mới dạy. Với người không đáng che chở
thì không che chở; vì che chở họ là chúng ta tự mang họa vào thân.
Nhờ có trí tuệ biết được đáng che chở, dạy dỗ; nhưng đáng ở mức độ nào.
Nghĩa là phải thấy rõ nghiệp căn của đối tượng mà giúp đỡ để giải nghiệp
và phát triển căn lành cho họ. Trên tinh thần trí tuệ chỉ đạo cho việc
giữ giới, thì giữ giới làm cho đắc đạo, không phải chấp giới điều.
Ngoài pháp
tu trì giới, hành giả tu pháp nhẫn nhục, hay sằn đề ba la mật. Pháp
này cũng đặt trọng tâm vào ba nghiệp của chúng ta và cũng phải do trí
tuệ chỉ đạo. Không phải nhẫn nhục là cắn răng chịu đựng của kẻ yếu; vì
chịu đựng là nguyên nhân sinh ra phiền não sau này.
Nhẫn theo
thế gian có hai cách là nhẫn của người ngu và nhẫn của người khôn. Người
ngu nghe nói nhịn tốt, thì cứ ráng nhịn hoài, không được gì; khác với
nhịn của người khôn có trí tuệ. Với trí tuệ thế gian, chúng ta nhận xét
xem việc đáng nhẫn hay không đáng nhẫn. Từ đó, không tranh chấp với
những việc không đáng tranh chấp, không tranh chấp với người tầm thường.
Cách nhẫn
thứ hai của người khôn thế gian là nhịn chờ thời, nhịn để mưu cầu việc
khác. Vì chứng tỏ cho người biết chúng ta quá sớm sẽ nguy hiểm, như con
ếch chết vì cái miệng của nó. Thuở nhỏ, tôi nhịn dễ dàng, vì thấy được
mọi việc trên cuộc đời không đáng bận tâm, tranh chấp. Tôi bỏ tất cả để
vươn lên. Ngoài ra, trên bước đường tu hành, khi chưa đủ phước đức, trí
tuệ, thì với ai, tôi cũng sợ, cũng chiều họ; tất nhiên họ không hại
mình. Nếu không nhịn được, thầy nói chúng ta giận, bạn nói chúng ta
chống trả; bận lo những chuyện lặt vặt, làm gì còn thì giờ, tâm trí cho
việc lớn.
Tuy nhiên,
sau khi thọ giới, chúng ta đổi tánh. Lúc ấy, chúng ta nhịn; vì nếu không
giữ giới, người ngoài sẽ chê cười đạo. Riêng tôi, nhiều lúc không muốn
nhịn, nhưng tự nghĩ cần nhịn để duy trì đạo, giữ pháp Phật. Không phải
thua, không vì quyền lợi, chỉ vì muốn Phật pháp cửu trụ mà kiên nhẫn
nhịn, là nhẫn của các bậc Thanh văn.
Tiến lên
một nấc, Bồ tát nhẫn nhằm tịnh hóa ba nghiệp của chính mình. Vì thế, tu
tập hạnh nhẫn nhục, đối tượng cho hành giả nhẫn trở nên cần thiết, để
phát huy khả năng mình. Ý thức như thế, hành giả nhẫn trong vui sướng,
không phải gắng chịu. Dưới mắt Bồ tát nhẫn, không đụng chuyện khó, không
gặp đối thủ lợi hại, cuộc đời không có gì đáng sống.
Bồ tát cần
bố thí phải có người xin, cần nhẫn phải có người hành hạ. Chúng sinh
hành hạ, hành giả nhịn để luyện tập ba nghiệp của mình và thấu hiểu được
căn tánh hành nghiệp của họ. Lần đầu bị họ đánh mắng, nói xấu, làm
nhục, chúng ta tức giận, khó chịu. Nhưng nhờ có hành động xấu ác này,
chúng ta có cơ hội tu luyện pháp nhẫn. Dần dần việc ác của người không
còn tác dụng đến ta nữa, chúng ta bỏ được hành động thô và tế trong tâm.
Tâm trở thành thanh tịnh thì thân khẩu ý cũng thanh tịnh theo.
Tuy nhiên,
cần lưu ý rằng nhẫn của Bồ tát không phải là lỳ của thế gian. Bồ tát
nhẫn chẳng những không giận hờn, còn khởi tâm đại bi đối với kẻ ác. Bồ
tát thấy rõ chỉ vì họ còn nhiều ham muốn, cần quyền lợi, cần danh tiếng;
nhưng không được. Trong khi Bồ tát chẳng cần gì, mà vẫn đầy đủ; nên họ
bực tức, nói bậy, làm ác, bị đọa địa ngục.
Bồ tát nhờ
bị phỉ báng mà phát huy bản thân, thành tựu chúng sinh nhẫn. Vì thế, Bồ
tát thấy họ là người ân, không phải oán, nên dễ khởi tâm đại bi; không
phải cắn răng chịu đựng để mai kia trả thù. Từ tâm tốt thật sự này, hảo
tướng của Bồ tát hiện ra, được người thương kính. Lúc ấy, lời nói xấu,
gièm pha của họ không còn giá trị, buộc họ phải nói theo Bồ tát.
Bồ tát
thành tựu chúng sinh nhẫn thì đến đâu cũng được cung kính cúng dường. Vì
vậy, tu hành còn gặp nghịch cảnh thì phải tự biết rằng chúng ta chưa
thành đạt pháp chúng sinh nhẫn, cần phải tiếp tục luyện tập.
Bước thứ
hai, hành giả tu Pháp nhẫn; đối tượng không phải là chúng sinh, nhưng là
các pháp chi phối con người. Pháp nhẫn gồm tất cả pháp hữu hình, vô
hình, hữu vi, vô vi, được hành giả quan sát cùng tột ngọn nguồn và diễn
biến của nó, để phục vụ lợi lạc cho bản thân và cho người.
Trước tiên,
phải đối phó với pháp hữu hình, hữu vi là thân ngũ uẩn của chính mình.
Phật dạy rằng ngũ ấm xí thạnh khổ, nghĩa là lối sống của người thế gian
bồi dưỡng quá mức cho thân thì sinh ra bệnh hoạn. Ngược lại, ngoại đạo
tu khổ hạnh cũng sinh bệnh. Đức Phật dạy người xuất gia con đường chiết
trung, ăn để sống, sống để tu; nên chỉ ăn những gì vừa đủ, cần thiết cho
sự sống. Từ đó, ngài Trí Giả dạy trước khi thực hành Thiền quán, phải
điều hòa ăn uống, ngủ nghỉ, hơi thở. Nói chung, điều chỉnh thân ngũ uẩn
để duy trì sự sống bình thường giúp cho việc tiến tu.
Từ việc
điều chỉnh được pháp bình thường là thân ngũ uẩn, tiến lên, vận dụng
được pháp vô hình, vô vi, hay mọi loài trong pháp giới. Thành tựu Pháp
nhẫn thì hoàn cảnh thiên nhiên không còn chi phối, bức ngặt hành giả.
Trái lại, hành giả chuyển đổi vật để phục vụ cho mình và người.
Khi chúng
sinh và các pháp thuận với hành giả, tự động pháp nhẫn thứ ba sinh ra
gọi là Đại nhẫn. Lúc ấy, Phật, tâm và chúng sinh trở thành một. Đó là
pháp của đại Bồ tát tu chứng, khó dùng ngôn ngữ diễn tả. Và đến độ cao
nhất, mặc áo giáp nhẫn của chư Phật thì không còn gì để nhẫn, mà mọi
loài đều quy ngưỡng.
Kế tiếp
hạnh nhẫn nhục, hạnh tinh tấn cũng rất cần thiết. Vì đó là ý chí trong
sáng và hướng thiện, để sửa đổi bản thân, chuyển đổi hoàn cảnh, hướng
dẫn ta và người cùng tiến bước trên đường giải thoát. Đối với tất cả
những hành động lỗi lầm và xấu xa, cần phải tinh tấn đừng cho phát khởi.
Nếu đã phát khởi, cần tinh tấn tìm phương pháp diệt trừ. Với tất cả
điều tốt, việc hay, lợi ích cho người, cho mình, cần tinh tấn làm cho
phát khởi; đã phát khởi thì cần tinh tấn làm cho tăng trưởng.
Bồ tát hành
bốn pháp : bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, muốn đạt hiệu quả,
đều phải nhờ trí tuệ chỉ đạo. Tuy nhiên, muốn phát sinh trí tuệ, Bồ tát
cần tu tập Thiền định. Như vậy, Thiền định hay tập trung tư tưởng để đạt
được trí tuệ; không phải ngồi là Thiền định. Chỉ vì hành giả sơ tâm lấy
pháp ngồi làm chính thì dễ định hơn.
Đức Phật
dạy : “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện”. Thật vậy, định tâm là yếu tố
quan trọng trong mọi lãnh vực hoạt động của cuộc sống. Đối trước mọi
việc khó khăn, nguy hiểm, nếu tâm ta bị giao động vì ngoại cảnh, thì trí
không an định, thiếu bình tĩnh, sẽ dẫn đến quyết định sai lầm, làm thất
bại công việc.
Thiền định
có chánh định và tà định. Tà định là sự lắng lòng, tập trung tư tưởng,
suy nghĩ việc chinh phục, hại người; hoặc đem trí tưởng tượng đến một
cảnh giới xa xôi, cầu an vui một mình. Đó là Thiền định của ngoại đạo,
tà giáo.
Trái lại,
tu tập chánh định, hành giả dùng năng lực quán trí, gạn lọc các ý niệm
vọng động của tự tâm, loại trừ được mọi sự nhiễu loạn. Nhờ đó, tâm hồn
thanh tịnh và thâm nhập cảnh giới thanh tịnh. Hàng nhị thừa tu Thiền
định, tập trung tư tưởng để rọi vào pháp giới, quan sát mọi hiện tượng,
thấy được thể của sự vật, thấy yếu tố tạo nên tâm lý và vật lý của con
người; không phải chỉ thấy hình thức con người.
Cao hơn một
bậc, Bồ tát Thiền định sử dụng trí tuệ đạt được ở nhị thừa Thiền định
mà quán sát thấy sự vật đồng một thể, thấy các pháp dưới dạng chơn như;
không phải thấy dưới dạng thể, nên vượt hơn hàng nhị thừa. Nhờ Thiền
định, tất cả sai lầm, phiền não, được Bồ tát quán sát tận gốc rễ và giải
quyết được mọi khó khăn cho chúng sinh, nên thành tựu trí tuệ.
Vì vậy, trí
tuệ là cứu cánh mà mọi người tu hành theo Phật mong đạt đến. Đức Phật
đã đạt được trí tuệ viên mãn, ngài thấy biết vạn pháp trong vũ trụ đúng
như thật, chính xác như quan sát một vật trong bàn tay, nên ngài được
tôn xưng là bậc Chánh Biến Tri. Theo tinh thần Đại thừa, Chánh Biến Tri
là việc chúng ta cần phải học ở Phật; không phải học hình thức y khuôn
bên ngoài, vì phần hiểu biết mới thật sự quan trọng.
Khi tâm
hoàn toàn vắng lặng, thông được với tâm Phật, mới thấy biết như Phật. Có
thấy biết chính xác như Phật, mới tiến đến làm theo Phật. Nghĩa là làm
mà không làm, hay pháp vô vi thường được các Bồ tát tìm học, hành trì.
Vô vi pháp theo Phật không phải là ngồi yên, không làm và người cũng mặc
kệ chúng ta, gán cho ta tội làm biếng.
Thực hành
vô vi pháp của Phật thì không thấy làm bên ngoài, nhưng làm từ thâm tâm
và tác động cho người làm theo, tạo thành năng suất cao. Bồ tát giải
được pháp vô vi, thấy được thật tướng các pháp. Vì thế, các ngài làm
trên thật tướng, không làm trên giả tướng. Thấy được thật tướng mới hành
động đúng. Điều này dễ kiểm nghiệm trên thực tế. Khi chúng ta nhận thấy
có những Phật sự đáp ứng được yêu cầu thực tế, nên chúng ta vừa đề ra
thì mọi người đều tán thành, mang tiền của đến ủng hộ. Trái lại, không
thấy thật tướng các pháp, làm không theo yêu cầu của quần chúng. Lúc ấy,
phải xin tiền họ để thực hiện kế hoạch. Nghĩa là chúng ta đã yêu cầu họ
làm cho ta, không phải ta làm cho họ. Vì vậy, có việc mà chúng ta vừa
đề xuất là thành tựu ngay; có việc phải nỗ lực mới xong; nhưng cũng có
việc cố gắng vận động mãi cũng không thành.
Từ góc độ
cần học Chánh Biến Tri ở Đức Phật, Bồ tát phải có trí tuệ. Dùng trí tuệ
quán sát thật tướng các pháp, thấy được liên quan chằng chịt hỗ tương
giữa mình và pháp giới; thấy được việc đáng làm, việc không nên làm;
thấy người nào phát tâm mà Bồ tát đến với họ. Và Bồ tát theo sự vận hành
này làm đạo, chắc chắn không bao giờ thất bại.
Vì tính
cách quan trọng của trí tuệ, Đức Phật dành trọn một pháp hội trong kinh
Bảo Tích gọi là Mặc Giáp Trang Nghiêm để dạy Bồ tát Vô Biên Huệ. Muốn
dấn thân trên lộ trình Bồ tát, trước hết phải trang bị tri thức, phát
huy trí tuệ, nhìn vật chính xác ở mọi lãnh vực. Và làm giống Phật, giống
đại Bồ tát, mới tạo được thế giới an vui, giải thoát như chư Phật.
Từ mô hình
sáu pháp ba la mật của Phật dạy cho Bồ tát, về sau, sáu pháp này được
Phật giáo Nam tông triển khai thành mười pháp, gọi là Thập Độ (gồm có bố
thí, trì giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nhục, chơn chánh,
quyết định, bác ái và xả).
Kinh Hoa
Nghiêm theo Phật giáo Bắc tông cũng triển khai thành mười pháp ba la mật
(gồm có bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, bát
nhã, nguyện, lực và trí).
Tuy nhiên,
dù Lục Độ hay Thập độ và danh từ sử dụng khác nhau, nhưng tựu trung cũng
vẫn là quá trình tu tập mà Bồ tát phải kinh qua, thể nghiệm thành tựu,
mới đạt được quả vị Chánh đẳng Chánh giác.
Trong khung
cảnh trang nghiêm của đại Lễ Phật Đản PL. 2529, cảm nhận sâu sắc tinh
thần nhập thế tích cực của các pháp ba la mật; chúng tôi xin thắp sáng
niềm tin nơi giáo pháp của Đức Từ Phụ. Và xin cầu nguyện cho mọi người
con Phật luôn tinh tấn, dũng mãnh thể hiện Lục Độ vào cuộc sống hàng
ngày trong từng việc làm, mang an vui giải thoát cho chính bản thân và
cho mọi người.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT,( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM .AUSTRALIA,SYDNEY.26/8/2017.
No comments:
Post a Comment