Lục Hòa.
LỤC HÒA.
Trong ánh
hào quang của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni tỏa sáng đến người con Phật
khắp năm châu cùng mừng ngày Khánh Đản, Tăng Ni và tín đồ Phật giáo Việt
Nam chúng ta vô cùng hân hoan tổ chức lễ Phật Đản trang nghiêm, long
trọng. Đây là kỷ niệm lễ Phật Đản lần thứ hai sau hơn một năm thống nhất
Phật giáo cả nước.
Đặc biệt
năm nay, năm đầu tiên toàn thể Phật tử hai miền Nam Bắc cùng đón mừng lễ
Phật Đản vào ngày rằm tháng tư, ngày trăng tròn tỏa sáng hiền hòa trên
quê hương thân yêu. Sự kiện thiết thực này thể hiện tinh thần “Hòa hợp
chúng yên vui –
Với ý nghĩa
trang trọng, chứa chan niềm thiêng liêng, hãy cùng nhau tìm ánh sáng
chánh pháp trong nền giáo lý của Đức Phật. Như chúng ta đã biết, suốt
cuộc đời của Đức Phật, từ Đản sinh đến khi xuất gia tu hành, thành đạo
và 49 năm hoằng hóa độ sinh (theo Phật giáo Nam tông là 45 năm), ngài đã
là tấm gương sáng, là bậc toàn thiện của nhân loại. Đối với chúng ta,
ngài là vị Đạo sư xuất chúng, bậc Thiên nhơn sư. Cuộc đời của Đức Phật
thể hiện biểu tượng an vui vĩnh cửu. Giáo đoàn do ngài lãnh đạo, tỏa
rộng ánh sáng chánh pháp và rực rỡ tinh thần Lục Hòa. Trên bước đường
giáo hóa độ sinh, Đức Phật cùng Thánh chúng đã mang an lạc, giải thoát
và hạnh phúc đến mọi nơi, xóa bỏ sự bóc lột, tà kiến, lập lại sự bình
đẳng giữa con người với nhau trong xã hội Ấn Độ thời bấy giờ.
Hôm nay,
nhân ngày Khánh Đản, chúng ta ôn lại giáo lý Lục Hòa, để thể nghiệm vào
đời sống hàng ngày. Đức Phật dạy chúng ta đi vào cuộc đời, sống với mọi
người bằng sáu pháp hòa kỉnh. Trước tiên, Đức Phật đã giáo huấn Tăng
đoàn phải chung sống hòa hợp. Hàng thiện nam, tín nữ cần biết rõ tinh
thần Lục Hòa để noi gương tu tập theo giáo pháp và thể hiện trong sinh
hoạt đời sống hằng ngày. Vì chúng ta có cùng chung tín ngưỡng, tôn kính
chân lý và giáo pháp của Đức Phật. Nếu không hòa hợp, không đoàn kết với
nhau, chúng ta tự tách mình ra ngoài giáo pháp của Đức Phật.
Với tinh
thần từ bi và trí tuệ của người con Phật, chúng ta phải biết THÂN HÒA
với cảnh giới đang sống. Thực tế là quê hương của chúng ta, đất nước
này, sông núi này, cỏ cây này, đồng bào quyến thuộc này … Cảnh giới và
tình thương đạo nghĩa này đã là nhân duyên tác thành sự hiện hữu của
chúng ta. Làm sao có thể quên và tách rời, mà không biết hội nhập vào
cảnh giới mình đang sinh hoạt.
Hơn thế
nữa, muốn được mọi người chấp nhận, chúng ta phải hòa mình trong bất cứ
hoàn cảnh nào. Tuy mỗi người làm một việc khác nhau, nhưng một này trở
thành tất cả và tất cả là một, là sự nghiệp chung, sự nghiệp của chính
ta vậy.
Trong các
kinh điển, không ít hình ảnh chư vị Bồ tát trải qua vô số kiếp hòa thân
với chúng sinh, tu tạo muôn ngàn hạnh lành khác nhau, để hình thành Phật
độ. Và chính Đức Phật, với trí tuệ giác ngộ, Đản Sanh vào thế giới Ta
Bà, thân hòa vào trong hoàng cung xứ Ấn Độ, làm Đông cung thái tử Sĩ Đạt
Ta, con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Gia.
Ngài tiếp
tục thân hòa, hội nhập mọi phong tục tập quán của hoàng cung với cương
vị là thái tử. Lúc nhỏ tuổi, ngài siêng năng học hành, tìm cầu hiểu
biết, thấu suốt các môn văn võ đương thời. Lớn lên, ngài vâng lệnh phụ
hoàng lập gia thất với công chúa Gia Du Đà La. Sau khi thắng các cuộc
tranh tài văn võ với các hoàng tử khác cùng lứa tuổi, ngài không bị lôi
cuốn vào cuộc sống nhung lụa vàng son.
Ngài thường
suy niệm về những niềm vui, nỗi sầu của nhân thế. Những cảnh già,
bệnh, chết, của con người được ngài quán sát, tìm hiểu từng chi tiết.
Hình ảnh đạo đức trầm mặc của vị Sa môn đã khiến ngài quyết chí tìm lối
thoát cho chúng sinh. Vượt bỏ hoàng cung, từ biệt đời sống đế vương,
ngài dấn thân vào núi rừng sươngtuyết.
Trên bước
đường tìm chân lý, ngài thân hòa với các đạo sĩ khổ hạnh, thân hòa với
cát bụi phong trần. Và khi thành đạo, ngài trở lại thân hòa với chúng
sinh, với xã hội và khai sáng nếp sống cao thượng của Tăng đoàn, được
mọi người tôn kính.
Từ đó, Tăng
đoàn hòa hợp ngày càng được hưởng ứng, ca ngợi, phát triển liên tục.
Cho đến trước khi nhập Niết bàn, Đức Phật của chúng ta đã khẳng định
rằng : “Này các Tỳ kheo, ngày nào chư đệ tử còn hội họp, chung sống
trong tinh thần đoàn kết, làm Phật sự trong tinh thần đoàn kết và giải
tán trong tinh thần đoàn kết, thì nhất định giáo pháp không thể suy đồi,
mà trái lại, còn phồn thịnh hơn trước”.
Tinh thần
Thân Hòa của Đức Phật cao tột đến độ ngày nay ngài vắng bóng trên cuộc
đời; nhưng khắp năm châu, người người còn nhớ nghĩ đến ngài, tiếp tục
bước chân hành đạo của ngài. Nói cách khác, thân Phật đã hòa tan trong
mọi người, hiện hữu tất cả mọi nơi, mà kinh Hoa Nghiêm diễn tả là Hư
Không Thân.
Khi Phật tử
chúng ta đã hoan hỷ vâng lời Phật dạy, an trú đời sống thân hòa với
người cùng tín ngưỡng, với đồng bào xã hội, với vạn loại chúng sinh, thì
phương pháp tu tập thứ hai phải là KHẨU HÒA, miệng không tranh đua
cãi nhau.
Lời nói thể
hiện tư cách, tâm trạng của con người trong mối quan hệ với nhau. Gần
gũi thân thiện, hay xa lìa oán hận nhau, thường do lời nói.
Đời sống
của Đức Phật khi còn là thái tử, đến khi thành đạo và nhập Niết bàn, bất
cứ ở đâu, hoàn cảnh nào, thuận hay nghịch, khen hay chê, khổ hay vui,
ca ngợi hay phỉ báng chỉ trích, v.v… Ngài đều chủ động một tư thái trầm
tĩnh, biết mình, biết người.
Có khi Đức
Phật im lặng, ngài im lặng như chánh pháp. Khi nói, ngài nói năng như
chánh pháp. Lời nói của ngài luôn ôn tồn, hiền hòa, chứa chan sức cảm
hóa. Một hôm trên đường hành đạo đến Kosambi, Đức Phật và Tăng chúng bị
đám người đón chửi một cách thậm tệ. Đến nỗi đại đức A Nan Đà không chịu
được, đã thưa với Đức Phật rời đi nơi khác. Đức Phật ôn tồn bảo : “Đi
nơi khác bị người ta chửi mình nữa, thì phải làm sao hả A Nan ?”. Đại
đức A Nan thưa : “Bạch Thế Tôn, mình đi nơi khác nữa”. Đức Phật nhân đó
dạy rằng : “Này A Nan, không nên đi nơi nào khác, phiền não phát sinh ở
đâu phải được diệt trừ tận gốc ở nơi ấy”.
Là đệ tử
Phật, cần nhớ trong bất cứ tình huống nào, ngôn ngữ của chúng ta vẫn
phải ôn hòa, từ ái, để cảm hóa người. Cố gắng không tranh cãi, châm biếm
hay nói lời hung ác, tỵ hiềm.
Thân và
miệng là phần biểu hiện của sắc tướng và âm thanh bên ngoài. Sự tu tập
đưa đến thân hòa, miệng hòa, phải thật sự phát xuất từ ý thức hòa hợp
mới đúng như pháp và được kết quả an vui. Trong ý thức, nếu chúng ta
chưa cùng một quan điểm, một nhận thức, một ý hướng, mà còn chứa đựng
lòng ganh tỵ, thù ghét, thì thân hay miệng hòa chỉ là biểu hiện của sự
giả dối, không chân thật.
Ý là phần
vi tế, khó kiểm soát, đóng vai trò quan trọng trong sự điều động thân
nghiệp và khẩu nghiệp. Trong buổi họp, nếu tâm ý sai khác của mỗi cá
nhân được người chủ tọa điều hòa một cách khéo léo, để cùng nhau vui
vẻ chấp nhận ý chung, là đã sử dụng được pháp Ý HÒA.
Tâm ý của
tha nhân mà ta hài hòa được nhiều hay ít tùy theo công đức tu tập. Tâm ý
của chúng sinh dầy đặc phiền não, vô minh,chấp nặng tà kiến; nên khó
cảm thông nhau, hòa nhau. Đức Phật với tâm ý hoàn toàn thanh tịnh. Vì
thế, chẳng những được Phật tử quyngưỡng, mà ngài còn cảm hóa cả sáu loài
chúng sinh.
Ngoài thân,
khẩu, ý hòa hợp, thanh tịnh, Đức Phật còn dạy chúng ta thực hiện GIỚI
HÒA ĐỒNG TU. Trước khi vào Niết bàn, Đức Phật phú chúc cho các Tỳ kheo :
“Sau khi ta nhập diệt, các ông phải tôn trọng giới luật làm Thầy. Giới
luật còn cũng như ta còn ở đời, không khác vậy … Vì thế, các Tỳ kheo
phải giữ giới trong sạch, đừng hủy phạm. Người giữ giới trong sạch thì
thường được pháp lành. Người chẳng giữ giới thì công đức không thể nào
sinh được. Vậy phải biết giới là chỗ trụ an ổn nhất cho các công đức
nhân Thiên”.
Thật vậy,
đệ tử Phật muốn được ba nghiệp thân, khẩu, ý thuần tịnh trong chánh
pháp, phải cùng nhau giữ vững giới luật như thập giới Sa di và giới Cụ
Túc của hàng xuất gia. Tam quy, ngũ giới, hay Bát Quan Trai giới dành
cho hàng Phật tử tại gia.
Điều quan
trọng cần ý thức rằng giới không phải là sợi dây thừng ràng buộc, mà
chính là phương tiện ngăn ngừa phiền não, để đưa chúng ta đến bờ giải
thoát. Vì thế, chúng ta tu hành, an vui trong giới luật. Giữ gìn giới
luật, từng sát na trong tâm thức luôn luôn tĩnh giác, sáng suốt trong
mọi việc làm hằng ngày; không phải khép nép, câu nệ, mê chấp, ràng buộc.
Bất cứ lúc nào, ở đâu, lời nói và việclàm cũng thể hiện giới hạnh thanh
tịnh của người tu.
Thực hiện
giới hòa đồng tu nghĩa là giới đức hay sự trong sạch, không lỗi lầm;
không phải hạn hẹp trong khuôn khổ giới điều. Những điều xã hội không
chấp nhận, chúng ta không làm. Và hơn nữa, đối với luật lệ chung, chúng
ta phải tôn trọng. Không được phá vỡ nguyên tắc chung, vì giới luật hay
luật lệ này nhằm bảo vệ cho chính mình và cho tổ chức tồn tại.
Cuộc đời
Đức Phật thể hiện rõ nét ngài sống với giới luật đến mức toàn thiện. Với
đời sống khuôn phép, kỷ cương, đạo hạnh, trong suốt 49 năm giáo hóa,
ngài không phạm lỗi lầm nào, thấy rõ việc đáng làm và việc không nên
làm. Từ đó, ngài đã thực hiện kiến hòa đồng giải.
KIẾN HÒA
ĐỒNG GIẢI nghĩa là sự kiến giải đúng như thật, hợp lý, hợp tình và hợp ý
mọi người. Theo pháp Yết Ma của Phật, nếu còn một người chưa hòa hợp,
hay chưa chấp nhận, thì việc cũng không thành.
Trong sự
quan hệ trao đổi hiểu biết với nhau, nếu người Phật tử có tri kiến như
thật, thì việc tiếp thu hay phát biểu ý kiến mới phù hợp với chân lý của
cuộc sống.
Khi Đức
Phật chưa hiện hữu, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, v.v…
theo ngoại đạo, chấp chặt giáo điều của môn phái; họ thường tranh cãi
nhau. Nhưng sau khi theo Phật, nghe pháp và sống với tinh thần kiến hòa
đồng giải, họ cởi bỏ được chủ nghĩa giáo điều, bệnh chủ quan, óc bè
phái. Họ đã biết chấp nhận ý kiến đúng, tùy hỷ được mọi việc tốt của
người khác trong Tăng đoàn. Nhờ đó, lần lần trí tuệ vô lậu phát sinh, sự
thấy biết không bị chướng ngại; họ trở thành bậc lục thông La Hán, xứng
đáng được Trời người cung kính cúng dường.
Cũng trên
tinh thần kiến hòa đồng giải, ngày nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã
thật sự hòa hợp mọi quyết định, cùng xây dựng Hiến Chương. Trên nền tảng
này, chúng ta tiếp tục phát huy tinh thần kiến hòa đồng giải với mọi
người trong xã hội. Làm như vậy, chúng ta sẽ tạo được sức mạnh đoàn kết
toàn dân, xây dựng ý thức hòa hợp dân tộc và kiến tạo thế giới an lành.
Thân khẩu ý
hòa hợp, giới đức hòa hợp, thấy biết (tri kiến) hòa hợp, thì sự lợi lạc
đương nhiên cũng hòa hợp. Vì tất cả năm sự hòa hợp trước chỉ nhằm mục
đích bảo vệ quyền lợi chung của tổ chức. Trong Tăng đoàn, quyền lợi
thường được chia đồng với nhau.
Dù vậy, khi
nói đến vấn đề thọ nhận tài vật, Đức Phật có dạy : “Hãy thừa tự chánh
pháp hơn là thừa tự tài vật”. Vì thế, đối với người con Phật, nên xem
quyền lợi tài vật như là phương tiện cho cuộc sống. Nếu ta không ý thức,
cảnh giác, thì phương tiện này thường đưa đến sự tranh chấp, làm mất an
vui.
Giáo lý xả
kỷ, Lợi Hòa được Đức Phật giảng dạy trong Tăng đoàn, làm gương sáng cho
mọi người. Xã hội thời Đức Phật đã chia ra bốn giai cấp là Bà la môn,
Sát đế lợi, Phệ xá và Thủ đà la. Mọi đặc quyền đều dành cho giới Bà la
môn và Sát đế lợi. Đức Phật chủ trương xóa bỏ sự phân chia giai cấp và
phân biệt đối xử.
Chúng xuất
gia của Phật là đoàn thể điển hình thể hiện đầy đủ pháp Lục Hòa, thiểu
dục tri túc. Hàng đệ tử của ngài kết hợp đủ các thành phần xã hội, từ
những hoàng tử vương quyền cho đến hàng cùng đinh, mà không hề gây xáo
trộn. Với sự hướng dẫn giáo hóa của Đức Phật, mọi dấu vết giai cấp được
xóa bỏ. Mỗi người đều phát huy sự trong sáng của giáo đoàn và chung sống
hài hòa với nhau. Dưới uy đức của ngài, tinh thần lợi hòa cùng hưởng
bình đẳng, tự nhiên mọi người không còn nghĩ đến quyền lợi cá nhân. Mọi
Phật sự đều được thực hiện với tâm niệm lợi tha, để phục vụ con người,
xây dựng xã hội thuần thiện, an vui.
Qua pháp
Lục Hòa của Đức Phật, chúng ta nhận thấy đó là chất keo tốt nhất gắn bó
sự đoàn kết hòa hợp, an vui của Tăng đoàn thời bấy giờ. Ngoài ra, đó còn
là mô hình kiểu mẫu cho bất cứ đoàn thể, tổ chức nào ngày nay muốn tồn
tại, phát triển sinh hoạt, tất nhiên phải thực hiện quy luật đoàn kết
theo Lục Hòa.
Chúng tôi
mong rằng Tăng Ni và tín đồ Phật giáo Việt Nam sẽ thắp sáng mãi ngọn đèn
Lục Hòa của Đức Phật, thể hiện sâu sắc tinh thần hòa hợp, đoàn kết,
thống nhất trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam. Thành tựu như vậy, chẳng
những chúng ta xương minh đạo pháp, mà còn góp phần tô điểm cho đất
nước, dân tộc ngày thêm phồn vinh, hạnh phúc.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.22/8/2017.
No comments:
Post a Comment