How is it called sin?
.
When they do not become saints, everyone is the same in that they are sinners. Is the other is the level of karma, causing more or less sin, one way or another. Sin, according to the wisdom of the Blessed One, is the unwholesome deeds created in the work, speech and thought of man.Once, the Exalts residing in Sàvatthi, in Jetavana, teaches bhikkhus:
O bhikkhus, there are these four types of people present, present. How is four ? Guilty, guilty, less guilty and not guilty
What kind of people are guilty? O bhikkhus, there are those who have attained the karmic attainments, the karmic retribution and the guilty mind. That is the class of people guilty.
And how many people sin? O bhikkhus, there are those who have achieved karmic success, karmic retribution and karma have many sins. So there are people who have more sin.
What kind of people have less sin? O bhikkhus, there are many people who have achieved karmic success, karmic retribution and self-righteousness, with few sins. So there are people who have less sin.
And what kind of people are not guilty? O bhikkhus, there are those who achieve the karmic success, the karmic retribution and the unselfish mind. So it is not guilty.
There are these four classes, the bhikkhus, existing, present in life.
LOAN:
Sin is one of the basic attributes of being. Man is present in the world, sin is present. Even
in the past, before being born, sin or karma has played a dominant
role, the main factor shaping the shape, personality and circumstances
of each individual in the present. Therefore, man is the inheritance of sin, his own karma and thus, the guilty person is also normal.
When they do not become saints, everyone is the same in that they are sinners. Is the other is the level of karma, causing more or less sin, one way or another. Sin, according to the wisdom of the Blessed One, is the unwholesome deeds created in the work, speech and thought of man.
Although
we accept guilty because the present three pancakes are not pure but
the crime must be small and small and the most necessary thing is to
know it yourself. When
in the status of beings, know the limitations, the bad habits of
themselves to strive, rise up, eliminate evil, reach the perfect is
imperative. People
are becoming more and more sinful, partly because they do not recognize
bad things or view bad things that exist in the masses, but even fewer
are complacent about their achievements. on the basis of greedy greed.
More
than anyone else, the Buddha must return to himself, knowing all his
own actions to control, step by step master, transformed three bad
karmic speech. To perfection, no sin is a long roadmap. The
basic foundation of the roadmap is knowledge, self-knowledge of sin,
should first try not to create more sins and promote meditation to see
all the sins come from the mind Pure net three pure.END=NAM MO SHAKYA MOUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.
Thursday, August 31, 2017
Như thế nào thì bị gọi là tội lỗi ( )
Khi chưa trở thành các bậc Thánh, ai cũng giống
nhau ở chỗ là đều có tội cả. Có khác chăng là mức độ gây nghiệp, tạo tội
nhiều hay ít, về phương diện này hay phương diện kia mà thôi. Tội lỗi,
theo tuệ giác của Thế Tôn, đó là những hành vi tạo tác bất thiện được
tạo ra nơi việc làm, lời nói và suy nghĩ của con người.
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, dạy các Tỷ kheo:
Này các Tỷ kheo, có bốn hạng người này hiện hữu, có mặt ở đời. Thế nào là bốn ? Có tội, nhiều tội, ít tội và không có tội.
Thế
nào là hạng người có tội ? Này các Tỷ kheo, có hạng người thành tựu
thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp có tội. Như vậy là hạng người có
tội.
Và
thế nào là hạng người nhiều tội ? Này các Tỷ kheo, có hạng người thành
tựu thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp có nhiều tội. Như vậy là hạng
người có nhiều tội.
Thế
nào là hạng người có ít tội ? Này các Tỷ kheo, có hạng người thành tựu
thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp không có tội nhiều, chỉ có ít tội.
Như vậy là hạng người có ít tội.
Và
thế nào là hạng người không có tội ? Này các Tỷ kheo, có hạng người
thành tựu thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp không có tội. Như vậy là
hạng người không có tội.
Có bốn hạng người này, này các Tỷ kheo, hiện hữu, có mặt ở đời.
LỜI BÀN:
Tội
lỗi là một trong những thuộc tính cơ bản của chúng sanh. Con người có
mặt ở trên đời thì tội lỗi có mặt. Thậm chí từ trong quá khứ, trước khi
được sinh ra, tội lỗi hay nghiệp đã đóng vai trò chi phối, là tác nhân
chính để hình thành nên hình dáng, tính cách, hoàn cảnh của mỗi cá nhân
trong hiện tại. Vì thế, con người là sự kế thừa tội lỗi, nghiệp lực của
chính mình và do vậy, người sống trên đời có tội cũng là chuyện bình
thường.
Khi
chưa trở thành các bậc Thánh, ai cũng giống nhau ở chỗ là đều có tội
cả. Có khác chăng là mức độ gây nghiệp, tạo tội nhiều hay ít, về phương
diện này hay phương diện kia mà thôi. Tội lỗi, theo tuệ giác của Thế
Tôn, đó là những hành vi tạo tác bất thiện được tạo ra nơi việc làm, lời
nói và suy nghĩ của con người.
Tuy
chúng ta chấp nhận có tội vì hiện ba nghiệp chưa thanh tịnh nhưng tội
phải ít và nhỏ thôi và điều cần thiết nhất là tự thân phải rõ biết điều
đó. Khi còn trong thân phận chúng sanh, biết rõ những hạn chế, thói hư
tật xấu của chính mình để phấn đấu, vươn lên, loại trừ điều ác, đạt đến
sự hoàn thiện là tối cần. Con người sở dĩ ngày càng tạo nhiều tội lỗi,
một phần do không nhận chân được điều xấu ác hoặc xem những điều xấu ác
hiện tồn tại với số đông là bình thường, thậm chí không ít người còn tự
mãn với những thành tựu dựa trên nền tảng tham sân si.
Hơn
ai hết, người con Phật cần phải trở về với chính mình, biết rõ mọi hành
vi của tự thân nhằm kiểm soát, từng bước làm chủ, chuyển hóa ba nghiệp
thân khẩu ý xấu ác. Đạt đến sự hoàn thiện, không tội lỗi là một lộ trình
dài. Nền tảng cơ bản của lộ trình đó là tuệ tri, biết rõ tự thân có tội
nên trước hết phải cố gắng để không tạo thêm nhiều tội lỗi đồng thời
phát huy thiền quán để thấy mọi tội lỗi đều xuất phát từ tâm, tâm thanh
tịnh tức ba nghiệp thanh tịnh.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.
Learn about Falun Wheel.We worship the Buddha as a remembrance of His deeds, grateful for His
teachings have led the way for beings to follow the right path leading
to Enlightenment and Liberation ...
We worship the Buddha as a remembrance of His deeds, grateful for His teachings that have led the way of living beings to follow the right path to Enlightenment and Liberation. We worship the Buddha for treating His teachings, called the General of the Fa; The symbol is the French Wheel or "Falun".
Someone argues that the wheel symbolizes Samsara, that it is not true of the sense of progression; The French wheel (the Falun) has much higher meaning:
1. The wheel of the French movement non-stop, the teachings of the Buddha developed non-stop, timely, rational, reasonable, but the function is still moving, bringing beings from dark to light, From low to high, from ignorance to Enlightenment, from hell to Nirvana.
2. Whenever the French wheel is spread, thorns and gravels are crushed there, deluded and afflicted.
3. The French wheel just goes straight ahead, never going backwards.
The first Dharma talk by Buddha Shakyamuni in the Garden of the Uyuni for the four brothers Kieu-Tran-Nhu, talking about the Four Noble Truths, was called the first Dharma wheel transfer (the first Falun) .
The wheel is painted in circles in 6, 8 or 12 frames. The number 12 symbolizes the "Twelve Causation," the number eight symbolizing the "Noble Eightfold Path," the sixth figure representing the "Sixfold Path."
Perhaps because of the technical and artistic aspects of the wheel has 8 frames are drawn more and more popular. By practicing the "Noble Eightfold Path," beings are going to the path of the Enlightenment, as well as the wheel that the traveler moves to the goal.
The painters also painted the French wheel on the lotus symbolizing the pure Dharma as a lotus grows in the mud rising out of the mud without smelling muddy smell. The Dharma brings the cultivator from the pollution to the purest place, the noble one.
There are painters hand-lift French wheels in the center have the swastika, the will to speak the noble Dharma, should take the hand to welcome reverent, respectful.
In a nutshell, the French wheel "Falun" symbolizes the Buddha's Dharma, which France does not form, without generals, and later by artists, artists, depending on the vibe of spirituality. There may be different forms, but the meaning of the Wheel of Dharma is very high to bring people from Phàm to the Holy, from hell to Nirvana, peace, not the wheel of samsara, beings drifted in the six paths of samsara.
French wheels bring beings out of samsara, escape miserable, if the wheel of samsara is not true to the superior meaning of Buddhism, have the function of saving beings.
In the Buddhist scriptures are examples: people fall into the wheelchair that move away, beings rely on the Buddha Dharma that advances to Enlightenment and Liberation.
Recently, in the newspapers, books, websites, people use two types of French wheel icon.
1. Type of head as shown above:
These pictures are the shape of the helm, or the French barre, which also has an axis of rotation and frames, but at the end of the frame there are nodes for people to hold onto it, sail.
While driving, this rudder only rotates a few rounds, while in the right, while in the left, it does not rotate in one direction like a wheel. vehicles.
This type of rudder was invented only in the 10th century, when Westerners used sailors to trade with other countries while seeking colonies. Asian sailing ships do not have this type of rudder.
The shape of the ship's rudder is also a beautiful symbol used by Westerners to symbolize leadership. In English, the noun is "at the helm of the country"; English take helm or French prendre la barre means taking the leadership position.
Over the past decades, it has been found that the Buddhist or Tibetan Buddhist websites have used this beautiful symbol, especially the Dharma teachings in English, as it seems appropriate and popular to Westerners. .
It is thought that if one uses this wheel as the symbol of Falun in Buddhism, the meaning will be different. Bearing a symbol of leadership in lieu of the notion of moving the Fa ceaselessly as mentioned above, it is wrong. Especially Westerners are likely to have the wrong impression of its original meaning.
2nd type
The new side is the wheel of the old car, with many car frames. Technically, if you draw enough 12 car frames to represent the charm of the coast, it is too dense to lose the art, so people painted only eight or six frames.
Already wheeled (wheeled) in the carriage, the wheel can not have the handle knob anymore, like the helm wheel. This new image is symbolic of the French wheel with.END=NAM MO SHAKYAMOUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.
We worship the Buddha as a remembrance of His deeds, grateful for His teachings that have led the way of living beings to follow the right path to Enlightenment and Liberation. We worship the Buddha for treating His teachings, called the General of the Fa; The symbol is the French Wheel or "Falun".
Someone argues that the wheel symbolizes Samsara, that it is not true of the sense of progression; The French wheel (the Falun) has much higher meaning:
1. The wheel of the French movement non-stop, the teachings of the Buddha developed non-stop, timely, rational, reasonable, but the function is still moving, bringing beings from dark to light, From low to high, from ignorance to Enlightenment, from hell to Nirvana.
2. Whenever the French wheel is spread, thorns and gravels are crushed there, deluded and afflicted.
3. The French wheel just goes straight ahead, never going backwards.
The first Dharma talk by Buddha Shakyamuni in the Garden of the Uyuni for the four brothers Kieu-Tran-Nhu, talking about the Four Noble Truths, was called the first Dharma wheel transfer (the first Falun) .
The wheel is painted in circles in 6, 8 or 12 frames. The number 12 symbolizes the "Twelve Causation," the number eight symbolizing the "Noble Eightfold Path," the sixth figure representing the "Sixfold Path."
Perhaps because of the technical and artistic aspects of the wheel has 8 frames are drawn more and more popular. By practicing the "Noble Eightfold Path," beings are going to the path of the Enlightenment, as well as the wheel that the traveler moves to the goal.
The painters also painted the French wheel on the lotus symbolizing the pure Dharma as a lotus grows in the mud rising out of the mud without smelling muddy smell. The Dharma brings the cultivator from the pollution to the purest place, the noble one.
There are painters hand-lift French wheels in the center have the swastika, the will to speak the noble Dharma, should take the hand to welcome reverent, respectful.
In a nutshell, the French wheel "Falun" symbolizes the Buddha's Dharma, which France does not form, without generals, and later by artists, artists, depending on the vibe of spirituality. There may be different forms, but the meaning of the Wheel of Dharma is very high to bring people from Phàm to the Holy, from hell to Nirvana, peace, not the wheel of samsara, beings drifted in the six paths of samsara.
French wheels bring beings out of samsara, escape miserable, if the wheel of samsara is not true to the superior meaning of Buddhism, have the function of saving beings.
In the Buddhist scriptures are examples: people fall into the wheelchair that move away, beings rely on the Buddha Dharma that advances to Enlightenment and Liberation.
Recently, in the newspapers, books, websites, people use two types of French wheel icon.
1. Type of head as shown above:
These pictures are the shape of the helm, or the French barre, which also has an axis of rotation and frames, but at the end of the frame there are nodes for people to hold onto it, sail.
While driving, this rudder only rotates a few rounds, while in the right, while in the left, it does not rotate in one direction like a wheel. vehicles.
This type of rudder was invented only in the 10th century, when Westerners used sailors to trade with other countries while seeking colonies. Asian sailing ships do not have this type of rudder.
The shape of the ship's rudder is also a beautiful symbol used by Westerners to symbolize leadership. In English, the noun is "at the helm of the country"; English take helm or French prendre la barre means taking the leadership position.
Over the past decades, it has been found that the Buddhist or Tibetan Buddhist websites have used this beautiful symbol, especially the Dharma teachings in English, as it seems appropriate and popular to Westerners. .
It is thought that if one uses this wheel as the symbol of Falun in Buddhism, the meaning will be different. Bearing a symbol of leadership in lieu of the notion of moving the Fa ceaselessly as mentioned above, it is wrong. Especially Westerners are likely to have the wrong impression of its original meaning.
2nd type
The new side is the wheel of the old car, with many car frames. Technically, if you draw enough 12 car frames to represent the charm of the coast, it is too dense to lose the art, so people painted only eight or six frames.
Already wheeled (wheeled) in the carriage, the wheel can not have the handle knob anymore, like the helm wheel. This new image is symbolic of the French wheel with.END=NAM MO SHAKYAMOUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.
Tìm hiểu về Bánh Xe Pháp Luân.
Chúng ta kính thờ Phật là tưởng nhớ những công hạnh của Ngài, biết ơn những lời dạy của Ngài đã đưa đường chỉ lối cho chúng sanh đi theo con đường chân chính dẫn đến Giác Ngộ và Giải Thoát...
1. Bánh xe Pháp chuyển động không ngừng, giáo lý của Đức Phật phát triển không ngừng, hợp thời, hợp cơ, hợp lý, nhưng công năng vẫn là di chuyển, đưa chúng sanh từ tối đến sáng, từ khổ đến vui, từ thấp lên cao, từ vô minh đến Giác Ngộ, từ địa ngục tới Niết-Bàn.
2. Bánh xe Pháp lan tới đâu thì cỏ gai, sỏi đá bị nghiền nát tới đó, mê lầm phiền não cũng bị dẹp tan.
3. Bánh xe Pháp chỉ tiến thẳng lên phía trước, không bao giờ thoái lui.
Bài Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích Ca giảng tại vườn Lộc-Uyển cho bốn anh em ông Kiều-Trần-Như, nói về Tứ Diệu Đế, được gọi là Phật chuyển bánh xe Pháp lần thứ nhất (đệ nhất chuyển Pháp Luân).
Bánh xe Pháp được vẽ hình tròn trong có 6, 8 hoặc 12 gọng. Con số 12 tượng trưng cho “Mười Hai Nhân Duyên”, con số 8 tượng trưng cho “Bát Chánh Đạo”, con số 6 tượng trưng cho "Lục Đạo" .
Có lẽ vì kỹ thuật và mỹ thuật nên hình bánh xe có 8 gọng được vẽ nhiều và phổ biến hơn. Nhờ thực hành “Bát Chánh Đạo” mà chúng sanh tiến về nẻo Giác, cũng như nhờ bánh xe mà người lữ hành di chuyển tới mục đích.
Các họa sĩ còn vẽ bánh xe Pháp đặt trên hoa sen là tượng trưng cho Phật Pháp thanh tịnh như hoa sen mọc trong bùn vươn lên khỏi bùn mà không hôi tanh mùi bùn. Phật Pháp đưa người tu từ chỗ ô nhiễm tới nơi thanh khiết, thanh cao.
Có họa sĩ vẽ bàn tay nâng đỡ bánh xe Pháp ở trung tâm có chữ Vạn, ý muốn nói Phật Pháp cao quý, cần đưa tay đón nhận một cách cung kính, trọng vọng.
Tóm lại, bánh xe Pháp "Pháp Luân" là tượng trưng cho Pháp của Đức Phật, mà Pháp thì không hình, không tướng, sau này do các họa sĩ, nghệ sĩ tạo ra, tùy theo sự rung cảm của tâm linh, có thể có những hình tướng khác nhau, nhưng ý nghĩa của Bánh Xe Pháp thì rất cao siêu đưa người tu từ Phàm lên Thánh, từ địa ngục khổ đau tới Niết-Bàn, an lạc, chứ không phải là bánh xe luân hồi, đưa chúng sanh trôi giạt trong sáu nẻo luân hồi.
Bánh xe Pháp đưa chúng sanh ra khỏi luân hồi, thoát cảnh trầm luân, nếu hiểu là bánh xe luân hồi thì không đúng với ý nghĩa cao siêu vượt bực của Phật Pháp, có công năng nhiệm mầu cứu độ chúng sanh.
Trong kinh Phật có thí dụ: Người què nương vào chiếc xe lăn mà di chuyển xa được, chúng sanh nương nhờ Pháp Phật mà tiến về Giác Ngộ và Giải Thoát.
Gần đây, trên báo chí, sách vở, trang internet, người ta dùng lẫn lộn hai loại biểu tượng bánh xe Pháp.
1. Loại đầu theo như hình trên:
Những hình này chính là hình cái bánh lái tầu (tiếng Anh là helm, hay tiếng Pháp là barre), cũng có trục quay và các gọng, nhưng ở đầu gọng thì có nhửng mấu để người ta nắm tay vào đó mà xoay chuyển, lái tầu buồm.
Trong khi lái tầu thì cái bánh lái này nó chỉ xoay một vài vòng mà thôi, khi thì theo chiều phải, khi thì theo chiều trái, nó không có xoay chuyển liên tiếp theo một chiều như cái bánh xe (xa luân) của cỗ xe.
Loại bánh lái tầu này chỉ mới phát minh ra từ thế kỷ thứ 10, khi người phương Tây dùng tầu buồm đi giao thương với các nước khác đồng thời tìm kiếm thuộc địa. Các tầu buồm của Á Châu không có cái loại bánh lái này.
Hình bánh lái tầu này cũng là một biểu tượng đẹp mà người phương Tây thường dùng để tượng trưng cho sự lãnh đạo. Trong tiếng Anh , danh từ là at the helm of the country có nghĩa là trong vị trí lãnh đạo dất nuớc; danh từ tiếng Anh take helm hay tiếng Pháp prendre la barre có nghĩa nắm vị trí lãnh đạo.
Trong những thập niên qua, người ta thấy các trang web của PG Tây Tạng hay tiểu thừa đã dùng biểu tượng đẹp này, nhất là những trang giảng về Phật Pháp bằng tiếng Anh vì nó có vẻ thích hợp và thông dụng với người Tây Phương.
Thiết nghĩ nếu người ta dùng loại bánh xe này làm biểu tượng Pháp Luân trong đạo Phật thì ý nghĩa sẽ khác đi. Mang một biểu tượng của sự lãnh đạo thay vào ý nghĩa chuyển động Pháp không ngừng như đã nói ở phía trên, thì thật là sai lầm. Nhất là người Tây Phương dễ có ấn tượng sai với ý nghĩa nguyên thủy của nó.
2. Loại thứ hai
Hình bên mới chính là cái bánh xe của cổ xe thời xưa, có nhiều gọng xe. Về phương diện kỹ thuật nếu ta vẽ đủ cả 12 cái gọng xe tượng trưng cho thập nhị nhân duyên thì nó dày đặc nhiều quá mất mỹ thuật nên người ta vẽ dản dị còn có tám hay sáu gọng mà thôi.
Đã là bánh xe (xa luân) gắn vào cỗ xe thì bên vành xe không thể có các cái núm tay cầm nữa, như bánh xe lái tầu (helm wheel). Hình này mới là tượng trưng cho bánh xe Pháp có ghi trên trụ đá của Vua A Dục, và ngày nay nước Ấn Độ cũng lấy cái bánh xe này là quốc hiệu và có in trên lá quốc kỳ.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.
One
day, the Buddha was in Kosambi in the forest of simsàpa, he picked up a
few leaves simsàpa up to ask: "Monks, what do you think? Is the simsàpa in our hand much or is it in the forest simsàpa much?
«The Blessed One, the leaves in the hands of the Blessed One are too few, and the leaves in the forest of simsàpa are too much.» The Buddha says: "So, bhikkhus, what I know is too much, but what I teach you is very little; But that is what is essential and essential for liberation. What have I taught you? It is "This is suffering", "This is suffering", "This is the cessation of suffering", "This is the path leading to the cessation"
The Four Senses teachings are the foundation of the Buddhist teaching system. Immediately after the Buddha's enlightenment, he came to the garden of the sermon for the five brothers Tran Qi Tran, ascetic friends with him before; The content of the first sermon is the Four Noble Truths. From there, throughout the course of his propagation, the Four Noble Truths are deployed, expanding. The Buddha repeatedly determined the importance and transcendence of the Four Noble Truths. He taught: "The Arahats who are in the past, in the future or in the present, are considered the righteous. Proper sense is the chief sense of the Four Noble Truths.
The goal of Buddhism is to free all suffering, so the disciplines are set up, every effort is practiced towards that goal. The Four Noble Truths are considered the ultimate good deeds. He said: "As all the footprints of all animals are photographed in the footprints of elephants, this footprint is the largest of all footprints. Likewise, the sages, all the good things are concentrated in the Four Holy Truths. The Buddha also said: "O bhikkhus, if anyone says that without building the lower floor of the house, I will build the upper floor of the house, this event can not happen. Likewise, if anyone says that there is no need to enlighten the Four Noble Truths, we will eliminate suffering, this event can not happen ".
One last time, he recalled the Four Noble Truths: "The monks, for the Four Truths, are skeptical about where to ask questions. Immediately, do not hold the doubt without solving "(Business Diocese, Tri Quang translation).
Thus, the importance of the Four Noble Truths has been determined by the Buddha himself and his outstanding disciples. Over 2,500 years, the Four Noble Truths have been propagated and practiced by all the sects of Buddhism, Theravada or Mahayana.END=NAM MO SHAKYA MOUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.
«The Blessed One, the leaves in the hands of the Blessed One are too few, and the leaves in the forest of simsàpa are too much.» The Buddha says: "So, bhikkhus, what I know is too much, but what I teach you is very little; But that is what is essential and essential for liberation. What have I taught you? It is "This is suffering", "This is suffering", "This is the cessation of suffering", "This is the path leading to the cessation"
The Four Senses teachings are the foundation of the Buddhist teaching system. Immediately after the Buddha's enlightenment, he came to the garden of the sermon for the five brothers Tran Qi Tran, ascetic friends with him before; The content of the first sermon is the Four Noble Truths. From there, throughout the course of his propagation, the Four Noble Truths are deployed, expanding. The Buddha repeatedly determined the importance and transcendence of the Four Noble Truths. He taught: "The Arahats who are in the past, in the future or in the present, are considered the righteous. Proper sense is the chief sense of the Four Noble Truths.
The goal of Buddhism is to free all suffering, so the disciplines are set up, every effort is practiced towards that goal. The Four Noble Truths are considered the ultimate good deeds. He said: "As all the footprints of all animals are photographed in the footprints of elephants, this footprint is the largest of all footprints. Likewise, the sages, all the good things are concentrated in the Four Holy Truths. The Buddha also said: "O bhikkhus, if anyone says that without building the lower floor of the house, I will build the upper floor of the house, this event can not happen. Likewise, if anyone says that there is no need to enlighten the Four Noble Truths, we will eliminate suffering, this event can not happen ".
One last time, he recalled the Four Noble Truths: "The monks, for the Four Truths, are skeptical about where to ask questions. Immediately, do not hold the doubt without solving "(Business Diocese, Tri Quang translation).
Thus, the importance of the Four Noble Truths has been determined by the Buddha himself and his outstanding disciples. Over 2,500 years, the Four Noble Truths have been propagated and practiced by all the sects of Buddhism, Theravada or Mahayana.END=NAM MO SHAKYA MOUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.
Một hôm, Ðức Phật đang ở tại Kosambi trong rừng cây simsàpa, Ngài nhặt một ít lá simsàpa đưa lên hỏi: «Này các Tỳ kheo, các ông nghĩ thế nào? Lá simsàpa ở trong tay ta nhiều hay là ở trong rừng simsàpa nhiều?«.
«Bạch Ðức Thế Tôn, lá trong tay Thế Tôn quá ít, còn lá trong rừng simsàpa thì quá nhiều«. Phật dạy: «Cũng vậy, này các Tỳ kheo, điều ta biết thì quá nhiều, nhưng những gì ta dạy cho các ông thì rất ít; nhưng đó là những gì cần thiết và căn bản cho sự giải thoát. Những gì ta đã dạy cho các ông? Chính là «Ðây là Khổ«, «Ðây là Khổ tập«, «Ðây là Khổ diệt«, «Ðây là con đường đưa đến Khổ diệt«
Giáo lý Tứ đế là nền tảng của hệ thống giáo lý đạo Phật. Ngay sau khi Ðức Phật thành đạo, Ngài đến vườn Nai thuyết pháp cho năm anh em Kiều Trần Như, những bạn tu khổ hạnh với Ngài trước đây; nội dung bài thuyết giáo đầu tiên ấy là Tứ diệu đế. Từ đó, xuyên suốt hành trình hoằng hóa của Ngài, giáo lý Tứ diệu đế được triển khai, mở rộng. Ðức Phật nhiều lần xác định về tầm quan trọng và siêu việt của giáo lý Tứ đế, Ngài dạy: «Những bậc A La Hán chánh đẳng giác ở trong quá khứ, ở trong tương lai hay hiện tại, được coi là vị Chánh đẳng giác đúng nghĩa là Chánh đẳng giác về Bốn thánh đế« .
Mục đích của đạo Phật là giải thoát mọi đau khổ, vì vậy các pháp môn được thiết lập, mọi nỗ lực tu tập đều hướng về mục tiêu ấy. Giáo lý Tứ điệu đế được coi là thiện pháp tối thắng. Ngài Xá Lợi Phất nhận định: «Ví như tất cả dấu chân của mọi loài động vật đều bị nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này lớn nhất trong tất cả dấu chân. Cũng vậy, chư hiền giả, tất cả các thiện pháp đều tập trung trong Tứ thánh đế« (Trung Bộ kinh I). Ðức Phật cũng dạy: «Này các Tỳ kheo, nếu có ai nói rằng không cần xây dựng tầng dưới của ngôi nhà, tôi sẽ xây tầng trên của ngôi nhà, sự kiện này không thể xảy ra. Cũng vậy, nếu có ai nói rằng không cần giác ngộ Tứ thánh đế, ta sẽ đoạn diệt khổ đau, sự kiện này không thể xảy ra« .
Cho đến lúc sắp nhập Niết bàn dưới cây sa la song thọ, một lần cuối, Ngài nhắc lại giáo lý Tứ đế: «Các thầy Tỳ kheo, đối với Bốn chân lý, các thầy còn hoài nghi chỗ nào thì có thể chất vấn tức khắc, không nên giữ sự hoài nghi mà không cầu giải đáp« (kinh Di Giáo, Trí Quang dịch).
Như vậy, tầm quan trọng của giáo lý Tứ diệu đế đã được xác định bởi chính Ðức Phật và những đệ tử xuất sắc của Ngài. Trải qua hơn 2.500 năm, giáo lý Tứ diệu đế vẫn được tất cả các bộ phái Phật giáo, Nguyên thủy hay Ðại thừa, đều xiển dương và hành trì.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.
The seeker of silence.One of the meanings of Sa di is "the seeker of silence". Silence is the result of subduing self and decreasing desires. No desire means no attachment. And, when there are no obstacles and wants, where are you not free and quiet? Seeking silence by not looking is all that this is intended for.Sometimes I taste the silence. Today it was at the top of a solitary hill after a long, hot climb. Without traffic, the only sound is the soft rustle of our robes and
yarns in the breeze, so that the ears and mind can follow many miles
away.No desire, do not worry. Silence. Tomorrow and yesterday are just unreal words. Silence."...
knowing all the sounds is no place, it is impossible, neither the
author, nor the priest, nor the Dharma realm is not wrong."END=NAM MO SHAKYA MOUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.
Người đi tìm sự tĩnh
lặng.
Một trong các nghĩa
của chữ Sa di là “người đi tìm sự tĩnh lặng”. Tĩnh lặng là kết quả của việc
chế phục được bản ngã và giảm ham muốn. Không ham muốn nghĩa là không có bám
chấp. Và, khi không còn những trở ngại bám dính và những mong muốn thì ở nơi
đâu mà quý vị không tự do và tĩnh lặng? Tìm kiếm sự yên lặng bằng cách
không tìm kiếm là tất cả những gì điều này nhắm đến.
Thỉnh thoảng tôi nếm
được mùi vị của sự tĩnh lặng. Hôm nay, đó là lúc ở trên đỉnh của ngọn đồi cô
quạnh sau một thời gian dài nóng nực leo đồi. Không có xe cộ lưu thông, âm
thanh duy nhất là tiếng sột soạt mềm mại của áo choàng và y giới của chúng
tôi trong cơn gió nhẹ khiến cho tai và tâm trí có thể dõi theo hàng nhiều
dặm không cùng tận.
Không mong muốn thì
không lo lắng. Tĩnh lặng. Ngày mai và hôm qua chỉ là những từ ngữ không
thật. Tĩnh lặng.
“… biết tất cả âm
thanh đều là không chỗ có, thật chẳng thể được, không có tác giả, cũng
không có bổn tế, đồng với Pháp giới không sai khác”.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.
Engage in France, not into self
Speak from the heart.
When talking, use the Fa. Talk honestly, from the heart. If you want people to understand what you understand, retreat, reverently pray to the Three Jewels, and talk the way you say when you want to save sentient beings. Fond of France, not into self; you are the boat, not the source. Follow the doctrine that you absorb from and speak out through your experience of light and truth. If you want to make it live, people will listen to you, and France will connect from the heart to the heart.END=NAM MO SHAKYAMOUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017 .
Speak from the heart.
When talking, use the Fa. Talk honestly, from the heart. If you want people to understand what you understand, retreat, reverently pray to the Three Jewels, and talk the way you say when you want to save sentient beings. Fond of France, not into self; you are the boat, not the source. Follow the doctrine that you absorb from and speak out through your experience of light and truth. If you want to make it live, people will listen to you, and France will connect from the heart to the heart.END=NAM MO SHAKYAMOUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017 .
Nương vào Pháp, không phải vào bản ngã
Nói từ trái tim.
Khi nói chuyện, hãy dùng Pháp. Nói chân thật, từ trái tim. Nếu bạn muốn mọi người hiểu những gì bạn hiểu, hãy tĩnh tâm, cung kính cầu nguyện Tam Bảo gia hộ, và nói chuyện theo cách bạn nói khi muốn cứu độ chúng sanh. Nương vào Pháp, không phải vào bản ngã; bạn là chiếc thuyền, không phải nguồn. Theo sát giáo lý mà bạn hấp thu được từ và nói ra qua kinh nghiệm của mình về ánh sáng và sự thật. Nếu bạn muốn khiến nó sống động, mọi người sẽ nghe bạn, và Pháp sẽ kết nối từ tâm sang tâm.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.
Khi nói chuyện, hãy dùng Pháp. Nói chân thật, từ trái tim. Nếu bạn muốn mọi người hiểu những gì bạn hiểu, hãy tĩnh tâm, cung kính cầu nguyện Tam Bảo gia hộ, và nói chuyện theo cách bạn nói khi muốn cứu độ chúng sanh. Nương vào Pháp, không phải vào bản ngã; bạn là chiếc thuyền, không phải nguồn. Theo sát giáo lý mà bạn hấp thu được từ và nói ra qua kinh nghiệm của mình về ánh sáng và sự thật. Nếu bạn muốn khiến nó sống động, mọi người sẽ nghe bạn, và Pháp sẽ kết nối từ tâm sang tâm.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.
THE BUDDLE BUDDHISM..
CAUSE AND EFFECT.In fact, there is no natural thing and every thing needs to be born that is the cause and the thing that produces the fruit. To have rice, there must be rice, water, a rice cooker, a fire, charcoal and fire tools, must have a kitchen staff, fire, boiling water to boil, and cook rice The right technique is delicious. If there is only rice or water alone, if there is no labor to cook rice can not be. All the rice, water, pot, stove, charcoal and labor are all necessary conditions to produce the rice, these conditions being the combined causes of the fruit of the rice.According to daily experience, considering what conditions, results produced, people achieve some desired results, such as wanting good rice, must fertilize, want to freeze, must wear clothes warm, etc. The more people learn, observe, understand the cause and effect of the clear, the more can create the things necessary for life as much. The more a person studies the cause and effect of a meticulous thing, the more successful the result. As in the cooking of rice, people have a lot of experience, but you want to cook rice on the contrary, inexperienced people sometimes want to cook dry rice, pastry, etc.But what is causality, just the most direct cause and effect, if broadly studied, to the cause of rice, water, pot, fire, etc. Then broadly, to the causes of these causes, it is possible to understand more deeply the doctrine of causality, to the nature of the arising of all things. Thus, the doctrine of causation is not as simple as many people think, contrary to that principle is the basis of Buddhist doctrine, covering the cause and effect of the body, of the mind, of the situation, both worldly and worldly powers. As long as the body is healthy, it is necessary to maintain hygiene and exercise, to be gentle and self-centered, it is necessary to think daily for the benefit of others, to make the people in a country happy must save the country building. About the world, the cause and effect of the karmic retribution in the line of reincarnation, the world, the right to liberation, must practice the words: compassion, compassion, happiness, universal beings, the new Buddha knife.Since the scope of cause and effect is very wide, there are various ways of analyzing cause and effect in Buddhism, with special attention in one aspect or another.As for the human, there is only room divided into two things are human beings and willow. Birth is the cause of things. Liu is the cause of the discovery of things. For example: Due to the complex geological conditions in the earth, where there is kerosene accumulated in the underground, it has no significant effect. Only when the geologists explore, exploration, discovery of the oil field, people know that there is a real oil, that is the willow. Then by discovering such an oilfield, one can start mining oil and use it daily for human life. Thus, although the cause does not produce things, it has the important effect of discovering the things that are available. According to Buddhism, from a small particle, to the human mind, all have legal sex. Self-centered legal sex, but if you do not study Buddhism, discover the legal nature of self, you still have to live and die, die and live, forever in the cycle of reincarnation. When the discovery of the legal sex, promotion of the magic of sexuality that the populace, will be full of merit that the Buddha. Recognizing this point, know that learning Buddhism, is only the discovery of the precepts are available, not destroying the birth, legal sex.There is a place to analyze the causes of the three things are the human, the collective, the human. Births are the necessary causes for things like rice, water, fire, etc. can produce rice. But if one place, one place, then there is no need for rice to gather the causes, to make each other work, to have rice, that is the collective. The cause must be gathered under certain circumstances, the new fire is red, the water is boiling, the rice is ripe, the condition is human.More detailed analysis, can also be divided into five, six, ten, etc. On the coast and the result, the analysis also has different places like that.For eclectic reasoning, it is also possible for all of these cases to be analyzed only in terms of the four factors: the subjective, the ascendant, the ascendant, and the heterogeneous.Asian. Sentence of the personSentient beings are the same people have once, combined together, to produce fruit. If individuals do not mix together, then of course they do not produce results, but they do not produce results.All things can not be self-generated, because before birth, self was not, how to self-born. This doctrine refutes theories that have him as a natural or a natural mess.END=NAM MO SHAKYA MOUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.
CAUSE AND EFFECT.In fact, there is no natural thing and every thing needs to be born that is the cause and the thing that produces the fruit. To have rice, there must be rice, water, a rice cooker, a fire, charcoal and fire tools, must have a kitchen staff, fire, boiling water to boil, and cook rice The right technique is delicious. If there is only rice or water alone, if there is no labor to cook rice can not be. All the rice, water, pot, stove, charcoal and labor are all necessary conditions to produce the rice, these conditions being the combined causes of the fruit of the rice.According to daily experience, considering what conditions, results produced, people achieve some desired results, such as wanting good rice, must fertilize, want to freeze, must wear clothes warm, etc. The more people learn, observe, understand the cause and effect of the clear, the more can create the things necessary for life as much. The more a person studies the cause and effect of a meticulous thing, the more successful the result. As in the cooking of rice, people have a lot of experience, but you want to cook rice on the contrary, inexperienced people sometimes want to cook dry rice, pastry, etc.But what is causality, just the most direct cause and effect, if broadly studied, to the cause of rice, water, pot, fire, etc. Then broadly, to the causes of these causes, it is possible to understand more deeply the doctrine of causality, to the nature of the arising of all things. Thus, the doctrine of causation is not as simple as many people think, contrary to that principle is the basis of Buddhist doctrine, covering the cause and effect of the body, of the mind, of the situation, both worldly and worldly powers. As long as the body is healthy, it is necessary to maintain hygiene and exercise, to be gentle and self-centered, it is necessary to think daily for the benefit of others, to make the people in a country happy must save the country building. About the world, the cause and effect of the karmic retribution in the line of reincarnation, the world, the right to liberation, must practice the words: compassion, compassion, happiness, universal beings, the new Buddha knife.Since the scope of cause and effect is very wide, there are various ways of analyzing cause and effect in Buddhism, with special attention in one aspect or another.As for the human, there is only room divided into two things are human beings and willow. Birth is the cause of things. Liu is the cause of the discovery of things. For example: Due to the complex geological conditions in the earth, where there is kerosene accumulated in the underground, it has no significant effect. Only when the geologists explore, exploration, discovery of the oil field, people know that there is a real oil, that is the willow. Then by discovering such an oilfield, one can start mining oil and use it daily for human life. Thus, although the cause does not produce things, it has the important effect of discovering the things that are available. According to Buddhism, from a small particle, to the human mind, all have legal sex. Self-centered legal sex, but if you do not study Buddhism, discover the legal nature of self, you still have to live and die, die and live, forever in the cycle of reincarnation. When the discovery of the legal sex, promotion of the magic of sexuality that the populace, will be full of merit that the Buddha. Recognizing this point, know that learning Buddhism, is only the discovery of the precepts are available, not destroying the birth, legal sex.There is a place to analyze the causes of the three things are the human, the collective, the human. Births are the necessary causes for things like rice, water, fire, etc. can produce rice. But if one place, one place, then there is no need for rice to gather the causes, to make each other work, to have rice, that is the collective. The cause must be gathered under certain circumstances, the new fire is red, the water is boiling, the rice is ripe, the condition is human.More detailed analysis, can also be divided into five, six, ten, etc. On the coast and the result, the analysis also has different places like that.For eclectic reasoning, it is also possible for all of these cases to be analyzed only in terms of the four factors: the subjective, the ascendant, the ascendant, and the heterogeneous.Asian. Sentence of the personSentient beings are the same people have once, combined together, to produce fruit. If individuals do not mix together, then of course they do not produce results, but they do not produce results.All things can not be self-generated, because before birth, self was not, how to self-born. This doctrine refutes theories that have him as a natural or a natural mess.END=NAM MO SHAKYA MOUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.THE MIND OF ENLIGHTENMENT.VIETNAMESE BUDDHIST NUN=GOLDEN LOTUS MONASTERY=AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.
PHẬT HỌC THƯỜNG THỨC.
Theo kinh nghiệm hàng ngày, xét biết những điều kiện gì, sinh ra những kết quả như thế nào, người ta đạt được một số kết quả theo ý muốn, như muốn lúa tốt thì phải bón phân, muốn khỏi rét thì phải mặc áo ấm, v.v. Người ta càng học hỏi, nhận xét, tìm hiểu nhân quả rõ ràng bao nhiêu, thì càng có thể tạo được những sự vật cần thiết cho đời sống bấy nhiêu. Người ta càng nghiên cứu nhân quả của một sự vật tỉ mỉ bao nhiêu, thì càng đạt được kết quả mỹ mãn bấy nhiêu. Như trong việc nấu cơm, người có nhiều kinh nghiệm thì tùy ý muốn nấu cơm thế nào cũng được, ngược lại, người ít kinh nghiệm thì có khi muốn nấu cơm khô, thành cơm nhão v.v.
Song xét nhân quả như thế nào, cũng chỉ là xét những nhân quả trực tiếp nhất mà thôi, nếu nghiên cứu rộng ra, đến nguyên nhân của gạo, của nước, của nồi, của lửa, v.v. rồi nghiên cứu rộng ra nữa, đến những nguyên nhân của các nguyên nhân ấy, thì còn có thể hiểu sâu hơn đạo lý về nhân quả, đi đến bản tính trùng trùng duyên khởi của tất cả sự vật. Như thế, đạo lý nhân quả không phải đơn giản, như nhiều người nghĩ, ngược lại đạo lý ấy là cơ sở của đạo lý Phật giáo, bao trùm cả nhân quả của thân thể, của tự tâm, của hoàn cảnh, bao trùm cả các phép thế gian và xuất thế gian. Như muốn thân thể được khỏe mạnh, thì cần giữ vệ sinh và tập thể dục, muốn tự tâm hiền lành, thì cần phải hằng ngày suy nghĩ đến lợi ích của người khác, muốn cho nhân dân trong một nước được hạnh phúc, thì phải cần kiệm xây dựng nước nhà. Về thế gian, thì nhân quả là những nghiệp báo trong đường luân hồi, về xuất thế gian, thì phải tu đạo giải thoát, phải tu các hạnh: Từ, bi, hỷ, xả, phổ độ chúng sinh, thì mới thành Phật đạo.
Vì phạm vi của nhân quả rất rộng, nên trong đạo Phật có nhiều cách phân tích nhân quả khác nhau, do đặc biệt chú ý về phương diện này hay phương diện khác.
Như về nhân, thì có chỗ chỉ chia là hai thứ là sinh nhân và liễu nhân. Sinh nhân là những nguyên nhân phát sinh ra sự vật. Liễu nhân là những nguyên nhân phát hiện ra sự vật. Ví dụ: Do những điều kiện địa chất phức tạp trong lòng đất, ở một nơi nào đó, có dầu hỏa tích tụ lại thành mỏ dưới đất, thì nó không có tác dụng gì đáng kể. Chỉ khi nào các nhà địa chất tìm tòi, thăm dò, phát hiện ra mỏ dầu, thì người ta mới biết ở nơi ấy có mỏ dầu thật, đó là liễu nhân. Rồi nhờ phát hiện ra mỏ dầu như thế, người ta mới có thể khai mỏ dầu và sử dụng dầu hỏa giúp ích hàng ngày cho đời sống của con người. Như thế, tuy liễu nhân không sinh ra sự vật, nhưng nó có tác dụng quan trọng là phát hiện ra những sự vật sẵn có. Theo đạo Phật, từ một hạt bụi nhỏ, cho đến tự tâm con người, tất cả đều có pháp giới tính. Tự tâm sẵn có pháp giới tính, nhưng nếu không tu học Phật pháp, phát hiện ra pháp giới tính của tự tâm, thì vẫn phải sống rồi chết, chết rồi sống, mãi mãi trong đường luân hồi. Người lại khi phát hiện ra pháp giới tính, phát huy diệu dụng pháp giới tính mà hóa độ quần sinh, thì sẽ đầy đủ công đức mà thành Phật đạo. Nhận rõ điểm này thì biết, việc tu học Phật pháp, chỉ là liễu nhân phát hiện ra pháp giới tinh sẵn có, chứ không pháỉ sinh nhân, sinh ra pháp giới tính.
Có chỗ thì phân tích các nhân làm ba thứ là sinh nhân, tập nhân, y nhân. Sinh nhân là những nguyên nhân cần thiết để phát sinh ra sự vật như gạo, nước, lửa v.v. có thể phát sinh ra cơm. Nhưng nếu gạo một nơi, nước một nơi, thì không thể nào thành cơm được cần tập hợp các nguyên nhân đó lại, làm cho tác động lẫn nhau, thì mới có cơm, đó là tập nhân. Lại còn phải tập hợp các nguyên nhân đó trong hoàn cảnh nhất định, thì lửa mới đỏ, nước mới sôi, cơm mới chín, điều kiện hoàn cảnh này là y nhân.
Phân tích tỉ mỉ hơn, có thể còn chia ra làm năm nhân, sáu nhân, mười nhân v.v. Về duyên và quả, sự phân tích cũng có chỗ khác nhau như thế.
Để chiết trung cho dễ hiểu, đồng thời cũng có thể áp dụng cho tất cả các trường hợp này, chỉ phân tích các nhân làm bốn thứ là câu hữu nhân, đẳng lưu nhân, tăng thượng nhân, và dị thục nhân.
a. Câu hữu nhân
Câu hữu nhân là những nhân cùng có một lần, kết hợp với nhau, để sinh ra quả. Nếu các nhân không kết hợp với nhau, thì tất nhiên không sinh ra được quả, mà đã không sinh được quả, thì nhân cũng không thành nhân nữa.
Tất cả sự vật đều không thể tự sinh, vì trước khi sinh ra, chính mình đã không có, làm sao mà tự sinh được. Đạo lý này bác bỏ những thuyết cho rằng, có ông tạo hóa hoặc có tính hỗn độn tự nhiên sinh ra, không cần có nguyên nhân gì. Đạo lý nào, ngược lại, không giống với pháp giới tính, vì pháp giới tính chỉ là cái tính trùng trùng duyên khởi của sự vật, như tính nóng của lửa, chớ không phải có trước sự vật, mà cũng không phải ở ngoài sự vật.
Một sự vật cũng không thể do cái khác sinh ra, vì đối với mình, mới có cái khác, khi mình chưa có, thì cái khác với mình cũng không thành, làm sao, lại có cái khác sinh ra mình được. Đạo lý nào, chỉ rõ nhân với quả đối đãi với nhau mà có, chớ không phải riêng mình tự có, và chính nơi cái quả, mới nhận được các nguyên nhân sinh ra nó, ảnh hưởng các nguyên nhân đó, vẫn tồn tại trong quả, và khi ảnh hưởng đó hết tồn tại, thì cái quả cũng phải diệt vong. Vì thế, tuy nhân và quả tuy không phải đồng nhau, nhưng cũng không khác hẳn với nhau được.
Lại, các sự vật không phải không có nhân mà tự nhiên sinh ra. Những nhân sinh ra một vật, luôn luôn là số nhiều. Một nhân không thể sinh ra được quả, vì nếu một sự vật không chịu ảnh hưởng của một sự vật khác, thì không thay đổi, mà đã không thay đổi, thì trước sau vẫn như nhau, không sinh được gì. Đạo lý nào bác cái thuyết Tạo hóa, một mình sinh ra các sự vật.
Muốn phát sinh ra một sự vật, cần phải có nhiều nhân cùng có một lần, kết hợp ảnh hưởng lẫn nhau, rồi mới sinh được. Ví dụ như cái bàn bằng gỗ, gỗ là nguyên liệu cần thiết, nhưng cứ để gỗ y nguyên như thế , thì gỗ không thành bàn được. Cần phải có nhân công, có dụng cụ, cưa, xẻ, bào, ráp….rồi mới thành cái bàn. Chính nơi kết quả là cái bàn gỗ, chúng ta có thể nhận được tác dụng của các nguyên nhân, như thứ gỗ gì làm ra bàn, dụng cụ gì đã tác động đến gỗ và sự khéo vụng của ông thợ đã sử dụng các dụng cụ ấy, để tạo thành cái bàn. Nếu chỉ có gỗ, chỉ có dụng cụ hay chỉ có nhân công thì không thể tạo thành cái bàn được. Các nhân: Gỗ, dụng cụ, nhân công, cùng có một lần, kết hợp, ảnh hưởng lẫn nhau, tạo thành ra kết quả là cái bàn, thì gọi là câu hữu nhân.
b. Đẳng lưu nhân
Lại muốn cho có quả, các nhân cần phải liên tục kết hợp ảnh hưởng lẫn nhau, trong một thời gian nhất định, vì chỉ có cưa xẻ mà không bào không ráp, thì cũng không thành cái bàn được. Tác dụng của mỗi nhân lại còn phải tiếp tục tồn tại nơi cái quả, thì cái quả mới khỏi diệt vong, vì nếu gỗ bị mục nát hoặc những bộ phận ráp thành cái bàn rã rời mỗi nơi một cái, thì cũng không thành cái bàn được. Sự tiếp tục tồn tại của tác dụng các nhân, cũng là nguyên nhân tạo thành ra quả, đó là đẳng lưu nhân
c. Tăng thượng nhân
Ngoài những câu hữu nhân, đẳng lưu nhân, lại còn có những nhân, tuy không phải là tối cần thiết, nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của quả, đó là tăng thượng nhân. Ví dụ như có hạt thóc, có nhân công gieo xuống đất, có nước, có ánh sáng mặt trời… thì cây lúa có thể mọc lên và thành bông lúa với một số hạt nhất định. Nhưng nếu cày bừa kỹ, tưới nước đủ, làm cỏ tốt, bỏ phân nhiều, thì bông lúa sẽ có nhiều hạt hơn, việc cày bừa kỹ, tưới nước đủ, làm cỏ tốt, bón phân nhiều là tăng thượng nhân tốt của bông lúa..... Ngược lại, cũng có những tăng thượng nhân xấu như bão lụt, úng… làm cho kết quả của sự trồng lúa kém đi hoặc mất hẳn. Vì thế, muốn có kết quả mỹ mãn, cần phải tăng cường những tăng thượng nhân tốt và chống lại những tăng thưọng nhân xấu.
d. Dị thục nhân.
Các nhân trên kia, cái thì có trước, cái thì có sau, cái thì tiếp tục trong một thời gian dài, cái thì tiếp tục trong thời gian ngắn, nhưng cũng có tác động kết hợp, ảnh hưởng lẫn nhau để tạo thành cái quả, có phần khác với các nhân trước kia. Sự kết hợp, ảnh hưởng lẫn nhau, trong một thời gian dài và cuối cùng tạo thành kết quả, đó là tác dụng của dị thục nhân.
Dị thục nhân có ba nghĩa là: Khác thời gian mà thành thục, khác phẩm loại mà thành thục và biến ra khác mà thành thục. Khác thời gian, là như trồng lúa ba bốn tháng trước, rồi mới gặt lúa. Khác phẩm loại, là như do nhân công, cày bừa, gieo cấy mà hạt lúa thành ra cây lúa, rồi cây lúa lại sinh ra bông lúa. Biến ra khácdị thục nhân. mà thành thục, là như các thứ phân bón, không phải là thóc, mà lại biến ra thóc. Tất cả các nhân đó kết hợp, ảnh hưởng lẫn nhau, trong một thời gian nhất định,, rồi mới có tác dụng tạo thành kết quả mong muốn, nên gọi là
Nhưng, các nhân có trực tiếp sinh ra quả không? Như trên đã nói, một nhân quyết định, không sinh được quả và mỗi nhân riêng biệt, đều không sinh ra được quả. Nếu các nhân trực tiếp sinh ra quả, thì đó là một điều phi lý, vì mỗi nhân đã không sinh ra được quả, như hạt ngô không sinh ra được cây lúa, thì làm sao nhiều hạt ngô, lại có thể sinh ra cây lúa được. Các nhân riêng biệt, đã không sinh ra được quả, thì vì duyên cớ gì, khi có những điều kiện nhất định kết hợp với nhau, thì lại có kết quả giống nhau? Đó là vì, tuy các nhân không trực tiếp sinh ra quả, tuy khi quả sinh ra, phần lớn các nhân đều thuộc về quá khứ, đều đã thay đổi, nhưng tác dụng của các nhân đó, đã tạo điều kiện cho các quả sinh ra. Việc các nhân tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, làm cho cái quả sinh ra như thế, thì gọi là duyên.
Có người giải thích rằng, nguyên nhân chính lá nhân, nguyên nhân phụ là duyên, giải thích như vậy, không được rốt ráo, vì tất cả các nhân đều không trực tiếp sinh ra quả.
Duyên có rất nhiều nghĩa, khi các sự vật tác động, kết hợp, chi phối, nương tựa, ảnh hưởng, đối đãi lẫn nhau, thì đều gọi là duyên cả. Nay phân tích các duyên làm bốn thứ như sau:
- Nhân duyên:
Là cái duyên của các câu hữu nhân và dị thục nhân.
- Đẳng vô gián duyên:
Là cái duyên của đẳng lưu nhân.
- Sở duyên duyên:
Là cái duyên của hoàn cảnh, do cái này có mà cái kia có, vậy một phần thuộc về câu hữu nhân, một phần thuộc về dị thục nhân.
- Tăng thượng duyên:
Là cái duyên của các tăng thượng nhân tốt và xấu.
Do những duyên như thế, nên các nhân gián tiếp tạo thành ra quả.
Các duyên tạo ra quả như thế, thì gọi là duyên sinh hay duyên khởi. Nếu nghiên cứu rộng thêm, thì thấy rằng, muôn sự muôn vật trong mười phương, ba đời, đều trực tiếp hoặc gián tiếp duyên khởi lẫn nhau, sự duyên khởi dây chuyền, của một sự vật đối với tất cả sự vật, thì gọi là pháp giới duyên khởi, hoặc pháp giới trùng trùng duyên khởi. Vì mọi sự vật, đều do pháp giới trùng trùng duyên khởi, nên sự phát sinh, phát triển và diệt vong của một sự vật rất phức tạp, nó cắt nghĩa, tại sao những sự vật đồng loại, thường không hoàn toàn giống nhau, đồng thời, nó cũng đòi hỏi người đời phải đi sâu thêm, mở rộng nhận xét thêm mãi về tính duyên khởi của các sự vật, để gạt bỏ những duyên xấu, bồi dưỡng những duyên tốt, thì mới được kết quả theo ý muốn.
Về quả, nay cũng phải phân tích, làm bốn thứ như sau:
- Sĩ dụng quả: Là tác dụng của các nhân, mỗi nhân đều có tác dụng, nên mỗi nhân đều có sĩ dụng quả riêng biệt, ví dụ đối với cái bàn, gỗ có sĩ dụng quả của gỗ, dụng cụ có sĩ dụng quả của dụng cụ, nhân công có sĩ dụng quả của nhân công. Các sĩ dụng quả riêng biệt ấy, kết hợp lại, tạo thành cái bàn, đều có thể nhận định được nơi cái bàn khi cái bàn còn tồn tại.
- Đẳng lưu quả: Là cái kết quả của sự tiếp tục tồn tại, trong một thời gian nhất định, của các tác dụng các nguyên nhân
- Tăng thượng quả: là kết quả làm cho tốt hơn hoặc xấu hơn, của các tăng thượng duyên.
- Dị thục quả: là kết quả tổng hợp hiện tại, do các duyên tạo thành.
Bốn thứ quả ấy, bao gồm được tất cả các quả, vì ly hệ quả của các vị Bồ-tát và các vị Thanh Văn, Duyên Giác là dị thục quả, còn ly hệ quả của các đức Như Lai là tăng thượng quả.
Đạo lý nhân quả không đơn giản, cần phải suy xét chính chắn nơi hiện thật của sự vật, thì mới đi đến kết luận gần đúng đắn.
Kinh nghiệm của loài người về nhân quả khá nhiều, cần học hỏi chính chắn những kinh nghiệm ấy, phân tích tỉ mỉ theo đạo lý duyên khởi, thì việc làm mới đạt được kết quả mong muốn. Người sản xuất cần nghiên cứu nhân quả của công việc mình, gạt bỏ những tăng thượng duyên xấu, bồi dưỡng những tăng thượng duyên tốt, thì kết quả của công việc mới được dồi dào. Đối với sự hiểu biết của con người cũng vậy, muốn hiểu biết môn gì thì phải học môn ấy, không thể học toán mà biết làm văn được, lại trong lúc học, cần phải suy nghĩ, tìm tòi, chỗ nào không rõ, phải hỏi thầy, hỏi bạn, thì kết quả của sự học tập mới được vững vàng sâu sắc và sự áp dụng việc học trong đời sống hằng ngày mới có kết quả tốt. Chẳng những sức khoẻ và học thức của một người, đều có nhân, có quả, mà xã hội loài người, trên một thế giới hay trong một nước, cũng có nhân quả của nó. Học hỏi nghiên cứu và đi sâu vào nhân quả xã hội loài người, thì có thể tạo ra những điều kiện chuyển biến những xã hội bất công xấu xa, thành những xã hội công bằng tốt đẹp.
Các vị tu hành được túc mạng thông, nhớ lại các đời trước và phân tích theo đạo lý nhân quả, có thể nhận thức rõ ràng những nguyên nhân làm cho chúng sinh phải nổi chìm mãi mãi trong đường luân hồi, chết nơi này, rồi lại sinh ra nơi khác. Việc đi lên hay đi xuống trong đường luân hồi là do kết quả chung của những hoạt động về ý nghĩ về lời nói hoặc về thân thể. Những hoạt động ấy, thì gọi là nghiệp nhân, kết quả của hoạt động ấy, thì gọi là quả báo. Cần biết rõ về nghiệp báo, luôn luôn tạo những nghiệp nhân tốt, thì nhất định khỏi sa đoạ.
Chẳng những thế gian có nhân quả, mà xuất thế gian cũng có nhân quả. Xuất thế gian là giải thoát ra khỏi nhân hồi. Muốn được giải thoát thì tất phải diệt trừ những nguyên nhân làm cho có sống, có chết, nói một cách khác thì phải tu tập những nhân giải thoát, rồi mới được những quả giải thoát.
Nói tóm lại, phàm muốn được một kết quả gì, dù là thế gian hay xuất thế gian, đều nên học hỏi nghiên cứu nhận rõ nguyên nhân của nó, cố gắng tập hợp đầy đủ những nguyên nhân ấy, gạt bỏ những tăng thượng duyên xấu, bồi dưỡng những tăng thượng duyên tốt, thì mới chắc đạt được kết quả mong muốn.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.
NHÂN QUẢ
Trong thực tế, không có sự vật gì tự nhiên sinh và sự vật nào cũng cần có đủ điều kiện mới sinh được, điều kiện ấy là nhân và sự vật sinh ra là quả. Muốn có cơm thì phải có gạo, có nước, có nồi nấu cơm, có bếp lửa, có than củi và có những dụng cụ nhen lửa, phải có nhân công nhóm bếp, nhen lửa, nấu nước cho sôi, và nấu cơm theo đúng kỹ thuật thì mới ngon cơm. Nếu chỉ có một mình gạo hay một mình nước, nếu không có nhân công nấu cơm thì không thành cơm được. Tất cả những gạo, nước, nồi, bếp, than củi và nhân công đều là những điều kiện cần thiết để sinh ra cơm, những điều kiện ấy, là những nguyên nhân kết hợp sinh ra cái quả là cơm. Theo kinh nghiệm hàng ngày, xét biết những điều kiện gì, sinh ra những kết quả như thế nào, người ta đạt được một số kết quả theo ý muốn, như muốn lúa tốt thì phải bón phân, muốn khỏi rét thì phải mặc áo ấm, v.v. Người ta càng học hỏi, nhận xét, tìm hiểu nhân quả rõ ràng bao nhiêu, thì càng có thể tạo được những sự vật cần thiết cho đời sống bấy nhiêu. Người ta càng nghiên cứu nhân quả của một sự vật tỉ mỉ bao nhiêu, thì càng đạt được kết quả mỹ mãn bấy nhiêu. Như trong việc nấu cơm, người có nhiều kinh nghiệm thì tùy ý muốn nấu cơm thế nào cũng được, ngược lại, người ít kinh nghiệm thì có khi muốn nấu cơm khô, thành cơm nhão v.v.
Song xét nhân quả như thế nào, cũng chỉ là xét những nhân quả trực tiếp nhất mà thôi, nếu nghiên cứu rộng ra, đến nguyên nhân của gạo, của nước, của nồi, của lửa, v.v. rồi nghiên cứu rộng ra nữa, đến những nguyên nhân của các nguyên nhân ấy, thì còn có thể hiểu sâu hơn đạo lý về nhân quả, đi đến bản tính trùng trùng duyên khởi của tất cả sự vật. Như thế, đạo lý nhân quả không phải đơn giản, như nhiều người nghĩ, ngược lại đạo lý ấy là cơ sở của đạo lý Phật giáo, bao trùm cả nhân quả của thân thể, của tự tâm, của hoàn cảnh, bao trùm cả các phép thế gian và xuất thế gian. Như muốn thân thể được khỏe mạnh, thì cần giữ vệ sinh và tập thể dục, muốn tự tâm hiền lành, thì cần phải hằng ngày suy nghĩ đến lợi ích của người khác, muốn cho nhân dân trong một nước được hạnh phúc, thì phải cần kiệm xây dựng nước nhà. Về thế gian, thì nhân quả là những nghiệp báo trong đường luân hồi, về xuất thế gian, thì phải tu đạo giải thoát, phải tu các hạnh: Từ, bi, hỷ, xả, phổ độ chúng sinh, thì mới thành Phật đạo.
Vì phạm vi của nhân quả rất rộng, nên trong đạo Phật có nhiều cách phân tích nhân quả khác nhau, do đặc biệt chú ý về phương diện này hay phương diện khác.
Như về nhân, thì có chỗ chỉ chia là hai thứ là sinh nhân và liễu nhân. Sinh nhân là những nguyên nhân phát sinh ra sự vật. Liễu nhân là những nguyên nhân phát hiện ra sự vật. Ví dụ: Do những điều kiện địa chất phức tạp trong lòng đất, ở một nơi nào đó, có dầu hỏa tích tụ lại thành mỏ dưới đất, thì nó không có tác dụng gì đáng kể. Chỉ khi nào các nhà địa chất tìm tòi, thăm dò, phát hiện ra mỏ dầu, thì người ta mới biết ở nơi ấy có mỏ dầu thật, đó là liễu nhân. Rồi nhờ phát hiện ra mỏ dầu như thế, người ta mới có thể khai mỏ dầu và sử dụng dầu hỏa giúp ích hàng ngày cho đời sống của con người. Như thế, tuy liễu nhân không sinh ra sự vật, nhưng nó có tác dụng quan trọng là phát hiện ra những sự vật sẵn có. Theo đạo Phật, từ một hạt bụi nhỏ, cho đến tự tâm con người, tất cả đều có pháp giới tính. Tự tâm sẵn có pháp giới tính, nhưng nếu không tu học Phật pháp, phát hiện ra pháp giới tính của tự tâm, thì vẫn phải sống rồi chết, chết rồi sống, mãi mãi trong đường luân hồi. Người lại khi phát hiện ra pháp giới tính, phát huy diệu dụng pháp giới tính mà hóa độ quần sinh, thì sẽ đầy đủ công đức mà thành Phật đạo. Nhận rõ điểm này thì biết, việc tu học Phật pháp, chỉ là liễu nhân phát hiện ra pháp giới tinh sẵn có, chứ không pháỉ sinh nhân, sinh ra pháp giới tính.
Có chỗ thì phân tích các nhân làm ba thứ là sinh nhân, tập nhân, y nhân. Sinh nhân là những nguyên nhân cần thiết để phát sinh ra sự vật như gạo, nước, lửa v.v. có thể phát sinh ra cơm. Nhưng nếu gạo một nơi, nước một nơi, thì không thể nào thành cơm được cần tập hợp các nguyên nhân đó lại, làm cho tác động lẫn nhau, thì mới có cơm, đó là tập nhân. Lại còn phải tập hợp các nguyên nhân đó trong hoàn cảnh nhất định, thì lửa mới đỏ, nước mới sôi, cơm mới chín, điều kiện hoàn cảnh này là y nhân.
Phân tích tỉ mỉ hơn, có thể còn chia ra làm năm nhân, sáu nhân, mười nhân v.v. Về duyên và quả, sự phân tích cũng có chỗ khác nhau như thế.
Để chiết trung cho dễ hiểu, đồng thời cũng có thể áp dụng cho tất cả các trường hợp này, chỉ phân tích các nhân làm bốn thứ là câu hữu nhân, đẳng lưu nhân, tăng thượng nhân, và dị thục nhân.
a. Câu hữu nhân
Câu hữu nhân là những nhân cùng có một lần, kết hợp với nhau, để sinh ra quả. Nếu các nhân không kết hợp với nhau, thì tất nhiên không sinh ra được quả, mà đã không sinh được quả, thì nhân cũng không thành nhân nữa.
Tất cả sự vật đều không thể tự sinh, vì trước khi sinh ra, chính mình đã không có, làm sao mà tự sinh được. Đạo lý này bác bỏ những thuyết cho rằng, có ông tạo hóa hoặc có tính hỗn độn tự nhiên sinh ra, không cần có nguyên nhân gì. Đạo lý nào, ngược lại, không giống với pháp giới tính, vì pháp giới tính chỉ là cái tính trùng trùng duyên khởi của sự vật, như tính nóng của lửa, chớ không phải có trước sự vật, mà cũng không phải ở ngoài sự vật.
Một sự vật cũng không thể do cái khác sinh ra, vì đối với mình, mới có cái khác, khi mình chưa có, thì cái khác với mình cũng không thành, làm sao, lại có cái khác sinh ra mình được. Đạo lý nào, chỉ rõ nhân với quả đối đãi với nhau mà có, chớ không phải riêng mình tự có, và chính nơi cái quả, mới nhận được các nguyên nhân sinh ra nó, ảnh hưởng các nguyên nhân đó, vẫn tồn tại trong quả, và khi ảnh hưởng đó hết tồn tại, thì cái quả cũng phải diệt vong. Vì thế, tuy nhân và quả tuy không phải đồng nhau, nhưng cũng không khác hẳn với nhau được.
Lại, các sự vật không phải không có nhân mà tự nhiên sinh ra. Những nhân sinh ra một vật, luôn luôn là số nhiều. Một nhân không thể sinh ra được quả, vì nếu một sự vật không chịu ảnh hưởng của một sự vật khác, thì không thay đổi, mà đã không thay đổi, thì trước sau vẫn như nhau, không sinh được gì. Đạo lý nào bác cái thuyết Tạo hóa, một mình sinh ra các sự vật.
Muốn phát sinh ra một sự vật, cần phải có nhiều nhân cùng có một lần, kết hợp ảnh hưởng lẫn nhau, rồi mới sinh được. Ví dụ như cái bàn bằng gỗ, gỗ là nguyên liệu cần thiết, nhưng cứ để gỗ y nguyên như thế , thì gỗ không thành bàn được. Cần phải có nhân công, có dụng cụ, cưa, xẻ, bào, ráp….rồi mới thành cái bàn. Chính nơi kết quả là cái bàn gỗ, chúng ta có thể nhận được tác dụng của các nguyên nhân, như thứ gỗ gì làm ra bàn, dụng cụ gì đã tác động đến gỗ và sự khéo vụng của ông thợ đã sử dụng các dụng cụ ấy, để tạo thành cái bàn. Nếu chỉ có gỗ, chỉ có dụng cụ hay chỉ có nhân công thì không thể tạo thành cái bàn được. Các nhân: Gỗ, dụng cụ, nhân công, cùng có một lần, kết hợp, ảnh hưởng lẫn nhau, tạo thành ra kết quả là cái bàn, thì gọi là câu hữu nhân.
b. Đẳng lưu nhân
Lại muốn cho có quả, các nhân cần phải liên tục kết hợp ảnh hưởng lẫn nhau, trong một thời gian nhất định, vì chỉ có cưa xẻ mà không bào không ráp, thì cũng không thành cái bàn được. Tác dụng của mỗi nhân lại còn phải tiếp tục tồn tại nơi cái quả, thì cái quả mới khỏi diệt vong, vì nếu gỗ bị mục nát hoặc những bộ phận ráp thành cái bàn rã rời mỗi nơi một cái, thì cũng không thành cái bàn được. Sự tiếp tục tồn tại của tác dụng các nhân, cũng là nguyên nhân tạo thành ra quả, đó là đẳng lưu nhân
c. Tăng thượng nhân
Ngoài những câu hữu nhân, đẳng lưu nhân, lại còn có những nhân, tuy không phải là tối cần thiết, nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của quả, đó là tăng thượng nhân. Ví dụ như có hạt thóc, có nhân công gieo xuống đất, có nước, có ánh sáng mặt trời… thì cây lúa có thể mọc lên và thành bông lúa với một số hạt nhất định. Nhưng nếu cày bừa kỹ, tưới nước đủ, làm cỏ tốt, bỏ phân nhiều, thì bông lúa sẽ có nhiều hạt hơn, việc cày bừa kỹ, tưới nước đủ, làm cỏ tốt, bón phân nhiều là tăng thượng nhân tốt của bông lúa..... Ngược lại, cũng có những tăng thượng nhân xấu như bão lụt, úng… làm cho kết quả của sự trồng lúa kém đi hoặc mất hẳn. Vì thế, muốn có kết quả mỹ mãn, cần phải tăng cường những tăng thượng nhân tốt và chống lại những tăng thưọng nhân xấu.
d. Dị thục nhân.
Các nhân trên kia, cái thì có trước, cái thì có sau, cái thì tiếp tục trong một thời gian dài, cái thì tiếp tục trong thời gian ngắn, nhưng cũng có tác động kết hợp, ảnh hưởng lẫn nhau để tạo thành cái quả, có phần khác với các nhân trước kia. Sự kết hợp, ảnh hưởng lẫn nhau, trong một thời gian dài và cuối cùng tạo thành kết quả, đó là tác dụng của dị thục nhân.
Dị thục nhân có ba nghĩa là: Khác thời gian mà thành thục, khác phẩm loại mà thành thục và biến ra khác mà thành thục. Khác thời gian, là như trồng lúa ba bốn tháng trước, rồi mới gặt lúa. Khác phẩm loại, là như do nhân công, cày bừa, gieo cấy mà hạt lúa thành ra cây lúa, rồi cây lúa lại sinh ra bông lúa. Biến ra khácdị thục nhân. mà thành thục, là như các thứ phân bón, không phải là thóc, mà lại biến ra thóc. Tất cả các nhân đó kết hợp, ảnh hưởng lẫn nhau, trong một thời gian nhất định,, rồi mới có tác dụng tạo thành kết quả mong muốn, nên gọi là
Nhưng, các nhân có trực tiếp sinh ra quả không? Như trên đã nói, một nhân quyết định, không sinh được quả và mỗi nhân riêng biệt, đều không sinh ra được quả. Nếu các nhân trực tiếp sinh ra quả, thì đó là một điều phi lý, vì mỗi nhân đã không sinh ra được quả, như hạt ngô không sinh ra được cây lúa, thì làm sao nhiều hạt ngô, lại có thể sinh ra cây lúa được. Các nhân riêng biệt, đã không sinh ra được quả, thì vì duyên cớ gì, khi có những điều kiện nhất định kết hợp với nhau, thì lại có kết quả giống nhau? Đó là vì, tuy các nhân không trực tiếp sinh ra quả, tuy khi quả sinh ra, phần lớn các nhân đều thuộc về quá khứ, đều đã thay đổi, nhưng tác dụng của các nhân đó, đã tạo điều kiện cho các quả sinh ra. Việc các nhân tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, làm cho cái quả sinh ra như thế, thì gọi là duyên.
Có người giải thích rằng, nguyên nhân chính lá nhân, nguyên nhân phụ là duyên, giải thích như vậy, không được rốt ráo, vì tất cả các nhân đều không trực tiếp sinh ra quả.
Duyên có rất nhiều nghĩa, khi các sự vật tác động, kết hợp, chi phối, nương tựa, ảnh hưởng, đối đãi lẫn nhau, thì đều gọi là duyên cả. Nay phân tích các duyên làm bốn thứ như sau:
- Nhân duyên:
Là cái duyên của các câu hữu nhân và dị thục nhân.
- Đẳng vô gián duyên:
Là cái duyên của đẳng lưu nhân.
- Sở duyên duyên:
Là cái duyên của hoàn cảnh, do cái này có mà cái kia có, vậy một phần thuộc về câu hữu nhân, một phần thuộc về dị thục nhân.
- Tăng thượng duyên:
Là cái duyên của các tăng thượng nhân tốt và xấu.
Do những duyên như thế, nên các nhân gián tiếp tạo thành ra quả.
Các duyên tạo ra quả như thế, thì gọi là duyên sinh hay duyên khởi. Nếu nghiên cứu rộng thêm, thì thấy rằng, muôn sự muôn vật trong mười phương, ba đời, đều trực tiếp hoặc gián tiếp duyên khởi lẫn nhau, sự duyên khởi dây chuyền, của một sự vật đối với tất cả sự vật, thì gọi là pháp giới duyên khởi, hoặc pháp giới trùng trùng duyên khởi. Vì mọi sự vật, đều do pháp giới trùng trùng duyên khởi, nên sự phát sinh, phát triển và diệt vong của một sự vật rất phức tạp, nó cắt nghĩa, tại sao những sự vật đồng loại, thường không hoàn toàn giống nhau, đồng thời, nó cũng đòi hỏi người đời phải đi sâu thêm, mở rộng nhận xét thêm mãi về tính duyên khởi của các sự vật, để gạt bỏ những duyên xấu, bồi dưỡng những duyên tốt, thì mới được kết quả theo ý muốn.
Về quả, nay cũng phải phân tích, làm bốn thứ như sau:
- Sĩ dụng quả: Là tác dụng của các nhân, mỗi nhân đều có tác dụng, nên mỗi nhân đều có sĩ dụng quả riêng biệt, ví dụ đối với cái bàn, gỗ có sĩ dụng quả của gỗ, dụng cụ có sĩ dụng quả của dụng cụ, nhân công có sĩ dụng quả của nhân công. Các sĩ dụng quả riêng biệt ấy, kết hợp lại, tạo thành cái bàn, đều có thể nhận định được nơi cái bàn khi cái bàn còn tồn tại.
- Đẳng lưu quả: Là cái kết quả của sự tiếp tục tồn tại, trong một thời gian nhất định, của các tác dụng các nguyên nhân
- Tăng thượng quả: là kết quả làm cho tốt hơn hoặc xấu hơn, của các tăng thượng duyên.
- Dị thục quả: là kết quả tổng hợp hiện tại, do các duyên tạo thành.
Bốn thứ quả ấy, bao gồm được tất cả các quả, vì ly hệ quả của các vị Bồ-tát và các vị Thanh Văn, Duyên Giác là dị thục quả, còn ly hệ quả của các đức Như Lai là tăng thượng quả.
Đạo lý nhân quả không đơn giản, cần phải suy xét chính chắn nơi hiện thật của sự vật, thì mới đi đến kết luận gần đúng đắn.
Kinh nghiệm của loài người về nhân quả khá nhiều, cần học hỏi chính chắn những kinh nghiệm ấy, phân tích tỉ mỉ theo đạo lý duyên khởi, thì việc làm mới đạt được kết quả mong muốn. Người sản xuất cần nghiên cứu nhân quả của công việc mình, gạt bỏ những tăng thượng duyên xấu, bồi dưỡng những tăng thượng duyên tốt, thì kết quả của công việc mới được dồi dào. Đối với sự hiểu biết của con người cũng vậy, muốn hiểu biết môn gì thì phải học môn ấy, không thể học toán mà biết làm văn được, lại trong lúc học, cần phải suy nghĩ, tìm tòi, chỗ nào không rõ, phải hỏi thầy, hỏi bạn, thì kết quả của sự học tập mới được vững vàng sâu sắc và sự áp dụng việc học trong đời sống hằng ngày mới có kết quả tốt. Chẳng những sức khoẻ và học thức của một người, đều có nhân, có quả, mà xã hội loài người, trên một thế giới hay trong một nước, cũng có nhân quả của nó. Học hỏi nghiên cứu và đi sâu vào nhân quả xã hội loài người, thì có thể tạo ra những điều kiện chuyển biến những xã hội bất công xấu xa, thành những xã hội công bằng tốt đẹp.
Các vị tu hành được túc mạng thông, nhớ lại các đời trước và phân tích theo đạo lý nhân quả, có thể nhận thức rõ ràng những nguyên nhân làm cho chúng sinh phải nổi chìm mãi mãi trong đường luân hồi, chết nơi này, rồi lại sinh ra nơi khác. Việc đi lên hay đi xuống trong đường luân hồi là do kết quả chung của những hoạt động về ý nghĩ về lời nói hoặc về thân thể. Những hoạt động ấy, thì gọi là nghiệp nhân, kết quả của hoạt động ấy, thì gọi là quả báo. Cần biết rõ về nghiệp báo, luôn luôn tạo những nghiệp nhân tốt, thì nhất định khỏi sa đoạ.
Chẳng những thế gian có nhân quả, mà xuất thế gian cũng có nhân quả. Xuất thế gian là giải thoát ra khỏi nhân hồi. Muốn được giải thoát thì tất phải diệt trừ những nguyên nhân làm cho có sống, có chết, nói một cách khác thì phải tu tập những nhân giải thoát, rồi mới được những quả giải thoát.
Nói tóm lại, phàm muốn được một kết quả gì, dù là thế gian hay xuất thế gian, đều nên học hỏi nghiên cứu nhận rõ nguyên nhân của nó, cố gắng tập hợp đầy đủ những nguyên nhân ấy, gạt bỏ những tăng thượng duyên xấu, bồi dưỡng những tăng thượng duyên tốt, thì mới chắc đạt được kết quả mong muốn.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.1/9/2017.
Subscribe to:
Comments (Atom)
