ARHAT SKANDHILA
(A-LA-HÁN TẮC-KIỀN-ĐA tạo)
NHẬP A-TÌ-ĐẠT-MA LUẬN
ABHIDHARMĀVATĀRA-ŚĀSTRA
入阿毘達.

TỰA QUY KỈNH
Kính lễ Nhất thiết trí,
Vầng Phật nhật vô cấu,
Lời sáng phá tâm ám
Nơi nhân thiên, ác thú.
Ai dùng lý Đối pháp
Bạt trừ pháp tướng ngu,
Tôi đảnh lễ như thế,
Ngôn tạng Nhất thiết trí.
Liệt tuệ vọng thuyết ám,
Che lấp Mâu-ni ngôn,
Chiếu liễu do minh đăng,
Quy kỉnh đấng Nhiên đăng.
Những ai thông tuệ có thể thọ trì một cách toàn diện văn nghĩa Thánh giáo của đấng Mâu-ni, nhưng do câu hành với cơ sở của nghiệp nên có khi chưa đắc lại bị thoái chuyển.
Những ai liệt tuệ nghe được danh nghĩa trong Đối pháp như rừng rậm liền sinh sợ hãi, nhưng đồng thời hằng hữu với tâm mong câu thông suốt.
Vì muốn khiến cho những người ấy đối với vực thẳm trong biển pháp tướng của A-tì-đạt-ma có thêm phương tiện để thể nhập một cách dễ dàng và vui thích, do đó tạo ra Luận này.
Thiện Thệ Tông có tám cú nghĩa: (1) Sắc. (2) Thọ. (3) Tưởng. (4) Hành. (5) Thức. (6) Hư không. (7) Trạch diệt. (8) Phi trạch diệt. Đây là tổng quát tất cả nghĩa.
CHƯƠNG I: SẮC PHÁP
Sắc[1]có hai loại[2]: Đại chủng và sắc phái sinh.
I. Bốn nguyên tố
Đại chủng[3]được gọi là giới[4],có bốn giới:đất, nước, lửa, gió[5], vì chúng có thể duy trì yếu tính cá biệt[6], yếu tính phổ quát[7], hoặc các sắc phái sinh[8].
Theo thứ tự của bốn đại chủng này,lấy tính chấtcứng chắc, thấp khí, ấm nóng, di độnglàm tự tính; lấysự duy trì, cố kết, thành thục và phát triển làm chức năng[9].
Vì đại cũnglà chủng,nên gọi là đại chủng[10]. Do đâyhư không không thuộc trong đại chủng[11].
Vì có thể sinh ra tự quả[12]đólà nghĩacủachủng.
Nói là “đại”[13]: vì thể của sắc phái sinh phổ quát[14].
Như vậy đại chủng chỉ có bốn thứ[15], nếu tăng thêm cũng không có công dụng, không có hiệu lực[16], như chân của giường nằm[17].
II. Sắc sở tạo
Sắc phái sinh có mười một thứ: (1) Mắt;(2) Tai;(3) Mũi;(4) Lưỡi;(5) Thân;(6) Sắc;(7) Âm thanh;(8) Hương;(9) Vị;(10) Một phần xúc;(11) Vô biểu sắc.
Nói là sở tạo[18]: tức tồn tại trong các đại chủng,nghĩa là y trên các đại chủng mà hiện khởi[19].
1. Nhãn
Trong đây, mắt là sở ycủa nhãn thức, có chức năng là thấy sắc, tính chất minh tịnh của sắc làm tự thể. Tai, mũi, lưỡi, thân căn cứ theođây mà thuyết minh.
Sắc có hai loại, đó là sắc màu[20]và hình thể[21]. Như Thế Tôn nói: “Sắc màu xấu, hình thể xấu”.
Sắc màucó mười hai: xanh, vàng, đỏ, trắng[22], mây, khói, bụi, mù[23]; bóng[24], màu nắng[25], màu sáng[26], bóng tối[27].
Hình thểcó tám: dài, ngắn, vuông, tròn, cao, thấp, phẳng[28], không phẳng[29].
Trong đây, mùlà hơi nước từ đất bốc lên.Sáng nắng tức ánh sáng mặt trời.Sáng ánh tức ánh trăng, ánh sao, ánh lửa,ánh thuốc,ánh sáng châu ngọc.Bóng có ở nơi nàoxuấthiện sắccản trở ánh sáng. Trái lại làbóng tối. Vuông là hình thể vuông vắn. Tròn là hình thể tròn trịa. Phẳng là hình thể bằng phẳng. Không phẳng là hình thể không bằng phẳng. Những từ còn lại thì dễ hiểu nên chỉ nói gọn[30].
Hai mươi thứ này đều là cảnh giới thông tri cá biệt[31]của nhãn thức và được dẫn khởi bởi ý thức.
2. Thanh
Âm thanh có hai loại:Có chấp thọ[32]và không chấp thọ[33].
Thanh có sai biệt vì có nguồn gốc từ các đại chủng: 1.âm thanh chấp thọ tự thể giả danh[34]: tức âm thanh phát ra từ vật chất có cảm giác. 2. Đồng với đặc điểm này gọi là không chấp thọ[35].
Thanh có nguồn gốc từ đại chủng có chấp thọ giả danh như là tiếng phát ra từ bàn tay, từ tiếng nói. Thanh có nguồn gốc từ đại chủng không có chấp thọ giả danhnhưlà tiếng gió, tiếng rừng cây.
Ở đây, hữu tình danh, phi hữu tình danh phân biệt thành bốn: Thanh của biểu hiện bởi ngôn ngữ[36],gọi là hữu tình danh.Ngoài ra thanh khác gọi là phi hữu tình danh. Thanh của biến hóa bởi ngôn ngữ, gọi là hữu tình danh, ngoài ra các thanh khác gọi là phi hữu tình danh.
Trong đây,mỗi loại hoặc thích ý, hoặc không thích ý, phânthành támloại thanh[37].
Tám thứ như vậy đều là cảnh giới thông tri cá biệtcủanhĩthức và được dẫn khởi bởi ý thức.
3. Hương
Hương có ba loại[38]: (1) Mùi thơm. (2) Mùi thối. (3) Mùi quân bình[39].
Có thể nuôi lớn các căn và đại chủng, gọi là mùi thơm.
Gây tổn hại các căn và đại chủng,gọi là mùi thối.
Trái ngược với hai loại trêntrên gọi là hương bình đẳng.
Ba loạinhư vậy đều là cảnh giới thông tri cá biệt của tỷthức và được dẫn khởi bởi ý thức.
4. Vị
Vị có sáuloại:phân thành ngọt, chua, mặn, cay, đắng, nhạt[40].
Sáu loạinhư vậy đều là cảnh giới thông tri cá biệt của thiệt thức và được dẫn khởi ý thức.
5. Một phần xúc
Một phần xúc có bảy loại: Tính trơn, tính nhám, tínhnặng, tínhnhẹ,lạnh, đói, khát[41].
Trơn tức là mềm dịu, là nghĩa của ý xúc. Nhám tứcthô cứng. Nặng là cái mà do đó vật thể được cân.Trái lại là nhẹ. Lạnh là sự muốn ấm. Đói là sự muốn ăn.Khát là sự muốn uống.Đó là ytheo nhân mà lập quả, do đó thuyết minh như vậy. Như nói:
“Phước lạc thay là sự xuất hiện của Chư Phật…”[42]
Trong đại chủng tụ:
Tính trơn vì nước,lửa tăng thịnh.
Tính nhám vì đất, gió tăng tịnh.
Tính nặng vì đất, nước tăng thịnh.
Tính nhẹ vì lửa, gió tăng thịnh.
Tính lạnh vì nước, gió tăngthịnh.
Đói vì gió tăng thịnh.
Khát vì lửa tăng thịnh[43].
6. Vô biểu sắc
a. Danh nghĩa
Vô biểu sắc[44]: có thể tự biểu thịvề tâm,tâm sở chuyển biến sai biệt, đógọi là biểu. Như hữu biểu[45], nhưng không biểu thị,nên gọi là vô biểu.
Đây là căn cứ nơi tính tương tự để lập ngôn thuyết đối lập. Như đối với Sát-đế-lợi nói không phải là Bà-la-môn v.v...
b. Yếu tính của vô biểu
Yếu tính của vô biểu: do biểu thịtâm,đại chủng sai biệtvào lúc ngủ, lúcthức, tâm tán loạn, tâm không tán loạn, và ở phần vị vô tâm,những gì làsắc thiện, bất thiện hoạt động tiếp nối, không thể tích tập, có thểthành lậpnhân Bí-sô v.v...đó là yếu tính của vô biểu[46].
Nếu không có yếu tínhnày,thì không thểthành lậpBí-sô v.v... Như Đức Thế Tôn nói: “Do hữu y phước nghiệp sự, phước tăng trưởng thường trực”.
c. Ba loại luật nghi
Như vậy, vô biểu tổng quát có ba loại: Luật nghi[47], bất luật nghi[48], và không phải hai loại trên[49].
Có ba luật nghi: 1. Biệt giải thoát luật nghi[50]; 2.Tĩnh lự luật nghi[51]; 3.Vô lậuluật nghi[52].
d. Thể loại của luật nghi
Biệt giải thoát luật nghi có tám loại: (1) Luật nghi Bí-sô. (2) Luật nghi Bí-sô-ni. (3) Luật nghi Cần sách. (4) Luật nghiChánh học. (5) Luật nghi Cần sách nữ. (6) Luật nghi Cận sự nam. (7) Luật nghi Cận sự nữ. (8) Luật nghi Cận trụ[53]. Támloạinhư vậy chỉ thuộc Dục giới.
Tĩnh lự luật nghi:Tam-ma-địa thuộc sắc giới tùy chuyển với sắc. Luật nghi này chỉ thuộc sắcgiới.
Vô lậu Luật nghi: Tam-ma-địa vô lậu tùy chuyểnsắc. Luật nghi này không hệ thuộc.
e. Bất luật nghi
Bất luật nghi: Những ai giết dê, giết gà, giết lợn, bắt chim, bắt cá, săn thú, trộm cướp, đao phủ[54], bắt rắn[55], cai ngục, nấu thịt chó, đặt bẫy lưới. Vô biểu sắc bất thiện hoạt động tiếp nối trong khắp thân này.
f. Phi luật nghi phi bất luật nghi
Phi luật nghi phi bất luật nghi[56]: tạo lập Tì-ha-la, Tốt-đổ-ba, Tăng-già-la-ma v.v... lễ nơi tháp miếu, đốt hương, rải hoa, tán tụng, hướng nguyện v.v... và đánh đập,khởi phát đa dạng vô biểu sắc thiện, bất thiện hoạt động tương tục.
Cũng có vô biểu chỉ trong một sát-na.
Vì y chỉ chủng loại tổng quát nên nói là tương tục.
g. Thời hạn thọ và xả luật nghi
i.Luật nghi biệt giải thoát của bảy chúng thệ thọ suốt đời. Luật nghicận trụ thứ tám chỉ hạn định trong một ngày một đêm.
Bảy loại biệt giải thoát luật nghi trước do bốn nguyên nhân mà xả:
(1)Do từ bỏ học xứ.
(2) Do mạng chung.
(3) Do thiện căn bị cắt đứt.
(4) Do phát sinh hai hình cùng lúc.
Luật nghi cận trụ cũng được xả do nguyên nhân này và thêm nữa do vì đêm đã qua.
ii. Đắc luật nghi tĩnh lự:do đắctâm thiện thuộc sắc giới.
Xả: do xảtâm thiện thuộc sắc giới, thuộc về tâm đó.
Xả luật nghi vô lậu cũng như vậy. Tùy thuận tâm vô lậu, mà đắc, hoặc xả.
iii. Đắcbất luật nghi do làm và thệ thọ.
Các bất luật nghi được xả do bốn nguyên nhân:
(1) Do đắcluật nghi.
(2) Do mạng chung.
(3) Do phát sinh hai hình.
(4) Do đắc pháp nhĩ tâm thiện thuộc sắc giới.
Vô biểu xử trung, (1)đắc do làm: tâm tịnh ân cần, phiền não mạnh mẽ, nhạy bén,lễ tán tháp miếu và đánh đập v.v... (2) dothệ thọ mà đắc:nghĩa làtự thệ rằng: “Nếu chưa lễ Phật, tạo Mạn-trà-la thì chưa ăn”, các nguyện như thế. (3) do xả nên đắc:xây cất chùatháp, tăng xá, tọa cụ, vườn rừng, bố thí cho Bí-sô v.v...
Xả vô biểu này, là do đẳng khởi của tâm và cơ sở hành vi đã làm đều tan rã.
Vô biểu như vậy và năm căn đã nói trên như nhãn v.v… chỉ là đối tượng thông tri cá biệt của ý thức. Đến mức độ này, gọi là sơ khởi cú nghĩa sắc.
III. Phân biệt pháp tướng
Nhưng các pháp tướng khái lược có ba loại: (1) Tự cộng tướng. (2) Phần cộng tướng. (3) Biến cộng tướng
1. Tự cộng tướng: vì là cáibiến hoại, biến ngại, đó gọi là sắc.
Như vậy, tức thuyết minh về nghĩa có thể gây não hoại. Như bậc Pháp vương đã nói: “Bí-sô nên biết! Do biến hoại, nên gọi là sắc thủ uẩn”.
Cái gì làmbiến hoại? Vì xúc bởi tay nên làm biến hoại, nói chi tiết cho đến.
Như vì có thể đi nhanh, nên gọi là ngựa. Do có thể đi chậm, nên nói là bò, trâu v.v...
Phần cộng tướng: phi thường tính, khổ tính v.v..
Biến cộng tướng: tính vô ngã, tính không.
Do phương diện này, nên biết đối với tất cả phápcó ba hình thái.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.2/8/2020.
No comments:
Post a Comment