Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Nhập Bất Tư Nghì Giải Thoát Cảnh Giới.
Kệ Khai Kinh
Phật pháp cao sâu rất nhiệm mầu
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Nay con thấy nghe được thọ trì
Nguyện hiểu nghĩa chân thật của Phật.
I. LỜI NÓI ĐẦU
Tôi tin đây là lần đầu tiên bộ Kinh Hoa Nghiêm này được giảng tại Hoa Kỳ và các vị cũng là lần đầu tiên được nghe giảng. Hiện tại do thời gian có hạn nên không thể giảng giải chi tiết. Vì sao? Vì nếu giảng quá chi li thì e rằng trong sáu tuần lễ chỉ giảng cái tựa thôi cũng còn chưa xong, vì thế mà nay chỉ có thể giảng một cách sơ lược. Đầu tiên tôi sẽ giảng về xuất xứ của bộ kinh này.
Trong kinh điển nhà Phật thì Kinh Hoa Nghiêm này là vua của các kinh, cũng là vua trong các vua. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng là vua trong các kinh nhưng không thể xưng là vua trong các vua được. Bộ Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm này được tôn là vua của các vua, là bộ kinh thuộc hệ Đại thừa dài nhất mà Đức Phật đã thuyết, nhưng thời gian Phật thuyết kinh lại không dài lắm, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói bộ đại Hoa Nghiêm này chỉ vỏn vẹn trong vòng hai mươi mốt ngày.
Bộ Kinh này có tám mươi mốt quyển, cũng có chỗ chỉ có bốn mươi quyển hay sáu mươi quyển, nhưng tất cả đều không đầy đủ lắm. Ngay cả bộ tám mươi mốt quyển này cũng vậy, chẳng qua là có đủ cả ba phần Tựa, Chính tông và Lưu thông.
Sau khi Đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói xong Kinh Hoa Nghiêm thì bộ kinh này không hề được lưu truyền trên thế gian, ngay cả Ấn Độ cũng không có bộ kinh này. Vậy thì bộ kinh này đã bị ai thỉnh đi? Bị Long Vương thỉnh về Long cung để ngày ngày cúng dường lễ bái.
Sau khi Đức Phật Thích-Ca-Mâu-Ni diệt độ sáu trăm năm, có một vị Bồ-tát tên Long Thọ, thông minh tuyệt đỉnh, không ai sánh kịp. Ngài đã đọc hết tất cả những áng văn chương, luận nghị, kinh điển có trên thế gian, do đó Bồ tát khởi tâm muốn đến Long cung xem tạng Kinh và Ngài đã tìm được bộ Kinh Hoa Nghiêm này trong cung rồng. Kinh Hoa Nghiêm có ba bản: thượng, trung và hạ. Bản thượng có mười tam thiên đại thiên thế giới vi trần số bài kệ. Quý vị xem là bao nhiêu? Số vi trần của một thế giới đã là vô lượng vô biên rồi, số vi trần của đại thiên thế giới lại càng nhiều hơn.
Sao gọi là đại thiên thế giới? Một núi Tu-di, một mặt trời, một mặt trăng là một thế giới; một nghìn núi Tu-di, một nghìn mặt trời, một nghìn mặt trăng hợp lại làm thành một tiểu thiên thế giới; hợp một nghìn tiểu thiên thế giới lại gọi là một trung thiên thế giới; hợp một nghìn trung thiên thế giới lại gọi là một đại thiên thế giới. Số vi trần trong một đại thiên thế giới là một con số vô cực không thể tính kể. Nay số kệ tụng lại nhiều như số vi trần trong mười tam thiên đại thiên thế giới thì càng không thể đếm xuể.
Bản thượng Kinh Hoa Nghiêm có bao nhiêu phẩm? Bản thượng có số phẩm bằng số vi trần của một tứ thiên hạ. “Một tứ thiên hạ” nghĩa là: “một” tức một ngọn núi Tu-di, “tứ” là bốn châu lớn (Đông Thắng Thần châu, Nam Thiệm Bộ châu, Tây Ngưu Hóa châu, Bắc Câu-lô châu), hợp lại gọi là một tứ thiên hạ. Số phẩm của bản thượng Kinh Hoa Nghiêm nhiều bằng số vi trần của một tứ thiên hạ, quý vị nói xem là bao nhiêu? Tôi cũng không tính được. Bản trung Kinh Hoa Nghiêm có bốn trăm mười chín vạn tám nghìn tám trăm bài kệ, phân làm một nghìn hai trăm phẩm. Bản hạ Kinh Hoa Nghiêm có tám vạn bài kệ, chia làm bốn mươi tám phẩm. Khả năng ghi nhớ của Bồ-tát Long Thọ rất phi thường, Ngài đọc thuộc lòng bản hạ Kinh Hoa Nghiêm và sau khi trở về Ấn Độ đã sao chép ra toàn bộ, sau lại từ Ấn Độ truyền sang Trung Hoa. Bản kinh truyền sang Trung Hoa chỉ có tám mươi quyển, ba mươi chín phẩm, còn lại chín phẩm vẫn chưa được truyền sang.
Đức Thích-ca-mâu-ni Phật giảng Kinh Hoa Nghiêm tại bảy chỗ khác nhau, tổng cộng có chín pháp hội. Nếu quý vị có thể hiểu rõ được nghĩa lý trong bộ Kinh Hoa Nghiêm này thì xem như thấy được toàn thân Phật; nếu quý vị thông suốt được Kinh Lăng Nghiêm là thấy được đỉnh nhục kế của Phật; nếu quý vị thông suốt được Kinh Pháp Hoa thì thấy được thân Phật, nhưng chưa trọn vẹn; nếu quý vị có thể thông suốt được đạo lý trong Kinh Hoa Nghiêm thì sẽ thấy rõ được toàn thân và tuệ mạng của Ngài.
Bộ Kinh Hoa Nghiêm này ví như biển lớn, còn những kinh khác giống như những dòng sông nhỏ. Những dòng sông nhỏ không thể sánh với biển lớn. Hiện tại trên thế giới, người có thể giảng được Kinh Hoa Nghiêm không phải không có, nhưng số đó đã ít lại càng ít. Nếu nói không có thì nay chẳng phải chúng ta đang giảng đó sao? Thế sao lại có thể nói là không có người! Thậm chí có người học Phật Pháp, học cả một đời mà ngay đến tên Kinh Hoa Nghiêm cũng chưa hề nghe qua, quý vị nói xem người đó đáng thương biết nhường nào! Bộ Kinh Hoa Nghiêm này đừng nói là giảng mà chỉ đọc qua thôi cũng rất ít người đọc qua được một lần. Đọc qua một lần nhanh nhất cũng phải mất hai mươi mốt ngày. Vì thế, bộ kinh này rất khó gặp.
Nói về “thất xứ cửu hội” của bộ kinh này, có một bài kệ như vầy:
Rời cội bồ-đề cửu-Thệ-đaBa, bốn Đao-lợi cùng Dạ-maĐiện Phổ Quang Minh hai, bảy, támTha Hóa, Đâu Suất năm, sáu qua.
Phật thành đạo ở Bồ-đề đạo tràng, tức là ở cội bồ-đề mà nói Kinh Hoa Nghiêm lần đầu tiên, gồm sáu phẩm, mười một quyển; hội thứ hai ở điện Phổ Quang Minh nói được sáu phẩm, bốn quyển; hội thứ ba tại cung trời Đao-lợi nói được sáu phẩm, ba quyển; hội thứ tư ở cõi trời Dạ-ma nói được bốn phẩm, ba quyển; hội thứ năm ở cõi trời Đâu Suất nói được ba phẩm, mười hai quyển; hội thứ sáu ở cõi trời Tha Hóa nói được một phẩm, sáu quyển; hội thứ bảy lại trở về điện Phổ Quang Minh nói được mười một phẩm, mười ba quyển; hội thứ tám cũng ở tại điện Phổ Quang Minh nói được một phẩm, bảy quyển; hội thứ chín ở rừng Thệ-đa nói được một phẩm hai mươi mốt quyển. Rừng Thệ-đa, hiện nay có thể gọi là khu mộ phần, nơi an trí xương cốt người chết. Đó là nói về “thất xứ cửu hội” của bản hạ.
Bản hạ Kinh này ban đầu có ba mươi chín phẩm, bốn mươi bốn vạn năm nghìn bài kệ, về sau truyền vào Trung Hoa, nhưng có chín phẩm, năm vạn năm nghìn bài kệ vẫn chưa được truyền vào. Bộ Kinh này tuy chưa đầy đủ nhưng cũng hoàn bị các phần Tựa, Chính tông và Lưu thông, do vậy mà Quốc sư Thanh Lương đời Đường khi hoằng dương Kinh Hoa Nghiêm đã cho rằng bộ kinh này có thể nói là tạm hoàn bị.
Quốc sư Thanh Lương chính là hóa thân của Bồ-tát Hoa Nghiêm, vì sao nói Ngài là hóa thân của Bồ-tát Hoa Nghiêm? Vì Ngài chuyên giảng Kinh Hoa Nghiêm, không giảng những kinh khác. Quốc sư Thanh Lương tên Trừng Quán, tự Đại Hưu, người Cối Kê, họ Hạ Hầu. Sinh vào thời vua Đường Huyền Tông, niên hiệu Khai Nguyên (713-741) năm Mậu Dần (738). Thân ngài cao chín thước bốn tấc, hai tay dài quá đầu gối và có bốn mươi cái răng. Thông thường răng của chúng ta có ba mươi mấy cái thôi, còn răng có bốn mươi cái là bậc quý nhân, người được như thế rất ít. Răng của Đức Phật có bốn mươi hai cái, còn Quốc sư Thanh Lương thì có bốn mươi cái; trong bóng tối nhìn mắt của Ngài như có luồn sáng, mắt phát ra ánh sáng, còn ban ngày thì giống như những người bình thường, chỉ khác là tròng mắt của Ngài luôn đứng yên không động. Năm thứ tư, niên hiệu Kiến Trung, Ngài đã viết xong bộ Hoa Nghiêm Sớ Sao; bộ sớ sao này là bản chú giải cho Kinh Hoa Nghiêm nổi tiếng nhất.
Trước khi viết bộ Sớ Sao, ngài cầu nguyện chư Bồ-tát trong Hoa Nghiêm Hải Hội gia bị. “Gia bị” chính là giúp đỡ ngài. Có một tối, ngài nằm mộng thấy trên đỉnh núi đều biến thành màu vàng kim. Khi tỉnh mộng, Ngài biết đó là quang minh biến chiếu. Từ đó về sau, ngài viết Hoa Nghiêm Sớ Sao vô cùng thuận lợi, chẳng cần phải nỗ lực suy tư gì cả. Thông thường khi viết văn, phần nhiều chúng ta phải suy nghĩ để viết từng câu từng lời. Còn Ngài không cần phải suy nghĩ, viết nhanh tựa như chép bài vậy. Trải qua bốn năm, Ngài đã chú giải hoàn toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm. Sau khi viết xong ngài lại nằm mộng, cũng không quyết chắc có phải là mộng hay không, nhưng Ngài đã thấy một cảnh giới như vầy nên có thể tạm gọi là mộng. Ngài mộng thấy mình biến thành một con rồng, rồi từ con rồng ấy lại biến thành nghìn nghìn, vạn vạn, vô lượng vô biên con rồng như thế, bay đến những thế giới khác. Đó là Ngài đã thấy được cảnh giới Hoa Nghiêm. Mọi người đều cho rằng đó là biểu trưng cho ý nghĩa của sự lưu thông.
Quốc sư Thanh Lương sống qua hai đời nhà Tùy và Đường với chín triều đại, làm thầy của bảy vị hoàng đế. Sau khi Quốc sư viên tịch, có một vị Tăng Ấn Độ đến Trung Hoa, giữa đường vị ấy gặp hai đồng tử áo xanh, vị Tăng này là người đã chứng quả A-la-hán, Ngài bèn chặn hai đồng tử ở trên hư không lại hỏi:
- Hai vị đi đâu vậy?
Đồng tử đáp:
- Chúng tôi đến Trung Hoa thỉnh răng cấm của Bồ-tát Hoa Nghiêm về điện Văn Thù ở Ấn Độ cúng dường.
Vị La-hán sau khi đến Trung Hoa đã kể cho vua về chuyện hai đồng tử đến thỉnh răng cấm của Bồ-tát Hoa Nghiêm, hình như là chỉ cho Quốc sư Thanh Lương. Thế là vua cho khai tháp của Quốc sư thì quả nhiên phát hiện Quốc sư bị mất một chiếc răng cấm. Những hiện tượng trên thật mầu nhiệm không thể nghĩ bàn. Quý vị xem! Bồ-tát Hoa Nghiêm đã đến Trung Hoa, cho nên Quốc sư Thanh Lương mới có tướng mạo đặc thù như thế.
Căn cứ vào sự phân chia của Quốc sư Thanh Lương về Kinh Hoa Nghiêm thì năm quyển đầu là phần Tựa, năm mươi lăm quyển rưỡi ở giữa là phần Chính tông, mười chín quyển rưỡi sau là phần Lưu thông. Bộ kinh này tuy không được phiên dịch trọn vẹn ra Hán văn, nhưng phần Tựa, phần Lưu thông, phần Chính tông đều có đầy đủ. Những người hoằng truyền Kinh Hoa Nghiêm ở Trung Hoa đều là những vị Đại Bồ-tát, nếu như chẳng phải là cảnh giới của Bồ-tát thì các vị ấy chẳng thể giảng được Kinh Hoa Nghiêm. Cảnh giới Hoa Nghiêm vi diệu mầu nhiệm vô cùng, là sự vi diệu trong vi diệu, là sự nhiệm mầu trong nhiệm mầu.
II. GIẢI THÍCH TÊN KINH
Nhập Bất Tư Nghì Giải Thoát Cảnh Giới Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm.
Trước khi nghe kinh, đầu tiên nhất định phải nhận biết đó là bộ kinh thuộc hệ Đại thừa hay Tiểu thừa. Nhắc đến Đại thừa và Tiểu thừa, hôm nay tôi sẽ kể cho quý vị nghe một câu chuyện.
Ở Ấn Độ có vị Bồ-tát tên là Thế Thân, còn gọi là Thiên Thân, Ngài có người anh ruột là Bồ-tát Vô Trước. Bồ-tát Vô Trước học tập theo giáo lý Đại thừa, còn Bồ-tát Thế Thân do có nhân duyên không tốt, nên ngài theo Tiểu thừa và học tập theo giáo lý của phái này. Bồ-tát Thế Thân tư chất rất thông minh, Bồ-tát Vô Trước, anh của ngài, luôn muốn tìm cách độ em tin theo pháp môn Đại thừa, nhưng vẫn chưa có sức mạnh nào khiến cho em mình tin theo. Em của Ngài luôn ca ngợi pháp Tiểu thừa và cho rằng pháp Đại thừa không đúng. Sau đó, Bồ-tát Vô Trước nghĩ ra một cách: Ngài giả bệnh rồi sai người nhắn người em đến thăm mà bảo rằng: “Anh tuổi đã lớn, lại bệnh thế này, nếu em không đến thăm thì sau này anh em không còn cơ hội gặp mặt nữa”. Nghe vậy, người em liền đến thăm Ngài. Bồ tát Vô Trước bảo em:
- Anh sắp chết rồi, những Kinh điển Đại thừa mà anh đã học, em có thể tùy ý lấy xem, nếu em có khả năng xem được thì anh dù chết cũng có thể yên lòng nhắm mắt.
Bồ tát Thế Thân đến thăm anh cũng không có việc gì làm; thế là Ngài bèn cầm quyển Kinh Đại thừa lên xem. Ngài xem bộ kinh nào quý vị có biết không? Đó chính là bộ Kinh Hoa Nghiêm này.
Bồ tát Thế Thân càng xem càng thấy được sự bất khả tư nghì, mới biết rằng cảnh giới Hoa Nghiêm thật là vi diệu chẳng thể dùng lời diễn tả. Giống như mặt trời trên không trung chiếu khắp muôn vật, lại giống như màn lưới của Đại Phạm Thiên Vương từng lỗ dung nhiếp lẫn nhau. Đến lúc ấy Ngài mới biết rõ trước đây mình đã sai lầm, bèn hét lớn:
-Mau đem cho tôi một thanh bảo kiếm!
-Ngài cần bảo kiếm để làm gỉ? Người bên cạnh hỏi.
-Tôi muốn cắt lưỡi của mình.
-Vì sao ngài lại muốn cắt lưỡi?
-Trước đây tôi đã dùng tấc lưỡi này để khen ngợi pháp Tiểu thừa, hủy báng Kinh điển Đại thừa, đó là tội lớn nên tôi muốn cắt lưỡi để tạ tội.
Bồ tát Vô Trước nghe thế, can:
-Em đừng nên như vậy!
Người em kiên quyết:
-Vì sao anh biết không? Vì tội của cái lưỡi này quá lớn, nên em nhất định phải cắt bỏ nó.
Người anh ôn tồn:
-Ví như không cẩn thận bị trượt té xuống đất, nếu em muốn đứng dậy vẫn phải nương vào sức đất phải không? Em không thể nào ngã xuống đất mà không đứng dậy, khi em muốn đứng dậy thì chỉ cần dùng tay chống xuống đất là đứng dậy được. Trước đây em nhờ vào cái lưỡi ấy để ca ngợi Tiểu thừa, hủy báng Đại thừa thì hôm nay em cũng có thể dùng lại ba tấc lưỡi đó để ca ngợi Đại thừa!
Nghe anh nói cũng có lý nên Bồ tát Thế Thân thôi không đòi cắt lưỡi nữa . Sau đó, ngài vào núi tu hành, học tập kinh điển Đại thừa, trước tác bộ Thập Địa Luận. Ngày bộ Thập Địa Luận hoàn thành, trái đất chấn động, đồng thời miệng Ngài cũng phát ra hào quang. Lúc ấy, Quốc vương đến thăm Ngài, hỏi:
-Có phải Ngài đã chứng quả A-la-hán rồi chăng?
-Không, tôi không chứng quả A-la-hán, Bồ-tát Thế Thân trả lời.
-Ngài không chứng quả A-la-hán thì tại sao trái đất lại chấn động và miệng phát ra hào quang?
-Do vì lúc trẻ tôi học tập Tiểu thừa mà hủy báng Đại thừa, nay tôi đổi sang học Kinh Hoa Nghiêm , trước tác bộ Thập Địa Luận, nay bộ luận đã hoàn thành, nên quả đất chấn động và miệng tôi phát ra hào quang, chứ không phải do chứng quả mới có hiện tượng này.
Quốc vương ngạc nhiên:
-Thì ra là do bộ Kinh Hoa Nghiêm này vi diệu như thế!
Nhập Bất Tư Nghì Giải Thoát Cảnh Giới: Nghĩa là đạt đến cảnh giới giải thoát bất khả tư nghì này, không thể dùng ý thức suy lường được. Vì giải thoát vốn không có cảnh giới, có cảnh giới tức chẳng phải giải thoát. Thế thì tại sao lại nói “giải thoát cảnh giới”? “Cảnh giới” chỉ là một thí dụ, căn bản vốn không có loại cảnh giới này, vì khi đạt đến giải thoát thì cái gì cũng không có nên mới gọi là giải thoát.
Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm: “Phổ Hiền”: Đạo truyền khắp vũ trụ gọi là Phổ; Đức đồng với bậc Thánh cao tột nhất gọi là Hiền (Đạo biến vũ trụ viết phổ, Đức lân cực thánh viết hiền). Ý nói đạo của Ngài truyền khắp vũ trụ, đức hạnh của Ngài tương đồng với bậc Thánh cao nhất. “Hạnh Nguyện Phẩm”: “Hạnh” là hạnh lớn mà Ngài tu hành; “nguyện” là tâm nguyện mà ngài phát khởi. Hạnh nguyện mà Bồ-tát Phổ Hiền phát ra trong khi tu hành là rất lớn, vì thế nên gọi là Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ-tát.
Trong Phật giáo có bốn vị Bồ-tát lớn: Bồ-tát Văn Thù là vị có trí tuệ đệ nhất trong hàng Bồ-tát, Bồ-tát Địa Tạng là nguyện lực đệ nhất, Bồ-tát Quán Âm là từ bi đệ nhất, Bồ-tát Phổ Hiền là hạnh môn đệ nhất. Phàm Phật thuyết pháp là do đệ tử thỉnh cầu Ngài nói pháp. Biển Thế Giới Hoa Tạng (Hoa Tạng Thế Giới Hải [1] ) lấy Kinh Hoa Nghiêm là chủ, vị đứng ra thỉnh thuyết bộ kinh này là Bồ-tát Phổ Hiền. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa do Ngài Xá-lợi-phất thỉnh thuyết, Kinh Lăng Nghiêm do Tôn giả A-nan thỉnh thuyết. Người đứng ra thỉnh pháp còn gọi là chúng đương cơ, chúng đương cơ của bộ Kinh Hoa Nghiêm là Bồ-tát Phổ Hiền.
III. GIẢI THÍCH VỀ NGƯỜI DỊCH KINH
Đời Đường, nước Kế Tân, Tam Tạng Pháp sư Bát Nhã vâng chiếu dịch.
Người dịch tám mươi quyển đầu của bộ Hoa Nghiêm này là Pháp sư Thật-xoa-nan-đà. Thật-xoa-nan-đà (Siksananda) là phiên âm tiếng Phạn, dịch là Hỷ Học, nghĩa là hoan hỷ học tập. Ngài dịch bộ Kinh Hoa Nghiêm từ tiếng Phạn sang tiếng Hoa, sau đó Ngài giảng giải; khi giảng đến chỗ “thế giới số như vi trần”[2] thì giảng đường nơi Ngài thuyết giảng và đại địa đều chấn động.
Cũng thế, khi Ngài mới khởi/bắt đầu dịch bộ Kinh Hoa Nghiêm, thì Đường triều Võ Tắc Thiên, còn gọi là Thiên Hậu, mộng thấy trời mưa cam lộ. Đến ngày hôm sau quả nhiên trời mưa cam lộ, nước mưa mang toàn vị ngọt, đây tượng trưng cho việc phiên dịch bộ Kinh Hoa Nghiêm là vô cùng quan trọng; cho nên sau khi phiên dịch xong, lúc giảng giải thì đại địa “chấn động sáu cách” (lục chủng chấn động) [3]. Nên chi, Võ Tắc Thiên liền phê một chiếu thư, tán thán công đức của Pháp sư Thật-xoa-nan-đà. Cho nên, cảnh giới bất khả tư nghì của Kinh Hoa Nghiêm thì rất nhiều, rất nhiều. Nhiều lắm! Nhất ngôn nan tận, một lời khó có thể nói hết.
Phẩm này là Ngài Tam Tạng Pháp Sư Bát Nhã (Prajna) ở nước Kế Tân vâng chiếu dịch vào đời Đường. Kế Tân (Kubha) là tên của một nước (hiện tại là Kashmir); Tam Tạng (Tripitaka) là Kinh tạng, Luật tạng, Luận tạng. Kinh là chỉ cho tất cả kinh điển, Luật là giới luật, Luận là luận nghị. Người phiên dịch phẩm kinh văn này là Ngài Tam Tạng Pháp sư, tên Bát-nhã. “Pháp sư” nghĩa là “dĩ pháp vi sư”, lấy Phật Pháp làm thầy; lại cũng có nghĩa là “dĩ pháp thí nhân”, đem Phật Pháp ban bố đến mọi người. “Bát-nhã” là tiếng Phạn, dịch là trí tuệ. Vì sao không trực tiếp dịch chữ Bát-nhã ra tiếng Hoa mà giữ nguyên âm Bát-nhã? Vì chữ bát-nhã thuộc loại “tôn trọng nên không phiên dịch”, là một trong năm loại theo nguyên tắc không phiên dịch[4].
“Vâng chiếu dịch”: tuân theo sắc lệnh hoàng đế phiên dịch bộ kinh này từ tiếng Phạn ra tiếng Hoa.
Ghi chú:
[1] - Biển thế giới Liên Hoa Tạng Trang Nghiêm, gọi tắt là cõi Hoa Tạng, là cảnh Thật báo vô chướng ngại độ của Đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai. "Liên Hoa" là hoa sen, đây chỉ cho hoa sen chúa Chủng Chủng Quang Minh Nhụy Hương Tràng; hoa sen này đảm trì thế giới hải. "Tạng" chỉ cho chỗ hàm chứa hạt sen; các thế giới chủng nương nơi hương thủy hải như những hạt sen ở trong liên tạng, và chỗ y trụ của các hương thủy hải ví như liên phòng, tức là gương sen. "Trang Nghiêm" là chỉ cho các hình tướng tốt đẹp của thế giới hải, như núi Đại Luân Vi, biển Hương Thủy, bảo địa, lầu các, ao hồ, rừng cây, vườn hoa, lưới báu, câu lơn, bảo tràng; các cảnh sắc này đã điểm tô cho cõi Hoa Tạng trở nên tráng lệ. Nói tóm lại, cõi Thật báo độ này có đại liên hoa (Nhụy Hương Tràng) bao trùm và duy trì vi trần thế giới chủng như hoa sen hàm chứa hạt sen, nên gọi là Hoa Tạng.
- Các thế giới này chia thành hai mươi tầng, phân bố thứ lớp từ thấp đến cao. Cõi Ta Bà (Saha) của chúng ta là tầng thế giới thứ 13 trong biển thế giới Hoa Tạng. Kinh Hoa Nghiêm: “Cõi Phật trung ương của tầng thế giới thứ mười ba tên là Ta Bà, lấy chất kim cang trang nghiêm làm giới hạn, an trụ trên các phong luân. Thể tướng cõi này trống trải, trên có thiên cung trang nghiêm hưkhông và phủ che, xung quanh có các thế giới khác nhiều bằng số bụi nhỏ của mười ba cõi Phật vi nhiễu. Vị giáo chủ ở bản độ hiệu là Tỳ Lô Giá Na Như Lai.”.
[2] Nguyên văn: vi trần thế giới sát hải 微塵世界剎海
[3] Lục chủng chấn động, còn gọi là Lục biến chấn động, Lục phản chấn động: sáu tướng chấn động của mặt đất. Theo kinh Hoa Nghiêm 16 (bản Tân dịch), sáu tướng là động, khởi, dũng, chấn, hống và kích. “Động” là lay động không yên, “khởi” là từ thấp dần dần lên cao, “dũng” là bỗng nhiên vọt lên, ba thứ này chỉ cho hình thức địa chấn. “Chấn” là phát ra tiếng động âm ỷ, “hống” là tiếng rống mạnh mẽ của loài thú, “kích” là phát ra tiếng dội ầm ầm, ba thứ này chỉ cho âm thanh địa chấn. “Hình” (hình thức) và “thanh” (âm thanh) mỗi thứ đều có một loại, gọi là chấn động.
[4] Năm lý do không phiên dịch (Năm Loại Không Phiên Dịch - Hán: ngũ chủng bất phiên, 五種不翻):
1. Bí mật không dịch (Bí mật bất phiên): Vì tính bí mật, mầu nhiệm, ý nghĩa sâu xa của các danh tự, âm thanh bí mật, nên không dịch nghĩa. Ví dụ: đà-la-ni…
2. Nhiều nghĩa không dịch (Đa Hàm bất phiên): Một từ bao hàm nhiều nghĩa, không thể dùng một nghĩa nào để phiên dịch, nên chỉ phiên âm. Ví dụ: Bạc-già-phạm (có sáu nghĩa)...
3. Không có không dịch (Thử phương bất phiên): Ở nơi này không có, hoặc các từ đó có ý nghĩa xa lạ đối với người Trung Hoa; tức là, tên các thú vật, cây cỏ và quỷ thần đặc biệt của Ấn Độ nhưng xa lạ đối với Trung Hoa nên không phiên dịch.
Ví dụ: Mùi hương đa-ma-la-bạt (tamàlapattra) và mùi hương đa-già-la (tagara)… và các chúng sanh như Ca-lâu-la (Garuda) và Khẩn-na-la (Kimnara)…
Ví dụ: Mùi hương đa-ma-la-bạt (tamàlapattra) và mùi hương đa-già-la (tagara)… và các chúng sanh như Ca-lâu-la (Garuda) và Khẩn-na-la (Kimnara)…
4. Theo xưa không dịch (Thuận cổ bất phiên): Theo thông lệ từ xưa, nên không phiên dịch. Ví dụ: A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề không phải là không thể dịch được, nhưng vì từ thời Đông Hán trở về sau, các nhà phiên dịch đều để nguyên âm, vì muốn giữ lại cách thức của người xưa nên không dịch nghĩa.
5. Tôn trọng không dịch (Trang trọng bất phiên): Vì muốn cho mọi người có ý niệm tôn trọng, nên không dịch nghĩa. Ví dụ: Thích-ca Mâu-ni, Bát-nhã…
IV. GIẢI THÍCH CHÍNH VĂN
Lúc bấy giờ Ngài Phổ Hiền đại Bồ tát khen ngợi công đức thù thắng của đức Như Lai rồi, bèn bảo các vị Bồ tát và Thiện Tài rằng: “Này Thiện nam tử! Công đức của Như Lai, giả sử cho tất cả các đức Phật ở mười phương, trải qua số kiếp nhiều như cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật diễn nói không ngừng, cũng không thể trọn hết được.”
Nhĩ thời Phổ Hiền Bồ-tát Ma-ha-tát xưng tán Như Lai thắng công đức dĩ. Cáo chư Bồ-tát cập Thiện Tài ngôn. Thiện nam tử. Như Lai công đức. Giả sử thập phương nhất thiết chư Phật. Kinh bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát cực vi trần số kiếp. Tương tục diễn thuyết. Bất khả cùng tận.
Bấy giờ: Ngay lúc ấy, nghĩa là ngay vào lúc đã nói xong phẩm trước.
Ngài Phổ Hiền đại Bồ tát: Vị Bồ-tát Phổ Hiền này đạo hạnh trùm khắp vũ trụ, công đức sánh đồng bậc đại thánh (Đạo biến vũ trụ viết Phổ, Đức lân cực thánh viết Hiền). “Bồ-tát” là tiếng Phạn, nói cho đủ là “Bồ-đề-tát-đỏa (Bodhisattva)”. “Bồ” nghĩa là giác; “tát” tức là hữu tình. “Bồ-tát” chính là “giác hữu tình” nghĩa là có khả năng làm cho hết thảy hữu tình chúng sanh giác ngộ. Thế nào gọi là hữu tình? Tất cả chúng sinh đều gọi là hữu tình (sentient). Nay Jerry hỏi nếu hoa cỏ là vô tình, sao lại có sự sống? Câu hỏi này rất hay, nay tôi sẽ giảng sơ qua.
Hoa cỏ tuy vô tình nhưng lại có tính. Có tính gì? Có sinh tính. Thế nào là sinh tính? “Sinh tính” chính là nói đến “nhân” (仁 life-energy) của Nho giáo. “Nhân” này chính là “tính”, hay có thể gọi là đạo, cũng có thể nói là mẹ của vạn vật. Con người chúng ta có “nhân” này không? Đương nhiên là có, nếu người mà không có “nhân” thì chẳng gọi là người. Không gọi là người thì gọi là gì? Tùy quý vị gọi gì cũng được. Vì có “nhân” nên gọi là người (humans); nên cái “nhân” này chính là người, mà khi người hợp lại (toàn vẹn) được với cái tính nhân (仁 life-energy, life-nature) ấy, thì gọi là đạo (仁者人也,合而言之為道nhân giả nhân dã, hợp nhi ngôn chi vi đạo). Đây chính là Đạo.
Hết thảy cỏ cây cũng đều có “nhân” này. Quý vị thấy cỏ cây đều có sự sống, khi mùa Xuân đến chúng đâm chồi nảy nhánh, rồi đơm hoa kết trái, đây đều là vì chúng có tính “nhân”. Hoa cỏ, cây cối không chỉ có tính nhân mà còn có khả năng cảm nhận nhưng rất kém. Tính “nhân” này ở nơi hoa cỏ rất ít, vì thế khi quý vị tỉa hoa thì chúng phát ra âm thanh, âm thanh của sự sợ hãi, chỉ là chúng ta không nghe thấy được, nhưng nếu áp dụng phương tiện khoa học thì chúng ta có thể nghe được, đây là một hiện tượng rất phổ biến. Vì sao chúng có âm thanh? Là vì chúng cũng có tính, chẳng qua là tính của chúng không đầy đủ mà thôi, chúng chỉ có một chút tính. Tôi đưa ra một tỷ dụ. Nếu con người chúng ta có cái tính nặng 100 pounds, thì cái tính của hoa cỏ chưa được tới 1 ounce, nó chỉ có chút xíu như sợi tóc. Nhưng đây chỉ là tỷ dụ, quý vị đừng cho là thật rồi nói rằng: “Vị Pháp sư ấy nói cái tính của con người nặng đến cả trăm pounds”. Không phải thế, quý vị đừng nên lầm chấp! Vì sao hoa cỏ cũng có tính? Vì sao hoa cỏ cây cối trải qua thời gian dài lâu mới có cảm giác? Bởi vì thời gian sinh trưởng lâu, chúng mới phát sinh ra một loại cảm giác. Ở Trung Hoa có trường hợp cây Chương[1] cầu giới và cây Bạch Quả[2] thụ giới. Vì sao chúng có thể thụ giới? Nếu nói chúng không có tình thức thì làm sao có thể biến thành hình người để đi thụ giới? Như thế chẳng phải là mâu thuẫn lắm sao! Thật ra, chẳng mâu thuẫn chút nào, do vì quý vị không biết được cảnh giới này nên mới cho là mâu thuẫn. Nếu quý vị biết được thì sẽ hiểu đó là việc hết sức bình thường. Vì chúng sống cùng con người trên thế giới này đã lâu, tuổi tác đã già, trải nghiệm cũng nhiều, lâu ngày dài tháng sẽ hình thành nên tính giống như con người, cũng chính là có “nhân”. Đã có nhân (仁) thì sau đó sẽ có xúc cảm, đã có xúc cảm thì cũng sẽ muốn thụ giới. Trước khi chưa thụ giới, do không biết nên nó đã làm nhiều việc xấu, sau đó biết được những việc làm trước đây của mình là sai, thế là nó muốn thụ giới, thậm chí còn muốn xuất gia.
Bồ-tát Phổ Hiền giáo hóa hết thảy chúng sinh, không chỉ hóa độ chúng hữu tình mà tất cả hoa cỏ cây cối thuộc giống vô tình Ngài cũng đều độ hết, làm cho hữu tình và vô tình đều đồng viên Chủng trí[3], đồng thành Phật đạo, nên gọi là “Phổ Hiền”. Ngài còn muốn hóa độ tất cả hoa cỏ cây cối; quý vị xem, hạnh nguyện như thế rộng lớn biết bao! Thông thường chúng ta chỉ biết hóa độ con người, độ những loài có sinh mệnh, còn Bồ tát thì muốn độ đến cả những loài không có sinh mệnh. Hai chữ “Bồ-tát” lại có thể phiên dịch là “chúng sinh có tâm đạo rộng lớn[4]”. Vì Bồ-tát cũng là một chúng sinh, chẳng qua đạo tâm của Ngài rộng lớn; Bồ-tát còn gọi là “người công khai[5]” vì Bồ-tát làm việc gì cũng công khai, không có tâm ích kỷ, không có tâm tự lợi, không có tâm ganh ghét, không có tâm chướng ngại.
“Đại Bồ-tát[6]” chính là Bồ-tát lớn. Bồ-tát Phổ Hiền là vị Bồ-tát lớn trong các Bồ-tát, không phải là Bồ-tát nhỏ. Vậy ai là Bồ-tát nhỏ? Bồ-tát mới phát tâm Bồ-đề chính là Bồ-tát nhỏ, còn những Bồ-tát đã phát tâm Bồ-đề từ lâu chính là Bồ-tát lớn. Giống như người mới thụ Bồ-tát giới thì là Bồ-tát nhỏ, người thụ giới Bồ-tát đã lâu, lại có thể nương vào giới tu hành thì đó là Bồ-tát lớn, lại trải qua ba trăm năm, năm trăm năm thì sẽ trở thành một vị lão Bồ-tát, một Bồ-tát kỳ cựu.
Khen ngợi công đức thù thắng của đức Như Lai rồi: Bồ-tát Phổ Hiền xưng dương tán thán công đức tối thù thắng của Như Lai. Thế nào gọi là xưng tán? Xưng là xưng hô, xưng hô Phật, Thế Tôn. Tán là ca ngợi, tán thán; ca ngợi công đức thù thắng của Như Lai. Thế nào là Như Lai? Như Lai là một trong mười hiệu của Phật. Ngày xưa Chư Phật có rất nhiều danh hiệu, do danh hiệu quá nhiều nên con người khó nhớ, nên giảm bớt còn lại một vạn danh hiệu, nhưng một vạn danh hiệu cũng chẳng dễ nhớ nên lại giảm xuống còn một nghìn danh hiệu, một nghìn danh hiệu vẫn còn nhiều, cũng chẳng dễ nhớ, thế là lại giảm xuống còn một trăm danh hiệu. Do trí nhớ của chúng sinh rất kém, một trăm danh hiệu vẫn không nhớ nổi, do đó lại giảm xuống còn mười danh hiệu. “Như Lai” là một trong mười danh hiệu của Phật. “Như” nghĩa là chẳng động, là tĩnh; “Lai” nghĩa là động. Thế nên “Như Lai” nghĩa là trong tĩnh có động, trong động có tĩnh. Như Lai lại có nghĩa là “thừa như thật chi Đạo, lai thành Chính Giác”. “Thừa như thật chi Đạo (nương vào Đạo như thật)”, đó là tĩnh; “lai thành Chính Giác (để thành Chính Giác)”, đó là động. Tuy trên danh xưng có động có tĩnh, nhưng trên bản thể của Phật thì chẳng phải động, chẳng phải tĩnh, động và tĩnh chẳng hai, động chính là tĩnh, tĩnh cũng chính là động. Vì sao nói như thế? Vì động là từ trong tĩnh mà sinh ra, tĩnh từ trong động mà hiện bày, nên nói động tĩnh chẳng hai. Đó gọi là Như Lai.
Ở phẩm trước Bồ-tát Phổ Hiền tán thán công đức của Như Lai là công đức thù thắng hơn tất cả, tất cả công đức đều chẳng thể theo kịp, cũng không thể sánh bằng, công đức của Như Lai nói mãi cũng không hết, giảng mãi cũng không cùng. Tuy nói không hết, giảng không cùng nhưng Bồ-tát Phổ Hiền vẫn dùng hạnh nguyện rộng lớn của Ngài để tán thán công đức đặc biệt thù thắng này của Như Lai.
Thế nào gọi là công đức? Công, quý vị cần phải lập mới có; đức, quý vị cần phải tạo mới thành. Thế nào là lập công? Ví dụ, ở một ngôi trường nọ có một vị giáo sư rất tận tâm tận lực, ngoài tiền lương chính thức được hưởng ra, vị giáo sư còn làm rất nhiều việc cho trường nằm ngoài bổn phận chức trách của mình, đó gọi là công. Đức là đối xử tốt với tất cả mọi người, giúp người mà không cầu sự báo đáp. Thí như quý vị cho một người nào đó năm vạn tiền mà quý vị chẳng có tâm mong cầu gì ở nơi năm vạn tiền ấy. Mong cầu sau này người đó có thể trả lại năm mươi vạn đồng, nếu quý vị khởi tâm như thế là không có đức. Phải thi ân không cầu báo đáp, đối xử tốt với ai cũng không mong cầu người ta đáp trả, cũng chẳng hy vọng họ đối xử tử tế lại với mình, đó chính là đức.
Đức có phân thành đức lớn và đức nhỏ, nhưng không phải nói nếu tạo thì phải tạo đức lớn, còn đức nhỏ thì không cần tạo. Thế nào gọi là đức nhỏ? Thông thường đó là việc làm chỉ đem lại một chút lợi ích nhỏ cho người, tuy đem lại lợi ích cho người rất ít và dù có ít hơn nữa cũng phải nên làm. Quý vị làm nhiều việc đức bé như thế tích tụ dần cũng trở thành lớn; quý vị không chịu làm thì vĩnh viễn chẳng thể có đức. Cho nên nói: “Đạo chính là hành[7]”, tu đạo là phải hành trì, không thể chỉ nói tu đạo trên đầu lưỡi, từ sáng đến tối nhớ nghĩ đến việc tu đạo nhưng chẳng bao giờ chịu hành trì, đó gọi là “thiền đầu lưỡi[8]”, không có tác dụng. Cũng thế, đức cũng cần phải được tạo lập, nếu quý vị không tạo thì chẳng thể có đức. Cho nên nói “Đạo chính là thực hành, không thực hành thì làm sao có đạo? Đức là phải tạo lập, không tạo lập thì làm sao có đức?”. Công đức Như Lai thật chẳng thể tán thán cùng tận.
Bèn bảo các vị Bồ tát và Thiện Tài: Sau khi Bồ-tát Phổ Hiền tán thán công đức của Như Lai, Ngài bèn bảo với vô lượng vô biên chư vị Bồ-tát trong pháp hội Hoa Nghiêm và Thiện Tài Đồng Tử. “Chư vị Bồ-tát”: có thể là rất nhiều, cũng có thể là rất ít Bồ-tát. Do vì chữ “chư” cũng có thể giảng là nhiều, cũng có thể giảng là một. Chữ “chư” này nếu làm ngữ trợ từ thì là một trợ từ trợ giúp ngữ khí khi nói; “chư”, cũng có thể giảng là một, một vị Bồ-tát. Nếu căn cứ theo nghĩa “nhiều” thì nhiều chính là “chư”, cũng chính là rất nhiều, rất nhiều các vị Bồ-tát. Thế rốt cuộc “chư” ở đây nghĩa là ít hay nhiều? Trong Hải Hội Hoa Nghiêm này chẳng thể giảng với nghĩa “một”, không thể nói là một vị Bồ-tát. Vì sao? Vì các vị Bồ-tát trong pháp Hội Hoa Nghiêm nhiều vô số.
Thiện Tài Đồng Tử tuy là một chú bé, nhưng có sức thần thông rất lớn, sức diệu dụng thần thông của Thiện Tài là bất khả tư nghì. Thiện Tài Đồng Tử có năm mươi ba vị thầy, và vì có năm mươi ba vị thầy cho nên ảnh hưởng đến Phật giáo Trung Hoa rất phức tạp. Phức tạp ra làm sao? Có một số tín đồ Phật giáo bắt chước Thiện Tài Đồng Tử nói: “Thiện Tài Đồng Tử có năm mươi ba vị thầy thì tối thiểu tôi cũng phải có mười vị, hai mươi vị hay ba mươi vị thầy, như thế chẳng phải là quá nhiều”. Hành vi như thế là rất mê tín, vô cùng sai lầm! Xưa nay tôi cực lực phản đối tư tưởng này, chẳng phải vì sợ chúng đệ tử của tôi đi bái những vị khác làm thầy, mà do vì đây là một phong thái tập quán xấu nhất trong Phật giáo.
Có người nói: “Thiện Tài Đồng Tử có năm mươi ba vị thầy, thế tại sao Thiện Tài không phải là người xấu nhất? Người Trung Hoa đi bái ba mươi, bốn mươi người làm sư phụ là xấu nhất hay sao?”. Việc gì cũng có thật lý của nó, nguyên do Thiện Tài Đồng Tử có năm mươi ba vị thầy là bởi vị thầy thứ nhất của Thiện Tài dạy đi bái vị thứ hai làm thầy; là sư phụ của Thiện Tài bảo đi, chứ chẳng phải Thiện Tài nghe nói người này, người kia có đạo hạnh, có tu hành, thế rồi cũng chẳng thưa với thầy, lén lén lút lút chạy đến nơi khác bái vị ấy làm sư phụ. Đó gọi là: “Khi bái nhận một sư phụ, lại phản bội một sư phụ[9]”. “Bội” chính là phản bội, là chống trái. Nếu quý vị tốt với thầy của mình thì sao lại đi nhận người khác làm thầy? Giống như chúng ta có một người cha là đủ rồi, chỉ có Đức Phật Thích Ca-mâu-ni mới có thể làm người cha thứ hai của chúng ta. Chúng ta tuyệt đối không thể đi tìm ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám…nhiều người cha như thế ! Sư phụ là cha mẹ pháp thân xuất thế của chúng ta. Vậy quý vị bái nhiều thầy như thế để làm gì chứ?
Thiện Tài Đồng Tử đã học được trọn vẹn với vị thầy thứ nhất của mình về đạo đức, học vấn và diệu dụng thần thông. Vị thầy thứ nhất ấy cũng không còn gì để dạy Thiện Tài nữa, vì thế ông mới bảo Thiện Tài đến phương Nam để bái một người khác làm thầy. Thiện Tài lại đi đến chỗ khác bái một vị khác làm thầy. Sau khi bái làm thầy, Thiện Tài cũng học hết tất cả những bản lĩnh và năng lực của vị thầy này, nên vị thầy này lại giới thiệu Thiện Tài tiếp tục đi về phương Nam để bái một vị tôn giả, hoặc là một vị Bồ-tát, hoặc là một vị Tỳ-kheo làm thầy rằng: “Đạo nghiệp của người ấy cao hơn ta”. Đó chính là thầy của Thiện Tài đã giới thiệu cho Thiện Tài đi tìm một vị thầy khác, không phải Thiện Tài âm thầm hay lén lút đi bái một người khác làm thầy. Vị thầy thứ nhất giới thiệu cho Thiện Tài vị thầy thứ hai, vị thầy thứ hai lại giới thiệu cho Thiện Tài vị thầy thứ ba, cho tới giới thiệu đến vị thầy thứ năm mươi ba, và Thiện Tài đều học và đạt được tất cả những thần thông diệu dụng của năm mươi ba vị thầy, vì thế thần thông diệu dụng của Thiện Tài rất cao cường. Quý vị đừng nên cho rằng Thiện Tài là một chú bé, bản lĩnh của Thiện Tài rất lớn.
Tín đồ Phật Giáo Trung Hoa vì chịu sự ảnh hưởng này, nên họ đến các nơi tùy tiện bái sư phụ, bái xong một vị thầy, lại lén lén lút lút đi bái một vị khác, bái hết người này đến người kia đều là những loại hành vi bại hoại trong Phật giáo. Vì thế lúc tôi ở Trung Hoa hoặc ở Hồng Kông, hễ ai là người đã từng quy y Tam Bảo, giờ lại muốn quy y với tôi, tôi đều không thâu nhận. Vì sao? Tôi cho rằng họ là tín đồ không tốt, bởi chẳng phải thầy của họ bảo họ đi bái tôi làm thầy mà là họ tự lén lút tìm đến, đó là hành động phản bội thầy hiền. Hơn nữa, phép Quy Y chỉ có thể quy y một lần, không thể đã quy y rồi giờ lại quy y nữa. Thọ giới thì có thể; quý vị thọ ba giới, bốn giới, năm giới, bát quan trai giới, hoặc Bồ-tát mười giới trọng bốn mươi tám giới khinh, tuần tự thọ bao nhiêu lần đều có thể, nhưng quy y thì chỉ được một lần. Bái thầy chỉ được bái một vị, chẳng nên Đông bái một vị, Nam bái một vị, Bắc bái một vị, Tây bái một vị. Nếu như thế thì sau này quý vị chết đi sẽ tìm đến vị thầy nào, đi làm đệ tử ở đâu? Không có nơi nào hết! Căn bản chính là không có nơi nương tựa, bởi vì có quá nhiều thầy. Nhất là trong Phật giáo, chúng ta phải nhận biết chân lý, giảng nói chân lý.
Tín đồ Phật giáo ở Trung Hoa, chuyển qua chuyển lại cũng chỉ mấy vị Phật tử cũ đó, từ nhỏ họ đã quy y, sau đó lại quy y bên này, quy y bên kia; một đời của họ quy y thậm chí đến mấy mươi lần, có khi đến cả trăm lần. Quý vị hỏi họ: “Thế nào là quy y?”, họ mở mắt nhìn mà chẳng có lời gì để nói—không biết quy y là gì! Quy y đến hàng chục lần mà chẳng biết quy y là gì, quý vị nói như vậy có đáng thương không! Họ nói những người xuất gia đều là thầy của họ, họ đều quy y với tất cả, nhưng tôi tin họ chẳng có một vị thầy nào hết. Vì sao như thế? Bởi vì họ không có niềm tin. Quý vị phải có niềm tin, tin tưởng mới có thể được cứu độ, không tin tưởng, căn bản sẽ không được cứu độ. Vả lại ở Trung Hoa, giữa các thầy có sự xung khắc cũng đều do quan hệ về tín đồ. Thí dụ như đệ tử của một vị thầy này chạy đến một vị thầy khác thì vô hình trung nói rằng vị thầy trước là người không có đạo đức. Nếu như có đạo đức thế thì tại sao đệ tử phải đi bái một vị khác làm thầy? Và thế là giữa hai vị pháp sư sẽ nảy sinh xung khắc - “Ông đã cướp mất đệ tử của tôi!” Thế là hai vị bắt đầu đấu pháp, một khi đấu nhau thì chân tướng của hai người đều xuất hiện. Chân tướng đó là gì? Đó là lửa vô minh bùng phát. Tất cả đều bắt nguồn từ nguyên nhân đệ tử lén lút quy y với thầy khác. Quý vị sợ tôi cướp mất đệ tử của quý vị, còn tôi lại sợ quý vị cướp mất đệ tử của tôi, nên dẫn đến tình trạng nêu trên.
Đây là một tập quán rất xấu trong Phật giáo, tôi hy vọng ở nước Mỹ này không phát sinh tình trạng ấy, chỉ quy y một lần mà thôi. Quý vị chẳng phải muốn quy y đó sao? Thế thì quý vị hãy đi tìm một vị thầy tốt, sau khi quy y rồi không nên phản bội sư phụ, không nên làm một tín đồ trái đạo phản thầy.
Thiện Tài Đồng Tử có năm mươi ba vị thầy đã ảnh hưởng đến Phật giáo Trung Hoa, hình thành nên một phong thái tập quán không xác đáng. Ở nước Mỹ, nhân lúc Phật giáo còn chưa lan rộng thì đừng nên để lỗi lầm này lan truyền, không nên để tín đồ tập thành thói quen này. Giống như nghi thức rửa tội để trở thành giáo đồ trong đạo Giêsu, đạo Thiên Chúa cũng chỉ một lần, không thể nói: rửa tội một lần chưa sạch phải rửa thêm lần nữa, rửa đi rửa lại cũng chỉ một người đó. Trong Phật giáo chúng ta cũng vậy, không nên quy y một lần rồi lại lần nữa, hết lần này đến lần khác và còn nói rằng: “Tôi quy y lần đầu có thể Phật không biết, vì thế tôi quy y lại lần thứ hai”. Quý vị quy y lần đầu nếu Phật chẳng biết thì đến lần thứ hai, thứ ba cho đến một nghìn lần, một vạn lần, Phật cũng chẳng biết. Vì sao? Bởi vì Phật không phải là đang ngủ mà nói rằng quý vị quy y như thế Ngài không thấy, không biết. Phật là bậc Đại Giác, nếu tâm quý vị thật sự mong cầu quy y với Ngài thì Ngài đã biết rồi, thế nên mới nói sự giao cảm giữa tâm thành của chúng sinh và bi tâm của chư Phật là không thể tư nghì[10]. Nếu quý vị nói Phật không biết thì trên căn bản quý vị đã không tin Phật, trên căn bản cũng chẳng có quy y. Như vậy thì quý vị có quy y mấy nghìn vạn lần cũng vô dụng.
Sau khi quý vị quy y, thì nhất định phải tôn sư trọng đạo, phải cung kính đối với thầy. Nay tôi giảng đạo lý này hoàn toàn không có dụng ý để được đệ tử quy y với tôi phải cung kính tôi, bởi tôi thấy đệ tử quy y với tôi đã rất cung kính tôi rồi, nên chẳng mong họ cung kính thêm nữa. Sau khi quy y phải ghi nhớ là không được phản thầy, không được không cung kính thầy. Người nào không cung kính thầy sẽ bị đọa vào địa ngục. Đọa địa ngục nào? Khi giảng Kinh Đại Tạng, chẳng phải tôi đã nói đến “địa ngục Thiên Đao” ư? Đệ tử không hiếu thuận với thầy thì phải đọa vào địa ngục ấy. Có một hạng đệ tử không chỉ không thuận theo lời thầy dạy, không nương theo lời thầy dạy để thực hành, mà còn tự mình mở riêng một đường hướng khác, làm theo ý mình, lại còn dùng các phương cách như mắng nhiếc thầy mình, thậm chí đánh thầy, giết thầy, đầu độc cho thầy chết để hại thầy, những trường hợp trên đều đã xảy ra. Quý vị chớ cười! Trên thế gian này hạng chúng sinh nào cũng có! Giống như tùy tiện ngồi vào chỗ của thầy, đùa giỡn bình bát của thầy, như thế đều phạm lỗi, trừ khi thầy bảo làm như thế. Nếu thầy không bảo làm như thế mà quý vị ngang nhiên làm thì đều phạm lỗi. Đây là điều rất quan trọng, không phải muốn làm gì thì làm, có thầy ở đây thì đệ tử không được tùy tiện, vì thế trong mọi lúc, mọi nơi đều không thể hủy báng thầy, không được nói xấu sau lưng thầy, vì như thế là phạm khẩu nghiệp, tạo thành tội nghiệp.
Đoạn văn này là nói công đức của Như Lai không thể cùng tận. Thiện nam tử: Các vị đã quy y Tam Bảo, đã thụ năm giới, giữ mười điều thiện. Nay tôi nói cho các vị nghe. Công đức của NhưLai, giả sử cho tất cả các đức Phật ở mười phương: công đức của Phật, giả sử tất cả các đức Phật trong các thế giới khắp mười phương. Trải qua số kiếp nhiều như cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cõi Phật: trải qua kiếp số nhiều như số cực vi trần ở các cõi nước của chư Phật chẳng thể nói bàn. “Cực” chính là đến cực điểm. Đến cực điểm gì? Đến cực điểm của vi trần. Cực điểm của vi trần là gì? Chính là lân hư trần[11]; lân hư trần, mắt thường của con người không thể nhìn thấy được. Chúng ta có thể nhìn thấy được vi trần ở nơi mà ánh mặt trời có thể xuyên qua cửa sổ, đây là những cái có thể nhìn thấy. Đem những hạt vi trần có thể nhìn thấy lại phân ra thành bảy phần, đây gọi là lân hư trần. Lân hư trần mắt thường không thể nhìn thấy, đó cũng chính là cực vi trần. Diễn nói không ngừng, cũng không thể trọn hết được: Trải qua số thời gian dài như số cực vi trần ở các cõi nước của chư Phật, diễn nói một cách liên tục không gián đoạn về công đức của Như Lai cũng không thể nói hết.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.9/11/2017.
No comments:
Post a Comment