Saturday, June 2, 2018

Phá ngã là gì?
PHÁ là từ được dùng khi có sự CHẤP THỦ xuất hiện. Có sự chấp thủ mới nói đến phá. Không chấp thủ thì không phá. CHẤP THỦ nghĩa là ôm giữ, nắm chặt. NGÃ hiểu nôm na là cái TÔI hay TA của mình. Gọi là TA vì thấy có thân, có hơi thở, có sự suy nghĩ, có mong muốn, có cảm giác vui, buồn, đau đớn ... và để xác định thêm cho sự hiện hữu của cái ta này, còn có những cái của ta … Bởi những thứ trên thấy dường như hiện tiền nên ai cũng có khuynh hướng chấp thủ lấy TA và những cái của ta. PHÁ NGÃ chính là phá đi sự chấp thủ đối với cái TA ấy, không phải là phá nát thân này thành cát bụi. Vì thế từ xưa đến nay chư vị Thiện tri thức đều nói đến chữ BUÔNG. Buông tức không chấp thủ.
Vì sao phá ngã là tinh thần tu hành chính của đạo Phật?
Vì mục đích chính của đạo Phật là giải thoát chúng sanh ra khỏi sự khổ đau. Đức Phật nói “Đạo của ta chỉ có một vị là giải thoát”. GIẢI THOÁT nghĩa là không khổ đau, chấm dứt luân hồi sanh tử và cuối cùng là trở về ngộ nhập lại Phật tánh của mình. Song muốn thực hiện các điều trên thì ta phải phá đi sự phân biệt và chấp thủ đối với thân tâm này. Quá trình phá ngã gồm hai giai đoạn:
1. Phá ngã thô, chính là phá đi những thứ đã liệt kê về thân và tâm trên, đạt được trạng thái vô ngã của các vị Nhị thừa.  
2. Phá ngã tế, chính là phá đi sự chấp thủ đối với cảnh giới vô ngã ấy mà thể nhập Phật tánh hay pháp tánh, là trạng thái vô sanh của vạn pháp.
Vì sao muốn hết đau khổ và trở về ngộ nhập lại Phật tánh của mình, lại phá ngã?
Theo cái nhìn của Đại thừa thì thân tâm của một chúng sanh hữu tình chẳng qua chỉ là bóng dáng của dòng tập nghiệp do chính chúng sanh ấy tạo ra mà thôi. Nó là thứ hư vọng không thật có. Chỉ vì, bản tâm thanh tịnh trùm khắp không tự tánh nên không tự giữ, bất giác vọng động mà phân làm cái thấy hư vọng cùng cảnh giới hư vọng. Cảnh giới hư vọng là chỉ cho thân căn và thế giới ta đang có đây. Do không biết tất cả chỉ là hư vọng, lại nương vào đó mà phát huy phân biệt. Một khi đã có sự phân biệt thì niệm niệm tương tục, khởi hoặc tạo nghiệp, khổ đau vô vàn, sanh tử chẳng dứt. Sáu đường địa ngục, ngạ quỉ … từ đó phát sinh.
Chỉ do bất giác rồi hiện cái thấy hư vọng và cảnh giới hư vọng thì chưa xuất hiện khổ đau và luân hồi sanh tử. Mọi thứ chỉ nảy sinh khi có sự phân biệt ta, người v.v… Có ta và người thì có chấp thủ và giành giựt. Bởi chấp thủ mà tạo nghiệp. NGHIỆP là chỉ cho những hành động của thân, khẩu và ý. Những hành động và suy nghĩ nào được lập đi lập lại nhiều lần, trở thành thói quen, sẽ được lưu lại trong tạng thức mà ta thường gọi là chủng tử hay tập khí. Quá trình lập lui lập tới được ghi vào tạng thức ấy gọi là HUÂN. Khi cảnh giới trước của chúng sanh ấy hoại, thói quen nào đủ lực đủ duyên sẽ là nhân để cho ra cái quả thân căn và cảnh giới kế tiếp. Nếu cái nhân là “sân hận tham lam” thì tùy mức độ mà có cái quả là “bần cùng, ngạ quỉ, địa ngục”. Quá trình “cho ra” này gọi là BIẾN. Cái huân và biến này không thể nghĩ bàn, không thể dùng tri thức thường đây mà thấu được. Kinh Lăng Già nói “Cái huân và biến chẳng thể nghĩ bàn này là nhân của hiện thức”. Hiện thức chính là tạng thức, nhưng chỉ nói ở mặt biến hiện ra thân căn và thế giới chúng sanh nên gọi là hiện thức. Cứ mỗi lần BIẾN như thế là chúng sanh lại có một quá trình để HUÂN. Huân rồi lại biến, biến rồi lại huân nên luân hồi sanh tử triền miên bất tận...
Theo quá trình trên, rõ ràng do chấp ngã mà dẫn đến luân hồi sanh tử khổ đau. Muốn hết sanh tử, hết khổ đau thì phải đừng chấp ngã. Nên quá trình tu hành là một quá trình phá ngã. Song phá ngã mà lại trú vào cái vô ngã - là cảnh giới niết bàn của các vị Nhị thừa - thì vẫn chưa về được cội nguồn thanh tịnh của mình. Vì vậy phải phá luôn sự chấp thủ đối với cảnh giới vô ngã ấy. Thành tu mà không phá ngã thì không phải là tu Phật, cũng không bao giờ hết được khổ đau.
Vì sao “biết vọng” là phá thói quen chuyên hướng ra ngoài của mình? “Không theo” là phá thói quen chuyên sanh khởi của mình?
Hướng ra ngoài thấy, nghe v v... rồi phân biệt tốt xấu, khởi niệm liên tục là việc hằng ngày của chúng sanh. Người có công phu là người không để những niệm khởi ấy được liên tục dù là có cảnh hay không cảnh. Ngay khi biết tâm khởi niệm không theo thì không biết cảnh. Biết càng nhiều thì hướng ra ngoài càng ít. Cái gì huân tập nhiều thì thành thói quen, cái gì không được huân tập nữa sẽ hết. Đó là ý nghĩa câu “Biết vọng là phá thói quen chuyên hướng ra ngoài của mình”.
Có cảnh hay không cảnh, tâm vẫn khởi niệm liên tục vì cái khởi ấy đã được huân tập sâu dày. Người có công phu sẽ nhận ra được sự sanh khởi liên tục này. Niệm niệm liên tục, đối duyên liền khởi phân biệt, phân tích, chia chẽ, rồi sinh vui, buồn … đứng ngồi không yên, thích cái này, muốn cái kia v.v… đều là mặt thể hiện của cái sanh khởi ấy. Niệm thì có vui, buồn, yêu, ghét… vô vàn hình thức, nhưng đều từ một động tác sanh khởi này mà hiện hình. Nên nó là một loại tập khí sâu dày nhất trong các loại tập khí mà cũng chính là đầu mối của luân hồi sanh tử. Vì thế không phải nói dừng, nói không theo là có thể dừng, có thể không theo liền được. Cần phải có một quá trình công phu liên tục và dài lâu. Một lần biết có vọng là một lần cắt đứt được sự tương tục của dòng vọng tưởng. Công phu được liên tục như thế tức là ta đang dùng cái KHÔNG THEO phá bỏ cái SANH KHỞI. Cái KHÔNG THEO nhiều chừng nào thì cái SANH KHỞI giảm đi chừng nấy. Đến lúc cái KHÔNG THEO trở thành thói quen thì cái sanh khởi không còn là thói quen. Vì thế nói “Không theo là phá bỏ thói quen chuyên sanh khởi của mình”.
Đây có đề cập đến vấn đề hành cả ngày, một buổi hay 30 phút cho mỗi buổi sáng là thế nào?
Nói đến 30 phút, 1 tiếng, 2 tiếng là nói đến công phu tọa thiền. Nói cả ngày, một buổi là nói công phu trong động. Dù là động hay tịnh đều lấy việc QUÁN TÂM làm chính. Song nói “Không tu được cả ngày thì cũng gắng 30 phút cho mỗi buổi sáng” là đề cập đến việc tu trong tịnh thế nào thì tu trong động thế ấy, chỉ có tâm mà không có cảnh. Miên mật liên tục như vậy, đối với người còn bận việc xã hội không dễ gì mà thực hiện, nên nói “không tu được cả ngày”, không phải là buông tuồng cho tham - sân - si dấy khởi khi đối duyên xúc cảnh.
Khi mới tọa thiền, ta chưa thể biết vọng buông liền được, mà thường phải nương vào một đối tượng nào đó để đánh bạt đi vọng tưởng. Đơn giản và gần gũi nhất là nương vào hơi thở. Có khi còn phải đếm cả số. Nương hơi thở hay đếm số gì cũng chỉ cốt là đưa tâm mình trở về giây phút hiện tại, chính là để làm rõ lại cái BIẾT của mình. Khi công phu, ta sẽ thấy cái BIẾT ấy bị vọng kéo dạt và làm lu mờ thế nào. Khi có thể theo dõi hơi thở rõ ràng, không còn bị những suy nghĩ lan man kéo dạt đi là lúc ta bắt đầu có định tâm. Thở sâu nhưng nhẹ nhàng và tự nhiên giúp tâm ổn định bình tỉnh, thân nhẹ nhàng thoải mái. Vì thế, chú ý đến hơi thở ngay cả những khi không tọa thiền vẫn là điều cần thiết cho người mới tập thiền.
Nếu hơi thở có khó khăn, thân có nặng nề cũng cứ bình tỉnh, tiếp tục công phu. Công phu được liên tục, hơi thở sẽ nhẹ và có khi mất hẵn. Cũng không nên cố gắng duy trì hay chống cái BIẾT lên. Khi công phu thuần thục cái BIẾT sẽ tự rõ ràng sáng suốt. Tọa thiền giấc 3 đến 6 giờ sáng, hơi thở thường nhẹ nhàng đều đặn hơn là giấc trưa hay tối, là những giấc mà sau một ngày dài hoạt động và làm việc, thân phải động nhiều nên tâm khó điều phục hơn. Vì thế giấc sớm ấy được các bậc Cổ đức khuyến cáo là giấc tịnh tâm tốt nhất và sẽ mang lại kết quả rất nhiều cho việc tu hành. Sau một giấc ngủ dài, bụng trống rỗng, thân thể khoẻ mạnh, tinh thần sáng suốt, xếp bằng ngồi yên điều thân và chỉ tập trung vào một đối tượng như thế, công phu tiến triển là lẽ tất nhiên. Nó là nền tảng định tâm cho cả ngày. Không thực hiện được buổi công phu sáng này hoặc để cho cái ngủ dẫn dắt thì quả là phí cho việc tu hành. Công phu muốn tốt, đòi hỏi phải có sự quyết tâm và kiên trì, nhưng không được mong cầu hay suy nghĩ đến kết quả. Suy nghĩ thì tán tâm, mong cầu thì bất ổn. Càng mong cầu càng không có kết quả.
Việc xoa bóp sau khi tọa thiền là cần thiết, mọi thứ đều phải nhẹ nhàng chậm rãi, không hấp tấp. Không xoa bóp, lại cử động vội vàng ngay sau khi xả thiền là cái nhân bức rức không yên cho những buổi tọa thiền kế tiếp. Xoa bóp xong, ta phải tập thể dục để máu huyết lưu thông, đầu óc thanh thản.        
Thân động nhiều, tâm cũng không ổn. Tâm không định thì thân và miệng cũng lăng xăng. Vì thế khi làm việc hay đi đứng nên từ từ thong thả. Bất đắc dĩ lắm mới quên thân tâm mà chạy theo việc làm. Nếu chú ý đến tâm, nếu làm việc có chánh niệm thì thân tự nhiên khoan thai, chậm rãi, hơi thở cũng điều hòa, việc làm sẽ chu tất, cẩn thận. Làm cho chóng xong hay cẩu thả là thể hiện của một tâm không định tỉnh, thiếu chánh niệm. Chánh niệm là làm việc gì chỉ tập trung vào việc đó. Đang làm mà bị những suy nghĩ khác dẫn dắt thì phải bỏ mà quay về tập trung vào công việc hiện tại. Phải có công phu mới nhận thấy được thân làm mà tâm thì suy nghĩ miên man từ chuyện này đến chuyện khác không hề dừng nghĩ. Tập một thời gian khá dài ta mới thật sự có chánh niệm đối với công việc.
Không có thứ gì đặt chân vào mà làm liền được. Vì vậy, dù phải kéo tâm trở lại vài trăm lần trong một công việc, ta vẫn phải kiên trì. Đừng sợ vọng nhiều. Nhận thấy được nhiều vọng tức cái BIẾT đã có mặt được nhiều. Càng có nhiều cái buông tức là niệm tỉnh sáng của ta càng tăng. Nhiều đến lúc nào đó thì ta sẽ cắt đứt được sự tương tục của dòng vọng niệm. Việc tu hành của ta thực sự bước vào giai đoạn mới. Cũng vẫn là tu, nhưng cái tu bây giờ không như cái tu ngày xưa. Ta sẽ hiểu thật sự thế nào là biết vọng không theo, vì sao gọi những thứ như suy nghĩ, cảm giác là vọng v.v… Chỉ sợ là mình không có dịïp chiêm ngưỡng cái ngắt quãng của dòng vọng niệm mà thôi, bởi mình đã bỏ cuộc trước đó. Hòa thượng luôn nhắc nhở chúng ta phải có tâm trường viễn là vậy. Muốn có tâm trường viễn thì cái gì cũng phải từ từ, không nên phát tâm quá dũng mạnh. Cứ từng bước một, đi bước nào chắc bước đó.
Cư sĩ thì phải đối duyên nhiều. Đối duyên nhiều mà không làm chủ được bản thân thì tạo nghiệp cũng rất nhiều, cuộc sống hiện đời cũng không có an lạc. Niệm sân là niệm thường gặp ở cư sĩ mình nhấtù. Có cái sân thô, có cái sân tế. Nổi giận, hờn mát, hơi buồn buồn vì không vừa lòng đều là những dạng của sân. Vì sao có sân? Vì có sự phân biệt thế này mới đúng, thế này là sai, thế này là thương, thế này là ghét, cái này của tôi, cái này không phải … ấn định rạch ròi như thế cũng chưa có gì thảm hại. Thảm hại là chấp vào đó, rất chặt. Vì thế những gì mình cho là đúng thì cái gì ngược lại phải sai, nổi sân! Ý ta thế này mới phải, cái gì không theo đúng như thế là trái, nổi sân! … Bởi chứa quá nhiều những quan niệm và định kiến nên tâm không thể định. Không định thì không đứng yên mà cứ “chạy trước”. CHẠY TRƯỚC thì cái gì cũng muốn mau muốn lẹ, chậm một chút là nổi khùng : Cần viết một lá thư, cây bút lại không có mực, nổi khùng! Ăn miếng cơm đang ngon bỗng cắn nhằm lưỡi đau điếng, nổi khùng! Không nói mà nó nói mình nói, nổi khùng! … Một lần nổi sân, nổi khùng như thế là một lần mình đang huân vào tạng thức một ít sân và khùng, để những thứ này trở thành bền chắc sâu dày hơn. Nó là cái NHÂN cho ra những cảnh giới xấu trong tương lai. Huân càng nhiều thì khi muốn bỏ lại càng cực.
Tu trong động, là phải TỈNH SÁNG vào những lúc như thế. Việc quan trọng đầu tiên là đừng bao giờ biện minh bao che cho những hành động ấy dù với bất cứ lý do gì. Nếu đã xác định con đường tu hành của mình là trở về ngộ nhập lại bản tâm thanh tịnh, thì niệm tốt hay xấu, niệm đó đúng hay sai … tất cả đều là vọng. Vọng thì phải buông đi hay không theo. Buông được hay chưa không quan trọng bằng BIẾT nó đang xảy ra và BIẾT RÕ mình đã buông được, mình chưa buông được. Chưa thì cố gắng tập từ từ một ngày một ít. Tập hoài thì chắc chắc sẽ được. Còn cứ bào chữa và biện minh rằng “Cần phải như thế, làm thế là đúng” thì càng ngày càng lún sâu. Lún sâu, bởi cứ một lần không dừng được là một lần huân thêm vào. Có những việc thấy thì bình thường tự nhiên, nhưng lại rất tai hại nếu mình không ý thức nó rõ ràng.
Khi công phu thuần thục, chỉ cần biết có niệm thì niệm tự mất. Hoặc niệm không mất nhưng nó không ảnh hưởng gì đến mình nên mình cũng chẳng quan tâm đến nó. Không quan tâm nhưng vẫn rõ ràng tường tận vì vọng là vọng, mình là mình. Cần phân biệt rõ trạng thái này với trạng thái bị vọng lôi mà mất cái biết. Nếu ngay khi biết mà thấy nãy giờ mình bị vọng dẫn, tức là mình chưa đạt được trạng thái “không cần quan tâm” trước. Chưa đạt được thì vẫn phải áp dụng “biết vọng liền buông” để cái biết được thuần thục. Cái biết được thuần thục hiện tiền rồi thì khi ấy vọng mới thực là vọng. Đã thực là vọng thì có gì để quan tâm?
Có lần, tôi tâm sự về sự khó khăn và mệt mỏi trong công phu của mình cho một Ni trẻ nghe. Cô cười “Chi mà cực! mặc kệ nó! Vọng mà, chỉ cần biết là đủ”. Nhưng kinh nghiệm bản thân tôi không cho phép tôi thực hành như vậy. Rõ ràng, biết mà không buông chưa đủ: toàn tâm là vọng. Dù có phải lôi tâm trở về hàng ngàn lần cũng không mệt bằng bị vọng lôi sệt như thế. Tôi không dám tu theo kiểu khoẻ khoắn của Ni và tôi đã không ân hận gì về việc chọn lựa sáng suốt này : Ni ấy sau đó không còn là thiền sinh nữa mà là một giáo sinh trường Phật học. Giờ thì trường Phật học ấy cũng không thể giữ chân Ni được. Ni có những khoảng trời rộng mở thoải mái hơn. Còn tôi, tương lai chưa biết sao, nhưng ít ra giờ này tôi vẫn còn ngồi đây, viết lên những dòng này cho những người bạn đồng môn, đồng duyên với mình.
Cho nên, BIẾT mà không theo thì quả tình chỉ cần BIẾT là đủ. Còn BIẾT mà vẫn ra thành hành động thì chưa gọi là BIẾT. Đó không phải là BIẾT VỌNG. Vì tuy nói BIẾT nhưng thực là KHÔNG BIẾT. Chẳng qua là mình đang bị vọng lừa đó thôi. Đây là cái phải cẩn thận khi ta công phu. Đừng chê chữ BUÔNG ấy như một số vị đã nói. Chê, bởi các vị biết một mà không biết hai. Các vị quên rằng, thực lý chi phối toàn bộ vạn pháp ở thế gian là Duyên Khởi. Duyên khởi là, vì duyên mới có pháp, không có duyên pháp cũng chẳng lập. BUÔNG hay KHÔNG THEO không phải tự dưng xuất hiện mà vì căn cơ của chúng sanh mà lập: Chúng ta hiện nay đang là người còn vướng rất nhiều thứ, đối duyên liền sanh tình, không duyên thì tự sanh sự … Nếu không dùng đến chữ BUÔNG ấy thì không cách gì chấm dứt được sự dính mắc và ngăn bớt dòng vọng tưởng. Vì vậy Hòa thượng dạy “Biết vọng buông đi!”. Việc này cũng như lớp học quá ồn, cần một tiếng hét của giáo viên để lớp học được yên lắng. Lớp học yên rồi thì không cần đến tiếng hét nữa. Cũng vậy, một khi tâm mình hết dính mắc thì không cần buông nữa. Cho nên, dù tiếng hét ấy là tiếng ồn thì trong cái duyên lớp học đang ồn náo, cái hét ấy vẫn là số một, vẫn tối cần thiết. Huống nữa, trong điều kiện đang ồn náo, tiếng hét ấy không phải là tiếng ồn. Nói nó ồn là khi lớp học đã yên mà tiếng hét vẫn còn. Nếu lớp học hết ồn, tiếng hét cũng không thì không thể gọi tiếng hét ấy là tiếng ồn. Trong tâm trạng coi ‘vọng tưởng là thật’ như mình hiện nay thì cái BUÔNG ấy là phương tiện không thể thiếu của mình. Được chỗ tận cùng rồi, tức tâm đã vô trụ thì BUÔNG gì nữa mà nói BUÔNG là trói buộc như một số vị đã lầm? Không nên lầm phương tiện với cứu cánh rồi nghi ngại với công phu của mình. Công phu đi, tâm khai mở từ từ, mình sẽ thấy rõ ràng đường mình đang đi: Đang bị dòng vọng tưởng quấy rầy, đang bị sự dính mắc với ngoại cảnh làm cho khổ sở mà buông được thì nhẹ nhàng giải thoát biết chừng nào, sao nói là trói buộc? Chẳng qua người ta không thực hành mà cứ luận suông trên ngôn từ nên mới ra cớ sự đó. Nghe người chê rồi mình cũng mất niềm tin không dám BUÔNG thì muôn đời chúng sanh vẫn hoàn chúng sanh. Có tu đâu mà làm thánh?
Cũng đừng có ý nghĩ tu mà tính đến chuyện khoẻ khoắn, không gò bó, không khó khăn. Đừng nghĩ rằng đến với thiền là đến với một pháp môn tự do, phóng khoáng, không trói buộc. Đúng là thiền rất tự do, phóng khoáng, không trói buộc. Bởi thiền khách là những vị đã tự tại ung dung không chấp trước vào bất cứ thứ gì. Ác không vướng mà thiện cũng không mang. Vì thoát hết những định kiến cố chấp ấy nên cái gì vì lợi ích cho chúng sanh thì các ngài làm, chẳng thấy đó là thiện hay ác. Nhưng mình thì đụng đâu cũng vướng. Vướng thì địa ngục và niết bàn không thể như nhau. Thành phải cố gắng tu tập, phải gò mình, phải chịu cực. Tiêu được thứ gì thì tự tại ung dung thứ ấy. Thứ gì chưa tiêu được thì phải biết mà tu tỉnh, đừng lầm với chính mình, đừng để vọng gạt mình.    
Khi công phu chưa đủ, lắm lúc biết là bậy đó mà vẫn không buông liền được. Trường hợp này, việc đầu tiên là phải cố dừng cho được dù bất cứ giá nào. Dừng rồi phải dùng đến quán. DỪNG là để chận đứng thói quen sanh khởi của mình. QUÁN là dùng trí tuệ để giải đi áp lực của cái dừng ấy. Bởi nếu dừng mà không quán là ta đang sử dụng chiêu bài ĐÈ NÉN. Đè hoài thì cũng nén được đó, nhưng một ngày đẹp trời nào đó nó sẽ vỡ tung thiêu rụi tất cả. Bởi ta là cư sĩ, không phải là các vị tu hoàn toàn trong tịnh.
QUÁN là cái rất cần thiết đối với cư sĩ mình. Quán cũng là một dạng suy nghĩ, vọng tưởng nhưng là thứ vọng tưởng khả dĩ chấp nhận được khi mình còn đang bịnh. Như người ta nói oan cho mình. Việc đó làm mình bực bội khó chịu không yên. Cái bực bội ấy là vọng tưởng. Người có công phu thuần thục, chỉ cần thấy được niệm bực ấy khi nó khởi lên trong lòng, niệm bực ấy tự mất, tâm trở lại bình thản nhẹ nhàng ngay. Nhưng nếu công phu chưa thuần thục thì hoặc là mình khuyếch trương cho niệm bực ấy mạnh ra, hoặc là thấy rồi nhưng không thể dừng nó được. Lúc này cần phải sử dụng đến pháp quán để làm tan loãng cái bực ấy. Khi mình khởi lên ý tưởng “Chẳng qua kiếp trước mình đã gây ra cho người ta cái gì đó, thành kiếp này người ta mới làm vậy với mình” hoặc khởi lên ý tưởng “Ôi! Thế gian này sống chết chưa biết chừng, để ý làm gì những việc ấy” … thì những khởi nghĩ như vậy gọi là QUÁN.
Phật dạy rất nhiều về những pháp quán : Thấy thân vô thường, quán pháp như huyễn để không đắm trước các pháp. Quán từ bi để hạ cơn sân v.v… Loại quán mình vừa mới ví dụ trên gọi là quán nhân quả và quán vô thường. Tùy trường hợp, tùy hoàn cảnh mà ta áp dụng phép quán, miễn là đánh tan được những dồn nén áp lực mà mình đang mắc phải. Tan được là ta uống đúng thuốc. Quán chỉ là một phương thuốc để trị bịnh, nên hết bịnh thì bỏ thuốc.
Chị bạn tôi, tuy đang là người còn bận rộn với công việc ngoài xã hội và gia đình, nhưng thời gian còn lại đều dành hết cho kinh sách của Hòa thượng và tọa thiền mỗi tối. Dù chồng và con không can dự vào việc kinh kệ tọa thiền của chị, nhưng họ lại là những người không biết gì về đạo. Nhà lại nhỏ, vì thế mỗi khi chị tọa thiền thì tivi, nhạc … tất cả chị phải lãnh tất. Chị cố dằn, một ngày, hai ngày ... mỗi lần cơn bực bội trào lên, chị áp dụng biết nó là vọng buông đi. Cứ trồi lên chị lại buông đi. Kết quả, giờ tọa thiền mỗi tối của chị không phải là để yên tịnh mà là để đấu tranh với cơn uất giận ngày càng mạnh của mình. Chị đem điều ấy nói với tôi.
Tôi cố giúp chị trong phạm vi những gì mình biết “Chị không buông được vì công phu của mình chưa thuần thục đến độ chỉ cần biết được nó là nó tan. Giác mà vọng tan là vì cái vọng ấy không còn là tập khí nữa. Giác mà còn hoài là vì đối với mình nó chưa phải là vọng, nó còn cái gốc tập khí bên trong. Buông như vậy tuy là áp dụng rất đúng pháp Hòa thượng dạy, nhưng chỉ mới một phần, mình còn thiếu cái QUÁN. Hòa thượng và Thầy nhắc nhở đến vấn đề QUÁN này rất nhiều khi cái BIẾT của mình chưa đủ lực, khi tập khí mình còn nặng. Mình không phải là người tu hoàn toàn trong tịnh mà lại tiếp duyên liên tục. Dừng ngang không QUÁN như thế chỉ có thể áp dụng và có kết quả đối với người có hoàn cảnh tịnh mà thôi. Nếu mình tu theo kiểu ấy, khác gì thấy nước chảy thì vội bít. Bít mà không tìm cách tháo bớt đi lượng nước bị bít đó, thành áp lực nước ngày càng tăng. Tăng quá thì nổ”.
Chị gật đầu đồng ý “Đôi lần chị có quán từ bi nhưng không ăn thua gì hết. Đã bực, còn thêm một mớ vọng, thành thôi không quán nữa”.
Tôi kê đơn hy vọng trúng bịnh “Ngoài đời, bận bịu công việc xã hội rồi gia đình con cái mà mình vẫn chịu khó học, chịu khó hành là điều không mấy ai làm được, chị công nhận không?”. Chị cười, chị luôn có nụ cười dễ thương như thế. Đến lượt tôi cười “Nhưng chị có thấy là so với thế gian việc làm ấy là cái ngược đời không? Buổi tối là lúc người ta nghỉ ngơi, quây quần, giải trí... mình lại đi tọa thiền. Đi ngược lại với sinh hoạt của người ta nhưng lại bắt người ta tuân thủ theo mình, chị thấy mình lỗi hay người ta lỗi”.
Có cái gì đó hơi chưng hửng trên khuôn mặt trăng rằm của chị, rồi nhẹ nhàng thoát ra, tan loãng vào nụ cười. Khi đã công nhận mình quấy thì không ai có gan để bực mình hay đòi hỏi gì ở người khác nữa. Từ đó ti vi, âm nhạc gì cũng chẳng ảnh hưởng đến chị, không phải là chị hòa mình trở lại với những thứ “không ngược đời” đó, mà vì ngã tướng đối với những thứ đó không còn, nên cái lùng bùng bên trong cũng chẳng có để phải “biết mà buông” nữa. Tùy duyên mà bất biến như thế thì đời cư sĩ của mình mới có giá trị và thú vị. Khó khăn bao nhiêu rồi cũng hứng chí đi tiếp, lo gì mà không đến bờ kia.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.3/6/2018.

No comments:

Post a Comment