ĐỊNH NGHĨA VỀ GIỚI LUẬT.
I/ ĐỊNH NGHĨA GIỚI LUẬT
Giới Luật là hệ thống các điều khoản đạo đức do Đức Phật chế định cho hàng đệ tử xuất gia và tại gia thọ trì , nhằm đem đến sự an lạc cho bản thân, cho tăng đoàn và xã hội.
Tất cả chúng sanh khi mới bắt đầu quy ngưỡng 3 ngôi Tam Bảo thì phải dùng lòng tin sâu dày làm gốc, khi đã an trú trong nhà Phật thì dùng Giới Luật làm cội gốc. Lãnh thọ Giới là khởi điểm để hàng Tỳ Kheo bắt đầu hướng đến quả vị giải thoát. Nghĩa là khi mới bước vào trong Phật môn thì cần phải lấy Giới pháp làm thầy. “ Nhân Giới sanh Định, nhân Định phát Huệ ” Nhờ sức trì giới mà từ đó phát khởi định tâm, do định tâm mà trí tuệ được khai mở. Phật dạy:“ Trì giới mới có thể thành đạo nghiệp” là vậy.
Kinh Đại Niết Bàn: “ Giới là nền tảng của tất cả pháp lành, là cội gốc của tất cả thiện pháp. Giới là đấng Đạo sư của các thiện căn. Giới có công năng đoạn trừ tất cả ác nghiệp như dược thảo có công năng trị liệu các thứ ác bệnh. Giới là từ lương trên đường hiểm sanh tử.”
Giới luật là tên gọi chung . Có 4 danh tự là :
- Tỳ-nại-da ( Tỳ ni / Vinaya)
- Ba La Đề Mộc Xoa ( Pratimokkha )
- Thi La (Sīla )
- Ưu Bà La Xoa (Upalaksa)
THÍCH NGHĨA:
1: Tỳ-nại-da(Tỳ ni) tiếng Phạn gọi là Vināya, còn dịch là Luật, Điều phục, Diệt hay Thiện trị.
- Luật: là những quy luật do đức Phật chế định có liên quan đến đời sống mà các Tỳ Kheo phải tuân thủ.
- Diệt: vì có khả năng trừ diệt các phiền não, trừ diệt tội ác để đưa tới Thánh quả.
- Điều phục: là điều chỉnh 3 nghiệp, khiến cho thân, khẩu, ý được thuần thục.
- Thiện trị: là khéo trị các phiền não tham, sân, si.
2:Ba-la-đề-mộc-xoa(Prãtimokkha).
Pãti nghĩa là hướng về .“ Mokkha” nghĩa là giải thoát.
Do vậy , Prãtimokkha có nghĩa là hướng đến hay đưa đến sự giải thoát .
Ngoài ra còn có nghĩa:
- Tùy thuận giải thoát: Nghĩa là sự giải thoát tùy thuận vào tâm của hành giả hướng tới quả vị hữu vi hay vô vi.
Kinh Xá Lợi Phất vấn ghi : “Ba-la-đề-mộc-xoa nghĩa là tối thắng. Gốc của các điều lành lấy Giới làm căn bản do đó nhiều công đức thiện pháp được sinh”
– Biệt giải thoát hay biệt biệt giải thoát:
+ Vì có khả năng phòng ngừa, đình chỉ từng điều sai nên gọi là Biệt.
+ Vì giữ giới nên tránh được các nghiệp ác, tội lỗi nên gọi là Giải thoát.
Do đó, Biệt giải thoát là sự giải thoát tùy theo số điều giới mà mình giữ được.
3:Thi La là phiên âm của từ Sīla.
Dịch là Giới tức là phương pháp cấm chế.
Trong Luận Đại Tì Bà Sa , quyển 14 có nêu ra các nghĩa như:
- Thanh Lương (mát mẻ): Tội do 3 nghiệp thân, khẩu, ý mà gây ra sự thiêu đốt nóng bức người tu hành. Giới có công năng dập tắt ngọn lửa khiến được an vui thoải mái cho nên gọi là Thanh lương.
- An miên (ngủ yên giấc): Do nghiêm trì giới luật nên luôn cảm được an lạc, thanh tịnh trong khi ngủ.
- Đắc Định: Do giữ giới miên mật nên tâm luôn được định.
- Minh Kính (Gương sáng): Người giữ giới như tâm gương sáng, an trụ trong tịnh giới nên cấu uế, vô ngã đều hiển hiện để diệt trừ.
- Nghiêm Cụ (Đồ trang nghiêm): Giới được thể hiện qua oai nghi – Oai đáng kính, nghiêm đáng sợ. Cũng vậy, người giữ giới là bậc phạm hạnh.
- Sát Tập: Vì luôn luôn tu tập các thiện pháp lành.
Luận Đại Trí Độ, quyển 13 giải thích: “Tu tập các thiện đạo , không tự buông thả gọi là Thi La. Hoặc thọ giới làm thiện, không thọ giới mà làm thiện đều gọi là Thi La.”
- Tăng Thượng (Tăng thêm): Chư Phật có oai lực trong tam thiên thế giới đều nhờ sức của Giới.
Luận A Tì Đạt Ma Câu xá quyển 14: “Có năng lực diệt trừ các nghiệp ác nên gọi là Thi La.”
- Ưu-bà-la-xoa(Upalaksa),dịch là Luật. Là những giới luật đức Phật chế ra để ngừa các lỗi lầm sai quấy.
II/ CHỈ TRÌ VÀ TÁC TRÌ
Người học Phật lấy giới luật làm nền tảng căn bản, là thềm thang đầu tiên để hướng chí đến quả vị giải thoát. Nếu không nghiêm trì Tịnh giới cho chuyên cẩn, thì cũng giống như đứng ở ngoài cửa mà chưa bước vào trong nhà Phật pháp. Giới luật không chỉ ngăn ngừa các điều ác chưa phát sanh, mà còn làm tăng trưởng thiện căn nơi hành giả. Do đó, trong Giới luật phân chia ra thành 2 môn là Chỉ trì và Tác Trì.
Chỉ trì: là sự đình chỉ và giữ gìn không làm những việc ác.
CHỈ – Ngăn ngừa các 3 nghiệp ác nơi thân ,giữ chánh niệm 3 nghiệp nơi ý , hộ trì giới thể đã thọ.
TRÌ – Chỉ mà không phạm ,nghiệp ác bị ngăn ngừa, gìn giữ tịnh giới đã thọ, làm cho giới thể được viên mãn nên gọi là Trì .
Tác trì: là làm các thiện pháp, giám sát và hộ trì cho tịnh Giới.
TÁC – Đối với ba nghiệp nơi thân miệng ý luôn chuyên tâm giữ gìn không phạm, tu tập giới hạnh.
TRÌ – Tác đúng như pháp, nghiêm trì đúng như giới pháp đã thọ, đối với những viêc thiện,đúng với tinh thần giới luật , làm phát sanh thiện phát thì cần phải nên làm.
GIỚI: Có chỉ trì không có tác trì.
LUẬT: Gồm chỉ trì và tác trì .
Các pháp Yết-ma là Tác trì thuộc về luật.Ví dụ: Giới là một nhóm thuốc trong một thang thuốc, còn Luật là một thang thuốc gồm nhiều món. Phật chế thang thuốc của người tại gia có 5 vị, mới xuất gia thì có 10 vị, tỳ kheo 250 vị, tỳ kheo ni 348 vị .Nên khi phạm thì sẽ đưa ra phương phương pháp điều trị đó các pháp yết ma . Giữ gìn giới bổn là Chỉ trì , thực hành các phép Yết ma là tác trì.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/6/2018.
No comments:
Post a Comment