Tuesday, February 27, 2018

 Sanh Tử.

Mục đích tối hậu của Phật Pháp là giúp chúng ta chấm dứt sanh tử. Có nhiều cách để làm việc này, nhưng có những điều chúng ta cần phải biết.
Người xưa nói:
"Nếu không trừ bỏ ái dục, thì không thể sanh về Cực Lạc được.
Nếu nghiệp không nặng, thì không phải sanh ra ở cõi Ta Bà."
Nếu ái dục không chặt đứt, thì không thể nào chấm dứt sanh tử. Kinh Lăng Nghiêm nói:
"Nếu dâm tâm không trừ, không thể ra khỏi trần lao."
Ngoài ra Kinh này còn nói:
"Nếu chúng sanh trong sáu nẻo không có dục niệm trong tâm, họ sẽ không còn tiếp tục sanh tử."
Kinh Viên Giác nói:
"Người ta cần biết rằng luân hồi là do ái dục. Do đủ loại dục, sanh ra ái, cứ sanh tử mãi."
Kinh Vô Lượng Thọ (phẩm bốn mươi mốt, "Hoặc Tận Kiến Phật") có nói:
"Nếu có những chúng sanh trồng thiện căn, tạo phước đức lớn, nhưng còn chấp tướng, còn phân biệt, và còn chấp trước tình cảm sâu đậm, họ cuối cùng vẫn thất bại trong việc tìm cách thoát khỏi luân hồi."
Trong Vô Lượng Thọ Kinh Sao có nói:
"Dục là nguồn gốc của dòng sanh tử và là nhân làm xa rời giải thoát."

Tất cả các kinh điển và sách chú giải dường như đều chỉ rõ ràng rằng dục là gốc rễ của sanh tử. Suốt đời Hòa Thượng luôn xiển dương giáo dục, vì Ngài tin rằng con người đạo đức được sinh ra từ những hôn nhân tốt đẹp, và hôn nhân tốt đẹp thì do sự hỗ tương trung thành và tránh ngoại tình. Những giá trị này cần phải được củng cố ở trẻ em từ lúc nhỏ. Chúng ta phải giáo dục các em quan hệ chánh đáng và không quan hệ bừa bãi.
Đây là một vấn đề vô cùng quan trọng. Các loại bệnh kỳ lạ và thảm họa trên thế giới đều gây ra bởi giết hại và dâm dục. Mặc dầu có lẽ nhiều người không thích nghe hay không thích thảo luận về đề tài này, Hòa Thượng nói:

"Những gì quý vị phản đối nhiều nhất, thì đó là điều tôi muốn nói nhiều nhất. Như thế cả hai chúng ta sẽ có công việc để làm."
Suốt đời Hòa Thượng luôn sách tấn mọi người tránh xa tà dâm và ái dục. Ngay cả vào năm Ngài viên tịch, Ngài vẫn còn nhắc nhở:

"Dục là điều xấu ác nhất trong các điều ác; đừng đi trên con đường tử lộ đó.”
“Người ta sanh ra từ ái dục và chết vì ái dục.”
“Con trai không nên tìm kiếm bạn gái trước khi được hai mươi lăm tuổi. Con gái không nên tìm kiếm bạn trai cho đến khi ít nhất hai mươi tuổi." 
Hòa Thượng nói về những phương pháp giáo dục cổ điển tại Vạn Phật Thánh Thành, có trường riêng biệt cho nam sinh và nữ sinh. Điều này khuyến khích con người tự kềm chế và tránh quan hệ bừa bãi, tránh phá thai và ngừa thai. Ái dục là nguyên nhân chính của sự suy đồi trên thế giới. Hòa Thượng nói:

“Con người có chết vì tiền không? Không! Sự ham muốn giàu có thật sự là do ái dục điều khiển. Con người chết vì ái dục. Câu ngạn ngữ ‘Người ta chết vì tiền’ là sự nói lệch đi, bởi những người Trung Hoa không muốn phơi bày điều đó ra. Họ biết đó là sai, nhưng lại không nói ra. Họ chỉ muốn tự lừa dối chính họ. Như có câu nói: ‘Thuốc hay thì đắng, nhưng chữa được bệnh. Lời thật tuy khó nghe, nhưng có thể giúp người sửa đổi hành vi.’ Tôi không đành nhìn người ta bị bệnh AIDS (SIDA), do đó tôi phải nói lên điều này."
Ngài còn nói:

"Nếu quý vị không buông xả được ái dục, thì dầu cho quý vị xuất gia tám vạn bốn ngàn đại kiếp, quý vị cũng chỉ phí thời gian trong Đạo Phật và tạo nghiệp chướng với mỗi bữa ăn mình thọ dụng." 
Mỗi ngày trên báo chí đăng đầy dẫy những bài tường thuật về các vụ giết người, trộm cắp, tà dâm, gian dối. Giết người và tà dâm đặc biệt rất phổ biến. Hòa Thượng nói:
"Về luật nhân quả, tà dâm là tội nặng nề nhất và bị trừng phạt nặng nhất. Theo luật nhân quả, khi người ta làm hạnh tà dâm bao nhiêu lần trong đời, thì bấy nhiều lần bị cái cưa khổng lồ cưa xẻ từ đầu đến chân. Nếu một người kết hôn một trăm lần, người đó sẽ bị phân chia một trăm lần lúc chết."
Trong Ấn Quang Đại Sư Văn Sao, Đại Sư đã có những lời nghiêm khắc :

"Những người làm hạnh tà dâm là dùng thân người làm hành vi thú vật. Khi sanh mang họ chấm dứt, họ sẽ bị đọa vào các địa ngục và sau đó tái sanh vào loài thú vật, và qua hàng ngàn tỉ kiếp vẫn không thể thoát ra được. Bởi vì tất cả chúng sanh sanh ra từ ái dục, giới này khó giữ nhưng dễ phạm."

"Những người làm hạnh tà dâm không biết tự trọng hay xấu hổ. Họ thật dơ bẩn xấu xa đến cực điểm. Với thân người, họ hành xử như thú vật. Họ đã trở thành thú vật trong khi còn sống, và trong kiếp kế tiếp họ sẽ bị sanh làm thú vật... Những người làm hạnh tà dâm chắc chắn sẽ sinh những đứa con không biết giữ hạnh tiết dục... Những người hủy hoại thân thể bằng thủ dâm - dầu không làm hạnh tà dâm với kẻ khác - họ vẫn phải đọa đại địa ngục. Sau khi ra khỏi địa ngục, họ có thể đầu thai thành chim én hay quạ. Nếu sanh làm người, họ trở thành đĩ điếm..."

Có người có thể nghĩ rằng lời của chư Tổ là nói quá đáng hoặc sửa quá đáng lỗi lầm, nhưng ở đây không phải như vậy. Chúng sanh trong thời Mạt Pháp đã làm quá nhiều điều ác mà nếu sự sửa đổi không quá đáng, thì sẽ không hữu hiệu. Quý vị chưa từng đọc thiên "Đằng Văn Công” phần II trong Mạnh Tử hay sao? Trong đó nói rằng: "Thời đại thì xấu xa, và Đạo thì yếu kém; lời dạy tà vạy và hành vi bạo loạn khắp nơi. Quan tướng thì giết chủ, con giết cha. Khổng Tử đã lo sợ và viết sách Xuân Thu". Có thể thấy rằng lòng người đã quá suy đồi trong thời Xuân Thu Chiến Quốc, thời Mạt Pháp thì còn suy đồi hơn biết bao nhiêu ? Chư Tổ nói lên những lời đó là có lý do; chúng ta không nên nghi ngờ và bàn luận về những lời đó. Như Lão Tử nói: "Lời thật thì có vẻ nghịch lý" (chánh ngôn nhược phản).

Có thể có kẻ nói rằng: "Con người là một sinh vật tình cảm. [Sự ham muốn] thức ăn và tình dục là một phần của bản tánh." Đó cũng chính là lý do chúng ta phải tu hành!
Kinh Phật Nói Bốn Mươi Hai Chương nói rằng:
"Hãy xem những người phụ nữ cao niên như mẹ của mình, xem những người lớn tuổi hơn mình như chị của mình, xem những người trẻ tuổi như em gái của mình, và xem người nhỏ tuổi như con gái của mình. Hãy phát tâm cứu họ, và diệt những tà niệm đi."
Đoạn này không bảo quý vị hãy ghét người khác, nhưng để nhận ra Trung Đạo là không yêu, không ghét; thực hành Trung Đạo tức là xem bạn và thù đều như nhau và xem nam nữ đồng nhau.
 

Chương Sáu: Bát Nhã

Phần lớn những đáp án của Hòa Thượng cho các câu hỏi của người khác đã được ghi chép lại. Mỗi khi Hòa Thượng trả lời câu hỏi của người khác, câu trả lời của Ngài luôn luôn là những sự "bất ngờ" thú vị, khiến mọi người đều kinh ngạc, tràn đầy niềm pháp hỷ, và không ngớt vỗ tay tán thưởng. Những câu trả lời hài hước của Hòa Thượng luôn luôn ẩn chứa thiền vị làm người hỏi như bị một cú đấm đích đáng vào đầu và chỉ thẳng vào tâm.
Một đoạn trong Kinh Lục Tổ (Pháp Bảo Đàn), phẩm thứ 8, Đốn Tiệm, có thể soi sáng những khôi hài Bát Nhã của Hòa Thượng:
"Người thấy tánh lập ra (muôn pháp) cũng đặng, chẳng lập ra cũng đặng. Ði lại tự do, không ngừng không ngại, phải chỗ dùng thì tùy cơ mà làm, phải chỗ nói thì tùy cơ mà đáp, hiện khắp hóa thân mà chẳng lìa tánh mình, tức là đặng Tự tại thần thông, Du hý Tam muội. Đó gọi là thấy tánh."
Ý nghĩa của đoạn này là người chân chánh giác ngộ, kẻ thực sự minh tâm kiến tánh, có thể lập ra phương pháp hoặc không lập ra, tuỳ ý họ muốn. Họ có thể đến và đi tùy ý, không bị chướng ngại. Điều này cho thấy sự tự tại về sanh tử. Nếu người nào nêu ra một câu hỏi, họ có thể trả lời mà không cần suy nghĩ, và những câu trả lời đều có đạo lý chứ không vô lý. Lúc đó, hóa thân của họ ở khắp nơi, và hóa thân không rời tự tánh; thế nên, ở mọi nơi và mọi lúc, họ đều được quán tự tại và có đủ Ngũ nhãn Lục thông. Những người thấy tánh có thể trả lời các câu hỏi ngay lập tức, và không bao giờ trả lời sai hoặc gây ngộ nhận, dẫn người ta đi lạc. Dưới đây là một số đáp án của Hòa Thượng đối với những câu hỏi của những người có tín tâm.

H. Làm thế nào để chấm dứt sanh tử ?
Đ. Ăn cơm, mặc áo quần, ngủ nghỉ.

Hòa Thượng không nói đùa. Thật ra, "trong mọi cử chỉ, tự xem xét mình. Dù động hay tịnh, ngủ hay thức, đừng rời khỏi nhà." Tâm bình thường là Đạo!

H. Chúng ta có thể lạy tượng Phật chưa được "khai quang" không ?
Đ. Nếu trong tâm quý vị không có chấp trước, thì tượng Phật luôn luôn đã được khai quang. Nếu quý vị còn chấp trước, thì dù tượng Phật đã được khai quang cũng vẫn giống như chưa khai quang.

H. Nếu chúng ta đáng lẽ tụng 108 biến Chú Đại Bi mỗi ngày, thì nên tụng Chú Lăng Nghiêm bao nhiêu biến ?
Đ. 1.800 biến!

H. Làm sao để ngăn ngừa động đất ?
Đ. Nếu con người không nổi nóng, thì sẽ không có động đất.

H. Chúng ta nên tụng kinh hoặc chú gì để dễ dàng thành Phật ?
Đ. Tụng kinh “Không Nổi Nóng”, kinh “Không La Mắng Người Khác”, và kinh “Không Nóng Giận”. Với ba bộ kinh này, quý vị sẽ được thành Phật rất nhanh!

H. Làm thế nào để 
dứt bỏ tâm dâm dục ?
Đ. Nếu đừng nghĩ tới, thì sẽ dứt bỏ được. Nếu cứ liên tục nghĩ đến, thì làm sao dứt bỏ được ? Ngay khi những niệm này vừa khởi lên, phải biết rõ nó. Một khi biết rõ, thì nó biến mất.

H. Bạch Hòa Thượng, sau khi viên tịch, Ngài sẽ đi về đâu ?
Đ. Không nơi nào cả!
Thật ra, Hòa Thượng đã đạt được cảnh giới “sanh tử tự do”, do đó Ngài "không đến cũng không đi". Ngài không đi đâu cả. Hòa Thượng đã nhiều lần nói rằng:
"Đối với tôi sanh và tử không có gì khác nhau cả."
"Tôi có thể sống nếu tôi muốn sống, và chết nếu tôi muốn chết. Tôi tự do chọn lựa sống chết."
"Tôi xem chết và sống giống nhau, không có gì khác biệt. Tôi có thể quên mình vì Phật Pháp. Đây là bốn phận căn bản của người Phật tử."

H. Làm 
thế nào để phá thủng chấp trước và vọng tưởng ?
Đ. Ai cho quý vị sự chấp trước ? Ai cho quý vị những vọng tưởng ?

H. Câu "nên sanh tâm không trụ vào đâu cả” (ưng vô sở trụ 
nhi sanh kỳ tâm) có nghĩa là gì ?
Đ. Tâm của quý vị nằm ở đâu ? Trước hết, hãy cho tôi biết điều đó.

H. Làm sao có thể 
ra khỏi Tam Giới và vào cửa giải thoát ?
Đ. Một khi quý vị không còn ở trong Tam Giới, tức là quý vị đã ra khỏi Tam Giới rồi vậy!

H. Bồ Tát Quán Thế Âm vốn từ đâu đến ?
D. Tại sao quý vị không tự hỏi quý vị từ đâu đến ?

H. 
Rốt cuộc thì người sợ ma hay ma sợ người ?
Đ. Nếu trong tâm quý vị có ma, thì người sợ ma. Nếu trong tâm không có ma, thì ma sợ người.

H. Làm sao để người tại gia có thể 
học hạnh "ngủ không nằm" ?
Đ. Người tại gia trước hết nên học hạnh "không khởi tà vạy" !

H. Làm thế nào để có thể 
dung nhập Phật Pháp vào cuộc sống hàng ngày ?
Đ. Bằng cách không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, và không nói dối.

H. Làm thế nào để đối phó với vấn đề 
vãng sanh ?
Đ. Quý vị muốn vãng sanh để làm gì? Quý vị đem theo quá nhiều rác rưởi như thế, thì làm sao có thể đi đặng ?

H. Việc Phật tử 
hiến tặng bộ phận cơ thể sau khi chết có phải là ý kiến hay không?
Đ. Cho cơ phận sau khi chết thì không tốt bằng cho cơ phận lúc đang còn sống. Như vậy mới chân thật! Nếu chỉ cho khi quý vị đã chết và không còn dùng đến nữa, thì ích lợi gì ? Có câu: "Đừng đem cho người khác cái gì mà mình không muốn."

Hiến tặng bộ phận cơ thể là đề tài được thảo luận sôi nổi trong những năm gần đây, và người ta không đồng ý với nhau. 
Quan điểm của Hòa Thượng đối với vấn đề này rất đặc biệt, Ngài cho rằng nếu lúc còn sống, người ta có thể hiến tặng cơ phận của mình (có thể chịu đựợc sự đau đớn), thì sẽ không có vấn đề gì trong việc hiến tặng cơ phận lúc lâm chung. Do đó, Ngài vẫn giữ ý kiến rằng không nhất thiết là phải đợi tới lúc lâm chung mới hiến tặng cơ phận (không ai có thể đoan chắc là họ sẽ không khởi tâm hối hận về quyết định của họ bởi vì lúc đó quá đau đớn). Hơn nữa, Hòa Thượng cũng cho rằng người thật sự thực hành Bồ Tát Đạo thì nên "cho kẻ khác những gì mình ưa thích".
 

Có lần có người thưa với Hòa Thượng :
"Khi con thấy Hòa Thượng phải chống gậy để đi lại bởi vì Ngài đã gánh chịu quá nhiều nghiệp chướng của chúng sanh, con cảm thấy rất đau lòng. Con cúi xin Hòa Thượng từ bi trụ thế lâu hơn !"
Hòa Thượng lập tức ném cây gậy đi, mọi người liền vỗ tay ; và Ngài nói:
"Con còn cảm thấy đau lòng nữa không ?"
Đây là một ví dụ về pháp Bát Nhã vi diệu của Hòa Thượng là "Giữa tướng quét sạch các tướng." Như vậy không thú vị hay sao ?
Trong suốt cuộc đời, Hòa Thượng luôn nhấn mạnh "đừng nổi nóng" và "tu nhẫn nhục", bởi vì "Phật Pháp không lìa thế gian pháp. Lià thế gian mà tìm Bồ Đề thì cũng giống như đi tìm sừng thỏ." Hòa Thượng nói:
“Quý vị chỉ có thể tiêu trừ hoạn nạn khi nào không còn phiền não. Quý vị chỉ có thể sống lâu hơn nếu không nổi nóng. Nếu một người không nổi nóng, tất cả nghiệp chướng sẽ được tiêu trừ.”
Hòa Thượng cũng đã "phát minh" hai bài chú rất thú vị:
"Nhẫn nại! Nhẫn nại! Cần phải nhẫn nại! Chớ nên nóng giận ! Ta bà ha. "
"Trong lòng không nóng giận,
Bệnh gì cũng tránh được!
Đây phương thuốc nhiệm mầu,
Để quên trên gác cao.
Ta bà ha."
Khi Hòa Thượng trở về Vạn Phật Thánh Thành với tấm khăn che mặt (xem chi tiết trong nguyệt san Vajra Bodhi Sea số 275), một trong các đệ tử của Ngài không đành lòng thấy như vậy nên đến giật lấy tấm khăn che mặt của Ngài. Hòa Thượng nói khôi hài:
"Nếu ông lấy mất tấm khăn che mặt này của tôi, tôi có thể dùng tấm khăn khác. Tôi đã chuẩn bị năm cái -- cái màu xanh, cái màu vàng, cái màu đỏ, cái màu trắng, và cái màu đen. Đến năm cái khăn lận!"
Bề mặt thì dường như không có gì, nhưng thực chất thì "công án" này không đơn thuần như thế. Tôi tin rằng đây là phương pháp "thân giáo" Bát Nhã của Hòa Thượng. Hành động giật khăn che mặt tượng trưng việc "đập nát các tướng" và tìm lại "bổn lai diện mục”. Năm màu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen tượng trưng năm uẩn -- Ngài thử nghiệm đệ tử để xem họ có thể phá năm uẩn, và sanh tâm không trụ vào sắc tướng (tương tự việc phá ba "cửa ải" trong Thiền tông) hay không.
Có câu:
"Thấy sự hiểu sự, vượt thế gian,
Thấy sự mê sự, đọa trầm luân."
Chẳng hay có ai trong chúng ta đã "hiểu sự" chưa ? Nếu quý vị đọc những câu trả lời và khai thị của Hòa Thượng với sự chú tâm cẩn thận, thì trí tuệ của tự tánh của quý vị sẽ phát khởi dễ dàng hơn, bởi vì "Lời rộng và giải thích chi tiết tất cả đều diễn bày sự thật tột cùng". Hòa Thượng thường nói:
“Đừng tin ở tôi, và cũng đừng tin ở Phật. Hãy tin vào trí tuệ bản hữu của chính quý vị. Hãy khám phá Bát Nhã ngay trong tự tánh, và như thế quý vị sẽ đạt được Trạch Pháp Nhãn. Nếu đó là Đạo, hãy tiến tới. Nếu không phải là Đạo, hãy thối lui. Đừng mang nón mà nghĩ đó là giày !”

Chương Bảy: Thần Dị

Thần thông là gì ? "Biến hóa khôn lường là ‘thần’; không câu thúc, chướng ngại là ‘thông’." Đó là khả năng làm cho người khác không tài nào hiểu được, đồng thời có thể làm bất cứ điều gì mình muốn mà không gặp trở ngại. Hòa Thượng còn nói:
"Diệu dụng khó lường là ‘thần’ ; tự tại, không ngăn ngại là ‘thông’".
Những người chân thật chứng đắc thần thông thì có được Ngũ Nhãn và Lục Thông. Trong Phật Giáo, Ngũ Nhãn và Lục Thông là cảnh giới Bát Nhã tuần tự hiển hiện trong quá trình tu hành vô lậu, khai ngộ và chứng quả của hành giả; điều này không được xem là phi thường. Sự khác biệt là cái nhìn của hành giả có chân chánh hay không. Hành giả phải trì giới thanh tịnh và ngăn ngừa tham dục, để không đi sai đường, lạc vào tà đạo.
Thật ra, thần thông chỉ đơn giản là sự thông suốt của tự tánh (tự tánh thông). Mọi người bên trong đều đã có sẵn đầy đủ Phật tánh cùng Ngũ Nhãn Lục Thông, nhưng đã bị ngăn che bởi vô minh và phiền não. Dĩ nhiên khi Phật còn tại thế, Ngài đã cấm đoán mọi người là không được biểu diễn thần thông của mình, nhưng Ngài cũng không cấm đoán con người không nên hiển lộ thần thông. Nếu Bồ tát có thần thông mà không hiển lộ để phương tiện giáo hóa chúng sanh, thì thần thông để làm gì ? Đức Phật chỉ sợ rằng người ta "tùy tiện" biểu diễn thần thông, hoặc dùng thần thông để lừa dối kẻ khác và đưa họ vào cảnh giới tà ma (đã được mô tả rõ ràng trong Chương "Năm Mươi Ấm Ma" của Kinh Lăng Nghiêm). Phần kinh này có nói:
"Nếu hành giả không nghĩ mình là chứng Thánh, thì đó là cảnh giới tốt. Nếu cho rằng đó là chứng Thánh, thì sẽ bị lạc vào đường tà".
Câu này rất quan trọng!
Nhiều người ngộ nhận cho rằng Hòa Thượng là người phô trương thần thông. Những câu chuyện linh ứng kỳ diệu trong suốt cuộc đời của Hòa Thượng thật quá nhiều để có thể tính đếm được. Tôi sẽ đề cập ba trường hợp để mọi người cùng tham khảo. Quý vị có tin hay không là tùy quý vị. Mọi người có lẽ đã từng nghe ba câu nói nổi tiếng dưới đây của Hòa Thượng:
Ngày nào tôi còn ở Hương Cảng,
thì tôi không cho phép bão lớn kéo tới Hương Cảng.
Ngày nào tôi còn ở San Francisco,
thì tôi không cho phép San Francisco có động đất.
Ngày nào tôi còn ở đây,
thì tôi không cho phép thời kỳ Mạt Pháp xảy đến.
Nếu chúng ta nghiên cứu những câu này kỹ càng, chúng ta sẽ thấy rằng những chữ "tôi không cho phép" không phải là ám chỉ "thần thông", mà chính là những hạnh nguyện từ bi của một vị Bồ Tát Đại Thừa. Bồ Tát Địa Tạng không từng nói: "Địa ngục chưa trống không, tôi nguyện chưa thành Phật" hay sao ? Ai có thể biết được biết bao nhiêu máu, mồ hôi, và nước mắt đã đổ ra để hoàn thành lời nguyện này ? Hơn nữa, vì Hòa Thượng nghiêm ngặt giữ giới không nói dối suốt cả đời, do đó lời nói của Ngài tự nhiên có những ảnh hưởng phi thường. Hòa Thượng có lần nói: "Không nói dối là bài chú hữu hiệu nhất". Đúng như vậy, đó là pháp môn vi diệu nhất!
Về việc động đất tại San Francisco, ngoại trừ trận động đất lớn xảy ra vào ngày 17 tháng 10 năm 1989 (lúc đó Hòa Thượng đang ở Đài Loan), từ năm 1968 cho đến nay, San Francisco không có trận động đất nào lớn cả. Hòa Thượng khiêm tốn nói rằng:
"Những chuyện lớn thì tôi không làm gì được nhiều, nhưng những chuyện nhỏ như động đất thì tôi có thể đối phó được.
Dĩ nhiên là đã có những trận động đất nhỏ, nhưng những trận động đất không gây thiệt hại thì không tính đến. Nếu tôi không có gì để nương tựa vào, nếu không nhờ chư Phật và chư Bồ Tát mười phương cũng như trời rồng và tám bộ chúng hộ trì Pháp của tôi, làm sao tôi dám có lời dự ngôn như vậy ?"
Có một trường hợp khác liên quan đến bài viết trong tạp chí Bồ Đề Thọ số 437, tựa đề "Một Vài Cảm Nghĩ Về Chuyến Viếng Thăm Mã Lai Á Lần Thứ Ba Của Phái Đoàn Vạn Phật Thánh Thành và Đại Học Phật Giáo Pháp Giới". Tác giả của bài viết là Pháp Sư Tịnh Quán, một đệ tử lâu năm của Lão Pháp Sư Quảng Hóa, người chuyên nghiên cứu Kinh Kim Cang và đặc biệt thể ngộ các câu "Các tướng như huyễn" và "Nên sanh tâm không trụ vào đâu cả". Trong bài viết này, Pháp Sư đề cập rằng Hòa Thượng đã chữa bệnh ung thư mũi của Pháp Sư, một căn bịnh mà Pháp Sư đã chịu đựng trong nhiều năm, và bệnh "cổ họng khô" (yết hầu can táo chứng).
Cuối bài viết, Pháp Sư kể lại rằng lúc đang nằm ngủ theo tư thế nằm trong liêu phòng, Pháp Sư đột nhiên cảm thấy mình như bị ép giữa hai bàn chân khổng lồ, và trên không trung có tiếng của Hòa Thượng nói rằng: "Ông có nói với tôi là muốn trở về Vạn Phật Thánh Thành để cùng tôi tu hành. Bây giờ là lúc nào rồi mà ông vẫn còn ngủ ? Tại sao ông lại ngủ nhiều như vậy ?"
Sau khi tỉnh giấc, Pháp Sư nói:
"Trong Kinh có nói rằng Đức Phật có thân vàng cao sáu trượng. Hôm nay tôi thấy Hòa Thượng xuất hiện cũng cao chừng đó, ánh sáng vàng chói lòa, cao lớn khổng lồ... Đó có phải là giấc mơ không ? Nhưng nó rất rõ ràng trong tâm trí tôi, và đầu óc tôi vẫn còn thấy rõ. Về căn bản thì ‘chân thật nghĩa không thể diễn tả bằng lời’, thật là vi diệu và không thể diễn bày, như vậy tại sao tôi phải nói ra ? ‘Thấy được hoa Ưu đàm hiếm có nở hoa còn dễ dàng, nhưng rất khó gặp được vị thầy thiện trí thức.’ Vì lý do đó, tôi đã kể lại rõ ràng về căn bản của một sự cảm ứng không thể diễn bày. ‘Chân thật nghĩa’ phải để lại cho độc giả tự kinh nghiệm lấy.”
Cuối cùng là một ví dụ xảy ra vào năm 1984, khi Hòa Thượng đang hoằng pháp tại Tân Gia Ba. Trước khi Hòa Thượng rời Hoa Kỳ, Ngài đã hứa với một nữ cư sĩ tại San Francisco là Ngài sẽ đến xem nhà của bà. Nhưng sau khi hứa như vậy, Hòa Thượng lại đi Tân Gia Ba trong chuyến hoằng pháp. Tuy nhiên, vào ngày Hòa Thượng đã hứa, hai đứa con của người phụ nữ, năm và sáu tuổi, đã thật sự trông thấy Hòa Thượng đến nhà và nhìn chung quanh. Do đó, Thầy Hằng Cống có nói:
"Đức độ của Hòa Thượng thật thâm sâu. Những người chưa gần Ngài thì không biết điều này. Quý vị có biết tại sao chúng tôi lại để cái ghế trống này ở giữa ? Bởi vì không ai biết Hòa Thượng ở đâu. Hơn nữa, chúng tôi đều cảm thấy hơi bồn chồn và sợ hãi khi ngồi trên đó."
Thầy Hằng Cống cũng để cập rằng khi Thầy Hằng Thật và Thầy Hằng Triều đang đi Ba Bước Một Lạy, những người cảnh sát Hoa Kỳ thường đến gần và nói : "Hôm qua tôi thấy ba người quý vị cùng đi lạy. Có một người đàn ông Trung Hoa hơi lớn tuổi lạy đàng sau hai ông nữa, sao hôm nay lại không thấy ông ấy?"
Tôi không biết quý vị có tin ba trường hợp vừa đề cập ở trên không, trong đó Hòa Thượng cho người ta cảm giác rằng Ngài có thần thông. Trong phẩm 17, "Công Đức Sơ Phát Bồ Đề Tâm", của Kinh Hoa Nghiêm có nói rõ:
"Trụ trên con đường tối thượng của Nhất Thừa, người đó thâm nhập diệu thượng Pháp. Hiểu rõ lúc nào chúng sanh đã sẵn sàng và lúc nào chưa, người đó thị hiện thần thông để làm lợi ích cho họ."
Tôi đã đọc và nghe tất cả những bài khai thị và băng giảng của Hòa Thượng, và tôi không bao giờ gặp một trường hợp nào Hòa Thượng nhận rằng Ngài có thần thông cả. Hòa Thượng nói:
"Thần thông chỉ là một tên khác của Trí Tuệ. Nếu quý vì có trí tuệ, quý vị sẽ tự nhiên có thể thấy toàn vũ trụ như hạt amalo trên lòng bàn tay.
Trong Phật Giáo, thần thông chỉ là thứ phụ, không phải là vật chính. Bất cứ người nào nhấn mạnh về thần thông thì đều vô cùng vô minh. Tôi sẽ nói rõ ràng với quý vị, tôi không có thần thông; ngay cả đến ma thông tôi cũng không có. Sự nhận bừa quá mức không phải là điều tôi thích.
Những người thông hiểu Phật Pháp nên chú tâm vào không tranh, không tham, không mong cầu, không ích kỷ, không tự lợi, và không nói dối. Nếu quý vị tìm kiếm Ngũ Nhãn Lục Thông hoặc những thứ tương tự, quý vị chỉ ‘tìm cá trên cây’ mà thôi!"
Việc Hòa Thượng có thần thông thật ra đã được tiết lộ bởi Lão Hòa Thượng Quảng Khâm. Vào ngày 8 tháng 6 năm 1980, Hòa Thượng gởi hai đệ tử đến viếng thăm Lão Hòa Thượng Quảng Khâm. Lúc đó, Lão Hòa Thượng Quảng Khâm hỏi họ:
"Thầy các ông có thần thông phi thường. Ngài có thường dạy thần thông cho các ông không ?”
Hai người đệ tử trả lời:
"Thần thông không thể được dạy. Thần thông xảy ra tự nhiên khi tu hành đến mức độ nào đó. Hơn nữa, thần thông không thể giúp chấm dứt sanh tử. Đó không phải là mục tiêu tối hậu mà Đạo Phật nhắm đến."
Từ sự đề cập của Lão Hòa Thượng Quảng Khâm về thần thông của Hòa Thượng, có thể suy dẫn ra là Hòa Thượng thật sự có thần thông. Nếu những gì quý vị biết về Hòa Thượng chỉ là thần thông của Ngài, thì điều đó thật đáng thương; có thể nói rằng quý vị không phải là đệ tử chân thật của Ngài. Hòa Thượng, theo như tôi biết, không phải chỉ là người có Ngũ Nhãn Lục Thông, mà là một vị trưởng lão chân thật, từ bi và vô ngã. Vào mùa xuân 1993, khi Hòa Thượng trở về Vạn Phật Thánh Thành và mang khăn che mặt do hổ thẹn vì đệ tử đã vi phạm gia phong truyền thống của Vạn Phật Thánh Thành, Ngài thật sự nói:
"Tôi mang khăn che mặt, tôi không thể nhìn thấy rõ ràng!"
và sau đó, vì như vậy, Hòa Thượng đã "tình cờ" đánh "lầm" người.
Do đó tôi xem xét việc Hòa Thượng là một vị thầy dùng gậy tự đánh mình, người đã lấy và xin tánh nóng nảy của kẻ khác, người đã nhịn ăn để cầu nguyện cho hòa bình thế giới và chấm dứt chiến tranh, người đã đi khắp nơi để thuyết pháp ngay cả khi đang lâm trọng bệnh phải di chuyển bằng xe lăn, và là người đã từng lễ lạy chúng sanh mỗi ngày, thì Ngài hẳn là một hành giả Đại Bồ Tát đã "Dẫu máu đổ, mồ hôi tuôn, Quyết không ngừng nghỉ !(10)
Nếu tín đồ Phật Giáo chỉ quan tâm đến việc thầy mình có khả năng thần thông (đặc dị công năng) hay không, mà không nhận ra được tinh thần từ bi giáo hóa chúng sanh của thầy mình, thì các tín đồ đó đã nhầm lẫn mục tiêu và không phải là đệ tử chân thật của Phật.

Chương Tám: Đi Vào Tịch Tĩnh

Vào ngày 4 tháng 12 năm 1994, khi Hòa Thượng được đưa vào bệnh viện vì kiệt sức, Ngài nói:
“Tôi muốn nói với quý vị những gì cần làm sau khi tôi ra đi. Tất cả quý vị nên chuẩn bị tâm lý để lo hậu sự. Tôi có thể ra đi bất cứ lúc nào. Không có gì là cố định cả. Mọi người đều có lúc đến và có lúc đi. Đừng buồn. Cứ hành xử giống như quý vị hành xử lúc bình thường.”
Sau nhiều lần thỉnh cầu của bốn chúng đệ tử, Hòa Thượng trụ thế thêm sáu tháng nữa. Khi Hòa Thượng đã chịu đựng sự đau đớn đến tột cùng vì mang nghiệp của chúng sanh (11), Ngài nói:
“Tôi sẽ không tự giúp mình dầu chỉ nhấc ngón tay trong khi tôi nằm trên giường này.
Tôi bây giờ như hai con người. Một người thì vẫn đi đó đây cứu độ chúng sanh. Còn một người ở đây, tôi không để ý. Tôi sẽ không tự giúp mình.”
Ôi, thật là sự bạc phước của chúng sanh! Hòa Thượng đi vào tịch tĩnh lúc 3 giờ 15 phút ngày 7 tháng 6, năm 1995 (nhằm ngày 10 tháng 5, năm Ất Hợi). Vị Tổ Sư thứ chín của dòng Thiền Quy Ngưỡng đã nhập Niết Bàn, và vị kế thừa Lão Hòa Thượng Hư Vân đã trở thành một phần của lịch sử.
Có người tự hỏi tại sao là người có những thành tựu cao tột như vậy mà Hòa Thượng lại thị hiện tướng lâm trọng bệnh trước khi ra đi. Thật ra, câu trả lời rất đơn giản. Tất cả những Đại Sư nổi bật qua nhiều thế hệ đều có những lý do riêng khi hiện tướng nhân duyên nào đó trước lúc vãng sanhTheo Lục Tổ Đàn Kinh, khi Lục Tổ Huệ Năng còn tại thế, đã có những người muốn sát hại ngài; sau khi ngài viên tịch, lại có người muốn chặt đầu ngài để mang về nhà thờ cúng. Khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa, ngài bị đầu độc và ám hại sáu lần. Tổ Ấn Độ thứ hai mươi bốn là Tôn Giả Sư Tử thì bị chém đầu do lệnh của triều đình.
Trước khi Đại Sư Huyền Trang mất, ngài bị trượt chân và té ngã, sau đó bị lâm bệnh phải nằm lâu ngày trên giường, ngài nói:
"Tất cả những phiền não hữu tình và ác nghiệp của tôi từ vô thủy đến nay, đều nhờ đức của cơn bệnh nhẹ này mà tất cả đã tiêu trừ. Do đó tôi nên vui mừng".
Thầy của ngài [Huyền Trang], tức là Luận Sư Giới Hiền, bị bệnh nặng vào lúc tuổi già và bị cơn bệnh hành hạ đau đớn đến nỗi muốn tự tử. Sau đó Bồ Tát Quán Âm hiện đến trong giấc mơ của ngài và khuyên bảo :
"Con trước kia từng là một vị quốc vương gây nhiều khốn khổ cho chúng sanh, cho nên nay phải chịu quả báo này. Hãy thành tâm sám hối, kiên nhẫn chịu đựng đau khổ, và tinh tấn xiển dương Kinh Luận, thì nghiệp chướng của con sẽ tự nhiên được tiêu trừ."
Trước khi Hòa Thượng viên tịch, Ngài có làm bài thơ về bệnh trạng của mình như sau:
Tàn hơi khó sống ngày còn lại,
Triền miên trong nỗi khổ bệnh, già.
Ngày ăn uống như dùng độc dược,
Đêm nằm giường bệnh như trùng cứng,
Trong mộng lại gặp quỷ vô thường,
Tỉnh giấc khó tìm thần cứu mạng.
Biết chăng mạng người một hơi thở?
Mau quay về chốn Cực Lạc thanh tịnh. (12)
Cho đến lúc nhập diệt vào ngày 7 tháng 6 năm 1995, bệnh tình của Hòa Thượng không có dấu hiệu thuyên giảm, cũng không có những điềm lành hay phép lạ xảy ra. Bằng cách đó, không để lại dấu vết, Ngài vì chúng sanh mà chuyển Pháp nhân duyên -- thành trụ hoại không và sanh lão bệnh tử. Suốt cuộc đời Ngài, Hòa Thượng đã chữa lành bệnh cho vô số chúng sanh, nhưng lại không quan tâm đến bệnh tình của mình. Ngài chọn cách ra đi đau đớn nhất: chết vì bệnh.
Chúng ta biết rằng Thiền Sư Mã Tổ Đạo Nhất có thần thông quảng đại và đã cứu độ vô số chúng sanh. Ảnh hưởng của Ngài lan rộng khắp nước. Ngài có 84 đại đệ tử và đều là những bậc đại thiện tri thức, và bản thân Ngài thường luôn đau ốm. Nghĩ đến tinh thần Bồ Tát của những bậc cao tăng này, chúng ta không khỏi phát lời tán thán vô tận!
Và còn có Lão Hòa Thượng Hư Vân, Thái Đẩu trong Thiền Tông, thọ đến 120 tuổi. Cuộc đời Ngài trãi qua mười nạn, bốn mươi tám biến cố hiếm có và vô số điều kỳ diệu. Thậm chí khi Ngài đã 112 tuổi, Ngài còn bị đệ tử “bán đứng”, bị cướp và bị Cộng Sản tra tấn rất dã man. Ngài chết đi sống lại nhiều lần sau khi bị đánh đập bằng chùy sắt đến chảy máu và xương gân đều gãy đứt.
Đại Sư Hám Sơn Tử Bá, người đã để lại nhục thân bất hoại, cũng đã chịu sự tra tấn tàn bạo và chết vì cục bướu trên lưng.
Hòa Thượng Quảng Khâm, một vị cao tăng trong thời đại của Hòa Thượng, cũng thị hiện có bệnh và viên tịch vào năm 1986; và một vị Pháp Sư tại chùa của Ngài đã kể lại:
"Hòa Thượng nói rằng Ngài sẽ thị hiện có bệnh lúc mất bởi vì thế giới Ta Bà có quá nhiều đau khổ! Làm sao Ngài có thể chịu phí thì giờ được ?"
Hòa Thượng Quảng Khâm nói rất đúng. Thế giới Ta Bà có quá nhiều đau khổ, làm sao Ngài có thể phí thì giờ ở nơi này được ?
Có lần có người thỉnh vấn Hòa Thượng Quảng Khâm rằng:
"Nếu có người có sự chứng đắc rất cao trong việc tu hành, nhưng lại chết vì bệnh tật hoặc tai nạn, đó phải chăng là do định nghiệp của người đó khó có thể chuyển đổi được ?"
Hòa Thượng Quảng Khâm trả lời:
"Quý vị có thể nói rằng định nghiệp của người đó khó chuyển đổi, nhưng quý vị cũng có thể thấy rằng đó là người đó đang trả nghiệp."
“Chỉ những người có tu hành mới gặp những khổ nạn, trắc trở. Đúng ra đây chính là công đức tu hành của người đó đã giúp giải quyết mọi việc trong một lần này."
Có vài câu thơ trong di ngôn của Hòa Thượng mà tôi cảm thấy rất thâm thúy và đậm đà Thiền vị, tôi xin ghi lại dưới đây:
Lão tăng nhàn nhã đến, không có việc gì làm.
Chơi trốn tìm và nằm trên giường bệnh.
Xem sự hiện hữu, quán lý không: không mà chẳng không.
Chẩn bệnh, hỏi nguồn cơn: nguồn mà chẳng phải nguồn.
Những câu thơ này giải thích rõ ràng về hiện tượng mắc bệnh của Hòa Thượng. Như tôi đã nói trước đây, tất cả chư Tổ và các bậc Đại Sư, cao tăng đại đức, đều có nhân duyên giáo hóa chúng sanh trong cõi Ta Bà. Chúng ta nên đánh giá thành tựu của một người bằng cách xem xét sự thực hành Bồ Tát Đạo suốt đời, sự từ bi cứu độ chúng sanh, và sự cống hiến cho Phật Giáo của người đó. Chúng ta không nên phán xét một người chỉ dựa vào phép lạ hay điềm lành.
Sau Lễ Trà Tỳ của Hòa Thượng, hơn mười ngàn mẩu xá lợi được tìm thấy (có cả xá lợi hoa và mười hai xá lợi răng), có đủ màu sắc, gồm trắng, nâu, xanh lá cây, xanh da trời, đen và tím. Có nhiều xá lợi kết tủa thành hình trên xương, lóng lánh như ngọc thạch, rất hiếm thấy. Điều nầy chứng tỏ rằng công đức của Hòa Thượng từ việc thuyết pháp kinh điển hơn mười ngàn lần và suốt đời không bao giờ nói dối, quả thật là không thể nghĩ bàn vậy!

Chương Chín: Kết Luận
Tổ Bồ Đề Đạt Ma, không quản ngại xa xôi đã đem Phật Pháp từ Ẩn Độ truyền đến Trung Hoa, là nơi Phật Pháp được phát dương quảng đại. Hòa Thượng Tuyên Hóa đã sớm phát nguyện mang Phật Pháp sang các nước ở Âu Châu và Mỹ Châu, hầu có thể tiếp dẫn càng nhiều chúng sanh hữu duyên dong thuyền về bờ Trí Tuệ bên kia hơn nữa. Khi Hòa Thượng ở Hoa Kỳ, Ngài phát ba đại nguyện:
1. Chú trọng luân lý đạo đức trong nền giáo dục, đề xướng việc giáo dục thiện nguyện (nghĩa vụ giáo dục).
2. Phiên dịch kinh điển Phật Giáo sang các ngôn ngữ, và thành lập Học Viện Dịch Kinh.
3. Tạo thuận lợi trao đổi và đoàn kết giữa các truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa; dung hợp Đại Thừa và Tiểu Thừa.
Hòa Thượng cho rằng giáo dục cũng quan trọng như hoằng pháp. Học sinh tại Vạn Phật Thánh Thành phải học thuộc lòng "Quy Luật Học Sinh" (Đệ Tử Quy) và "Tam Tự Kinh". Hòa Thượng có thể được xem như là người đầu tiên đề xướng việc giáo dục thiện nguyện tại Tây Phương. Ngài tích cực tìm những giáo sư thiện nguyện để củng cố những tiêu chuẩn cao thượng về học vấn cũng như đạo đức.
Phiên dịch kinh điển Phật Giáo sang các ngôn ngữ trên thế giới chính là hạnh nguyện mà Hoà Thượng đã lập khi xuất gia. Ngài có thể được xem là vị tăng thứ ba đã phát nguyện đem kinh điển Phật Giáo chuyển dịch thành các ngôn ngữ của mọi quốc gia trên toàn thế giới, sau hai Đại Sư Huyền Trang và Giám Chân.
Hơn 130 bộ sách đã được phiên dịch sang Anh ngữ, và công việc phiên dịch sang các ngôn ngữ khác như tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Việt, tiếng Nam Dương… cũng đang được tiến hành.
Hòa Thượng cũng nỗ lực để dung hợp các truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa. Hoà Thượng từng nói rằng:
“Các truyền thống Bắc tông và Nam tông đều nhằm mục đích giúp chúng sanh phát Bồ Đề Tâm, chấm dứt sanh tử, xa lìa khổ não, đạt được an lạc. Do đó, các truyền thống Bắc tông và Nam tông của Phật Giáo nên có sự cảm thông với nhau và đoàn kết hợp nhất, xem cả hai đều là một. Đừng nên anh làm việc của anh và tôi lo chuyện của tôi, vì như thế, sức mạnh của Phật Giáo sẽ bị phân tán.”
“Bất cứ người nào tìm cách gây chia rẽ trong Phật Giáo đều không phải là đệ tử Phật. Đừng nói là Đại Thừa hay Tiểu Thừa, ngay cả một thừa cũng không có! Lòng ích kỷ tự tư tự lợi, hại người lợi mình của chúng ta, và việc chỉ biết tán dương chính mình và chê bai người khác--đây chính là những nguyên nhân đưa đến chiến tranh.“
Hòa Thượng có lần đã tự trách mình về vấn đề phân chia giữa Phật Giáo Đại Thừa và Nguyên Thủy:
“Tôi cũng là một tội nhân trong Phật Giáo. Vì sao ? Bởi vì tôi chưa làm tròn trách nhiệm của mình. Tôi chưa thành công trong việc làm gần lại khoảng cách giữa các truyền thống Bắc tông và Nam tông. Nếu các truyền thống Bắc tông và Nam tông bài xích lẫn nhau, mỗi tông đều giương cờ của mình lên và chỉ dụng công trên bề mặt của sự việc, thì làm sao Phật Giáo có thể đoàn kết được ?”
Nhiều cuộc đối thoại giữa các truyền thống Phật Giáo Đại Thừa và Nguyên Thủy đã diễn ra tại Vạn Phật Thánh Thành, mở ra một trang mới trong lịch sử Phật Giáo Tây Phương.
Hòa Thượng nói rằng Ngài từ một nước Á Châu xa xôi, cách cả hàng nghìn dặm, một thân một mình “đơn thương độc mã” tìm đến nước Hoa Kỳ--vùng đất xa lạ chưa có Phật Pháp—là để mang Chánh Pháp sang phương Tây. Ngày nay, Vạn Phật Thánh Thành đã trở thành một đạo tràng tối trọng yếu ở Tây Phương, và nhiều đạo tràng chi nhánh cũng đã và đang được thành lập.
Hòa Thượng đã hướng dẫn các đệ tử gồm nhiều quốc tịch khác nhau cùng nỗ lực hoằng dương Chánh Pháp, đồng thời đoàn kết các tôn giáo lại với nhau. Hòa Thượng đã bướcđi trên con đường dài này với những bước chân vô cùng kiên nhẫn. Sự mong mỏi của Hòa Thượng là tất cả chúng sanh sẽ thành Phật trước Ngài. Ngài muốn giúp tất cả chúng sanh xa lìa khổ não, đạt được an lạc, tìm lại trí tuệ chân thật, đạt được tự tại, giải thoát. Trong một bài khai thị, Hòa Thượng đã nói rằng:
“Tôi chỉ là con kiến nhỏ nhoi cam lòng bò dưới chân tất cả các Phật tử. Tôi là con đường, nguyện cho tất cả chúng sanh giẫm lên mình tôi và đi từ phàm phu thẳng đến Phật quả.
Nếu bất cứ đệ tử nào của tôi bị đọa địa ngục, tôi nguyện sẽ chịu thay cho họ.
Nguyện rằng những kẻ thấy tôi hoặc nghe tiếng nói của tôi, thậm chí chỉ nghe nhắc đến tên tôi, đều sẽ nhanh chóng được thành Phật. Tôi nguyện sẽ ở lại thế giới Ta Bà này và đợi cho đến khi tất cả quý vị đều thành Phật.”
Sự cống hiến suốt cả một đời của Hòa Thượng cho Phật Giáo rộng lớn như hư không, làm sao bài viết nầy có thể mô tả đầy đủ tất cả được ? Ngài đã để lại vô số Pháp bảo cho chúng ta, vì thế, từ nay chúng ta cần phải tinh tấn tu hành, tuân thủ Sáu Đại Tông Chỉ. Chỉ có như thế chúng ta mới không cô phụ bao khổ tâm lao nhọc của Hòa Thượng, và hy vọng Hòa Thượng sẽ nương theo nguyện lực của Ngài mà sớm trở lại để cứu độ chúng sanh!HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.28/2/2018.

No comments:

Post a Comment