Tuesday, February 20, 2018

Luật cấm tu hành.

Hãy để tâm trí quý vị được nghỉ ngơi.
Ở gần một thầy trí tuệ, một người bạn tâm linh thiện lành, tự nhiên lúc nào mình cũng nhận biết được về trung tâm khí lựccủa mình, “xoay ánh sáng trở lại” và hướng tất cả sự tập trung của mình vào trung tâm khí lực đó.
Xa rời một bậc thiện tri thức thì khó giữ cho khí lực ở lại bên trong. Điều này đòi hỏi phải dụng công nhiều hơn, có nhiếu chú tâm hơn để an trú ở nơi trung tâm khí lực. Khuynh hướng tự nhiên là làm phân tán khí lực, là chuyển dịch lên và hướng ra ngoài, luẩn quẩn và không xuyên thủng được các “cảnh giới” để đến đến cái cốt lõi vốn không bên trong tất cả vạn vật.
Tuần trước tại chùa Kim Luân, tôi đã nhận biết về mỗi cử chỉ của Sư Phụ - tôi có thể cảm nhận sự hiện diện của Sư Phụ trong vùng khí lực của tôi – giống như màn hình chiếc ra đa. Tôi biết điều này mà không cần phải suy nghĩ là Sư phụ đang ở đằng sau, phía trước, phía bắc, hay phía nam của tôi – trong khi chúng tôi ở trong chùa. Trong sự hiện diện của Ngài, tôi ít khởi vọng tưởng hơn – hầu như là ánh sáng của Ngài đã đẩy vọng tưởng ra khỏi đầu tôi, như bóng tối biến mất trước ngọn đèn. Mỗi lần một ý nghĩ khởi lên, tôi có thể đưa ý nghĩ đó trở lại vùng trung tâm khí lực và chế ngự nó một cách dễ dàng. Tôi nghĩ, “Đây là cách duy trì chánh niệm và đối phó với các vọng tưởng, và cũng để kết nối với trung tâm khí lực của mình!”
Ở ngoài riêng một mình thì khó khăn hơn để giữ mình an trú ở trung tâm. Câu trả lời là gì? Sử dụng khí lực để đưa mọi hoạt động tinh thần xuống vùng trung tâm.
Mọi ý nghĩ ham muốn, tham lam, sợ hãi, mơ tưởng – đừng phản ứng lại nó – chỉ hướng cho nó chạy xuống và để nó vào đóXoay ánh sáng trở lại và chiếu vào bên trong (hồi quang phản chiếu). Hãy để cho tâm trí bận rộn của quý vị được nghỉ ngơi.

Chỉ các lậu thoát là ngoài vòng pháp luật.
Giả sử rằng trên thế gian có luật ngăn cấm tu hành. Tôi chắc hẳn sẽ là một người tu hành lậu thoát. Mọi người ở tu viện Kim Sơn sẽ là những tội phạm tuyên thệ trung thành. Điều đó sẽ như thế nào?
Quý vị sẽ không được phép chú tâm vào Tam Bảo. Quý vị chỉ được phép trì niệm với một nửa tâm trí của mình thôi. Quý vị phải không thành tâm trong việc sám hối, phải bí mật che đậy những lỗi lầm sâu kín nhất của mình, phải cố ý lặp đi lặp lại cùng lỗi lầm. Đó là luật.
Sự thay đổi thực sự sâu thẳm trong tâm của quý vị bị ngăn cấm. Quý vị phải tiếp tục gian dối, phải bảo vệ những tâm niệm về các pháp nhiễm ô của mình như thể chúng là những viên ngọc quý hiếm. Quý vị không được phép tìm kiếm sự giác ngộ, thay vào đó, quý vị phải đưa tâm trí mình đi lang thang về những điều trần tục. Quý vị phải để ý đến mọi chiếc xe khi nó chạy qua, sẽ đọc mọi bảng quảng cáo trên các tòa nhà và trên mọi chiếc xe tải. Quý vị sẽ mơ tưởng kết bạn với tất cả đàn ông và phụ nữ mà quý vị gặp.
Khi tiếng còi xe kêu lên thì quý vị phải nguyền rủa người  lái xe, khi côn trùng cắn thì phải đập chúng và xua đuổi chúng đi. Mỗi một chiếc xe chạy qua cần phải khuấy động những ý nghĩ về những sự cúng dường tốt đẹp sẽ đến với mình. Đó là luật.
Điều quan trọng nhất là quý vị cần phải nắm bắt mọi cơ hội để đi lang thang ra khỏi vùng trung tâm của mình – thực hành việc tuân thủ luật này bằng cách hướng sự tập trung của quý vị vào những móng tay, quần áo của mình, vào thời tiết, những hạt chuỗi, bữa ăn trưa, bữa ăn trưa của ngày hôm qua, cuộc viếng thăm của cư sĩ vào ngày mai, những ký ức, giấc mơ, và những sự chỉ trích.
Lúc nào cũng làm như vậy và không bao giờ để sự tập trung của mình vào vùng trung tâm. Điều này không được cho phép.
Nếu tu hành là vi phạm pháp luật, bản tính nổi loạn “yêu tự do” của tôi sẽ tu hành với ý chí thực sự, chỉ để muốn chứng minh rằng tâm trí không thể bị kiểm soát bởi luật lệ và những quy định.
Do tu hành thì không vi phạm pháp luật, trở ngại duy nhất để đạt được thành quả ngay ở đây là những thói quen xấu cũ, bám chấp, lười biếng và những vọng kiến. Ông đang tu hành phải không? Ông bị bắt!

Luôn luôn ở trước đức Phật.
Bí quyết để lễ lạy tốt đẹp là luôn nhớ đến cách quý vị hành xử như thế nào khi có thầy của quý vị ở bên cạnh. Quán niệm đức Phật, Pháp và Tăng, giống như họ đang ở ngay trước quý vị với tất cả vẻ uy nghi, giống như họ có ở đây trong thế giới Ta Bà này trên trái địa cầu nhỏ bé đầy đất và nước của chúng ta, tùy thuộc vào quý vị đã tu hành thành tâm như thế nào.
Ở trước vị Thầy của mình, quý vị sẽ không muốn có những ý nghĩ dù là nhỏ nhất. Quý vị muốn thể hiện thân, khẩu, ý trong sạch nhất, thanh tịnh nhất mà quý vị có thể làm được. Quý vị muốn cố gắng hết sức. Điều đó không có nghĩa là khi xa vị Thầy của quý vị thì quý vị sẽ làm ít hơn so với nỗ lực tốt nhất của mình, nhưng tất cả chúng ta đều biết rằng trong vùng ánh sáng của vị Thầy của chúng ta thì có một sự hiển hiện rất đặc biệt mà nó truyền cảm hứng cho chúng ta để được nỗ lực hết mình.
Tuyệt vời làm sao khi lúc nào cũng nhìn thấy chư Phật và Bồ Tát! Người tu hành tu tập đạt được địa thứ nhất của Bồ Tát đạo là Hoan Hỷ Địa thì không bao giờ rời xa chư Phật hay rời bỏ mọi hạnh tu của Bồ Tát và nhờ đó người ấy lúc nào cũng hạnh phúc. Thật hoan hỷ!
Đối với những người trong chúng ta chưa đạt tới Đệ Nhất Địa này, chúng ta phải nỗ lực hết mình để luôn nghĩ tưởng đến các bậc Đại Thánh như thể các Ngài lúc nào cũng đang hiện hình ở trước chúng ta – trên đường đi, trong xe, ở nơi học hành, tại chỗ làm, trong Phật điện, các Ngài chẳng bao giờ ở đâu xa xôi; Tam Bảo luôn luôn thường trụ. Tại sao? Bởi vì khi chân thật,  thì Tam Bảo đến từ chính quý vị, từ bên trong tâm trí của quý vị.

Hằng Triều - Ngày 21 tháng 8, 1977
Bữa ăn trưa và các vật dụng

Kuo Kuei và một đứa cháu gái, Kuo Nang and Kuo Chen mang thức ăn trưa tới và các vật dụng. Helen và Wesley Woo cúng dường áo khoác và hộp sơ cấp cứu (first-aid kit), phích đựng nước và ruột viết. Quả Nang cúng dường 20USD và chùa Kim Luân gửi tới một cái mền.

Hằng Triều. Ngày 22 tháng 8, 1977
Chẳng có gì giới hạn

Sau bữa trưa, khi chúng tôi lạy chầm chậm xuyên qua ánh nắng chiều mù sương khói trên con đường ở Carpentina, tôi hỏi chính mình, “Ai đang ở trong thế gian đầy khói, nóng bỏng mắt này đây?” Tập trung lạy để loại trừ những suy nghĩ khác, tôi ở trong một thế giới khác. Vào buổi trưa vẫn là một thế giới khác. Khi chúng tôi đọc kinh quanh chiếc đèn dầu nhỏ tối nay, một thế giới hay nhiều thế giới nào mà chúng tôi sẽ vào đến và rời đi, sẽ trú ngụ trong đó và sẽ du hành tới? Những thế giới bên trong thế giới, “Các thế giới nhiều như những hạt bụi ở Phật địa” (Kinh Hoa Nghiêm). Quý vị đang có những suy nghĩ gì? Quý vị đang ở trong thế giới nào? Có bao nhiêu thế giới khác nhau mà quý vị có thể đồng thời ở trong đó? Trong từng suy nghĩ, chúng ta chuyển dịch dời chỗ và đổi tới các thế giới. Chuyển tâm trí mình một chút theo cách này hay cách khác, về phía ánh sáng hay về phía hỗn loạn, thì mọi thứ chuyển dịch và tái sắp xếp, và được nhìn thấy khác đi. Tất cả đều do tâm tạo, giống như trò ảo thuật chúng tai vẫn thường làm. Thế giới nào là thật?
Học cách hiểu và kiểm soát năng lực “ảo thuật” mà tất cả chúng ta đều sở hữu này là tu hành. Quý vị có thể đi xa đến chừng nào? Chẳng có gì giới hạn.
Tâm là:
Rộng lớn như Pháp giới
Rốt ráo dường hư không
Đến vị lai tột cùng,
Suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ. (1)
Kinh Hoa Nghiêm (Phẩm Thập Địa)

Ghi chú:

Bồ Tát này thành tựu đại nguyện, đại dũng, đại dụng như vầy :
Phát sanh trí hiểu biết quyết định thanh tịnh quảng đại, đem tất cả đồ cúng dường cung kính dâng lên tất cả Chư Phật không thiếu sót, rộng lớn dường pháp giới, rốt ráo như hư không, suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện : Nguyện thọ lãnh tất cả Phật pháp, nguyện nhiếp tất cả Phật trí, nguyện hộ tất cả Phật giáo, nguyện trì tất cả Phật pháp, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện : Nguyện trong tất cả thế giới, lúc Phật xuất thế : Giáng thần, nhập thai, trụ thai, sơ sanh, xuất gia, thành đạo, thuyết pháp, nhập Niết Bàn, tôi đều đến gần gũi cúng dường, làm thượng thủ trong chúng, thọ lãnh và thật hành chánh pháp, đồng thời chuyển pháp khắp tất cả mọi nơi, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường hư không, suốt tất cả kiếp số vi lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện : Nguyện tất cả Bồ Tát hạnh quảng đại chẳng hoại, chẳng tạp nhiếp các môn Ba la mật, tu tập thanh tịnh các trí địa. Tổng tướng, biệt tướng, đồng tướng, dị tướng, thành tướng, hoại tướng, tất cả Bồ Tát hạnh đều nói đúng như thiệt. Giáo hóa tất cả chúng sanh cho họ lãnh thọ thật hành tâm địa được tăng trưởng, rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường hư không, suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện : Nguyện tất cả giới chúng sanh : có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, chẳng có tưởng, chẳng không tưởng, noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, hệ thuộc ba cõi, vào sáu loài tất cả chỗ thác sanh, nhiếp về danh sắc, những loài như vậy tôi đều giáo hóa cho họ vào Phật pháp, dứt hẳn tất cả loài thế gian mà an trụ đạo Nhứt thiết chủng trí. Rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường hư không, suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện : Nguyện tất cả thế giới rộng lớn vô lượng : Thô, tế, loạn trụ, đảo trụ, chánh trụ, hoặc vào, hoặc đi, hoặc đến, sai khác như đế võng, mười phương vô lượng thế giới nhiều loại không đồng, đều thấy biết rõ với trí lực. Rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường hư không, suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại pháp tại nguyện : Nguyện tất cả quốc độ vào một quốc độ, một quốc độ vào tất cả quốc độ, vô lượng Phật độ đều khắp thanh tịnh. Những đồ vật sáng chói dùng để trang nghiêm. Lìa tất cả phiền não thành đạo thanh tịnh. Chúng sanh trí huệ số đông vô lượng ở đầy trong đó. Vào khắp cảnh giới quảng đại của Chư Phật, tùy thuận tâm chúng sanh để thị hiện cho họ đều hoan hỷ. Rộng lớn như pháp giới rốt ráo dường hư không, suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện : Nguyện cùng tất cả Bồ Tát đồng một chí một hạnh không ganh thù, chứa nhóm các căn lành, tất cả Bồ Tát bình đẳng một duyên, thường tập hội không rời bỏ nhau, tùy ý có thể hiện nhiều thân Phật, tự tâm nhậm vận có thể biết cảnh giới của Chư Phật, oai lực trí huệ được thần thông bất thối tùy ý du hành tất cả thế giới, hiện thân trong tất cả chúng hội, vào khắp tất cả chỗ thác sanh, thành tựu đại thừa tu hạnh Bồ Tát bất tư nghì. Rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường như không suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện : Nguyện thừa pháp luân bất thối tu hạnh Bồ Tát, thân, ngữ, ý ba nghiệp đều không để luống, nếu ai tạm thấy thời được quyết định nơi Phật pháp, nếu ai tạm nghe âm thanh thời được thật trí, vừa sanh lòng tịnh tín thời dứt hẳn phiền não, được thân như cây đại Dược Vương, được thân như châu như ý, tu hành tất cả hạnh Bồ Tát. Rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường hư không, suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Lại phát đại nguyện : Nguyện ở khắp tất cả thế giới thành Vô thượng Chánh giác, chẳng rời một chân lông mà nơi tất cả chân lông thị hiện sơ sanh, xuất gia, đến đạo tràng, thành Chánh giác, chuyển pháp luân, nhập Niết Bàn, được sức đại trí huệ cảnh giới của Phật trong mỗi niệm thuận theo tâm của tất cả chúng sanh mà thị hiện thành Phật làm cho họ được tịch diệt, dùng Nhứt thiết trí biết tất cả pháp giới chính là tướng Niết Bàn, dùng một âm thanh thuyết pháp làm cho tâm tất cả chúng sanh đều hoan hỷ. Thị hiện nhập đại Niết Bàn mà chẳng dứt hạnh Bồ Tát, thị hiện bực đại trí huệ an lập tất cả pháp. Dùng pháp Trí thông, Thần túc thông, Huyễn thông, tự tại biến hóa khắp tất cả pháp giới. Rộng lớn như pháp giới, rốt ráo dường hư không, suốt tất cả kiếp số vị lai không thôi nghỉ.
Chư Phật tử ! Bồ tát trụ bực Hoan Hỷ Ðịa phát đại nguyện như vậy, dũng mãnh như vậy, đại dụng như vậy. Dùng mười nguyện môn này làm đầu đầy đủ trăm vạn vô số đại nguyện.


Hằng Thật. Ngày 23 tháng 8, 1977
Chúng tôi tán thán danh hiệu Chúa mỗi ngày

Phẩm chất thực sự là vô vi
Thế giới thương mại hiện đại đầy dẫy thông tin – thương mại phụ thuộc vào việc quảng cáo. Quảng cáo phụ thuộc vào thông tin về sản phẩm để lôi kéo sự chú ý của quý vị và kiếm tiền từ quý vị. Rất nhiều phương tiện khéo léo ùa đến với quý vị trong mọi lúc: âm nhạc, màu sắc, thông điệp về tình dục, về sợ hãi, về hạnh phúc và nhu cầu. Không khí đầy ngập với những lưỡi câu gạt gẫm và thật khó mà cưỡng lại được những thứ đó. Những lời mà những người quảng cáo dùng để thu hút sự chú ý của quý vị dường như mang lấy sự sống của riêng chúng, những từ ngữ như: Phẩm chất! Giá trị! Tốt hơn! Tiết kiệm! (bằng cách chi tiêu).
Khi xem xét lạ tất cả thì tất cả sản phẩm cũng đều cùng một loại vật liệu “hữu vi” mà sẽ hư hỏng và bị bỏ đi không lâu sau khi dùng. Quý vị không phải tìm kiếm, chỉ ngóng tai nghe, mở to mắt và những trò câu khách sẽ cho quý vị ngập đầy thông tin mà quý vị cần.
Thế giới tự nhiên không có những mánh lới và không hứa hẹn. Nếu quý vị muốn tìm một chỗ ngồi “phẩm chất” hoặc một điểm cắm trại với “giá trị” đích thực thì quý vị cần phải tự đi tìm kiếm cho mình. Có những thông tin để đọc, quý vị phải biết cần tìm kiếm những gì và tìm ở đâu: những thực vật không độc, không gai, không nhện, không kiến, ít đá, bằng phẳng, không có bùn, không có những tấm bảng tài sản tư nhân, không tàu lửa, không xe hơi, không hàng xóm, không chó, không khí thải, không có những thanh niên cỡi xe mô tô, không người yêu hay những tay chạy xe cải tiến để chạy nhanh. Có bóng mát nào để xe không? Có nhà vệ sinh không? Có chỗ đất phẳng để tập thái cực quyền không? Yên tĩnh? Chắn gió? Gần chỗ lạy? Ngoài con đường? Những cảm xúc tốt đẹp?
Chúng tôi sẽ đón nhận. Tất cả đều như nhau. Nó sẽ hủy hoại hoàn toàn và biến mất không quá lâu sau đó.

Và lúc này, một lời về Chúa trời.
Thiên chúa toàn năng , theo cách người theo đạo Cơ Đốc giáo gọi vị thần này, là Đế Thích, cũng còn được biết đến là Nhân Đà La (Indra), vị thần này là chủ của tầng trời thứ hai trong các tầng trời, tầng trời của cõi trời thứ ba mươi ba. Đế Thích không phải toàn năng. Các vị Bồ Tát, đại Bồ Tát, những người tu hành, vây quanh cung điện của thần Đế Thích trên trời và đức Phật giao cho thần Đế Thích một nhiệm vụ trong chúng hội của các bậc thánh hiền – đó không phải là một địa vị cao, mà tương tự như quyền lực của một công chứng viên. Vị trí của thần Đế Thích không phải là chuyên quyền – vị trí này luân chuyển và quý vị có thể làm thần Đế Thích trong một kiếp tương lai của mình nếu quý vị thật sự mong muốn điều đó. Khi còn ở trên thế gian, Đế Thích là một người phụ nữ đã làm nhiều việc thiện và đã trùng tu lại một ngôi chùa thờ Phật cùng với sự giúp đỡ của 32 người nữa. Bằng hành động chân thành đó, người phụ nữ ấy đã được tái sanh làm vua Đế Thích ở trên cõi trời của mình, tái sinh làm người nam.
Vị chúa trời Đế Thích hiện nay có rất nhiều quyền lực, có rất nhiều vợ và con trai, có tuổi thọ rất dài. Chúng tôi tán thán tên của vị Chúa trời hàng ngày trong những lời cầu nguyện: Nam mô Nhân Đà La Da. (1)
Vì vậy, Phật tử chấp nhận Chúa trời và cầu nguyện tới Ngài, trân trọng thành quả của vị ấy và một trong những kiếp sống trên con đường chúng ta đạt tới giác hành viên mãn, có thể sẽ đến lượt chúng ta trong vòng quay luân hồi trở lại làm Chúa trời toàn năng. Đạo Phật bao gồm tất cả. Đó là bài dạy về toàn thể vũ trụ. Đọc bộ kinh đó! Sống với Kinh đó!
Một số rất ít người phương Tây đã đọc Kinh Phật – sự giàu có của trí huệ tinh thần trong Kinh sẽ mang lại hòa bình, sức khỏe và hạnh phúc cho rất nhiều gia đình ngay hiện thời. Giờ đây, các cuốn Kinh này đang hiện hữu.
Khi mọi người tu Đạo, Kinh sẽ đi vào đời sống – chúng sẽ như là những bản đồ chỉ đường và sách hướng dẫn. Hành giả đọc Kinh không phải như là một bổn phận, nhưng giống như kẻ khát uống nước, như người lạc trong rừng rậm đi theo con đường lớn tới nơi an toàn.
Chúng tôi nói, “Thật là một tạng Kinh vĩ đại làm sao! Giờ thì mình có nó rồi! Cái đoạn đó đã làm tôi khó hiểu trong nhiều năm!” Tại sao giờ đây nó lại đầy ý nghĩa như thế? Bời vì các nguyên tắc mà Kinh mô tả đến đang bắt đầu hiển hiện rõ bên trong như thể công việc của sự tu hành đang dọn sạch cỏ dại ra khỏi ra khỏi bản tánh.

Thành phố Carpenteria.
Trong khi đang lạy, tôi nhìn thấy một thoáng cha tôi nằm trên giường bệnh ở bệnh viện Ann Arbor – ánh sáng của ông đi mất, miệng mở ra, lạnh ngắt.
Một đôi diều hâu to lớn, duyên dáng đứng trên cao, bên trên cánh đồng đã cày xong. Chúng sải cánh, quạt mạnh và quan sát vùng đất phía dưới. Đôi cánh đen có sọc của chúng vẽ thành một bản kinh không lời trên nền trời xanh thẳm. Bám vào một cơn gió, chúng chuyển độ cao và liệng xuống cơn gió, dễ dàng, không đau khổ, tự do khỏi thế gian.

Ghi chú:
(1) Nam mô Nhân Đà La Da: Câu trong bài chú Lăng Nghiêm chư Tăng Ni thường tụng mỗi ngày. Trong bài giảng: Giải Thích Sơ Lược Về Bài Tựa Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm .
Pháp Giới chư thiên: Người bình thường không biết Phật Pháp cho rằng sanh thiên là cực điểm. “A! sanh về thiên đường, được gần gũi với Chúa Trời.” Thật ra vị chúa trời này cũng chỉ là một vị thần bảo hộ của Phật Pháp (hộ Pháp). Đừng nói ông không lớn lao gì, mà ngay cả chỗ ngồi cũng không có, thậm chí còn phải đứng nữa. Có người nói: “tôi không tin Chúa Trời lại đứng bên chỗ Đức Phật.” Quý vị không tin ư! Vậy quý vị cứ thử xem. Quý vị tin Chúa Trời của quý vị đi, đừng tin Phật làm gì, điều đó cũng chẳng sao đâu.
Vì lẽ, người không hiểu Phật Pháp họ luôn quan niệm Chúa Trời là đấng tối cao. Thật ra trong Phật Giáo, vị Chúa Trời này là một vị quan cai quản dưới đất. Ông được phái trông coi thần dân trăm họ. Ông nói ta là cao nhất, trên thế giới này không ai lớn hơn ta. Ta cai quản các ngươi, các ngươi phải tuân theo mệnh lệnh của ta. Bởi vì ông ta là viên quan trông coi đất đai ở nhà quê, nên những người dân quê này không biết văn hóa là gì, cũng không biết Phật Pháp là gì, lại còn mù chữ, cho nên khi nghe sự điều khiển của viên quan bảo hộ này bèn bảo nhau rằng “Ông ta là chúa của mình, chúng ta nên thường xuyên gần gũi vị chủ quản này.”
Vị quan bảo hộ này có khi một mình đi thăm Thị Trưởng, gặp Thị Trưởng ông phải nghiêng mình cúi đầu chào hỏi. Vì không ai thấy cảnh tượng này nên bà con dân chúng cũng không biết còn có Thị Trưởng quản lý cả ông nữa. Giả như ông đi thăm Tổng Thống, thế thì ông càng phải lịch sự hơn, Tổng Thống bảo: “Ông ngồi đi!”.
“Dạ, không cần đâu! Tôi đứng ở đây cũng được, tôi đứng đã cảm thấy vinh hạnh lắm rồi”. Ông ta là như vậy.
Trong chú Lăng Nghiêm có câu thế này “ Nam mô nhân đà la da”. Nhân đà la da chính là vị chúa trời này vậy. Cho nên quý vị phải nhận rõ diện mạo của ông ta. Sau này nếu có gặp Nhân-đà-la (Indra), nếu ông ấy nói tôi là Vua Nhân-đà-la, quý vị hỏi thử xem:
“Ngài chính là Chúa Trời phải không?”
Chắc chắn nét mặt ông sẽ đỏ lên và nói: “Đúng vậy, đúng vậy!”
Pháp Giới của chư thiên cũng có vô lượng vô biên, không phải chỉ có một chúa trời mà là rất nhiều. Vị chúa trời này đời trước vốn là thân người nữ, vì nhờ có ba mươi hai người nữ giúp cô tạo tượng Phật, đắp vàng lên tượng, thếp vàng vào thân tượng, sau đó được phước báo sanh làm chúa trời. Đó là một câu chuyện lâu xa về trước truyền cho đến ngày nay, cô vẫn được làm chúa trời. Vậy lâu là lâu bao nhiêu? Có mấy ngàn vạn năm về trước, không tính xuể. Quý vị đừng giống như một nhà sử học, nhất định phải truy cứu, nghiên cứu xem coi có bằng chứng nào? Chẳng có chứng cứ nào! Đây chẳng qua là bây giờ tôi giảng cho quý vị nghe vậy thôi. Quý vị không tin ư? Không tin cũng chẳng sao, tôi cũng không vì thế mà buồn phiền gì. Vì sao? Vì quý vị tin, thì chúa trời cũng là chúa trời; quý vị không tin, Phật cũng là Phật, chẳng thêm bớt gì đâu!
Pháp Giới chư thiên có rất nhiều, không thể đếm xiết.



Hằng Triều - Ngày 24 tháng 8, 1977
Những thói quen xấu có thể cho cảm giác khá thoải mái

 
Một vị thầy tốt lành giống như một tấm gương hoàn hảo mà quý vị sử dụng cho tới khi quý vị khám phá và tự làm sạch tấm gương của chính mình. Giống như thầy Hằng Thật sửa thế ngồi của tôi. Tôi cảm thấy được nhưng thực tế nó lại sai. Tôi không thể nhận thấy điều đó. Bây giờ thì tôi biết điều đó cần nên cảm thấy như thế nào, tôi có thể sử dụng tấm gương của chính mình.
Ở một cấp độ sâu hơn là Sư Phụ đang chỉ cho tôi thấy những lỗi và sai lầm trên tâm địa của mình. Những thói quen xấu có thể cho cảm giác khá thoải mái và “đúng đắn”, nghĩa là tự nhiên. Vì thế, với lòng từ bi vô biên và trí tuệ vô biên, Hòa Thượng chiếu ánh sáng lên khắp chúng ta cho tới khi chúng ta có thể nhận thấy “Đại Viên Cảnh Trí (Tấm kính trí huệ to lớn viên mãn)" của chính mình.
Khóa tu học đầu tiên tôi tham dự tại chùa Kim Sơn Thánh Tự vào tháng 4 năm 1976 là khóa tu Chú Đại Bi. Đến cuối tuần thì thân và tâm tôi cảm giác chưa từng thấy trước đó. Rất mát mẻ và trong sáng. Thân tôi cảm giác giống như chưa bao giờ bị động chạm đến – thanh tịnh và trinh nguyên. Không bị ô nhiễm và các khó chịu bồn chồn đều biến mất, tôi nhu hòa và nhẹ nhàng giống như đang sống và bước đi trong một thứ chất lỏng mềm mượt như lụa, một loại vải lụa rất vi tế. Cả thế giới trông thanh tịnh và trong suốt như thủy tinh giống như sau một cơn mưa có gió đã rửa sạch toàn bộ bụi bẩn và lớp màng nhơ bẩn bên ngoài.
Tối hôm qua thầy Hằng Thật đọc vài dòng trong cuốn kinh Hoa Nghiêm và tôi liên tưởng lại khóa tu học đó: “Có một thế giới gọi là ‘Ly Trần (Xa khỏi bụi bẩn)'… thuần thanh tịnh” (1).

Ghi chú:
(1) Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Hoa Tạng Thế Giới 
Trên đó, quá phật-sát vi-trần-số thế-giới, có thế-giới tên Ly-Trần, dùng Diệu-Tướng Trang-Nghiêm làm tế, nương biển chúng-diệu-hoa-sư-tử-tòa mà trụ, hình như chuỗi ngọc, dùng mây ma-ni-vương viên-quang giăng che, mười tám phật-sát vi-trần-số thế-giới bao quanh, thuần thanh-tịnh, Phật hiệu Vô-Lượng-Phương-Tiện-Tối-Thắng-Tràng.



Mười thứ tâm
“Nên biết các thứ tâm này đều là tướng mạo của môn Đà La Ni này. Vậy, ông nên y theo đó mà tu hành”
Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni

Mười thứ tâm hay còn gọi là các tâm trạng (hoặc trạng thái) phát xuất từ Đại Bi Tâm Đà La Ni hoặc thần chú có sức mạnh hơn tất cả các loại vũ khí trên thế gian. Mạnh như thế nào? Vũ khí thì dùng sức mạnh bên ngoài để thay đổi con người, còn 10 thứ tâm phát xuất từ Đà La Ni thì dùng đức hạnh để chuyển hóa tự tánh bên trong và hành vi bên ngoài của tất cả chúng sanh hành theo pháp này. Đây là một sự chuyển hóađích thực, không cần hay mong cầu bất cứ tác động nào. .

Giống như một công thức để làm nên món ăn hoàn hảo, như một công thức hóa học cho một cuộc sống lý tưởng, mười thứ tâm này là các khái niệm được đưa vào thực hành. Điều quan trọng chính là chỗ này. Về mặt tư tưởng, mười thứ tâm này rất tốt đẹp và cao quý. Khi một người dùng năng lượng và sự kiên trì chấp trì thực hành, mười thứ tâm này là những bậc trên chiếc thang dẫn đến trí tuệ viên mãn, để giác ngộ hoàn toàn. Mười thứ tâm này là gì?

1. Tâm đại bi. Quý vị sống và hành động trong tinh thần tỉnh thức hoàn toàn, thấy rằng mình và mọi chúng sanh đều phát xuất từ cùng một chất và các yếu tố như nhau. Chỉ vì một ý niệm vẩn vơ về tâm phân biệt mà có thể thấy những sự sai khác cơ bản giữa các chúng sanh. Taất cả chúng ta đều là một thân, chúng ta nên trân quý nhau như bảo vệ con mắt mình.

2. Tâm bình đẳng. Người trí thấy thiện và bất thiện đều chẳng khác. Hành vi của người đó được kiểm soát tốt đẹp, vô hại và ngay thẳng. Thế thì sao người đó còn phải lo lắng chuyện phá giới luật? Vị ấy giữ tất cả các giới một cách tự nhiên, vị ấy là một người không có giới. Vị ấy coi mọi chúng sanh chính là mình, vậy sao còn có thể phân biệt các chúng sanh?

3. Tâm vô vi. Trong thế gian vạn biến, vị ấy giữ cho tâm mình nơi Tam Bảo được bất biến, thường trụ và không bao giờ hoại diệt.

4. Tâm vô nhiễm vô chấp (không nhiễm ô, không bám chấp). Vì thấy mình và mọi chúng sanh như nhau – đồng một thể, với lòng đại bi dành cho mọi chúng sanh – vị ấy không cảm thấy mình là một cá nhân riêng rẽ. Vị ấy không làm gì cho bản thân. Vị ấy không có lòng ham muốn ích kỷ về sự luyến ái; vị ấy quan tâm đến tất cả mọi người. Vị ấy không cần bám lấy một người đặc biệt hay một phong cách đặc biệt nào khác với những người khác. Điều đó quá ích kỷ, dẫn đến sự ô trược, và bám chấp. Nó sẽ không hòa hợp với tâm Đại Bi.

5. Tâm quán tính không. Vạn vật được tạo thành từ tứ đại thì sẽ trở về tứ đại, kể cả sắc thân. Cuối cùng, không có gì tồn tại lâu dài, tất cả đều rỗng không. Quán sát như vậy, Bồ Tát khởi tâm đại bi tới mọi chúng sanh, những kẻ đang bám chấp vào danh và sắc vì Ngài thấy được họ thọ khổ khi nhận ra những gì họ thấy như thật hóa ra thực chất lại rỗng không.

6. Tâm cung kính.
 Đối với kẻ khác, vị ấy thể hiện sự tôn trọng thực sự, vị ấy cảm thấy điều đó. Đó là cách tốt nhất để chuyển người khác về Vô thượng Bồ Đề.

7. Tâm khiêm nhường. Đối với bản thân, vị ấy không có những ảo tưởng về mình, không có tự ngã, không có cái “Tôi to lớn” và không bám chấp hay có kế hoạch gì cho giây phút tiếp theo, cho năm tiếp theo. Vị ấy khiêm nhường và biểu lộ điều đó. Vị ấy tìm kiếm Bồ đề cho mình và cho người.

8. Tâm bất loạn. Đạo lý nào hôm qua đúng thì hôm nay cũng đúng. Bồ Tát không quên áp dụng đạo lý này vào trong mọi hoàn cảnh bất kể chúng có dễ chịu hay khó chịu vì vị ấy thấy mọi cảnh giới đều trống rỗng như nhau. Vị ấy không mê mờ (vô minh) hay bị cảnh chuyển và vị ấy phản ứng như một tấm gương. Tấm gương phản ánh các cảnh vật một cách hoàn toàn và không lẫn lộn. Khi không có gì diễn ra, Bồ Tát tịch tịnh và sáng suốt (quang minh) như tấm gương.

9. Tâm không vọng, không chấp. Vị ấy không bản ngã, không có tôi, vì thế không có “của tôi”. Không có “của tôi” thì không có ưa thích. Không có ưa thích thì không có phân biệt. Không có phân biệt nên tâm Bồ Tát không có vọng niệm, không nhiễm ô, không có “phải” hay “nên”. Do vậy, vị ấy không dễ bị lay chuyển cũng không chấp chặt vào bất kỳ pháp đặc biệt nào. Đạo của vị ấy là đạo thông suốt vô ngại, đạo hoàn toàn nhận ra tự tính thanh tịnh quang minh.

10. Tâm Bồ đề Vô thượng. Vì mười thứ tâm này đều xuất phát từ lòng Đại Bi nên chúng cũng nhắm điến sự giác ngộ viên mãn cho tất cả chúng sanh. Đó là mục tiêu, là chỗ nương náu, là con đường an toàn dẫn tới chấm dứt khổ đau, đạt được an lạc. Đó là cái an lạc vĩnh cửu, và tự do thật sự. Nó tối thượng và vĩnh cửu. Trong thế giới của bóng tối, tà ác, và vô minh, nó là ánh sáng, sự lương thiện và quang minh.

Mười thứ tâm này có sức mạnh hơn tất cả các loại vũ khí trên thế gian vì chúng khiến cho người ta không còn sợ hãi, vậy ai còn cần đến vũ khí đây? Sự chuyển hóa thực sự từ Đại Bi sang Vô thượng Bồ đề là một sự thay đổi bên trong, một sự trưởng thành không thể đảo ngược từ hạt giống thành bông hoa viên mãn. Thế gian này chỉ có thể được hưởng lợi nhờ vào sự tu tập Đại Bi Tâm Đà La Ni này, bắt đầu từ chính điều này!


Hằng Triều - ngày 26 tháng 8 năm 1977 – trang 156
Tránh sự chặn đứng và phiền nhiễu

Chúng tôi bắt đầu lạy vào ban đêm trong khoảng giờ từ 10 giờ tối đến 6 giờ sáng để tránh sự chặn đứng và phiền nhiễu. Thời gian bái lạy tăng lên, thời gian ngủ giảm xuống. Chúng tôi vẫn lạy vào ban ngày ngoại trừ vào lúc này, sau thời công phu tối, chúng tối bái lạy cho đến 2 hoặc 3 giờ sáng, sau đó lặng lẽ chui vào một nơi kín đáo nào đó để chợp mắt trong vài giờ. Đang thí nghiệm. Việc lạy ban đêm này cũng có thiếu sót và thuận lợi của nó.
Điểm tích cực: lạnh và yên tĩnh; sự tĩnh lặng bên ngoài cho phép chúng tôi nghe âm thanh bên trong rõ ràng hơn. Không bị quấy nhiễu bởi giao thông và những câu hỏi. Thêm thúc đẩy và áp lực.
Điểm tiêu cực: bị vấp phải rãnh, hay ổ gà, căng thẳng với những âm thanh của buổi đêm không thể nhìn thấy: “Cái gì vừa bò qua tay tôi vậy?” Không thể nhìn thấy phân chó, phân ngựa hoặc miểng chai. Kiệt sức.
Chúng tôi đi đến khu chợ ở Santa Barbara để mua một vài vật dụng. Những con phố nồng nặc mùi và đầy màu sắc, cảnh đẹp và sự khoái lạc dành cho tất cả giác quan. Tôi nghĩ đến một đoạn trong Đạo Đức Kinh khi chúng tôi tập trung công việc và lặng lẽ bái lạy bên trong.
Người giữ Đạo lớn,
Đi khắp thiên hạ,
Đến đâu cũng không hại,
Khắp chốn yên ổn thái bình.
Âm nhạc và mỹ vị,
Làm khách qua đường dừng lại.
Đạo nói ra lời thì lạt lẽo vô vị.
Đạo nhìn không thấy hết,
Lắng nghe không nghe hết.
Nhưng dùng Đạo thì vô tận.
Đạo Đức Kinh – chương 35
Đêm là thời điểm hoàn hảo cho sự bám chấp vào sự tồn tại. Màn đêm, cái lạnh đã khiến chúng tôi đối mặt với điều gì đó thú vị và đáng sợ. Chúng tôi nhìn thấy sự bao la của vũ trụ và những thế giới khác khi chúng tôi nhìn lên, và cả sự nhỏ bé và dễ tổn thương của bản thân. Ban đêm, chúng ta tìm kiếm tình cảm, đồ uống nóng, lò sưởi, một chỗ ấm cúng, đồ ăn nóng, và trò tiêu khiển. Cùng lúc đó, chúng ta dạo chơi với bóng ma đêm này; đi cắm trại, độc bộ khuya, những câu chuyện ma chung quanh đống lửa, và những thứ tương tự như thế. Sợ hãi và thách thức, kinh ngạc và trốn thoát – đêm là một tấm gương phản chiếu vào phần sâu thẳm nhất của con người ta và là cửa sổ mở ra điều gì đó ở phía trước. Vì thế, đêm cũng là một thời điểm tốt để nhìn vào gương, qua cửa sổ, và đi xuyên qua để đến địa điểm mới.
Tôi đang bắt đầu hiểu lời giảng giải của Hòa Thượng: “Đuổi ma, tìm Phật”. Và “Hãy chuyển cảnh chứ đừng để cảnh chuyển”. Sẽ đến lúc mọi thứ trở nên rối tung và không có gì chắc chắn, quen thuộc hay có thể dự đoán được nữa. Đó là lúc chúng ta thắp lên ngọn lửa bên trong, thắp sáng tâm trí hết sức mình , nhìn thẳng sự việc và nói “La la la! Hãy để mọi thứ đến tự nhiên!”

Ghi chú:
(1) Đạo Đức Kinh – chương 35

執大象,
天下往。
往而不害,
安平太。
樂與餌,
過客止。

道之出口,
淡乎其無味。
視之不足見,
聽之不足聞,
用之不足既。

Chấp đại tượng,
Thiên hạ vãng。
Vãng nhi bất hại,
An bình thái。
Nhạc dữ nhị,
Quá khách chỉ。

Đạo chi xuất khẩu,
Đạm hồ kì vô vị。
Thị chi bất túc kiến,
Thính chi bất túc văn,
Dụng chi bất túc ký。


Hằng Thật – Tháng 8 năm 1977
Đào xới lên những phần xấu xa
Ghi chép của thầy HằngTriều:

Giờ tôi đã bắt đầu hiểu về tu hành một chút và tu hành chính xác là việc đào xới lên những phần xấu xa của bản thân và đối diện với những phần xấu xa đó – làm tan rã và tái tạo lại. Chỗ quan trọng nhất là bất kể quý vị là ai, đang cùng với ai, hay thậm chí thầy của quý vị là ai – nếu quý vị đủ may mắn để tìm thấy một người thầy, tất cả những điều đó không quan trọng. Tu hành là nhìn trơ trọi hoàn toàn không tô vẽ và chủ yếu là nhìn vào chính mình. Tại sao lại là chính tự ngã mình? Bởi vì tự ngã là thứ giúp quý vị thực hiện công việc tu hành, và tự ngã là thứ duy nhất ngăn cản quý vị thực hiện công việc tu hành. Phá xuyên thủng nghịch lý này là một công việc hôi thối, khó khăn vất vả, cả về thể chất lẫn tinh thần. Đôi khi, mọi lời nói thì hời hợt, và tất cả là khảo nghiệm để xem quý vị có nhụt chí hay từ bỏ không. Nếu đối mặt với khảo nghiệm thì quý vị đang làm tốt đẹp. Nếu giấu giếm che lấp đi, là chúng ta đang lãng phí cuộc đời mình.


Bị nghi ngờ về “trụ”

Cố gắng hạ xuống khí hỏa trong người do việc ngủ ít, lạy nhiều hơn. Vấn đề là, chúng tôi không dừng lại đủ lâu để ngồi thiền mà không bị nghi ngờ về “trụ”.



Chúng tôi nhìn thấy các hình dạng giống nhau trong những đám mây và trong bóng tối


Mọi duyên đều không nên ràng buộc

Mọi người có những sợi dây ràng buộc nhau gọi là những nhân duyên hay hoàn cảnh tương quan. Với từng lời nói, hành vi, và suy nghĩ, chúng ta đẩy hoặc kéo sợi dây nhân duyên về phía có lợi hoặc phía có hại. Điều này đúng đối với tất cả mọi thứ, và mọi nơi, chứ không chỉ đúng với con người, nhưng “con người” là chủ đề ở đây. Chúng ta sẽ bàn luận về những thành phần còn lại sau.
Tại sao có người lại kết hôn? Tại sao một người cha lại giết con trai của ông ta? Tại sao một người được mọi người ưa thích trong khi em trai người đó thì bị mọi người ghét bỏ? Tại sao quý vị bị thu hút mạnh mẽ bởi người bạn này, và tại sao các bạn của anh ta lại lạnh lùng chẳng thu hút quý vị? Đó đều là do nhân duyên mà quý vị đã gieo trồng trong quá khứ (và đang tạo ra nhân duyên ngay trong phút giây này).
Thầy Hằng Triều và tôi có nhân duyên sâu nặng về mặt tích cực. Chúng tôi rất giống nhau đến nỗi chúng tôi hợp nhau ngay cả trong trực giác của chúng tôi, chúng tôi thấy những hình dạng giống nhau trong những đám mây và trong bóng tối.Chúng tôi cùng hòa một âm khi hát trong các buổi công phu sáng và tối. Tôi dần tin tưởng vào sự tương hợp của chúng tôi. Khi chúng tôi lễ lạy, nếu tôi phải tạm dừng để uống nước hoặc đi vệ sinh thì tôi biết rằng mình chỉ cần chờ đợi thầy Hằng Triều lạy thêm vài lạy nữa để cũng có sự thôi thúc như mình, và thầy Hằng Triều sẽ xuất hiện bên phải tôi và nói “Tôi phải dừng ở đây” hoặc “thầy có muốn uống nước không?”. Mọi thứ diễn ra như thế này vào mọi lúc và các chặng đường trên hành trình của chúng tôi. Chúng tôi chia sẻ với nhau các ý tưởng và lịch trình hằng ngày giống nhau,. Cuộc sống lúc còn là cư sĩ của chúng tôi cũng quá tương tự nhau khiến cảm thấy hơi kỳ lạ - tỉ lệ cơ may do trùng hợp như không có. Tóm lại, chúng tôi có mối nhân duyên rất mạnh mẽ.
Mối quan hệ của chúng tôi trong cuộc đời này, trên hành tinh này chỉ mới bắt đầu vài tháng trước khi chúng tôi bắt đầu hành trình bái lạy. Áp lực dồn lên tâm và trí chúng tôi có thể trở nên khá nặng nề – hai người va chạm nảy lửa thì sẽ không tồn tại – họ sẽ sử dụng năng lượng của mình để chống nhau và phòng thủ trước các đòn tấn công của đối phương. Đó sẽ là một công việc đơn độc và đau đớn.
Chúng tôi hòa hợp với nhau trên mọi mức độ đến nỗi chúng tôi có loại vấn đề ngược lại. Hẳn là dễ dàng khi cùng nhau làm việc , cùng có những khoảng thời gian tốt đẹp nhất, thực hiện công việc khá khó khăn nhưng luôn nương tựa vào hình thức trao đổi cũ để trút bỏ đi hơi nóng do áp lực một cách an toàn và vô ích khi việc tiếp tục hành trình trở nên khó khăn. Như thế thì bảo đảm rằng chúng tôi sẽ về đến Vạn Phật Thánh Thành mà chẳng khôn ngoan hơn chút nào so với khi chúng tôi bắt đầu hành trình. Thật là điều cám dỗ để thích thú có người đồng hành tốt, và trở nên xã giao và nói nhiều. Một lần nữa, điều này sẽ bảo đảm là không có thành tựu và sẽ đi ngược với lời huấn thị cuối cùng tốt đẹp nhất dành cho chúng tôi: “Đừng nói chuyện, chỉ nói khi lời nói có ích. Đừng làm mất năng lượng của các con”.
Quan điểm của thầy Hằng Triều về mối quan hệ của chúng tôi làm thấy xuyên suốt mối liên kết hiện tại này. Thầy nói “Đây là mối liên kết của chúng ta, nhân duyên của chúng ta. Khi chúng ta đến điểm này, chúng ta phải hết sức thận trọng để hoàn thành lời nguyện với nhau bằng lòng từ bi, để độ chính mình và độ lẫn nhau. Chúng ta có thể và đã làm mất cơ hội với nhau và với bản thân (biết bao nhiêu lần?). Đây là cơ hội để thực hiện thật sự, để quay vào bên trong và đừng làm gì để giúp dễ dàng cho nhau vì chúng ta không thể buông bỏ ‘cái tôi’”.
Chúng tôi luôn đến điểm này – đây là nơi chúng tôi biết nhau – những nhân duyên trần tục chỉ là những ký ức tăm tối về những sự thoát lậu. Nghe có vẻ không được tự nhiên – tại sao hai người hòa thuận với nhau, vui vẻ với nhau và không tranh giành nhau lại quyết định ngừng việc cho và nhận của họ?
Câu trả lời là: điều mà chúng tôi đang làm không tự nhiên; nó không bình thường. Chúng tôi đang cố chấm dứt dòng chảy phàm phu – cố đảo ngược tiến trình sanh tử. Nó đòi hỏi nỗ lực tập trung để chặt đứt các chu trình trong cuộc sống và không dành năng lượng để có thời gian giải trí hay chơi đùa hay thư giãn. Nó giống như nấu chảy quặng kim loại để lấy vàng – nếu tắt lò lửa không đúng thời điểm hoặc để nóng quá, dù cách nào thì quý vị cũng làm hư hỏng kim loại.
Bây giờ chúng tôi đang làm những điều quan trọng hơn, nghiêm túc hơn và sẽ không có gì bị mất đi nếu chúng tôi để cho người kia yên dù khi chúng tôi cảm thấy cần trêu đùa hay nói luôn miệng hoặc xả bớt áp lực.
 


 








Có hơn 84.000 tấm cạc tông Phật Pháp

Lạy quanh khu vực thương mại, xuyên qua các khu dân cư vùng ngoại ô. “Cho đến bây giờ, các thầy học được điều gì trong cuộc hành trình của mình rồi?” một cặp đôi trẻ tuổi hỏi khi họ tới cúng dường.
“Nói ít, làm việc chăm chỉ, và kiên nhẫn”.
“Chuyện gì sẽ xảy ra khi các thầy đi về phía bắc của nơi này. Chẳng có gì cả. Chỉ là một vùng quê hoang tàn trải dài liên tục. Có lẽ chẳng có lương thực và nước trong nhiều dặm”.
“Chúng tôi sẽ làm gì?” Tôi nghĩ. Nhưng bằng cách nào đó tôi biết rằng dù chuyện gì xảy ra cũng không sao – cho dù đó là chuyện gì đi nữa. “Chúng tôi sẽ cố gắng chân thành ngừng lại từng lúc. Nếu chúng tôi có thể làm như thế và làm việc chăm chỉ thì chúng tôi sẽ có được bất cứ những gì cần thiết”. Nếu chúng tôi có thể bước đúng từng bước một thì chỉ có những điều đúng đắn ở phía sau và phía trước chẳng có gì phải lo sợ cả. Chúng tôi cũng học được một điều khác nữa: đơn giản hãy làm việc chăm chỉ và không vọng tưởng, đừng lên kế hoạch trước.
Một con ong đang bay vo vo điên cuồng trong xe, nó đâm và đập thân vào tấm kính phía trước xe với hy vọng để được bay qua. Cửa xe và cửa sổ xe chung quanh đều đang mở. Chỉ cần một cú xoay chuyển đơn giản và trong chớp mắt con ong có thể thoát ra ngoài qua bất kỳ một cái cửa nào. Nhưng con ong tội nghiệp vẫn luôn theo lối cũ, cho nên nó liên tục nỗ lực vô ích.
Tất cả những gì ở giữa chúng ta và sự giác ngộ chính là sự bám chấp và vọng tưởng. Đây chính là những gì mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tuyên nói sau khi Ngài giác ngộ. Giống như tấm kính xe chắn gió, chúng ta thường có thể nhìn xuyên qua nhưng không thể cắn thủng xuyên qua nó được. Chúng ta mong mỏi sự tự do và trí huệ chân thật, thế nhưng dường như lại không thể thực hiện bước đầu tiên: “S đảo ngược vĩ đại” xoay lưng lại với bụi trần và phát Bồ Đề tâm. Cũng giống như con ong, chúng ta ngớ ngẩn liên tục vỗ cánh bám vào những thói quen ngu ngốc của chúng ta và đồng thời khao khát sự tự do. “ Vù vù, ầm, vù vù, ầm. Ôi, đau quá. Tại sao lại là tôi? Tội nghiệp tôi quá” Con ong nói. Đây chính là ý nghĩa, tôi nghĩ, trong Kinh Pháp Hoa, “Lấy khổ muốn bỏ khổ" (1).
Tôi lót một tấm cạc tông lên cửa sổ. Con ong lao vào, ngưng lại trong giây lát. “Mất rồi. Tôi không thể nhìn thấy bầu trời và những hàng cây nữa. Mất hết rồi. Trống rỗng. Chẳng còn gì nữa”. Rồi nó xoay vòng lại và bay qua chiếc cửa đang mở. Tự do!
Đối với tôi và nhiều người khác, Kim Sơn Thánh T và Thiền Sư Tuyên Hóa đã đưa lên một tấm cạc tông – có hơn 84.000 tấm cạc tông Phật Pháp ấy – để chấm dứt hết thảy cái sự vo ve và va đập của tôi,và cho phép tôi nhìn thấy tất cả các cửa và cửa sổ khác đang ở chung quanh tôi. Tất cả đang mở rộng, chờ khám phá.
Tiền cúng dường:
Pat và Bill Chiang: 10 USD
Chen Lee và gia đình: 20 USD.
Nguyễn Thị Gái: 20 USD.
Thân Hiếu: 50 USD.
Huỳnh Thị Kim Ngân 10USD, cúng dường bữa ăn trưa và các vật dụng khác.

Là một sa di, tiến trình xuất gia tiến triển chậm chạp và đầy ắp nỗ lực để “về nhà”, nghĩa là đi ngược lại những thói quen và bám chấp cũ.
Điều cơ bản và “tự nhiên” nhất là sự ham muốn. Người ta nói rằng ham muốn tình dục là nguồn gốc của sanh tử; Kinh Lăng Nghiêm nói rằng, “Lòng dâm không dứt, Trần gian chẳng thoát ".
Một khi quý vị phát cái tâm hiểu biết điều này, và “ra khỏi nhà - xuất gia”, thì công việc lúc đó là tiếp nhận quyết tâm này và làm cho việc “xa lìa mọi ham muốn và nhiễm ô” trở nên tự nhiên. Các luật nghi (oai nghi) và giới luật được thiết lập chỉ vì mục đích đó và cũng như “chim thì cần đôi cánh”, còn “người tìm kiếm sự tĩnh lặng” (sa di) thì cần những luật nghi này.
Khi các tình huống nảy sinh và nếu chỉ có chút ít định lực và trí huệ, thì rất dễ dàng bị “ đối cảnh lầm không biết” và rớt sự khảo nghiệm.
Một trong những quy tắc hướng dẫn là “không nói chuyện với phụ nữ, đặc biệt là chỉ có hai người hoặc chỗ riêng tư”. Hôm nay, trong khi chúng tôi đậu xe ở dưới lùm cây bên ngoài đường xa lộ để dùng bữa ăn trưa, thì một viên cảnh sát tới và kiểm tra chúng tôi. “ Được rồi, ra khỏi xe – nhanh lên, đi nào!” Vói tay lấy “hộp giấy tờ pháp luật” gồm có danh thiếp, thơ di chuyển, các thứ giấy tờ chính thức khác, tôi đi ra khỏi xe cố gắng kiểm soát và làm dịu tình hình. Nhưng sau một cuộc đàm thoại dài với người cảnh sát, đột nhiên các quy tắc đó chợt lóe lên trong tôi vì tôi đã thậm chí không vượt qua nổi cái phù hiệu và bộ đồng phục màu xanh.
Thầy Hằng Thật ngồi lặng người trong xe nghe và xem, trong khi cả phần ăn trưa và năng lượng của tôi trở nên lạnh cóng. “Thầy không phải nói chuyện với viên cảnh sát, mà thầy nói chuyện với một phụ nữ”, thầy ấy viết thế. Tôi đã cảm thấy thế nào? Con chim cảm thấy thế nào nếu nó thiếu mất đôi cánh?
Đạo Phật là giáo lý của vũ trụ. Nó bao gồm tất cả mọi vật và chẳng loại trừ cái gì cả. Rộng lớn và vĩ đại như đại dương và hư không, không thể bị phân cách bởi hàng rào hay chia chẻ. Đôi khi điều đó quá lớn lao đối với chúng ta. Tâm trí của chúng ta bị bám chấp và mê mờ. Vì thế, thay vì mở rộng sự giới hạn của chúng ta, chúng ta lại giới hạn sự mở rộng của mình. Với những con dao mổ và con dao cắt, chúng ta cắt đôi và mổ xẻ. Từng phần, từng phần, nhiều phần! Chúng ta đẽo gọt và cắt tỉa cho tới khi tìm được cái mẩu phù hợp với mình. “Ồ, đúng rồi, cái miếng đó đẹp đấy, tôi sẽ lấy nó!” chúng ta nói một cách hạnh phúc. “Đó đúng là cái mà tôi đang tìm kiếm”. “Giáo phái của các anh là gì?” một người đàn ông ở Santa Barbara hỏi. “Tôi không thể theo dõi được hết, chắc hẳn phải là 80,000 hoặc hơn chứ hả?” anh ta nói thêm.
Có cùng một thể tánh với tất cả chúng sanh và vạn vật thì gọi là đại bi (Đồng thể tức đại bi). Đại bi là chất keo dính cần thiết để gắn tất cả những miếng nhỏ đó trở lại với nhau – “để quay trở lại cội nguồn” (phản bổn hoàn nguyên). Hoặc như một người phụ nữ nói khi cô ấy với tay qua hàng rào để đưa cho chúng tôi mấy trái cà chua hái từ vườn nhà mình, “Dù các anh là ai thì điều đó cũng không thành vấn đề gì lắm. Tất cả chúng ta đều cùng đến và cùng đi từ cùng một nơi thôi, tất cả mọi vấn đề khác không quan trọng, đúng không?”
Thật khó để tìm được một chỗ cắm trại ở trong thành phố. Cảnh sát dừng lại và hỏi chúng tôi ngay khi trời bắt đầu chạng vạng tối.
Ghi chú lại cho bản thân tôi: Mấy đêm tuần vừa rồi lạy đêm và ngủ ít, ngươi bị đẩy tới những điều thật sự căn bản–như là bám chấp vào sự hiện hữu và “gia đình”. Nếu ngươi có thể từ bỏ, thì hãy từ bỏ và tiến bước. Nhưng nếu ngươi từ bỏ mà tâm trí không thực sự từ bỏ thì chỉ lãng phí thời gian và công sức và không chân thật. Mình phải lựa chọn và xác định tư tưởng: đi hay ở. Điều mấu chốt là phải vượt qua khỏi chỗ cả hai đều có th được, nghĩa là nửa ở và nửa đi. Ngươi đã làm điều đó quá nhiều lần rồi và điều này đã gây ra vô vàn nỗi đau và rắc rối cho những người khác.
Còn nhớ điều nhận định của ngươi về việc xuất gia không? Khi ngươi bước vào cửa chùa Kim Sơn, buổi giảng vừa mới bắt đầu. Nếu như ngươi đã chuẩn bị quyết tâm, thì ngươi cần phải làm điều đó ngay lập tức – không có thời gian để suy nghĩ. Trong thâm tâm, ngươi biết rằng ngươi chỉ có thể đi. Ngươi biết mình không thể ở lại và cũng không thể có được cả hai. Vì thế, tận trong thâm tâm hãy từ bỏ hết mọi thứ. Đừng nhầm lẫn sự ham muốn ở lại cùng với những lợi ích gia đình của ngươi.
Lợi ích cho họ về việc ngươi tu hành theo Đạo hết khả năng của mình thì to lớn hơn gấp nhiều lần so với bất kỳ sự việc trần tục nào mà ngươi có thể làm hoặc đáp ứng được cho họ. Mối nghi này đang là “sai một ly” ở lúc khởi đầu. Và đến lúc cuối thì ngươi đã cách xa cả nghìn dặm rồi. Hãy buông nó ra đi. Thực hành theo Đạo bằng cả trái tim mình. Đừng đuổi theo cái nhỏ bé và dễ dàng, được không? Được.
Mọi thứ thay đổi, không có gì dừng lại. Bạn bè, gia đình, chồng, vợ, con cái, tất cả dịch chuyển và biến mất. Ngươi cần phải từ bỏ khi có cơ hội và thực sự có thể làm một vài điều tốt đẹp nào đó. Hãy tu hành liền bây giờ! Đừng ngồi chờ chết và chờ đến lúc tách rời mình và những người khác. Cuối cùng thì ai cũng phải tự mình đối mặt với điều đó, một mình. Cha mẹ của ngươi sẽ như vậy và họ đều biết điều đó. Cha mẹ của họ đã như thế và họ cũng đã biết điều đó; Rằng không đối mặt với nó một cách chân thật, điều này thật lãng phí và ngốc nghếch; và cuối cùng là sự ích kỷ nhất trong mọi hành động. Nếu ngươi thành thật muốn trả ơn lòng tốt của cha mẹ, thì đừng ngu ngốc và lãng phí cuộc đời mình như thế. Hãy hoàn toàn rõ ràng về sự thật của những vấn đề này.
Chúng không chỉ là những lời nói và ý tưởng. Cần phải rất rõ ràng về điều này rồi tận lực làm việc chăm chỉ hết sức mình để làm những điều gì đó thực sự có ý nghĩa. Hãy cố gắng hết sức mình.

Cuộc đàm thoại với Dan, một thợ máy xe hơi tại trạm xăng ở Santa Barbara.
Dan: “Các thầy có chuyện gì vậy?”
Tôi: “Chúng tôi có hai chỗ rỉ lớn, cần xăng, nước và vài lời chỉ dẫn nếu anh có thời gian”.
Dan: “Đó là chiếc xe cổ điển đời 56 phải không?”
Tôi: “Đúng thế. Đoán hay lắm”.
Dan: “Anh trai tôi có một chiếc. Để tôi xem có thể làm gì được nào. Thế các thầy đang làm gì ở ngoài đó thế?”
Tôi giải thích cuộc hành hương.
Dan: “Trông có vẻ kỳ quặc”.
Tôi: “Mọi thứ không phải lúc nào cũng như mình thấy”.
Dan: “Điều đó chắc chắn rồi. Này, hai con ốc lớn bị lỏng. Bởi vậy mới bị rỉ. Tony, lấy cho tôi một cây nối mở ốc 5/16”.
Tôi: “Vậy sao?”
Dan: “Các thầy sẽ là chiếc xe chậm chạp nhất ở San Francisco”.
Tôi: “Không sao. Chúng tôi cần chậm lại”.
Dan: “Tôi cũng vậy, nhưng không phải chậm đến như thế. Nếu tôi phải làm việc đó, thì tôi sẽ đem theo xe mô tô của tôi”.
Tôi: “À, chúng tôi sắp lạy dọc theo đường rầy xe lửa, vì thế…”
Dan: “ Sẽ được thôi! Vẫn kỳ quặc, tôi nghĩ”.
Tôi: “Nhìn bề ngoài trông nó có vẻ kỳ lạ, nhưng bên trong nó là việc tốt nhất mà tôi đã từng làm qua”.
Dan: “Thật sao? Máy xe bị nứt. Tôi nhìn thấy khói trắng phả ra phía sau khi anh đề máy xe. Nghĩa là có nước ở trong động cơ”.
Tôi: “Thật chứ?”
Dan: “Nó sẽ là một vấn đề.”
Tôi: “Máy xe bị nứt?”
Dan: “Không, đường rầy kìa. Anh đã từng đi bộ theo đường rầy bao giờ chưa ? Đường rầy không bằng phẳng. Anh không bao giờ có nhịp điệu hoặc bước đi đều đặn”.
Tôi: “Có lẽ anh nên đi theo chúng tôi. Chúng tôi không có đầu óc hoạch định. Anh có thể hiểu ra được các vấn đề đó ”.
Dan: “Tôi sẽ dùng xe đạp – nhanh hơn. Chiếc xe Plymouth cũ kỹ đó có thể đi tới nơiHmmm. Có thể lắm. Cho dù như vậy, nó vẫn trông hơi kỳ quặc”.
Tôi: “Khi chúng tôi di chuyển và thay đổi đó là ở bên trong, nó chẳng có vấn đề gì cho dù chúng tôi chạy nhanh như thế nào và dù trông nó ra sao”.
Dan: “Không tính tiền. Rất dễ sửa. Anh biết không”. Lần đầu tiên anh ta nói chậm rãi và nghiêm túc trong suốt cuộc đàm thoại: “Tôi đã ở yên một chỗ trong suốt hơn năm năm qua rồi”, anh ta chỉ tay về phía trạm xăng. “Năm năm ở yên một chỗ và tôi vẫn chẳng ở đâu cả”.
Tôi: (yên lặng).
Dan: “Chúc may mắn. Dù sao thì trông nó cứ kỳ quặc thế nào ấy”.

Tiếng vang của lòng từ bi
Một chiếc xe tải thắng két bánh trượt vào lối đậu xe phía trước trong khi người lái xe hét lên với chúng tôi. Một người đàn ông vẻ dữ tợn, vạm vỡ bước ra khỏi xe và đứng trong tư thế tấn công ở phía đằng trước chúng tôi. “Đây là nhà của tôi, chỗ này – ra khỏi đây!” Thầy Hằng Thật vẫn yên lặng lạy tiến về phía trước. Khi thầy ấy đi qua phía sau của chiếc xe thì một người đàn ông khác liền tăng ga đe dọa, định cán qua thầy Hằng Thật. Thầy Hằng Thật liền nhẹ nhàng tụng, “Hoa Nghiêm Hải Hội Phật Bồ Tát” và bước ba bước đều đặn. Chiếc xe tải di chuyển và tắt máy. “Biến ngay ra khỏi sân nhà tôi hoặc là…” Không phản ứng. Cuối cùng, khi chúng tôi đi qua, “Các anh đang làm gì thế?” Chúng tôi đưa cho anh ta một bản thông cáo và trả lời vài câu hỏi. “ Đi qua khỏi San Francisco luôn sao?” anh ta nói tiếp và rồi thì: “Các anh bảo trọng nhé”.
Suốt thời gian lúc đó tôi đã liên tục niệm “Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát” và nghĩ về anh ta như là cha hoặc là chú của mình. Nhưng sự kiên nhẫn, động thái di chuyển chậm rãi và sự yên lặng thực sự đã làm cho người ta dừng lại và suy xét lại về những gì mình đang nói. Sự yên lặng của thầy Hằng Thật giống như là một tiếng vang t bi – tất cả những gì người ta nghe thấy đều là âm thanh từ trái tim mình. Tôi đã chứng kiến rất nhiều người đã chuyển lại suy xét trong thâm tâm mình khi sự yên lặng của thầy ấy khiến cho họ tự hỏi. “Nếu giữ im lặng trong vòng một năm sẽ như thế nào? Tôi sẽ tìm thấy gì ở trong mình?” Và vào đúng lúc yên lặng đó, nếu người ta tự hỏi mình câu hỏi ấy, thì chắc hẳn họ sẽ tìm thấy điều gì đó.
Phật Pháp thật là vi tế, tuyệt vời và khó mà đo lường được. Tất cả mọi ngôn từ và lời nói đều không thể diễn tả được…

Xa lìa mọi ngôn từ (3)

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Quang Minh Giác

 
Ghi chú:

(1) Kinh Pháp Hoa, Phẩm Phương Tiện 
Do tham-ái tự che
Ðui mù không thấy biết
Chẳng cầu Phật thế lớn
Cùng pháp dứt sự khổ
Sâu vào các tà-kiến
Lấy khổ muốn bỏ khổ
Phật vì chúng-sanh này
Mà sinh lòng đại-bi.



Hằng Triều - Ngày 03 Tháng 9, 1977
Giống như viên đá bị đánh xuống bằng tay
Cuối tuần của lễ Lao Động – tắc nghẽn giao thông nặng nề và bất cẩn.
Một chiếc xe chạy vụt qua. Một chai bia chưa mở nắp bay từ cửa sổ xe về phía chúng tôi. Vào giây cuối cùng, giống như bay vòng cong chậm vào trong, chai bia quẹo lách giữa hai chúng tôi và bể tung tóe vào đám bụi cây khô gần đó với tốc độ 50 dặm/giờ (1). Tôi nghe thấy tiếng kêu gầm của động cơ chiếc xe đã được cải tiến (động cơ) giảm dần, vào số và đạp thắng lại ở phía đằng sau chúng tôi. “Ồ! Không xong rồi!”, tôi nghĩ, “Họ đang quay trở lại”.
Chiếc xe tấp ra khỏi con đường đối diện chúng tôi. Hai người đàn ông bước ra. Họ lắc lắc nắm đấm về phía chúng tôi – nửa cười chế nhạo, nửa tức giận. Người thứ nhất, rồi người kia, bắt đầu ném vòng và ném thẳng những hòn đá to bằng nắm tay về phía thầy Hằng Thật. Nhưng những hòn đá dường như không thể chạm vào thầy ấy. Tôi quan sát không thể tin được và chẳng làm gì được (“Một vị Hộ pháp nào đó”, tôi nghĩ). Từng hòn đá chuyển hướng hoặc trượt. Một viên đá ném mạnh vào chỗ cao chừng ngang ngực và vào giây cuối cùng thì viên đá rớt xuống và lăn khỏi xa lộ – giống như viên đá bị đánh xuống bằng tay vậy. Thầy Hằng Thật vẫn tiếp tục lạy. Sau bẩy hoặc tám cú ném, tôi lấy ra tập giấy và cây viết, giả vờ như ghi lại bảng số xe của họ. Họ liền nhảy vào xe và rú mạnh xe chạy mất.
Bà Hsiao và con gái, cùng Pat Chiang mang tới cho chúng tôi bữa ăn trưa đầy bất ngờ, một ít hương, đồ dùng và một cái bình thủy (thermos) để đựng nước nóng. Họ lái xe từ tận thành phố Los Angeles. Bà Hsiao thức dậy trước lúc bình minh để chuẩn bị thức ăn.
Khi tôi đang lạy, tôi “thấy” những người ở chùa Kim Sơn. Khuôn mặt họ lấp lánh và tỏa sáng, mỗi người trong số họ đều có cơ hội để thực hiện “cuộc hành hương” tương tự khi họ tu hành tâm địa của mình để tìm bản tính chân thật của họ. Khuôn mặt của họ đều hạnh phúc, đầy hoan hỷ và thanh tịnh. Tất cả những vết hằn và nếp nhăn của sự phiền não đều biến mất. Linh ảnh này đã thực sự làm tôi xúc động.

Ghi chú:
(1) Khoảng 80 km/giờ.

Hằng Thật. Tháng 9, 1977
Một lý tưởng được hiểu một cách rất tệ

Có câu rằng, “Trong tất cả sự bố thíbố thí Phật Pháp là cao cả nhất”. Đây là một ví dụ khác về gương mẩu hạnh Bồ Tát của Hòa thượng trụ trì. Tại chùa Kim Sơn Thánh T, mọi ngày trong năm, và hai lần trong những ngày cuối tuần, có một Pháp hội được tổ chức và có cơ hội để được nghe những lời của Đức Phật và lời diễn dịch chú giải. Không nơi nào trên thế gian này có được sự bố thí Pháp lớn lao như thế diễn ra với một quy mô đến nhường ấy. Tất cả những người tu hành chân thành đều có thể tham gia.
Để làm một vị Bồ Tát, cần thực hành hạnh bố thí. Bồ Tát bố thí tất cả của mình cho những người khác.

Mạnh Mẽ Hơn Cả Tình Thương Yêu: Cứu Một Vong Linh.
Tu hành đòi hỏi năng lượng để tạo sức mạnh cho tư tưởng giác ngộ. Tư tưởng này mạnh mẽ hơn cả tình thương yêu. Mặc dù quý vị không thể thấy được quyết tâm của Bồ Tát để có được cực lạc và chấm dứt đau khổ cho chính mình và tất cả chúng sanh, đó là một nguồn lực mạnh mẽ nhất: đủ mạnh để đưa ngài ra khỏi những thói quen của vô lượng kiếp; đủ mạnh để đánh bại sự lôi kéo của mọi ham muốn, sự dính như keo của mọi phiền não, sự nương tựa tự nhiên” vào gia đình, vào sự thoải mái tiện nghi, và sự đảm bảo vật chất. Trước khi vị Bồ Tát đủ tiêu chuẩn để có được lòng Đại Bi, vị đó cần phải cắt bỏ ham muốn và từ bỏ s yêu thương (đoạn dục khử ái). Đối với những người phương Tây chúng ta, khái niệm này nghe có vẻ khắc nghiệt và không tự nhiên. Đầu tiên, chúng ta đã được nuôi nấng dạy dỗ rằng yêu thương là điều tối quan trọng của cuộc đời. Nếu quý vị không cảm giác được yêu thương, thì quý vị đang sống không đúng rồi. Đó là điều mà chúng ta được dạy. Nhưng yêu thương thì chỉ là một từ ngữ, một ý tưởng được hiểu một cách rất tệ, và các tổn hại bị gây ra nhân danh yêu thương còn nhiều hơn là chúng ta muốn tin tưởng. Yêu thương thường xuyên nhất là một ước muốn vô thức được ném tới người khác. Yêu thương thường xuyên được thúc đẩy bởi sự ham muốn ích kỷ để được trở nên lớn hơn hoặc hạnh phúc hơn bằng cách “sở hữu” một người yêu, hoặc tham gia một nhóm tuyên bố thương yêu những nhóm khác làm cái dấu hiệu đặc trưng của họ. Tình yêu thanh tịnh rất khó tìm được và càng khó để mà giữ được.
Khi tình thương yêu  thanh tịnh, thì tình thương yêu đã trở thành lòng từ bi. Lòng từ bi thì rộng lớn, vô ngã và hoàn toàn không phân biệt. Bồ Tát, vì từ bi nên nguyện cứu tất cả chúng sanh, bao gồm cả côn trùng, gấu và ma quỷ. Không một ai đã từng tuyên bố là yêu thương ma quỷ cả, nhưng Bồ Tát phát nguyện cứu độ thậm chí cả ma quỷ. Đây là việc làm của lòng từ bi và nó lớn mạnh hơn cả tình thương yêu.

Pháp Môn Tịnh Khẩu.
Ai có thể tưởng tượng được rằng để tịnh khẩu đòi hỏi phải có sức mạnh và nỗ lực? Ngậm miệng lại phải tự nhiên và không cần nỗ lực. Đối với một số người, việc không chuyển dẫn năng lượng ra khỏi đầu qua mắt hoặc miệng thì khó khăn như việc không được cử động chân khi bị đau trong khi ngồi thiền. Nếu quý vị cảm thấy mệt mỏi hay yếu đuối, thì việc nói chuyện khởi ra, không đủ nội lực để giữ cho cái miệng ngậm lại.
Vì thế, không nói chuyện trở thành một pháp môn đích thực, là cách để xoay chuyển chiếc xe trâu trắng lớn (1) và đảo ngược dòng chảy tự nhiên của sự tồn tại (hữu) xuống sanh và tử (2).

Họ Hoàn Hảo Trí Huệ Bình Đẳng Của Tất Cả Các Pháp
Vị Bồ Tát này sống trong khu rác thành phố. Ông ấy làm nhà trong một cái đống rác ấm, ẩm ướt. Chiếc ghế của ông được làm từ chiếc lốp xe bị bỏ đi, bàn ăn của ông là cái tủ lạnh bị hư hỏng, giường nằm của ông là chiếc bồn tắm cũ kỹ. Ông ấy ngồi thiền ở dưới một đống xe hơi rỉ sét phế thải, ông ấy lạy Phật và trì chú phía dưới tàng cây khuynh diệp trong khu rừng nhỏ bên cạnh bãi rác xe hơi phế thải.
Ông ấy không cảm thấy bất hạnh hay bị tước đoạt. Ông ấy cảm thấy tự do và giàu có. Hoa nở khắp mọi nơi giữa những đống rác; ông ấy có chuột, mèo, dơi và côn trùng làm hàng xóm. Chúng không sợ ông và ông cũng không sợ chúng. Thức ăn của ông không bao giờ giống nhau, và ông cũng không bao giờ lãng phí một mẩu nhỏ đồ ăn ông cóÔng tắm rữa khi trời mưa trong chiếc nắp đậy bánh xe Cadillac; tâm trí và trái tim ông không một vết bẩn – hoàn toàn thanh tịnh . Vị Bồ Tát này đã tìm được sự giác ngộ không nằm ngoài thế gian.
Vị Bồ Tát này không mất tinh thần vì rác và bụi bẩn tồn tại trên thế gian. Bị “mất tinh thần” thì sẽ phải nỗ lực và điều này chỉ mang lại sự lầm lẫn và đau khổ. Thay vào đó, đôi mắt của ông thanh tịnh và chiếu xuyên qua các tướng bên ngoài.
Ông ấy biết được những sự thay đổi mà tất cả mọi thứ trải qua: sinh, trụ, hoại, rồi quay trở lại không. Ông ấy không lựa chọn hay ưa thích một giai đoạn nào hơn giai đoạn khác cả. Ông ấy vui lòng sống tự do và hạnh phúc trong gai góc hay là trong hoa hồng (thuận cảnh hay nghịch cảnh).
Sự tồn tại của bụi bẩn và xấu ác kia chẳng là vấn đề gì cả. Phiền muộn về điều xấu ác là bám chấp và những tướng trạng bên ngoài mà quên đi công việc làm thanh lọc tâm trí ở bên trong. Vấn đề là, quý vị có phân biệt thiện và ác hay không? Cái gì lựa chọn? Đó không phải là tự ngã, những thói quen của nó và những bám chấp do ham muốn hay sao? Chỉ những cái đó thôi là những chuỗi phiền não che mắt người khiến họ không thấy được sự bình đẳng thực sự của tất cả các Pháp.
Nhìn vào điều này theo cách khác thì Bồ Tát không lựa chọn sống với vật chất khi nó đang ở giai đoạn thành hay trụ. Các thứ vật chất đang hoại diệt hoặc đã trở về với tứ đại thì cũng đều phù hợp tốt đẹp với ông ấy. Khi ông ấy quán niệm về sự chuyển hóa và thay đổi của mọi thứ khắp các phương, tâm ông ấy tìm được sự an bình. Ông ấy vượt qua nỗi sợ hãi về cái chết của chính mình và không bám chấp vào sự tồn tại của chính mình hay vào các pháp. Người ấy biết đượsự đại giải thoát và an lạc.

Hòa thượng có viết bài kệ trong “Mười Pháp giới” rằng,
Hữu tình giác ngộ,nhảy thoát bụi trần;
Lục độ vạn hạnh, thường luôn bồi đắp. (3)
 
Vị Bồ Tát sống trong khu rác đã học được cách làm thế nào thoát khỏi phiền não, Giống như hoa sen ở trong bùn lầy mà vẫn trổ hoa thanh tịnh, tâm trí của Bồ Tát không bị nhiễm ô bởi rác bẩn bên ngoài hoặc bởi những vọng tưởng ở trong. Ánh sáng trí huệ của người ấy lúc nào cũng trong sạch, không bị những “bụi bẩn” che phủ, bởi vì người ấy sử dụng thanh kiếm trí huệ đúng cách trong một thời gian dài. Chém đứt tất cả mọi ý nghĩ, thanh kiếm trí huệ cho phép Phật tánh của người ấy được hiển lộ, phát triển lòng đại từ bi và người ấy nhận ra được sự hợp nhất của tất cả mọi vật.

Đồng Thể Tức Đại Bi.
Người ấy không còn phân biệt tốt hay xấu, sạch hay , ta hay người.
Những điều này giúp gì cho người ấy? Bình an, hạnh phúc và tự do. Còn có gì đáng giá nữa không?

Vọng tưởng ham muốn khởi sinh; tôi trở nên căng thẳng. Rồi tôi lại nghĩ, “Thật ngu ngốc. Đó chỉ là suy nghĩ giống như mọi suy nghĩ khác. Cắt bỏ nó đi! Chém!” Biến mất. Thanh tịnh trở lại. Vượt ra khỏi phiền não đơn giản là như vậy. Đó là tích cực, là dụng công, nó đòi hỏi công phu và kiên nhẫn từng bước một. Pháp môn vô tướng.
Người ấy luôn luôn trưởng dưỡng sự thực hành của mình.
 

Ghi chú:

Phẩm Thí Dụ Kinh Pháp Hoa nói xe trâu trắng, là xe báu trang nghiêm. Xe trâu này chạy rất nhanh, chạy rất vững rất thoải mái, người đời không biết mình đang ngồi trên xe trâu trắng, ngược lại hướng bên ngoài tìm kiếm xe dê, xe nai, xe trâu, đó là vì người đời không có trí huệ! Kinh văn đã rõ ràng nói với ông, chỉ có nhất Phật thừa là xe trâu trắng lớn, không có các thừa khác. Hoặc nói nhị thừa – Thinh văn, Duyên giác; hoặc nói tam thừa – Thinh văn, Duyên giác, Bồ Tát, hoặc là vô số thừa – đây là pháp phương tiện, đủ mọi thứ nhân duyên, ví dụ và ngôn từ mà thôi. Tất cả Phật pháp đều vì nhất Phật thừa này mà nói, tại sao ông không hiểu ba xe này là giả lập mà thôi! Thinh văn, Duyên giác, Bồ Tát, duyên pháp của ba thừa này, là vì xưa kia nói. Nhất thừa Phật thừa (xe trâu trắng lớn), mới là thực pháp vì nay mà nói! Ðạo lý của Kinh Pháp Hoa là dạy mọi người bỏ đi quyền giáo tam thừa mà quy về chân thực, nhưng sau khi quy về chân thực, thực pháp này cũng không có một cái tên, thực pháp cũng không còn tồn tại. Vì thế, ông cần biết tất cả Phật pháp, đều thuộc về gia tài vốn có của ông, tự mình có sẵn, không do bên ngoài được, tùy ông sử dụng như thế nào cũng được. Ông không cần phải nghĩ rằng: Ðây là tài sản của cha tôi dành cho tôi; cũng không cần nghĩ rằng, tôi là con, cần phải kế thừa gia nghiệp của cha. Căn bổn không cần phải nghĩ gì hết, thọ dụng liền được. Ðó chính là trì Kinh Pháp Hoa. Nếu được như vậy, thì từ đại kiếp thứ nhất đến đại kiếp sau cùng, tay không rời quyển Kinh, từ sáng đến tối không có lúc nào không tụng Kinh Pháp Hoa.  
(2) Đảo ngược dòng chảy tự nhiên của sự tồn tại (hữu) xuống sanh và tửHòa Thượng Tuyên Hóa giảng về “Mười Hai Nhân Duyên”:
Khi tất cả mười hai nhân duyên liên hệ lẫn nhau nầy ngưng hiện hữu thì giống như bầu trời trong vắt xa thắm vạn dậm, giống như ánh trăng vằng vặc phản chiếu trên mặt nước trong. Nếu quý vị thật sự hiểu thấu đáo “Mười Hai Nhân Duyên” thì sẽ thấy giống như uống nước, khi quý vị khát nước và uống nước vào, thì quý vị sẽ tự mình biết được là nước đó nóng hay lạnh. Nếu quý vì không thật sự dụng công để tu hành và tỉnh ngộ hiểu được đạo lý “Mười Hai Nhân Duyên” thì thật vô dụng dù cho quý vị có nói rằng “Ồ, Mười hai nhân duyên là tất cả đều không, không, không!".



Hằng Triều - Ngày 5 tháng 9, 1977
Dạ, cháu không sợ!
 
Một người đàn ông và một phụ nữ trong chiếc xe tải quân đội dư thừa bán lại nói: “Cảm ơn. Cảm ơn các thầy đã tới nước Mỹ này! Bình yên, xin cảm ơn các thầy đã tới đây”.
 
Hướng dẫn của Hòa Thượng:
“Con muốn quay trở lại và trở thành hoàng đế lại không?” Sư phụ hỏi.
“Không”, tôi đáp lại.
Sư phụ:
“Việc tốt chẳng ra khỏi nhà,
việc xấu lan ra vạn dặm.” (1)


Im lặng làm việc, ở hậu trường. Tránh mọi lời tán thán hoặc nhận biết đến.

Thực hành! Đừng bàn luận về điều đó. Thực hành hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ. Nhìn bằng chân tâm. Thực hành lòng từ bi, hỷ, xả.

Đại lộ Modoe ở thành phố Santa Barbara: một nhóm thiếu niên túm tụm lại, nhạo báng và chế giễu chúng tôi. “Ăn đất, thật dị hợm”. “Này, có thể họ đang cầu nguyện cho chúng ta đấy”. “Không bao giờ, họ chỉ đang hôn đất mà thôi”. “Vui không? Ha ha ha!”. Chúng quay chung quanh thành vòng tròn và ngồi trên xe đạp hét lên. Chúng tôi đưa cho chúng một tờ thông cáo, nhưng họ không đến gần. “Ý tôi là, tôi muốn biết, nhưng chính vẻ bên ngoài của các ông làm chúng tôi sợ!” một đứa trả lời. “Ha ha!”

Chúng tôi mỉm cười và tiếp tục lạy. Một đứa kiên trì thích thú và cuối cùng nó nói, “Dạ, cháu không sợ. Cháu sẽ lấy một tờ”. Rồi nó mạnh dạn nhưng thận trọng bước đến. Chúng lại xúm vào nhau và cùng đọc bản thông cáo trong yên lặng. Sau vài phút, chúng từ từ trèo lên xe rồi đạp xe đi mất.
Một đứa quay trở lại và vẫy tay chào, nói: “Các chú, cháu xin lỗi vì những gì cháu đã nói”. Mấy nhà sư mỉm cười, đứa trẻ cũng cười.
Chúng tôi đang ở trong một quả bong bóng: Phía bên ngoài là kim cang, nhưng bên trong lại mong manh dễ vỡ. Nếu chúng tôi phạm một sai lầm, thì “pop”, bong bóng vỡ và mọi thứ mất đi hết. Nếu chúng tôi làm đúng, thì không gì có thể xoay chuyển hoặc làm chúng tôi dính mắc.
Tự mình có đủ khả năng hành xử trong mọi hoàn cảnh đó không phải là tự tại khỏi nỗi sợ hãi. Không sợ hãi thực sự là không còn có cái “tôi” khi hành xử trong bất kỳ hoàn cảnh nào.



Hằng Thật - tháng 9 năm 1977
Bắt đầu từ lúc này và không bao giờ ngừng nghỉ

Lời cầu nguyện và sự khích lệ tinh thần để làm việc.
Cầu cho con thành thật trong mọi việc con làm. Cầu cho mọi lời nói của con là chân thật và cầu cho mọi hành động là chân chánh. Cầu cho con hồi quang vào sự chánh niệm để làm sáng tỏ mọi ý niệm.
Cầu cho con tránh khỏi mọi việc ác dù là nhỏ đến đâu, và thực hành mọi việc tốt giống như con đang phụng sự thầy của mình.
Cầu cho con can đảm và không sợ hãi, và không mỏi mệt trong việc tu hành. Trong việc làm vì tha nhân, con sẽ dùng hết sức mình và không mong được nghỉ ngơi, không kỳ nghỉ, biết rằng cuộc sống là làm việc và nghỉ ngơi không phải là một phần thưởng.
Con sẽ dâng hiến cuộc đời của mình vì Tam Bảo để phụng sự mọi chúng sanh.
Con sẽ bắt đầu ngay bây giờ và không bao giờ ngừng nghỉ.

Hằng Triều, ngày 8 tháng 9 năm 1977
Cố gắng hết sức để không tạo thêm nữa

Lão khờ mặc áo vá,
Cơm lạt bụng no nê,
Vá áo để che lạnh,
Muôn sự để tùy duyên.
Có người mắng lão khờ,
Lão khờ chỉ nói tốt.
Có người đánh lão khờ,
Lão khờ nằm xuống ngủ.
Khạc nhổ trên mặt lão,
Cứ để nó tự khô.
Lão cũng không phí sức,
Mà người cũng không phiền.
Ba La Mật như vậy,
Là vật báu huyền diệu.
Nếu ai biết lẽ nầy,
Lo gì không đạt đạo.


Bồ-tát Di Lặc

Chúng tôi đang lạy ngang qua trường trung học Goleta. Tấm biển treo trước cổng trường “Chào mừng các tân học sinh”. Một chiếc xe hơi phóng nhanh qua và 6 quả trứng bay vút ra. Thầy Hằng Thật đang lạy 5 vóc gieo xuống thấp. Hai quả trứng bắn tung tóe lên khăn choàng cổ và lưng thầy ấy. (Mấy quả trứng không trúng thầy, nhưng văng tung tóe lên khi rơi xuống mặt đất phía sau thầy). Thầy chầm chậm đứng dậy, tụng niệm và tiếp tục.
Ngồi thiền trên một cánh đồng hoang, chúng tôi hứng chịu những cơn mưa đá từ một chiếc xe hơi đến gần. Chúng tôi tiếp tục ngồi.
“Tu hành tự tánh đơn giản là không nóng giận”Hòa Thượng Tuyên Hóa
Một điều trở nên rõ ràng với chúng tôi, đó là nhừng gì chúng tôi đưa ra thì đều quay trở lại. Và nó cũng có tác dụng tương tự theo cách ngược lại – cái gì quay trở lại thì do đã đưa ra. Tại sao chúng ta lại nóng giận? Chúng ta không thể tránh né quả báo. Tất cả những gì chúng ta có thể làm là để cho quả báo đến và không tạo thêm nữa. Khi không có tham, sân, si đi ra, thì sẽ đến lúc xuất hiện một nơi thanh tịnh dành cho “viên ngọc bên trong”. Không tạo sóng thì mặt hồ sớm tĩnh lặng, phản chiếu như một tấm gương hoàn hảo.
Chúng tôi tắt máy xe và tắt đèn pha và trượt vào một nơi tối tăm tĩnh mịch trong một khu dân cư thuộc của thành phố Santa Barbara. Khoảng nửa đêm, chúng tôi giật mình tỉnh giấc bởi những tiếng la hét và cười đùa. Có những chiếc xe hơi chung quanh chúng tôi. Một vài thiếu niên đang trên đường đến và trở về từ những bữa tiệc trở về trường đêm thứ Sáu đã dừng lại để uống bia và hút cần sa chung quanh xe của chúng tôi. Một bữa tiệc lưu động lớn!
Khoảng một giờ rưỡi sáng, chúng tôi lại tỉnh giấc khi thấy mình bị ngập trong đèn pha của xe cảnh sát. Chúng tôi đợi và họ đợi. Việc này kéo dài khoảng 5 phút, và rồi họ lái xe đi. 
 

Hằng Thật, tháng 9 năm 1977
Khi một người chân thật tu hành

Tu hành xuyên qua thời Mạt Pháp
Trong phẩm Tỳ-lô-giá-na thuộc Kinh Hoa nghiêm, thái tử Đại Oai Quang, làm thượng thủ trong 500 vương tử trong thành Diệm Quang Minh, nhìn thấy đức Phật xuất hiện trên đài sen ngay trước mặt và một số điều bất ngờ xảy ra. Thái tử liền chứng được 10 pháp môn. Ngài đạt được một tam muội, một đà-la-ni, các cảnh giới từ, bi, hỷ, xả và những điều không thể nghĩ bàn khác. (1)
Vì sao? Bởi vì trong quá khứ, ngài đã “tu căn lành”. Điều này có nghĩa là ngài thực hành việc thiện, tránh việc ác và thanh tịnh tâm. Ngài đã hành hạnh đó khi nào? Ngài đã hành trì trong mỗi kiếp từ muôn ức kiếp không ngừng nghỉ.
Thậm chí trong suốt thời kỳ được biết là "Tượng Pháp" và "Mạt Pháp, ngài cũng tiếp tục tu hành – ngài không bao giờ bỏ cuộc hay đi nghỉ mát, chờ vị Phật tiếp t
heo xuất hiện, nhưng ngài vẫn tiếp tục làm việc và đổ mồ hôi công sức. Chuyện gì đã xảy đến? Khi vị Phật tiếp theo xuất hiện ngay trong thành của thái tử và ngay trước mặt thái tử. Thiện căn mà thái tử gieo trồng trong quá khứ đã chín muồi, và ngài liền chứng được 10 diệu cảnh giới ngay tại chỗ.
Hiển nhiên, nếu thái tử không tu hành từ quá khứ, khi đức Phật đến khu rừng của thành Thắng Âm, ngài sẽ không ở một vị trí để chứng kiến sự việc hoặc sẽ chuẩn bị để nhận quả pháp hỷ. Như vị Hòa thượng trụ trì ở Kim Sơn Thánh Tự nói “Khi một người chân chính tu hành, thì thời Mạt Pháp không tồn tại. Tôi không cho phép thời Mạt Pháp tồn tại ở nơi nào có tôi – chân thật tu hành chính là thời Chánh Pháp”.
Nếu chúng ta nỗ lực và theo đuổi bất kỳ một pháp môn nào trong 84.000 pháp môn cho đến giác ngộ, tất cả đều bình đẳng, tất cả đều hiệu dụng, thì trong tương lai, giống như thái tử Đại Oai Quang, ở một thế giới tốt đẹp nào đó, chúng ta sẽ gặp đức Phật ngay trong thị trấn của mình và nhìn thấy sự quang minh rực rỡ của ngài, chúng ta cũng sẽ kinh nghiệm được đại hỷ. 
 
Ghi chú:
(1) Kinh Hoa Nghiêm Phẩm Tỳ Lô Giá Na 
Chư Phật-tử ! Trong đại thành Diệm-Quang-Minh, Quốc-Vương-Hỷ-Kiến-Thiện-Huệ thống lãnh cả trăm vạn ức na-do-tha thành. Phu-Nhơn Phước-Kiết-Tường làm thượng-thủ bất-khả-thuyết vạn bảy ngàn Phu-Nhơn thể nữ. Thái-Tử Ðại-Oai-Quang làm thượng-thủ trong năm trăm Vương-tử. Thái-Tử có một vạn Phu-Nhơn và Diệu-Kiến phu-nhơn là thượng-thủ.
Khi đã được thấy quang-minh của Phật, nhờ sức tu căn lành từ trước, Thái-Tử Ðại-Oai-Quang liền chứng được mười pháp-môn :
Một là môn Chư-Phật-công-đức-luân-tam-muội. Hai là môn Chư-Phật-pháp-phổ-môn-đà-la-ni. Ba là môn Quảng-đại-phương-tiện-tạng-bát-nhã-ba-la-mật. Bốn là môn Ðiều-phục-chúng-sanh-đại-trang-nghiêm đại từ. Năm là môn Phổ-vân-âm-đại-bình-đẳng. Sáu là môn Sanh-vô-biên-công-đức-tối-thắng-tâm-đại-hỉ. Bảy là môn Như-thật-giác-ngộ-nhứt-thiết-pháp-đại-xả. Tám là môn Quảng-đại-phương-tiện-bình-đẳng-tạng-đại-thần-thông. Chín là môn Tăng-trưởng-tín-giải-lực-đại-nguyện. Mười là môn Phổ-nhập-nhứt-thiết-trí-quang-minh-biện-tài.

Hằng Thật – Tháng 9 năm 1977
Một sức mạnh lớn hơn cả tình yêu thương

Bồ Tát Mạnh-Hơn-Tình-Yêu-Thương
Ngài là người giỏi nhất của một giống nòi mới. Ngài rời bản xứ và đi khắp các thế giới. Đi qua những đỉnh núi, cống rãnh, ngài tìm kiếm một thứ để thỏa mãn thứ ngài cần để tin tưởng, để thuộc về, để trở thành mơ ước của ngài. Cuộc đời ngài rất khổ cực, và ngài thích như vậy. Kẻ khác thì tìm cầu tiện nghi, dễ dàng. Các đồng nghiệp của ngài nói về giàu sang, tình dục và danh vọng; họ ngủ và ăn, ngủ và mua sách dạy nấu ăn, kết hôn, sinh con, và xây những cái tổ để chuẩn bị cho quá trình trượt dần xuống mồ.
Ngài lang thang và tìm kiếm, không để ý đến giàu sang phú quý, từ bỏ tình dục, quay lưng lại với danh vọng, làm cứng chắc thân thể với sự thực tập và kỷ luật. Ngủ ít và ăn ít. Không ai hiểu ngài, đặc biệt là cha mẹ ngài. Là một người con hiếu thảo hết lòng, phản ánh những phẩm chất tốt đẹp trong việc dạy dỗ lành mạnh của cha mẹ ngài, ngài thấy điều khó khăn nhất là bỏ lại sau lưng những thói quen ở cùng họ. Ngài thấy rõ ràng sự giải thoát chờ đợi mình ở bên kia sự bám chấp của ngài, mà chỉ sau khi cắt đi những sợi dây ràng buộc của cuộc đời, ngài mới thật sự vượt qua cái chết.
Ngài tìm thấy trong một tu viện con đường dẫn đến tự do mà ngài đang tìm kiếm. Đó là một con đường đứng dốc và việc trèo lên đỉnh đòi hỏi cả thể chất lẫn sự chân thật tuyệt đối. Đây là cuộc sống mà ngài hằng chờ đợi trong bao nhiêu năm. Không một chút do dự, ngài sẵn sàng lên đường. Trực giác sâu thẳm của Ngài nhận ra cuộc hành trình này như thể ngài đã từng đi qua trước kia lâu rồi. Nhưng hãy chờ đã, trái tim ngài còn có nhiều hơn một ngăn phòng – thế còn về những năm tháng hạnh phúc và khỏe mạnh mà cha mẹ ngài đã cho thì sao? Thế còn món quà mạnh mẽ nhất –tình thương vô hình không giới hạn mà họ dành cho ta thì sao? Làm sao ngài có thể đối diện được với nỗi đau mà ngài gây ra cho họ bằng việc cắt đứt những cách cho nhận yêu thương quen thuộc của họ? Thậm chí sâu hơn: thế còn những phần của cha, của mẹ trong chính nhân cách của ngài đã phụ thuộc vào sự tồn tại của họ trong việc cho và nhận trong mối liên hệ với gia đình thì sao? Bằng việc từ bỏ thói quen bắt rễ sâu xa đó, liệu ngài có đánh mất một thứ gì đó quý giá không? Ngài có thể đi và trở thành người mà ngài muốn mà không có những phần đó trong phần đời ban đầu của mình không?
Đây là những vấn đề đè nặng tâm trí ngài – ngài cảm thấy mình đang ngồi dang chân phân vân trên hàng rào. Một bên cảm thấy tự nhiên, quen thuộc, và thoải mái. Còn bên kia cảm thấy ly kỳ, hấp dẫn. Tim ngài đau đớn, cố gắng quyết định phải làm gì.
Một quyển sách lảm ngài chú ý và trong sách, ngài tìm thấy một bức thư có từ mười hai thế kỷ trước, được một người trong cùng cảnh ngộ giống hệt như ngài viết ra. Bức thư nói thẳng vào vấn đề “Làm sao ta có thể rời bỏ gia đình để làm điều mà ta biết là tốt nhất cho ta mà vẫn là một người con hiếu thảo? Trong khi xem qua kinh điển, tôi tìm thấy một quyển Kinh, trong đó đức Phật vì người đệ tử xuất gia của ngài đã giảng về căn nguyên thật sự của sự hiếu thảo. Các đạo lý của ngài đã cắt đứt các nghi ngờ cuối cùng của tôi và dẫn tôi đến quyết định tiến lên tu hành trên con đường giải thoát, bất chấp sự xáo trộn trong gia đình tôi. Đức Phật nói rằng tất cả chúng sanh đều từng là quyến thuộc của tôi, hoặc là cha hay là con, là anh em hay chị em của tôi. Cha mẹ trong kiếp này của tôi cũng có thể kiếp trước là con tôi. Vì tôi đã đối xử tốt với họ, nên tôi được yêu thương và bảo vệ trong kiếp này. Nhân duyên của tôi và họ rất tốt đẹp và mạnh mẽ. Tôi muốn đền đáp lòng tốt và tình thương yêu của họ. Ở đây, đức Phật giảng giải sự từ bi, năng lực vĩ đại vượt qua cả tình thương yêu. Đại Bi có thể đưa những chúng sanh khác vượt qua bể khổ đến bến bờ hạnh phúc vĩnh hằng phía bên kia. Người đó học được lòng đại bi nhờ đi theo con đường của Phật (Phật Đạo). Đầu tiên là phải cắt đứt quan hệ gia đình, rời bỏ tất cả sự bám chấp trói buộc người đó với cuộc đời như keo dính. Sau đó, sau khi trải qua quá trình tu tập vững chắc, chân thật và không ngừng nghỉ, người đó có thể chứng đắc được sự giải thoát chính mình, đó là chìa khóa để đưa những kẻ khác vượt qua bể khổ. Có câu, “khi một người tu đắc đạo, cửu huyền thất tổ sanh thiên.”
Bức thư tiếp tục “Khi tôi đọc những đạo lý này, tôi lập tức nhận ra chân lý. Theo sự trình bày tích cực của đức Phật, phía bên kia của lòng hiếu thảo là sự vô vọng: chỉ ở nhà và chứng kiến cha mẹ già, bệnh, và chết, sau đó thờ cúng họ như tổ tiên, mù quáng cúng đồ cho bóng tối, hy vọng cứu rỗi họ, nhưng trở nên bất lực trong việc cứu rỗi ấy. Đây không phải là điều tốt thứ hai hay sao? Bằng việc tránh cho họ nỗi đau ngắn ngủi của sự hoài nghi và sự lo lắng khi tôi xuất gia và thiết lập lại các quy tắc hành vi tách xa hơn, hình thức hơn, và bằng việc cho thấy sự yêu mến ít bày tỏ hơn, tôi cũng từ chối họ niềm đại hoan hỷ trong tương lai, thứ mà tôi, là một người xuất gia, có thể mang lại cho họ. Tất nhiên sự thay đổi ngoại hình của tôi sẽ khiến cha mẹ sốc và lần này họ sẽ không có cháu nội, nhưng tôi đã là một người con tốt và sẽ là một vị tăng tốt vì lòng tốt mà họ dành cho tôi. Để cứu lấy cái thân mạng, vị bác sĩ cắt đi cái chân hay cái tay – gọn gàng và tốt đẹp. Để cây trổ quả to, chín mùi, người trồng cây phải tỉa lại các nhánh cây chỉa ra. Để lộ ra vẻ đẹp bên trong của đá hoa cương (granite), người thợ điêu khắc phải đục bỏ bớt một phần của đá. Để học đạo giác ngộ cho bản thân và sau đó cho tất cả chúng sanh, trong đó có cha mẹ tôi – đây là con đường dẫn tới trí tuệ và từ bi. Đây là mảnh đất mới, nơi ta sẽ đứng vững đôi chân và thiết lập sự tu hành và thệ nguyện của những bậc đại anh hùng trong quá khứ.
“Đây là bước đầu tiên, quan trọng nhất để thật sự đền ơn lòng tốt của cha mẹ và giúp những người con hiếu thảo khác làm điều tương tự. Cha mẹ tôi là cha mẹ đời hiện tại, nhưng nhân duyên của chúng tôi còn vượt ngoài phạm vi quan hệ này. Đây là cơ hội duy nhất để đóng lại vòng luẫn quẩn và mang đến sự an lạc vĩnh cửu mà tôi mong ước họ nhận được. Mục tiêu này chắc chắn đáng giá để đổi lấy sự chịu đựng nhỏ nhoi trong việc “mất đi” một người con trai đi vào Tăng đoàn. Họ không hề mất con, họ có được một tấm vé lên cõi thiên đàng, chỉ cần tôi tu hành tốt đẹp và không bao giờ quên đi những gì ta nợ họ. Tôi phải đoạn dục khử ái!
“Đây được gọi là Đại Bi và đó là một sức mạnh còn lớn hơn cả tình thương yêu. Khi đối diện với cha mẹ một lần nữa, tôi không được quên mất mục tiêu: giúp cha mẹ học cách tin vào đức Phật và sự biến đổi huy hoàng của Phật pháp. Trước tiên, họ phải tin vào tôi – nhìn thấy tôi đã thật sự xuất gia và thay đổi tốt đẹp hơn – họ sẽ hiểu rằng sự trầm tĩnh là một phần quan trọng trong cái nhìn và cái hạnh của Bồ Tát. Tôi sẽ đối xử với họ thật ân cần tử tế, từ tốn giới thiệu họ đến những căn phòng mới trong tim tôi và pháp bảo mà chúng chứa đựng. Khi nhìn thấy Phật pháp có ý nghĩa như thế nào đối với tôi, họ sẽ nhanh chóng tìm thấy một nơi chốn tương tự trong tim họ và lời nguyện của tôi là đưa họ qua bể khổ sẽ nhanh chóng được thực hiện. Những mối quan hệ cũ biến mất càng nhanh, thì cha mẹ ta càng sớm biết đạo lý chắc thật ẩn sau hành vi mới của tôi. Niềm vui và tự hào sinh ra một người con tốt lành của họ sớm muộn cũng lớn như niềm đại hoan hỷ của tôi có được những bậc cha mẹ tốt lành như vậy, thậm chí cách để biểu đạt điều đó là nỗ lực nhiều hơn và chuyên tâm vào sự tu hành của tôi. Sự lười biếng thì nói ngược lại: Tôi chẳng quan tâm tôi có giải thoát họ hay không. Lòng tốt mà họ dành cho tôi không đáng để được đền ơn bằng việc giác ngộ. Tôi sẽ khác đi khi họ gặp lại tôi lần nữa.
Bức thư khép lại.: “Câu hỏi đã được giải đáp, những hoài nghi của tôi đã được giải quyết, và con đường phía trước đang mở ra và chờ đợi”. Giống như chú tiểu đời Đường, ngài cảm thấy bùng lên một nguồn năng lượng và sự công hiến vào lựa chọn mới này trong cuộc đời. Quyết định trở thành một tăng sĩ là sự lựa chọn quan trọng nhất của ngài và nó hứa hẹn phần thưởng cao nhất của mọi con đường hiện hữu. Ngài cảm thấy may mắn biết bao khi có thể trao tặng món quà này cho thân bằng quyến thuộc của mình. Thật là một cơ hội hiếm có khi kết lại các mối nhân duyên và giải quyết chúng một lần nữa trong sự thể hiện cao cả nhất của lòng biết ơn với cuộc sống: lòng từ bi của một vị Bồ-tát
Tình thương yêu cha mẹ là quan trọng, nhưng lòng từ bi dành cho họ vượt xa tình thương yêu. Tôi nguyện dùng lòng từ bi là mục tiêu và dùng nó để đưa cha mẹ tôi tới bờ giác ngộ - tôi sẽ trở thành Bồ Tát Mạnh Hơn Tình Thương Yêu và tôi sẽ truyền dạy phương pháp của tôi tới tất cả những ai thỉnh cầu, kể cả những người có hay không có nhân duyên với tôi, tới tận cùng hư không, khắp pháp giới.
Ngài là người giỏi nhất của một giống nòi mới và những kẻ khác đều noi theo gương ngài.

Ghi chú:
(1) Nguyên văn Hoa ngữ: 一子得道,九祖升天 - Nhất tử đắc Đạo, cửu Tổ thăng Thiên.


Hằng Triều - ngày 10 tháng 9 năm 1977
Lễ siêu độ tổ tiên

Thức dậy do tiếng bảng gõ đánh thức tụng công phu khuya. Trong khi tụng, tôi hoàn toàn ra khỏi chính mình. Căn phòng tràn ngập ánh sáng nhưng tôi không có nhận biết gì về thân thể mình. Chỉ có ánh sáng và hư không.
Trong ngày chúng tôi niệm danh hiệu Phật A Di Đà, luân phiên ngồi niệm (tọa niệm) và đi niệm (nhiễu niệm). Lần ngồi cuối cùng trong ngày: rỗng không trong vài giây, mọi dặm ở mọi phương đều cùng một thể tánh. Ngay khi tôi mở miệng, cảnh giới này liền biến mất.

Nghi Lễ Siêu Độ Tổ Tiên: Một số ấn tượng và cảm xúc.
Hòa thượng trụ trì, với đạo hạnh của ngài, đã mở ra và trải đường cho những tổ tiên và thân bằng quyến thuộc này. Một con đường ánh sáng xuyên qua màn đen sâu thẳm. Hòa thượng giữ cho cánh cửa mở ra ở cuối con đường trong khi chúng tôi ào vào tụ tập với cô dì, chú bác, cha mẹ, ông bà, anh chị em họ, anh em trai, chị em gái, bạn bè và giải thoát cho họ.
Tôi đổ mồ hôi đầm đìa. Tôi liếc nhìn sang bên phải mình và thấy thầy Hằng Thật cũng như vậy. Tất cả chúng tôi đi vào một nơi nào đó cùng Hòa thượng, mở giữ một cánh cửa và lối đi trong khi đang tụng kinh – không để lãng phí thời gian. Tôi rùng mình khi tôi gọi “Ông Frank, dì Leone!” và họ đến! (Sau này tôi mới biết lúc đó bà chưa chết mà đang hấp hối).
Không phải “mọi người” đều biết Đạo Phật, đặc biệt trong kiếp gần đây nhất của họ, nhưng hàng trăm người đang chạy qua lối đi. Họ đều nhận ra sự giải thoát và chuyện gì đang diễn ra. Họ đều sẵn sàng.
Hòa thượng trụ trì đang chú tâm đứng trang nghiêm phía đằng sau mọi người trong căn phòng nhỏ này tại Chùa Kim Luân khi họ tụng kinh chân thành và nhất tâm – một nhóm rất gần gũi sau một ngày tụng kinh và thiền. Công phu của Hòa Thượng đang vận hành mạnh mẽ và uy nghi nhưng không phô trương.
Chúng tôi chạy vào và tháo gỡ họ đang bị “treo lộn ngược” như Hòa thượng miêu tả về tình trạng của họ. Tôi lạnh cột sống khi nhìn thấy từng khuôn mặt vui mừng trả lời và chạy về phía ánh sáng.
Thầy Hằng Quán và tôi đã đốt những bài vị bằng giấy trên có tên của những người họ hàng và bạn bè đã mất. Tất cả đã xong. Tôi không cố gắng tìm hiểu kinh nghiệm này thêm nữa. Có một số điều và sự việc xảy ra mà khoa học và “lý lẽ” không thể giải thích được. Tôi mới chỉ bắt đầu học hỏi.
 

Hằng Thật - tháng 9 năm 1977
Mô hình của một người hoàn hảo

Chuyến viếng thăm Chùa Kim Luân là một sự bất ngờ lớn. Như thường lệ, nó làm tôi sững sờ. Tôi có cơ duyên trong việc cầu siêu độ cha và ông nội tôi – đại pháp lực của Hòa thượng giữ cho cánh cửa mở đến địa ngục đủ lâu để những người được có tên xướng lên chen lấn ra ngoài an toàn. Trong suốt buổi lễ diễn ra trước giờ thọ trai, tôi có thể nhìn thấy khuôn mặt của cha mình ở trong hoa sen – mờ nhưng có ở đó và hoan hỷ.
Ngay khi chúng tôi đến vào sáng thứ Bảy, tôi bắt đầu thấy những hành động ích kỷ thiếu suy nghĩ của tôi xuất hiện. Tấm gương là sự hiện diện của thầy Hằng Quán. Tôi có thể đo lường sự tiến bộ của tôi đối với mối quan hệ tập khí xưa kia của chúng tôi. Tấm gương khác là sự biểu lộ thường hằng của lòng từ bi vô ngã của Hòa thượng. Ở trong những hoàn cảnh như thế này thì sự ích kỷ của tôi biểu lộ ra: một ly nước cam xuất hiện; tôi cầm lấy và không chuyển ly nước cam đó đi. Đã đến lúc thiền định; tôi vồ lấy vị trí trung tâm. Thầy Hằng Triều ngồi ở vị trí đầu, và thầy Hằng Quán xuất hiện sau đó và ngồi ở vị trí số 3. Lẽ ra tôi phải thông báo cho thầy Hằng Triều về vị trí thứ tự và tự mình dời đi. Mọi người xông vào buổi lễ, ồn ào huyên náo; tôi cảm thấy nóng về chuyện này. Hòa thượng mỉm cười và tiếp nhận họ.

Nếu quý vị cẩn thận theo dõi ngài và hành động của ngài, quý vị có thể ghép các mảnh với nhau để tạo thành mô hình của một con người hoàn hảo, một người cao cả (quân tử), và soi chiếu vào cách ứng xử của mình, quý vị có thể nhận ra nền tảng, sự ích kỷ, nhỏ nhen của cảnh giới của chính quý vị. Thật là một sự giáo dục. Sự giáo dục đó thật vô giá và khó đền đáp.
 

Hằng Triều, ngày 11 tháng 9 năm 1977
Bồ đề đạo tràng của chính mình ở trên đường

Vào sáng sớm, Pat Chiang chở chúng tôi quay lại vị trí lạy ở Goleta. đi càng xa chùa Kim Luân tôi có thể cảm nhận được cái lọng bảo vệ phi thường và ánh sáng mà Hòa thượng tạo ra – một nơi nương tựa và chốn an ổn –mờ dần đi. Đã đến lúc chúng tôi tự cố gắng hết sức để thắp ánh sáng của chính mình, và tạo nên Bồ đề đạo tràng của chính mình trên đường. Ánh sáng và hào quang của sự tôn nghiêm mà Bồ đề đạo tràng của chính mình tạo ra là một chức năng (dụng) của Đạo đức người tu hành.


Hằng Thật, tháng 9 năm 1977
Đừng lay chuyển vì bất kỳ thứ gì

Hôm nay sao vậy? Tại sao dùng bữa trưa cùng với nữ cư sĩ này lại lay chuyển ngươi? Tại sao ngươi lại viết thư, vọng tưởng, và bị động tâm?
1) ngươi tham khoái lạc từ thức ăn.
Lạ lùng...
2) ngươi không dùng phương pháp ấy.
Giờ ngươi đã là một người khác. Ngươi có những phương pháp, các phương pháp Phật pháp đã thay đổi tập khí cũ của ngươi. Khi thử thách đến vào bữa trai ngọ, ngươi chỉ ngồi yên đó để cho đầu óc chìm vào những phản ứng cũ – không có sự kiểm soát. Không tu hành. Không có công phu.
Nếu ngươi không sử dụng những phương pháp của ngươi, ngươi sẽ không có được công phu. Hãy rút gươm trí huệ ra. Giữ vị trí ở trung tâm và vung gươm. Đừng lay chuyển vì bất kỳ thứ gì – ngay cả phụ nữ Trung Hoa, trò chuyện bằng tiếng Trung Hoa, hay là những buổi ăn uống vui chơi ngoài trời (picnics)!
Hãy coi chừng cảnh xã giao và tánh ưa thích xã giao tiệc tùng cũ khởi lên. Hãy chết đi!
 
* * * * *
Gởi Hằng Thật:
Ngươi biết đấy, nếu ngươi ăn ít và dừng lại khi ngươi nghe thấy giọng nói mới mẻ khe khẽ nói “đủ rồi” sau khoảng 15 phút, người có thể dịch kinh hoặc tập Thái cực quyền hoặc thiền định hoặc bái lạy – đó là những việc người nên làm lúc này hơn là ngồi và nhai ăn trong một giờ đồng hồ và rồi mất hai giờ để bái lạy để cố gắng hồi phục từ việc ăn quá nhiều. Rõ ràng là phí thời gian và không có lợi gì đối với việc tu hành. Thử làm đi. 

 
Hằng Thật - tháng 9 năm 1977
Việc đập búa và kéo cưa bắt đầu

Đã hai năm kể từ khi tôi ngồi thiền tốt đẹp mà không ngủ gật. Lúc này khi ngồi thiền, tôi cảm thấy như có vài đội kỹ sư, công nhân và xe tải chở vật liệu tiến vào đầu tôi – một nhà vòm chứa máy bay khổng lồ. Họ đóng cửa lại và việc đập búa, kéo cưa bắt đầu. Phía trong nhà vòm là tất cả các ống dẫn, nhiên liệu và các bản vẻ thiết kế của tôi. Họ đang xây dựng lại công việc của tôi thành thứ gì đó mạnh mẽ lại thêm một lần nữa. Tôi gần như bị sụp đổ từ độ tuổi 17-24, làm rò rỉ và lãng phí kho báu của mình.
Bây giờ có một tấm biển trên cánh cửa, viết rằng “Đừng Quấy Rầy!”. Không bao lâu, nhà vòm máy bay sẽ mở cửa và chúng ta sẽ thấy chúng ta đã chế tạo ra loại máy bay gì . Trong khi đó, khi tôi ngồi thiền, không có gì ngoài việc đập búa, khói và sắt vụn.

Hằng Triều - ngày 14 tháng 9 năm 1977
Việc tốt không rời cửa trước

Xe trục trặc – thắng xe bị hư và máy xe bị nứt. Chúng tôi quyết định tiếp tục lạy và xem chuyện gì sẽ xảy ra. Dù sao đi nữa cũng không có tiền.
Chúng tôi tìm thấy một khu cắm trại tốt “ẩn” ngay cạnh đường xe lửa ở phía cuối một con đường vùng nhà dân cư. Thật khó mà ẩn lánh trong một thị trấn nhỏ, bái lạy với tốc độ 1/8 dặm mỗi giờ và lái một chiếc xe gần như cổ xưa.
Chúng tôi thọ trai trong bóng mát của một cây đơn độc phía trước một khu chiếu phim ngoài trời ngồi xem từ trong xe hơi . Thầy Hằng Thật cạo đầu, trong khi tôi tập Thái cực quyền bên dưới cây. Viên cảnh sát của hạt Santa Barbara dừng lại trò chuyện về tiến trình của chúng tôi và nói rằng họ nhận được nhiều cú gọi về hành trình Tam Bộ Nhất Bái.
Các vị cánh sát luôn hỏi chúng tôi nghỉ đêm ở đâu, vì mặc dù hầu hết họ lơ đi việc “cắm trại bất hợp pháp của chúng tôi”, họ là những người chuyên nghiệp. Không thể tìm thấy chúng tôi khi họ biết chúng tôi ở ngay trước mắt họ đã đâm chọc vào niềm kiêu hãnh trinh thám và tò mò của họ.
Chúng tôi luôn bí ẩn. Nếu chúng tôi cho họ biết, thì có nghĩa là thừa nhận việc vi phạm pháp luật mà họ phải thực thi. Nếu chúng tôi chối việc cắm trại thì sẽ là phá luật mà họ biết chúng tôi đang giử nghiêm ngặt (giới không nói dối). Họ thích điều đó!
Ca đêm của bất kỳ công việc nào cũng có thể buồn chán và cô đơn. Thường thì mối liên hệ giữa chúng tôi và cảnh sát xuất phát từ mối quan tâm về công việc của chúng tôi và bởi vì thật vui khi nói chuyện với những người bình thường vui vẻ và thích việc họ làm, thay vì giải quyết những thứ phức tạp vô tận và sự căng thẳng vốn có trong công việc của cảnh sát.
Trong bất kỳ trường hợp nào, cảnh sát lặng lẽ theo dõi chúng tôi để bảo đảm an toàn cho chúng tôi và giúp đỡ chuyến hành hương. Sau đây là một vài thí dụ: vào một ngày nọ, có vài người dừng xe lại, nhìn chằm chằm và cười nhạo chúng tôi. Ngay lập tức, John, vị cảnh sát, có mặt ở đó nghiêm khắc thông báo với họ “Nếu quý vị không có trục trặc về xe cộ thì hãy tiếp tục lái đi đi”.
Một giọng nói tuân phục vang lên “Được thưa ông” và họ nhanh chóng lái xe đi.
Một cảnh sát khác dừng lại vì ông đã đọc một trong những bản thông cáo của chúng tôi được lưu hành chung quanh trạm cảnh sát. Ông thích thú về cuộc sống xuất gia và các nguyên tắc không tranh chấp và không bạo lực. Đây là một phần trong công việc của ông mà ông lo ngại và không thích nhất. Ông đã ngạc nhiên và rất ấn tượng rằng chúng tôi không đánh nhau hay cãi lộn với bất cứ ai.
Foster, viên cảnh sát của sở cảnh sát Santa Barbara nói “Tôi sẽ để mắt đến mọi thứ cho các thầy. Xin đừng lo lắng. Bất kỳ ai gây rắc rối cho các thầy, tôi sẽ ngăn chặn lại ngay lập tức. Nếu tôi nghỉ giải lao, tôi sẽ dừng lại và mang đến cho các thầy ít hột đậu và trái cây. Tôi thật sự hy vọng công việc của quý thầy sẽ thành công”.
Những cảnh sát và phụ nữ này chính là trường hợp.
"Việc tốt không rời cửa trước,
việc xấu lan xa hàng nghìn dặm."
Ít người biết việc tốt mà họ làm; nhưng ai cũng biết cái xấu. Những vị hộ pháp thầm lặng, không ai thấy của Tam bộ nhất bái – đó là cảnh sát.
Chôn vùi trong lớp bụi đất mềm trên lề đường là gai nhọn và “vật nhọn”. Nếu chúng tôi chạm xuống quá mạnh hay nhanh, bàn tay và đầu gối của chúng tôi, và có lúc là trán của chúng tôi sẽ bị 7 hoặc 8 cái gai đâm cùng một lúc. Ngay cả khi chúng tôi thật cẩn thận, cũng không tránh được. Đây quả là thử thách về sự nhẫn nại và buông xả, đặc biệt trong những giờ cuối cùng của một ngày nặng nhọc và nóng nực.
Chúng tôi tìm thấy một vùng đất trống và giấu xe hơi ở góc phía sau nó. Một trong mười hai khổ hạnh mà đức Phật dạy là “ở nơi thanh vắng” (A lan nhã). Vì thế, không vấn đề gì hết. Trời sẽ sớm lạnh hơn và tối hơn.
Đừng dính líu đến “các gia chủ”! Trong cả hai trường hợp chúng tôi nới rộng lời nguyện đó (một lời mời tắm bên ngoài và một lời mời đậu xe bên trong), lạ thay, khi chúng tôi đến đó, đều bị thất bại. Ngay cả khi những người đề nghị nói rằng họ sẽ có ở đó, nhưng rồi họ lại vắng mặt. Rời đi để tìm a lan nhã của chúng tôi luôn mang đến cảm giác tốt lành hơn. Tôi nghĩ bị thất bại thì lại tốt hơn.
Chúng tôi bắt đầu hiểu “ma quỷ” và Phật đến từ đâu – đó là tâm của chính chúng tôi. Chúng tôi có thể nhìn thấy sự biến đổi, cả điều tốt và những phiền hà đã gợi lên trong tâm chúng tôi trong cuộc hành trình Tam bộ nhất bái. Giới luật và lời nguyện của chúng tôi cung cấp một nơi thanh tịnh (bồ đề đạo tràng) để tu hành bên trong. Khi chúng tôi rời khu vực này (tâm địa thanh tịnh) và chạy ra ngoài nghịch ngợm, tấm khiên chắn của chúng tôi nứt ra và không bao giờ biết điều gì sẽ xảy đến: kiến, xe hư, kẻ trộm, và cám dỗ. “Gà về nghỉ”.
 
Toàn bộ hành trình này là một sự thức tỉnh không bao giờ kết thúc đối với sự vận hành của tâm trí chúng tôi. Nó giống như tiếng vang và sự quay lại của sai lầm của chúng tôi và đấu tranh cố gắng làm thanh tịnh trái tim của chúng tôi trong khi kiên nhẫn chịu đựng nghiệp chướng của mình.
Vô lượng thế giới chủng
Tùy tâm chúng sanh khởi
Chúng sanh nghiệp sai khác
Thế giới nhiều vô lượng
Trong đó sanh thủ trước
Thọ khổ vui chẳng đồng.
Kinh Hoa Nghiêm
Phẩm Hoa Tạng Thế Giới

Hằng Triều - ngày 15 tháng 9 năm 1977
Chúng ta sẽ đi đâu?

Một cô gái, chạy ra khỏi nhà, muốn tham gia cùng chúng tôi. Rửa chén dĩa sau bữa ngọ trai dưới vài cây bạch đàn ở góc của một cánh đồng chưa phát triển nằm gần đường rầy xe lửa, tôi nghe có tiếng nói “Có chỗ dành cho tôi không?”. Cô bé mang theo tất cả đồ sở hữu của chứa trong một cái bao gối và túi xách tay. Tôi đoán cô bé khoảng 14 tuổi. Nếu tôi có chút trí huệ nào, tôi đã có thể làm cho bản văn sách nho giáo về lòng hiếu thảo trở nên sống động với cô bé, giống như bản văn này đã làm đối với tôi khi thầy Hằng Thật đọc bản văn này lên vào bữa thọ trai. Nó rất căn bản và trực chỉ. Khi đó, tất cả những gì tôi có thể làm là giữ cho cô bé khỏi ném đồ đạc của cô vào phần chứa đồ ở phía sau của chiếc Plymouth và "đi theo" như lời cô nói. “Chúng ta sẽ đi đâu?”
Chúng tôi đáng lẽ nên nói với nhà báo khi người này hỏi “Thầy cần muốn nói thêm gì không?” là “Có chứ! Có quá nhiều thù hận và khổ đau trên thế giới này. Có quá nhiều tai nạn và thiên tai. Để chấm dứt điều này, trước hết chúng ta cần chấm dứt những điều này từ trong trái tim và trong suy nghĩ của chúng ta. Đó là lý do vì sao chúng tôi đang bái lạy”.
Thay vào đó, tôi nói “À.. không, tôi không thể nghĩ ra bất kỳ điều gì”.
Ngay sau đó, tôi nghĩ “Ai là kẻ bị thiên tai và thảm họa tấn công? Chúng xuất hiện ở khắp mọi nơi. Có điều gì đó về việc nhìn thấy đau khổ cận kề làm thức tỉnh và phá xuyên thủng các bức tường và rào chắn bao quanh trái tim chúng ta. “Này, đó là cha tôi, đó là mẹ tôi” là một sự nhận rõ. Cũng giống như bạn được chăm sóc khi đau ốm và chưa tự lo được khi còn là một đứa trẻ, bạn báo đáp lòng tốt này cho tất cả những người đang đau khổ và cần đến. Sao người ta lại có thể không làm điều này?”.
Những cơn gió mạnh xuất hiện sau bữa thọ trai. Có một đám cháy lớn, phía tây bắc. Chúng tôi có thể nhìn thấy những cột khói và nghe tiếng còi báo động. Một máy bay cứu hỏa khẩn cấp đang cất cánh từ sân bay ngay cạnh nơi chúng tôi đang bái lạy .
Những đám mây rồng đến và bay xuống từ đại dương để trải ra và ngủ dọc theo những đỉnh núi và rặng núi vào ban đêm. Khi mặt trời lên, chúng cũng lthức dậy. Lần lượt từng đám mây phủ đầy bầu trời và làm những gì mà các con rồng làm cả ngày cho đến tận hoàng hôn, từng đám mây một trở về. Một vài đám mây còn lưu lại để bắt các tia màu sắc cuối cùng của mặt trời, và sau đó bầu trời lạnh và trong, đấy ắp vô lượng mặt trời (1). Toàn thể này cách xa đến tận đâu, vĩ đại đến thế nào?
Tôi chỉ mới bắt đầu có được một cảm giác về những điều mạnh mẽ và phi thường mà chúng ta có thể làm được khi đặt tâm trí chúng ta vào việc đó. Đây là nguyện lực. Chúng ta không biết nhiều đến cỡ nào hay xa rộng đến đâu, hay bao nhiêu thiện lực hoặc trí huệ chúng ta có thể mang lại cho đến khi chúng ta đặt tâm vào để thực hiện nó. Mỗi lần thầy Hằng Thật và tôi đạt đến một điểm mà chúng tôi nghĩ không thể tiếp tục được nữa, thì chúng tôi lại tiếp tục được. Đây là yếu tố huyền diệu và chưa biết rõ của cuộc hành hương này và của việc tu đạo. Bạn không bao giờ biết bạn có thể đi bao xa, hay có giới hạn nào không. “Không có pháp cố định”. Tu hành chăm chỉ và thệ nguyện rộng lớn, ai thực sự biết?
Ví như đại long-vương
Nổi mây khắp hư-không
Như vậy Phật nguyện-lực
Xuất sanh các quốc-độ.
Kinh Hoa Nghiêm
Phẩm Hoa tạng thế giới

Ghi chú:
(1) Là những vì sao. Các ngôi sao là những mặt trời trong vũ trụ.

Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977
Thời tiết là một chúng sanh


Tiểu bang California không bao giờ biết được bốn giai đoạn thay đổi do thời tiết mang lại. Có những thay đổi dữ dội như động đất và bão nhiệt đới, nhưng hiếm khi có những chuyển động nhẹ nhàng, mênh mông của nước, không khí, ánh nắng và côn trùng làm giới hạn rõ ràng lên hoạt động của con người. Mùa hè bất tận của California cho phép bạn đi đến những thái cực quanh năm. Còn nơi nào khác mà gánh xiếc này đi qua vào một buổi sáng thứ năm như nơi này: gió lạnh thổi qua hai tu sĩ mặc đồ dày cộm đội mũ len và quấn khăn quàng cổ - hàng chục em học sinh đi xe đạp xuống đồi, tất cả đều mặc áo thun và tay nổi da gà, khịt mũi trong trời lạnh nhưng đạp xe nhanh như gió. Một số cậu bé lớn hơn áo hở ngực đạp xe ngang qua, và một em, thật phi thường, vừa đánh đàn tây ban cầm (guitar) trong khi xe đạp phóng lao xuống dốc. Tôi cảm thấy mình thận trọng quá mức và không có khổ hạnh chút nào trong chiếc áo len và áo che gió của tôi.
Ở nhà khi thời tiết thay đổi, thì cứ thế. Bạn thuận theo thời tiết hay bạn dừng lại. Và cảm nhận hương vị khác nhau khi sống trong bốn mùa. Thời tiết là một chúng sanh, bạn tương tác với thời tiết và tuân theo nó bất cứ khi nào bạn ở ngoài trời. Những thay đổi chậm chạp theo mùa cũng tuần tự thay đổi tính cách. Mùa đông là thời gian ngủ đông. Co vào và ngủ sâu. Mùa xuân bùng nổ khắp nơi và các dòng nhựa chảy. Mùa hè thụ phấn và bày tỏ, mùa thu thì góp nhặt, suy ngẫm, và chuẩn bị.

Hằng Triều - Ngày 17 tháng 9 năm 1977
Cầu chúc các thầy bình an!

Ở cuối con đường Hollister. Một chiếc xe cải biến động cơ với đuôi xe cao ngưng lại ở bên đường và một người đàn ông hét lên một điều gì đó. Chiếc xe quá ồn ào khiến tôi không thể nghe thấy ông ta nói gì. Rùm rùm, púp púp, rầm rầm. Ông ta hét to lên "Tôi nói là cầu cho các thầy bình an!" Ông ta nở một nụ cười thật tươi cho thấy ý ông ta là như vậy. Sau đó, ông ta rú máy xe lái đi, bánh xe quay nhanh bốc khói, rít lên và chạy xuống con đường Hollister. Chúng tôi thêm vài cái lạy yên tĩnh kết thúc trong lúc mặt trời lặn xuống. Ngày mai chúng tôi sẽ trở lại xa lộ.
 

Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977
Chỉ bằng cách cố gắng

Về cơ bản tôi chẳng ở đâu cả nhưng đó là một nơi vô xứ sạch hơn và tĩnh lặng hơn so với những nơi mà tôi đã từng đến.
Làm thế nào tôi lại đến được đây? Không phải từ bất cứ điều gì tôi đã đọc, không từ bất cứ điều gì tôi đã nói hay nghĩ đến. Chỉ bằng cách lắng nghe những lời chỉ dạy, mắc sai lầm và trở về những lời chỉ dạy. Chỉ bằng cách cố gắng, thất bại, hỏi han, và cố gắng một lần nữa, tôi đã bắt đầu tiến tới.


Hằng Triều - Ngày 18 và 19 tháng 9, 1977
Một ngôi sao băng giải mê

Cúng dường: Duk Khai và các con cô cùng ông bà Chin Lee và con cái của họ, tất cả đi đến cúng dường bữa ăn. Rất nhiều thực phẩm, rất nhiều người, và nhiều năng lượng tốt lành.
Chúng tôi trở lại xa lộ. Những tối thật trong và lạnh. Tối hôm qua, khi chúng tôi đang ngồi thiền bên ngoài, tôi để ý một ngôi sao lớn lấp lánh trên bầu trời phía tây. Tầm vóc và những hoạt động khó giải thích của vũ trụ làm tôi kinh ngạc. Vũ trụ đi khắp mọi hướng bao xa? Và vũ trụ đều di chuyển và thay đổi khi tôi đang quan sát vào lúc này, cũng như ngay nơi tôi đang quan sát, trái đất, đang chuyển động và thay đổi, và cơ thể của tôi đang thay đổi.
Đó là một sự kinh ngạc không thốt lên lời, khiến cho mọi vấn đề và mối quan tâm nhỏ nhặt của tôi thu nhỏ và tan biến. Một ngôi sao băng đã giải mê. Từ góc độ khác, toàn bộ thiên hà của chúng ta có thể trông giống như một ngôi sao băng - đến và đi trong chớp mắt.
Lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu chuyến đi, sự bao la không giới hạn của toàn bộ không gian đó cho tôi cảm giác ấm áp, không phải là lạnh. Các ngôi sao sáng trôi nổi trong màn đêm không có điểm dừng khiến tôi có cảm giác giống như căn nhà ấm cúng hơn là những ánh đèn lấp lánh của các thị trấn và các trại chăn nuôi gần đó.
 

Hằng Triều, ngày 20 tháng 9 năm 1977
Tôi chắc chắn đã nói chuyện với Hòa Thượng

Lớp lễ lạy 101. Chiếc xe tải chạy bằng dầu chạy vụt qua bên tai chúng tôi với vận tốc 70 dặm/giờ, chỉ cách đầu chúng tôi 3 bước. Chúng tôi cân nhắc việc lạy theo hoặc nghịch lại giao thông. Cân nhắc: chói nắng, tầm nhìn, gió.

Giấc Mơ.

Tôi đã đến nói chuyện với Sư phụ ở một thành phố cổ xưa nào đó. Tôi có một loạt câu hỏi. Nhưng, trước khi tôi có thể hỏi, ngài đã làm tôi bất ngờ và đã trả lời những câu hỏi thực sự nằm trong tâm trí tôi. Ngài đã nhấn mạnh một số điểm và đưa ra lời khuyên cho hành trình Tam bộ nhất bái. Từ ngữ then chốt là "kiên nhẫn". Hòa thượng nhấn mạnh tầm quan trọng của cuộc hành hương là cho rất nhiều người khác và vì những lý do ngay chính chúng tôi cũng vẫn chưa thể hiểu được.
Khi thức dậy, tôi chắc chắn rằng mình đã thực sự có nói chuyện với Hòa thượng. Tôi cảm thấy được gột rửa, được quan tâm, điều phục và chân thật, giống như khi có sự hiện diện thật sự của Hòa thượng vậy.
Còn có một chuyện khác. Tôi nhận ra mình đã “gặp” Phật A Di Đà. Tôi liên tục nói “A Di Đà Phật. A Di Đà Phật.” Đó không hẳn là một nhân vật quá đặc biệt nào, mà là một toàn cảnh đầy ánh sáng và sự thanh tịnh. Khi bước vào căn hầm lạnh giá, tối tăm khiến bạn nhận thức mình trước đó vừa ở trong ánh nắng ấm áp sáng lạn. Trong khi chìm đắm vào sự gặp gỡ này và trong hội chúng chung quanh Sư phụ, dường như không có gì phi thường. Năng lực và điều kỳ diệu của sự việc này không được để ý cho đến khi tôi tỉnh dậy và quay trở về mà vẫn còn đang niệm “A Di Đà Phật. A Di Đà Phật”.
Những hiểu biết quan trọng nhất của chúng tôi cho đến nay:
1. “Tất cả đều do tâm tạo (Nhất thiết duy tâm tạo)”. Những gì bạn thấy là những gì bạn có. Tâm là nơi để tu hành và hiểu biết. Nhìn ra bên ngoài là ngõ cụt và không tạo ánh sáng, và có nhiều rắc rối.
2. Tuân theo quy củ ( nguyện, giới, hướng dẫn đặc biệt cho hành trình).
3. Tu hành chăm chỉ.
4. Không vọng tưởng. Niệm thiện mang lại sự cúng dường; niệm xấu mang lại rắc rối. Thiện hay ác, đều là vọng tưởng và lậu hoặc.
5. “Hồi quang”. Soi chiếu vào bên trong ở mọi tình huống là chìa khóa để tỉnh thức. Điều đó có nghĩa đóng lại các cổng của mắt, tai, lưỡi, thân và tâm. Ngưng nói chuyện, tránh xa các chủ gia đình – “chim chết” không hát, nhưng chúng thực sự bay (1).
6. Không tham dục – đây là chìa khóa dẫn tới giải thoát và trí tuệ.
7. Đừng dễ duôi và ngưng nghỉ một giây phút nào cả . Hãy “chân thật” mọi lúc, ngay cả khi một mình hoặc lúc ngủ. Không che đậy hay lấy kỳ nghỉ.
8. Tu tập. Tự mình tu tập là điều quan trọng nhất. Sự hướng dẫn của sư phụ và Kinh điển trở nên sống động khi thực tập.
Tụng rỗng chỉ theo tiếng,
Minh tâm mới Bồ Tát.
...
Hễ tin Phật vô ngôn.
Liên Hoa miệng ngươi phát (2)
Lục Tổ Đàn Kinh - Phẩm Cơ Duyên
Buông bỏ mọi thứ và tu hành. Với sự tu tập, Kinh không nói điều gì mà chúng ta không biết. Với sự không tu tập, Kinh nói những điều mà chúng ta sẽ không bao giờ biết.
9. “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Đừng bám chấp vào cái không.
10. Thiền rất quan trọng trong việc làm tan chảy và phản ánh chánh niệm hoặc thiếu chánh niệm của chúng tôi trong việc bái lạy: bái lạy tốt hơn thì ngồi thiền cũng tốt đẹp hơn.
11. Coi tất cả người nữ là mẹ ta, tất cả người nam là cha ta, kết hợp với lòng từ, bi, hỉ, xả, có thể giúp chúng tôi qua được mọi tình huống. Nỗi sợ hãi chỉ là cái nhìn của bản ngã (ngã kiến), quá tự tin cũng vậy.
Vẫn vội vã với cảnh sát và việc cắm trại. Chúng tôi vẫn phải ẩn dấu nhưng không kỹ càng. Các chủ trang trại rất sợ lửa, cho nên những người cắm trại bị xem là mối nguy hiểm. Những ngọn đồi chập chùng đầy cây lá khô kêu tanh tách. Một khi ngọn lửa bén vào, thì gần như không thể kềm chế được. Đây được gọi là những khu vực “lửa hoang dã” trọng yếu.
Chúng tôi tìm thấy tờ giấy viết tay này cùng với ít tiền kẹp dưới cần quạt gạt nước kiếng xe khi chúng tôi quay trở lại vào cuối ngày lạy:
“Công việc của các thầy là một lời chứng của sự quyết tâm. Cầu cho các thầy bền lòng trên hành trình vì hòa bình”. Ned, Người đàn ông đến từ Ventura, nơi đã diễn ra vụ tai nạn thảm khốc. 
 
Ghi chú:

Ðạt Ma đến Trung Hoa chưa gặp được tri âm, nay Anh Vũ này lại là tri âm của Ngài. Nghe chim thỉnh giáo mình như vậy, Ðạt Ma rất vui vẻ dạy cho nó một bí quyết: "Muốn thoát khỏi lồng, hai chân duỗi thẳng, đôi mắt nhắm nghiền, đây là diệu kế, giúp con thoát lồng."
Anh Vũ sau khi hiểu được phương pháp thoát lồng, bèn thưa: "Nay con đã hiểu rồi, cám ơn Ngài chỉ dạy." Anh Vũ nhìn thấy người chủ từ xa trở về, đợi người chủ đến gần, nó liền sử dụng phương pháp đó. Mỗi ngày người chủ trở về đều đến chơi với con chim yêu quý để tiêu sầu giải muộn, nay nhìn thấy Anh Vũ yêu quý nằm bất động trong lồng liền rất lo lắng, bèn mở cửa lồng đem Anh Vũ để nơi lòng bàn tay: "Ồ! thân chim vẫn còn nóng." Vì chim giả chết nên khí nóng vẫn còn. Người chủ vừa mở nắm tay ra Anh Vũ liền bay đi! Kế thoát lồng thật hiệu nghiệm.
Chúng ta hiện nay vẫn còn ở trong lồng, đừng nên cho rằng mình đang tự do. Muốn ăn thì ăn, muốn uống thì uống, không giữ gìn quy củ cho là tự do. Ðiều này thật là mê muội vì đã hiểu một cách sai lầm về tự do. Tự do chân chánh là sanh tử tự do, muốn bay lên trời thì lên trời, muốn độn thổ xuống đất thì độn thổ; có được những bản lãnh như thế mới gọi là tự do chân chánh.

(2) Nguyên văn Hoa ngữ:
汝今名法達 勤誦未休歇
空誦但循聲 明心號菩薩
汝今有緣故 吾今為汝說
但信佛無言 蓮華從口發
Nhữ kim danh Pháp Đạt
Cần tụng vị hưu hiết
Không tụng đãn tuần thanh
Minh tâm hiệu Bồ Tát
Nhữ kim hữu duyên cố
Ngô kim vi nhữ thuyết
Đãn tín Phật vô ngôn
Liên Hoa tòng khẩu phát.
 

Hằng Thật – tháng 9, 1977
Những người trẻ tiếp thu như phép mầu

Tại chùa Kim Luân, rất thú vị khi xem những người nam nữ trẻ tuổi khám phá Phật pháp qua lòng tôn kính của cha mẹ họ đối với Hòa thượng. Chúng ta học bằng việc bắt chước và vì các Phật tử tại gia ở Los Angeles rất hết lòng với vị thầy của họ, nên những người trẻ tuổi tiếp thu như một phép mầu. Khi Phật pháp dần đi vào thế hệ kế tiếp tiếp ở phương Tây, thì những người trẻ tuổi này là những vị hộ pháp, những người sẽ giúp cho Phật pháp hưng thịnh trong các cộng đồng Phật tử tại gia. Được học niềm tin vững chắc từ cha mẹ và người lớn tuổi, họ sẽ tiếp tục tiến bộ trong việc tu hành khi họ lớn lên. Công việc của người xuất gia là hoàn toàn điều phục tất cả tham dục để chúng ta có thể giáo hóa người khác và giúp họ trồng phước báu và tạo lập thiện căn sâu dày trong Phật pháp.
Bạn có thể thấy điều đó đang đến.


Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977

Dừng nó lại tại những cánh cửa và quay nó lại

Sau khi bạn học một bài học, sự thử thách sẽ xuất hiện để khẳng định sự tiến bộ của bạn. Tôi nhận thấy sự nhận thức, kiểm soát, khả năng điều phục tâm đến từ từ. Những tập khí cũ, cái tâm không tu hành đi ra ngoài qua khỏi cánh cữa của các căn để tiếp xúc với mọi cảnh giới. Sau khi bạn biết kềm chế điều phục, bạn có thể kiểm soát năng lượng muốn lậu thoát ra ngoài. Hãy dừng nó lại tại những cánh cửa và quay nó lại. Tôi tin rằng khi việc tu hành đủ lâu, bạn sẽ tích tụ khả năng điều phục giúp kềm chế bạn vào mọi lúc. Nếu bạn có thể quay ngược những tập khí cũ lại.

Hằng Triều - Ngày 22 tháng 9 năm 1977
Bệnh tan biến
 
Bill và Pat Chiang lái xe đến, cúng dường một bữa ăn, thực phẩm, vật dụng và 10 đô la tiền xăng. Bill kể với chúng tôi về bệnh tim mãn tính ngày càng tệ hơn, nhưng sau khi quy y Tam Bảo tại tu viện Kim Sơn Thánh Tự thì căn bệnh "biến mất". Ông đã gặp rất nhiều chuyên gia khắp thế giới, nhưng không ai có thể giúp được. Bill kể lại “Khi quy y, con muốn hỏi Hòa Thượng về chuyện tim của con, nhưng con sợ, vì vậy con đã không nói bất cứ điều gì. Nhưng, lạ lùng thay, sau ngày hôm đó, căn bệnh biến mất. Con đã không gặp chút khó khăn nào về tim kể từ lúc đó!”.
Chúng tôi hiểu được rất ít bằng cách nào và tại sao những điều này xảy ra. Và tuy nhiên tất cả đều đến từ chân tâm, là cội nguồn của tất cả chư Phật. Làm thế nào những cảnh giới này có thể đo lường hay "đạt được?”
Như-Lai cảnh-giới sâu
Lượng đó khắp hư-không
Tất cả chúng-sanh vào
Mà thật không chỗ nhập.
Như-Lai cảnh-giới sâu
Bao nhiêu nhơn thắng diệu
Ức kiếp thường tuyên nói
Cũng lại chẳng thể hết.
Kinh Hoa Nghiêm

Một chủ trại địa phương dừng lại để cảnh báo cho chúng tôi về những mối nguy hiểm cháy rừng to lớn và nói, "Ờ, đúng rồi, và các thầy hãy coi chừng những rắn chuông!". Xe lửa, xe tải, xe hơi, nhện độc, những mảnh vụn bay rơi xuống, giết người, cướp, trộm, những con đường nguy hiểm, và bây giờ là rắn chuông! Tiếp đến là gì? Tôi sẽ hỏi một ai đó vào một ngày khác: "Điều này hẳn là hết sức nhàm chán, phải không?"
Cảnh sát kiểm tra; Kết quả: "Các thầy có thể bái lạy ở bất kỳ phía lề đường nào mà thầy muốn - không thành vấn đề; chúc các thầy may mắn."
 
Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977
Đừng tìm kiếm kết quả

Đôi khi tôi cảm thấy điên cuồng. Tôi không thể ngừng cái tâm niệm - quá dày đặc và thô kệch. "Bạn sẽ làm hỏng tất cả các công việc này và bạn sẽ thua canh bạc." Nỗ lực lãng phí, tiêu tan hy vọng. Và bên trong nội tâm, tôi chiến đấu, đập phá và la hét. Sau đó một cái gì đó sẽ thay đổi tất cả cùng một lúc; hơi nước làm mở bật van tràn hơi hoặc việc làm tan chảy được bảo đảm an toàn và tất cả sẽ thư giãn. Đầu tôi sẽ báo cáo, "Hãy thư giãn, bạn à, Phật tử thì cũng từ bi đối với chính họ nữa, bạn biết đấy . Bạn nên hạnh phúc và thoải mái. Nếu không bạn sẽ căng thẳng và buồn bả, và Sư Phụ không muốn bạn như thế. Bên cạnh đó bạn còn có một chặng đường dài để đi, còn có rất nhiều thời gian. Cứ đi từng bước một vững chắc và sau đó hãy đi bước kế tiếp. Chỉ cần đánh bại những ham muốn và kiểm tra tâm niệm. Làm điều đó cho đủ lâu dài, đừng tìm kiếm kết quả và như thế bạn đang làm việc đúng."

Sau đó, tôi nghĩ rằng, "Bạn không dám quy y vào tương lai, bạn không biết khi nào chuyến đi này sẽ kết thúc. Ngày mai có thể là hết và nếu bạn cứ tiếp tục lãi nhãi bên trong thì việc đó có thể chấm dứt đối với những người khác ngay bây giờ. Hãy làm việc ngay bây giờ, không suy nghĩ, và mỗi lần hãy chỉ làm việc thực hành một cách đúng đắn và đầy đủ. Chỉ dựa vào các hướng dẫn. Nếu bạn được giác ngộ, thì điều đó sẽ xảy ra. Tất cả các tư tưởng xuất hiện để nói về điều này thật ra là để ngăn chặn nó. Vì vậy, hãy đóng miệng lưỡi lại. Hãy dừng cái đầu của bạn . "

Hằng Triều - 23 tháng 9 năm 1977
Phạm quy củ, bể kiếng
 
“Chiếc xe đang thuyết pháp cho con nghe”, đó là sự nhận xét của Hòa Thượng sau khi chúng tôi kể về những sự việc sau đây tại chùa Kim Luân vào cuối tuần:
Beverly Hills: Phá quy củ về trễ nãi, lãng phí thời gian tại một trạm xăng. Một chiếc xe tải rít qua và đập vỡ kiếng chiếu hậu bên hông xe chúng tôi. Phạm quy củ, bể kiếng.
Bên ngoài Malibu: thực hiện một chuyến đi không cần thiết đến chợ thực phẩm – vì sợ rằng chúng tôi không có đủ thực phẩm để ăn. Ra khỏi chợ và chiếc xe không khởi động. Chết máy.
Santa Barbara: Chúng tôi quyết định tăng thêm thời gian lễ lạy và bỏ qua giờ nghỉ ngơi. Ngay sau đó, một thợ sửa xe thấy chúng tôi và sửa chỗ rỉ dầu của xe chúng tôi. Không tính tiền.
Santa Barbara: Trong một chuyến đi vào thị trấn, chúng tôi quyết định nới lỏng quy củ của chúng tôi một chút và lái xe qua khu vực lịch sử Mission cổ xưa (xem cảnh). Ngay khi chúng tôi quẹo góc đường về phía Mission, hệ thống thắng xe ngưng hoạt động. Khi chúng tôi quay vòng trở lại và tiếp tục công việc của chúng tôi, hệ thống thắng xe bắt đầu hoạt động trở lại.
Isla Vista: Khi đối mặt với việc sửa chữa lớn và đắt tiền, chúng tôi quyết định bái lạy thay vì cố gắng tìm tiền và nơi sửa xe để làm việc đó. Ngay sau đó, một thợ sửa xe thân thiện đã chăm sóc "vấn đề lớn" này với giá không quá $20!
Các lời nguyện là tương lai của bạn. Chúng là những hạt giống phát ra ánh sáng và âm thanh hướng dẫn bạn về nhà. Ở đâu đó, một nơi nào đó tất cả chúng ta đã gieo hạt giống của Phật quả. Chúng ta cắn, nhai và chịu đựng các nghiệp chướng che phủ những hạt giống này cho đến khi chúng ta quay trở lại. Đức tin và lời nguyện ám ảnh và thì thầm, "Bạn chưa đến nhà đâu. Đây không phải là nhà. Tiếp tục đi, tiếp tục đi! "Lời nguyện được thực hiện trên đức tin.
Tin quyết-định được bực Như-Lai.
Tin khiến lục-căn sạch, sáng, lẹ
Tin hay sanh trưởng cây bồ-đề 

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Hiền Thủ

Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977
Và bạn sẽ không tái sinh
 
Cần Cái Ai Sao?
Phải, đây là Thiền của Quả Chân và đã đến lúc phải mở rộng công việc bái lạy ra thành cả ngày lẫn đêm. Hãy mang theo kiếm trí huệ. Thần chú là một cây cầu quan trọng, làm sạch hư không, chiếu rọi chúng. Nhưng tôi cần một thứ gì đó trên cả thần chú để sử dụng trong các nghi lễ, trong khi ngủ, khi bái lạy – mở con mắt bên trong để thấy cái gì là vọng tưởng, cái gì là không phải là vọng tưởng. Đoạn trừ hết thảy và đặt tôi vào mọi cảnh – tịch tĩnh và trống rỗng. Nó có tác dụng khi bái lạy; tiếp đến sẽ là trong lúc không bái lại. Giống như thiền vậy:
Tôi tham thoại đầu của tôi
Cả ngày sống dài
Tôi tham thoại đầu của tôi
Mọi phiền não đều tan rã
Ai là người niệm Phật?
Sắc tức là không, sử dụng kiếm trí huệ.
Dừng các niệm khi chúng khởi lên
Và bạn sẽ không tái sanh 

 

Hằng Triều - 24 tháng 9 năm 1977
Miệng và môi chúng tôi lại khô nữa

Bạn sẽ làm gì khi một chiếc xe tải chạy bằng dầu cặn lách ra khỏi đường và tiến thẳng về phía bạn? Nhường đường một cách nhẹ nhàng và nhanh chóng. Có câu rằng “Đôi khi lùi là tiến”.

Như đất chỉ một tánh
Mọi loài ở riêng chỗ
Ðất không nghĩ đồng khác
Pháp chư Phật như vậy
Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

Về nước.
Thật khô khan. Mọi thứ nứt nẻ. Không có những âm thanh sột soạt mềm mại, chỉ có tiếng cọ xát và trầy xước. Giòn và mất cân bằng. Hơi ẩm đã ra khỏi mặt đất. Khi chúng tôi đi bộ dọc theo con đường, mặt đất vỡ vụn và bị lún xuống như vỏ ốc rỗng. Những chiếc xe tải cùng các nhóm tài xế lái nhanh băng qua cạnh chúng tôi, hướng đến những ngọn đồi màu nâu đầy bụi.
Khi gió ngừng thổi, vùng nông thôn hạn hán này thật sự là một địa ngục trần gian. Các gia súc và thú hoang được nuôi dưỡng bằng đám cỏ chết khô, không có một bóng râm che mặt trời thiêu đốt và không có nước để hạ nhiệt. Vài phút sau khi uống nước từ bi-đông, môi và miệng chúng tôi lại khô tiếp.
Các nhà khoa học gọi đây là một "khuynh hướng lượng mưa thấp theo chu kỳ". Họ" không thể suy đoán" cái gì gây ra nó hoặc làm thế nào để kết thúc nó. "Những người không phải là khoa học gia" cũng gọi nó là một chu kỳ, một chu trình nhân quả, của hành vi và quả báo. Đó là nghiệp. Sau khi lạm dụng và lãng phí nước, đặc biệt trong “sự tiến bộ” về hóa học và nguyên tử, chúng ta đánh mất nó. Chúng ta cùng chung một bản thể, và tất cả chúng ta cùng chia sẻ bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Chúng ta đều là một thân, một tâm. Nếu bốn yếu tố này không hài hòa, đó là bởi vì tâm trí của chúng ta quanh co và không hài hòa. Khi nào nước sẽ trở lại? Khi chúng ta sám hối những sai lầm trong quá khứ và sửa đổi. Khi nào chúng ta sẽ tịnh hóa trái tim của chúng ta.
Không có nước uống ở trạm xăng nhỏ này, do ô nhiễm tràn ra từ bãi chứa rác. Bãi chứa rác được tạo nên do không có chỗ để chứa tất cả rác thải của thành phố lớn gần nhất. Người thợ máy nói “Nơi đây từng là một nơi trong sạch”. Lòng tham lớn, mong cầu lớn, những bãi chứa rác lớn, và nước ô nhiễm. Nước tinh khiết hay ô nhiễm là “không rời khỏi một niệm” (1).



Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977
Trong một khoảnh khắc tôi có thể thấy suốt con đường
 
Những người trình diễn.
Vừa khi chủ đề về âm nhạc, ca hát, hoặc trình diễn được bàn đến, một điều khôi hài xuất hiện. Thầy Hằng Triều đeo vào một chiếc mặt nạ tối tăm và cứng nhắc. Đôi mắt và miệng của thầy thay đổi và vào vị trí đặc biệt, và đầu thầy cử động không tự nhiên theo một điệu bộ đã tập qua. Mỗi lần như vậy, tôi cảm nhận ngay lập tức - Tôi cảm thấy sức nóng và xung đột gia tăng. Tôi đeo cùng một mặt nạ đó và không muốn nhìn thấy nó trong thầy ấy hoặc trong tôi. Tôi tưởng tôi đã hoà tan phần quá khứ này của tôi nhưng thực ra là chưa. Nó chưa ra đi, nó chỉ bước ra khỏi sân khấu. Nó thật là xấu xa.
Không biết việc trình diễn có cái gì mà lại tạo ra một ấn tượng sâu sắc và tiêu cực đến như vậy cho cả hai chúng tôi? Có phải chúng tôi vẫn còn tham muốn những tiếng vỗ tay? Có phải nó nuôi dưỡng một nơi chốn trong cái ngã to như núi Tu Di vẫn còn háu đói? Đó là một phản ứng mạnh mẽ và đã bám rễ sâu. Đó không phải là một nơi để cho đi hoặc là một nơi để vui vẻ chia sẻ. Đó là “Tôi đã từng thật sự rất giỏi và tôi biết điều đó, và tôi đã bị buộc phải từ giả. Thật là xấu hổ cho ông”. Xấu xa quá.
Khám phá lớn nhất trong tháng này là năng lượng và ánh sáng và sự thấu rõ sáng suốt đến từ việc thật sự xoay chuyển dục vọng, chặt đứt nó và xoay nó trở vào lại bên trong. Thì ra là thế! Sức mạnh! Trong một khoảnh khắc tôi có thể nhìn thấy suốt con đường đến sự giác ngộ. Câ chuyện như thế này.
Chúng tôi không có cuộc phỏng vấn từ báo chí hay truyền hình nào kể từ lúc ở thành phố Carpentina cách đây một tháng. Tôi cảm thấy không thoải mái, giống như mình không giữ được trách nhiệm đối với Chùa Kim Sơn Thánh Tự hoặc đối với Phật pháp. Cùng lúc, tôi nhận ra rằng có một điều gì đó đang xảy ra – đó không phải là một tình trạng bình thường. Báo chí đang bị giữ tránh xa vì một lý do nào đó.
Sau đó khi chúng tôi xong việc lễ lạy trễ vào một buổi tối, tôi đã tự vấn bản thân về những vọng tưởng của mình: chẳng phải đó là một trường hợp về sự háo danh hay sao? Có thứ gì đó ở bên trong được hiểu ra, và tôi nhận ra tất cả các niệm tưởng về vấn đề này chính là năng lượng tiềm năng để lễ lạy. Đó là thay vì hướng ra ngoài tìm sự quan tâm của báo chí thì tôi nên quay ngược năng lượng đó lại và giữ nó ở bên trong. Ngay khi nhận ra sự thật đó, tôi như có một được cục kẹo ZOTZ! khổng lồ của năng lượng tinh khiết và những nỗi lo lắng của tâm trí trở nên yên lặng. Đúng là nó rồi! Xoay chuyển ánh sáng vào trong (hồi quang) khi làm đúng và kỹ càng hoàn tất mang đến cho bạn những thứ của riêng bạn – nó không bị rỉ (lậu thoát). Ham muốn lớn nhất - về sự hiện hữu tồn tại thông qua sự bám chấp vào tình dục – khi nó bị đoạn diệt và quay ngược vào trong – Tuyệt vời làm sao! Hẳn đó phải là một bước lớn đến trí tuệ và từ bi. Việc tu hành chính là như vậy.
 

Hằng Triều - 25 tháng 9 năm 1977
Việc lạy đã khiến cơn đau biến mất, tôi đoán thế!

Tôi bị đau nhức nhiều phần lưng dưới và thấy khó lạy. Tôi quên đồng hồ đeo tay, và chúng tôi đã lạy vào cả giờ thọ trai. Chúng tôi quên tất cả mọi thứ khác và chỉ bái lạy. Duk Khai và 2 người con trai của cô cùng Nguyen Thi Grey và Gao Reig Snider đến cúng dường bữa ăn. Họ đều khóc khi đến gặp chúng tôi trên xa lộ. Khi chúng tôi ngồi xuống để ăn, tôi nhận ra cơn đau lưng biến mất – tôi đoán việc lạy đã khiến cơn đau biến mất.

Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977
Hiệp Hội Bảo Vệ Nhẫn

Một trong những cuốn sách hay nhất, Chúa tể Của Những Chiếc Nhẫn của tác giả Tolkein, đã thuật lại cuộc hành hương của Frodo và Samwise để cứu tất cả những tốt đẹp thiện lành trên thế giới của họ và tiêu diệt cái ác. Chuyến đi của họ được Gadalf giám sát, đó là phù thủy tối cao của cõi giới đó, một người trường sinh, khôn ngoan, canh giữ năng lượng tốt và trắng, một người có mối liên hệ với trí tuệ cổ xưa.
Cuối cùng, điều duy nhất khiến hai người Hobbit chiến thắng là sự ngây thơ, vô ngã và lời nguyện của họ. Hành trình của họ xảy ra cả bên trong lẫn bên ngoài. Khi tâm họ ngay thẳng thì họ không gặp khó khăn gì, hoặc họ gặp được những người bạn mạnh mẽ và trí tuệ giúp đỡ họ. Khi tâm họ suy nghỉ vớ vẩn hoặc không chân thật với nhiệm vụ của mình thì rắc rối xảy đến.
Hoàn thành nhiệm vụ, các Hobbit và những người bạn đồng hành của họ trở về vùng Shire. Samwise đã học được lòng can đảm, tự trọng, và một chút trí tuệ. Frodo bị một con nhện gớm ghiếc làm bị thương nặng và bị mất một ngón tay trên rìa ngọn núi Doom, và anh ta không còn bám víu những thú vui của thế gian này nữa. Thay vào đó, anh ta đi tìm vùng Gray Havens, một loại như Phật địa thanh tịnh. Frodo chứng tỏ lòng từ bi trong cuộc chiến vì vùng Shire. Anh ta tha cho một kẻ thù và tha thứ cho hành động độc ác của hắn. Frodo đã nhìn quá đủ sự giết chóc và đã kinh nghiệm được sự đồng nhất của tất cả những sinh vật sống và sự tử vong mong manh của sinh vật.
Tuy các nhân vật trong Bộ ba tiểu thuyết của Tolkein không gặp được Chánh Pháp và tất cả họ đều tìm kiếm chân lý bên ngoài nhưng điều tốt nhất là sách Chúa Tể Của Những Chiếc Nhẫn nhắc nhở chúng ta về đại nguyện của Bồ Tát trong việc chế ngự tất cả điều ác và làm tất cả điều thiện. Cuốn sách thật tinh khiết và trữ tình. Có sự giết chóc nhưng nó nói nhiều về sự hàng phục ma quỷ và chuyển hóa chúng sanh hơn là việc giết chóc.
Có một sự chia sẻ tuyệt vời của lòng chính trực và điều thiện giữa nhiều chủng tộc khác nhau và các loài chúng sanh. Nó giống như lý tưởng của “đại đồng” của Trung Hoa. Thầy Hằng Triều và tôi hơn một lần đã cảm nhận được lời kêu gọi thực hiện cuộc hành trình của chúng tôi từ câu chuyện hay này. Kinh nghiệm chúng tôi chia sẻ đôi khi phản ảnh sự cố gắng và niềm vui của Hiệp hội bảo vệ Nhẫn. Đôi khi nó hơi kỳ lạ và chúng tôi tự hỏi làm thế nào tác giả Tolkein có thể gần với Phật Pháp như thế và có phải ông ấy rút ra từ Bồ đề tự tính của chính ông ấy khi viết lên bộ ba tác phẩm này không. Chúng tôi mong ước bộ sách này được gần hơn nữa.
Thật là tốt đẹp quyển sách này tồn tại trên thế giới và nó sẽ thu hút nhiều người tốt đến với Chánh pháp.
 

Hằng Triều - 26 tháng 9 năm 1977
Thành công phụ thuộc vào sự thành tâm

Lễ lạy trên một con đường nhỏ cô lập, song song với xa lộ. Tĩnh lặng, u ám.
Một thầy dạy Thái cực quyền tại địa phương có mái tóc dài và bộ râu dài đi cùng với các tín đồ tiến hành một nghi lễ tháo mở các bó đồ đầy màu sắc ra. Bên trong bó đồ là một tấm áo choàng dài mềm, khăn quàng cổ và những thứ đội trên đầu rồi ông ta mặc vào. Sau khi tụng niệm nhảy múa, và múa kiếm trước mặt chúng tôi khi chúng tôi bái lạy, ông ta hỏi liệu chúng tôi có thể cùng cầu nguyện “hiệp thông” trên đường và quay phim cảnh ông ta đang tặng chúng tôi một số trái bắp và đồ vật linh thiêng không.
Thầy Hằng Thật giải thích viết xuống trong một tờ giấy rằng sự thành công trong công việc của chúng tôi phụ thuộc vào sự chân thành của chúng tôi và chúng tôi tiếp tục lễ lạy, dù họ có hiểu hay không.
Họ để lại thực phẩm để cúng dường và nói họ sẽ gặp chúng tôi tại Vạn Phật Thành trong vòng một năm. Họ đang làm việc vì hòa bình thế giới.

Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977
Vị khổ vui là những gì ngươi nhận được

Nhiều hơn không phải là tốt hơn: Khó lĩnh hội ngôn từ.
Đây là một thói quen cũ mà ngươi nên nhận diện và cắt đứt. Ngươi bị phân tâm và vẫn tìm vui trong những thứ ngươi đọc. Ví dụ: trong bữa ăn trưa, ngươi đọc Phật pháp. Tốt thôi, nhưng chỉ một phần. Tất cả chỉ có tiêu hoá được phân nữa vì ngươi không bao giờ xem xét lại.
“Chẳng phải thật hạnh phúc khi học hỏi và thường xem lại những gì đã học được sao?”
Ngươi đã làm gì? Đọc Đà La Ni; sao chép một số dòng. Sau đó, ngươi đặt nó xuống và làm tương tự với Lục Tổ Đàn Kinh. Ngươi nhận ra giá trị và bắt đầu học hỏi nó, nhưng ngươi từ bỏ trước khi ngươi được nó trưởng dưỡng. Hiếu Kinh, Thập Pháp Giới, Bồ Đề Hải, Thủy Kính Hồi Thiên Lục, và bây giờ ngươi chuẩn bị bắt đầu Kinh Kim Cang và Kinh A Di Đà. Ngươi có nhận ra một khuôn mẫu ở đây không?
Ngươi muốn đi vòng vo ở vòng ngoài đó mãi và không bao giờ bước vào cổng chính sao? Vị khổ vui là những gì ngươi nhận được. Ngươi phải từ bỏ việc bám víu vào quan điểm cũ. Những làn sóng mới của cuộc đời tôi, quá mạnh và thanh tịnh, không thể nào từ chối được, cuốn sạch những thứ cũ ra biển, hòa tan những thứ vô dụng và thanh tịnh hóa thứ có ích.
Thầy Hằng Triều nói “ Trong Đạo tràng cạnh một người có đạo đức thực sự, bạn buông rơi những tấm lá chắn của mình. Ra đây trên con đường này, tôi cảm thấy tấm áo giáp mượn của Hòa Thượng trở nên ngày càng mỏng hơn. Giờ đây chúng ta đã đến và chúng ta phải chuyển sang tấm áo giáp của chính chúng ta”.

Hằng Triều - 17 tháng 9 năm 1977
Những điều căn bản đơn giản vẫn giá trị nhất

Trăng lại tròn đầy. Nó đến và đi và như là một trong các đồng hồ cho chúng tôi. Bình minh và hoàng hôn, những vì tinh tú vào ban đêm, những con sóng đại dương đều lặp lại sự thay đổi, thay đổi nhưng lặp đi lặp lại.
Trạng thái thoải mái hoặc đau đớn, nhiễm ô và thanh tịnh, tức giận hoặc hiền từ của chúng tôi cũng đến và đi. Cho dù điều gì đến trên con đường của chúng tôi hoặc điều gì xảy ra, “chúng tôi” sẽ vượt qua được và “nó” trôi qua. Nguy hiểm và thoải mái, bệnh tật và những con kiến đến và đi. Sự bình đẳng của vạn vật (các pháp) đang thật sự trở nên rõ ràng với chúng tôi.
Một ai đó hoặc một thứ gì đó luôn đi qua, và chúng tôi có thể nhìn lại và nói “Ồ, đó chẳng phải là gì cả. Bây giờ nó như là một giấc mơ đối với tôi vậy”. Có cái gì không phải như thế ? Và ai là người vẫn tồn tại sau mọi cảnh giới của sự việc, nhưng không biến mất hoặc lu mờ, không đến hoặc đi, không tăng trưởng hay thu nhỏ lại?
Sau năm tháng trên đường, những điều căn bản đơn giản vẫn sâu sắc và giá trị nhất: “tu hành chăm chỉ, kiên nhẫn. Không được xoay chuyển bởi các cảnh giới”. Phương pháp tốt nhất là thực hành nhiều và nói ít.

Người trí hay quan sát
Có tướng đều vô thường
Các pháp, không, vô ngã
Lìa hẳn tất cả tướng.
Những ngôn luận trong đời
Ðều do phân biệt cả
Chưa từng có một pháp
Sanh ra những pháp tướng
Chóng diệt, chẳng tạm dừng
Niệm niệm đều như vậy.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

Đôi khi trên những đoạn đường dài của xa lộ 101 này, việc lạy bắt đầu có cảm giác như lạc vào một cơn bão tuyết ở những vùng núi cao. Sau một lúc, “không còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả” (Bốn Tướng). Mặt trời làm vỡ nút thắt và keo dính, và gió thổi làm sạch tâm trí như dòng nước chảy. Trong sạch và trống rỗng, sự bao la của biển cả và các ngôi sao giống như không gian yên tĩnh bên trong của chính bạn. Cảnh giới chư Phật phải giống như thế nào, nơi mà:

Thời thân đầy khắp như hư không
An trụ bất động khắp mười phương.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Hiền Thủ

Đêm qua tôi có một giấc mơ, trong giấc mơ đó có vài người đàn ông tìm cách đột nhập vào xe hơi của chúng tôi và ăn cắp đồ của chúng tôi. Lúc đó chúng tôi đang bái lạy và đang làm những việc đều đúng đắn. Tôi nhìn thấy họ và đi về phía họ, và bằng cách nào đó, thuyết phục được họ không trộm đồ của chúng tôi.
Chiều nay, khi chúng tôi bái lạy dọc theo con đường bị cô lập này, tôi nghĩ rằng mình đã thấy từ khóe mắt có bóng dáng hai người – giống như ai đó đang nhảy qua hàng rào xa lộ và hướng về phía xe hơi của chúng tôi đang đậu. Chiếc xe ở phía bên kia của một ngọn đồi và bên ngoài tầm nhìn của chúng tôi. Kỳ lạ thay, cùng lúc đó, thầy Hằng Thật, vì lý do gì đó thầy không thể giải thích được, bắt đầu lạy nhanh hơn. Cảm nhận được có gì đó xảy ra, tôi đã đi bộ lên phía trước đến đỉnh đồi và nhìn thấy có hai người đàn ông đang kéo cửa ra vào và tìm cách mở cửa sổ của chiếc Plymouth. Khi họ nhìn thấy tôi đến, họ chạy trở lại băng qua đường xa lộ. Cái làm cho tôi sửng sốt kinh ngạc là họ cũng là những người xuất hiện trong giấc mơ của tôi – quần áo, đầu tóc, và tất cả mọi thứ.
Lúc còn cạnh các mỏ dầu, phía bắc thành phố Ventura, cũng có những giấc mơ tương tự về việc những chiếc túi ngủ của chúng tôi bị đánh cắp. Trong những giấc mơ ấy, chúng tôi đã phá vỡ quy củ và đưa các thiết bị cho những tên trộm như thể họ là những người bạn cũ. Hóa ra, vài ngày sau, chúng tôi đã thật sự phá vỡ quy củ (chậm trễ và nhiều chuyện) và ngày hôm đó, túi ngủ của chúng tôi bị đánh cắp.
Trong giấc mơ đêm qua, chúng tôi đã tuân thủ quy củ và đã ngăn chặn hành vi trộm cắp. Vào buổi chiều hôm sau, chúng tôi quyết định đi ra và bái lạy “đúng giờ”, thay vì bỏ mất thời gian để cạo râu tóc và tắm rửa. Chúng tôi đã không nói chuyện và đúng giờ hành lễ và bái lạy. Không có trộm cắp.
Có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên? Có lẽ vậy. Tuy nhiên, sự việc không cho cảm thấy như vậy. Sự việc cho cảm thấy dường như chúng tôi đã kiểm soát và có trách nhiệm về những gì xảy đến với chúng tôi. Đó là một bài học thực tiễn về nghiệp và đạo lý “Tất cả do tâm tạo (Nhất thiết duy tâm tạo)”. Nhận quả không sai chạy mảy may hay sai trật nhỏ như sợi tóc. Đêm đó chúng tôi đọc câu kệ trong Kinh Hoa Nghiêm:

Các báo, tùy nghiệp sanh
Giả dối như giấc mơ
Luôn luôn thường diệt hoại
Như trước, sau cũng vậy.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

 

Hằng Thật - Tháng 9 năm 1977
Tâm gặp tập khí

(Những dòng sau đây được viết ngay sau chuyến viếng thăm chùa Kim Luân vừa qua của chúng tôi – dịp cuối tuần đầu tiên của tháng 9. Phần lớn đã thay đổi kể từ lúc đó. Chúng tôi đang ở phía trên thành phố Ventura trong chiếc xe của một cư sĩ đang lái quay trở lại thành phố Los Ageles để gặp Hòa Thượng thêm một lần nữa. Dưới đây là suy tư của tôi từ chuyến thăm vừa qua).
Khi chuyến đi bắt đầu, sự phòng thủ của chúng tôi với thế giới của thành phố Los Ageles rất cao. Lần đầu tiên trở lại Kim Luân sau một tháng ở bên ngoài đã cho thấy sự căng thẳng của chúng tôi. Quay trở ra ngoài lại và chúng tôi cảm thấy bớt căng thẳng hơn, và thật hơn. Cả hai chúng tôi đã có một dung tích lớn hơn để bao trùm “thực tế”. Lần thứ hai quay trở lại Kim Luân còn rõ ràng hơn. Chúng tôi phản ảnh về việc chuyển từ công việc đơn độc căng thẳng đến một môi trường hoàn toàn xã hội. “Người tu hành không bị cảnh chuyển”. Bắt đầu cảm thấy uyển chuyển hơn, thực tế hơn trong cả hai thế giới. Quay trở lại các mỏ dầu và chúng tôi bị thổi bay và lãng phí kim quang (ánh sáng vàng). Bị bệnh, hồi phục và tiếp tục. Bỗng nhiên, có một chuyến thăm bất ngờ của Sư Phụ và chùa Kim Sơn Thánh Tự đến thành phố Santa Barbara. Chúng tôi thực sự khao khát muốn cho những người bạn cũ thấy chúng tôi đang làm gì, cảm thấy như thế nào khi ở ngoài. Một món quà năng lượng đến từ Sư Phụ cùng với chuyến thăm. Tiếp theo là một chuyến đi bất ngờ trở lại chùa Kim Luân, sáng suốt hơn, quá trình chuyển đổi bớt gập ghềnh hơn. Nhận thức về việc không muốn phóng đi năng lượng. Đấu tranh với những dục niệm, sử dụng phương pháp đó, một liều lượng khác của năng lượng kim quang.
Lái xe trở lại đường Hollister, sự căng thẳng gia tăng khi chúng tôi vượt qua thành phố Ventura. Cảm thấy trần trụi khi chúng tôi đến nơi. Buông tất cả những tấm khiên phòng thủ xuống. Cái nào thực tế hơn? Mọi cảnh giới đều là tâm gặp tập khí. Hãy ở giữa với ánh sáng; hãy từ từ, cẩn thận và im lặng và mọi chuyện sẽ ổn. Bạn sẽ chiến đấu với tham dục ngay khi nó đến.
Cảm thấy lạ lẫm trong tấm y áo khi ở bên ngoài trạm xăng sau khi cảm thấy hoàn toàn như ở nhà trong tu viện với cùng tấm áo ấy. “Khoan đã. Mình đang làm gì ở đây vậy?” Không nhà. Nhìn chiếc xe hơi và nó giống như ngôi nhà thân thương không nơi chốn. Chúng tôi quay trở lại trung tâm. Ở giữa và đi về phía Sự thật và không ai có thể làm hại bạn. Sử dụng kiếm trí tuệ để hàng phục các niệm của bạn và đừng để cho âm thanh của bánh xe của chính bạn khiến bạn nổi điên lên. Hãy nỗ lực. Tất cả đều ở đó, hãy làm đi.

Hằng Triều - 28 tháng 9 năm 1977
Trẻ em từ nhận thức có sẵn nhận ra sự thật này

Khi sự nghi ngờ và vọng tưởng bu đầy, tôi hình dung ra cha mẹ, và sau đó là tất cả chúng sanh mà tôi đã từng gặp hoặc biết. Tôi nhớ đến lòng tốt của họ và cảm nhận sự sợ hãi và đau khổ của họ như chính của tôi. Tôi nghĩ về cái nợ của tôi và cơ hội tôi có để trả nợ cho tất cả .
Tôi hình dung Hòa Thượng và đánh giá về sự thiếu tinh tấn, thiếu thành tựu và thiếu trí tuệ từ bi của tôi. Hòa Thượng trụ trì cho tôi sự kiên nhẫn và thắp sáng Đạo. Cha mẹ tôi gây dựng vững chắc cho tôi gốc rễ và sự may mắn. Cả hai đều “giúp hồi lực” cho thệ nguyện của tôi để “giúp đỡ và hỗ trợ chúng sanh ở khắp nơi”, và để tôi “cố hết sức mình”.
Cha mẹ và Sư Phụ đã cho đi và hy sinh quá nhiều với tinh thần vô ngã! Làm sao tôi có thể lãng phí thời gian mắc vào các tư tưởng nhỏ nhen và ô uế? Hãy đi tiếp, Hằng Triều, chỉ làm việc thiện, đừng làm sai. Hãy cúng dường bằng hành vi của mình và thanh lọc tâm ý. Trong mỗi cử động “đi, đứng, nằm ngồi”, thanh lọc tâm ý.
Tôi có thể nhớ đến “thiền” lúc còn là một đứa bé. Cái "thiền" đó bao gồm việc nhìn chằm chằm vào một chỗ hoặc nhắm mặt lại, cố gắng không để cho bất kỳ suy nghĩ hay hình ảnh nào khởi lên. Tôi cố gắng làm tất cả mọi thứ bên trong tôi “hành xử có ý thức và yên tĩnh”, giống như bùn ở đáy ao nước trong. Nó thật vui, là một trò chơi. Mỗi khi một ý nghĩ hay lời nói hay hình ảnh khởi lên, tôi sẽ phải bắt đầu lại. Đi xe hoặc ngồi trong nhà thờ, vào ban đêm hay buổi sáng khi mọi thứ đều yên tĩnh và vẫn còn ngủ là những thời điểm tuyệt vời nhất.
Tôi biết những đứa trẻ tạo ra những thần chú của riêng chúng. Chúng “giữ tâm” bằng những âm thanh và âm tiết lặp đi lặp lại nghe có vẻ như “vô nghĩa” với người lớn. Bất cứ khi nào chúng cảm thấy căng thẳng hoặc cần sự định tâm, những âm thanh tự động hiện lên. Những đứa trẻ khác tạo ra những động tác bàn tay và ngón tay dường như vô nghĩa, lặp đi lặp lại kiểu mẫu và quá trình này. Chúng sử dụng những kiểu mẫu này khi cảm thấy sợ hãi hoặc một mình. Vài đứa trẻ chỉ đếm 2-4-6-8, 1-3-5-7, v.v... theo chiều nghịch hoặc chiều thuận và đôi khi đồng bộ với bước đi của chúng.
Tất cả các kỹ thuật này chỉ là phương pháp tập trung và tĩnh tâm. Chúng tự nhiên và chỉ vào một kiến thức không thể học mà mọi thứ được tạo ra từ tâm, nghĩa là bên trong và bên ngoài, hoặc chủ thể và đối tượng, ta và người – những sự phân biệt – đều là giả.
Làm thế nào mà trẻ em từ nhận thức có sẵn nhận ra sự thật này và tìm mọi cách thật tự nhiên để tịnh hóa và sử dụng sức mạnh của tâm chúng? Làm thế nào mà chúng ta quên đi?
Tính theo nhóm, nhóm trẻ em là những người nhạy cảm nhất và đồng cảm nhất với Tam Bộ Nhất Bái. Tại sao? Người ta nói rằng trẻ em nhanh chóng tiến tu và phát triển sự thâm nhập về tâm linh (thần thông) vì chúng không bị ô uế bởi ham muốn tình dục như người lớn. Không bị ràng buộc bởi cảm xúc tình dục và nỗi sợ, chúng bớt đi một sự bám chấp to lớn cản trở tự tánh của chúng, che mờ tâm thanh tịnh của chúng.
Điều này có vẻ thật sự đúng. Hầu hết mọi người mô tả sự thay đổi của tuổi dậy thì rất khủng khiếp và khó khăn, được đánh dấu bởi sự “mất mát” và đau đớn. Khi ham muốn tình dục thống trị tư tưởng và tinh thần, thì sự mê mờ và sự mất điều hòa sẽ đi tiếp theo sau. Nếu một người có thể xoay ngược quá trình này - “hồi quang phản chiếu”, tức là, không bị ham muốn tình dục điều khiển, thì người đó sẽ sớm bắt đầu “nhìn thấy” lại, và là đang trên con đường giác ngộ. Trong Đạo Đức Kinh có nói rằng:
“Cho nên, thường không ham muốn mới thấy được chỗ vi diệu; kẻ thường ham muốn chỉ nhìn thấy phía ngoài” (1).
Nếu bạn không thể xoay chuyển ham muốn tình dục, bạn sẽ ở trong bụi trấn và chìm đắm, phải chịu khổ trong vòng luân hồi. Không có bí mật lớn hay món quà đặc biệt về điều này. Đó chỉ là dụng công chăm chỉ và hành trì. Nó không dễ dàng, như thầy Hằng Thật và tôi đang khám phá ra như vậy. Nhưng nó không phải là điều không thể, và bạn càng tu hành, nó càng dễ hơn. Học cách ngăn chặn cái rò rỉ đó giống như trở thành đứa trẻ lần nữa. Điều này thực sự thú vị và ngày nào cũng đầy những điều bất ngờ thú vị.

Ghi chú:
(1) Nguyên văn Hoa ngữ trong Đạo Đức Kinh:
故 常 無 欲 以 觀 其 妙常 有 欲 以 觀 其 徼.
Cố thường vô dục dĩ quan kỳ diệu; thường hữu dục dĩ quan kì kiếu.

Hằng Triều - 30 tháng 9 năm 1977
Con đường thế gian không đi đến đâu

Những cơn gió lạnh, giật từng cơn – những cơn gió giật mạnh thổi cả ngày lẫn đêm.
Thầy Hằng Thật và tôi ngồi xổm trên một sườn đồi lạnh giá trước khi bình minh lên, nhìn ra phía đại dương và bờ biển gồ ghề. Một ánh sáng mờ màu đỏ phía chân trời hướng đông chầm chậm xuyên qua bầu trời đen. Sau đó, trong khi khâu vá dưới ánh đèn dầu sau thời công phu khuya, một ý nghỉ đã xảy đến với tôi “Ta từng luôn muốn sống như thế này. Và bây giờ ta đang như vậy! Thật không thể tin được!”
Cơn gió bắc lạnh xé da này đã giúp không khí và cảnh vật hiện ra rõ hàng dặm. Mọi thứ đều sạch và rõ nét. Không có sự ẩm ướt dinh dính hay khói sương. Được tẩy rửa và tịnh hóa bởi một cơn gió rét buốt, chúng tôi lạy xuyên qua, cảm thấy nhẹ nhàng và rõ ràng.
Hạnh đầu đà lợi ích, “các khổ hạnh”, cũng tác dụng giống như vậy. Các khổ hạnh giúp tránh xa những dính mắc âm tính và bụi “khách” (khách trần) do tham dục mang đến. Trong Đạo Đức Kinh có nói:
Sắc năm màu làm ta choáng mắt,
Thanh năm cung ngây ngất lỗ tai.
Năm mùi tê lưỡi mềm sai,
Ruổi rong săn bắn, lòng người hóa điên.
Của hiếm có ngả nghiêng nhân đức

(Chương 12 - Kiểm Dục)

Cái gì là “khổ hạnh”? Tổng cộng có 12 khổ hạnh mà Đức Phật đã khuyên dạy, chẳng hạn: mặc áo choàng làm bằng mảnh vải rách khâu lại, khất thực, ngày ăn một bữa vào giờ ngọ, ăn vừa đủ hoặc ăn ít, ở ngoài trời, không ngủ nằm, ở nơi thanh vắng (a lan nhã). Tại sao gọi là “khổ”? Vì nó giống như khi bạn bị bệnh, thường việc chữa bệnh lúc đầu đau đớn, thuốc giải bệnh rất đắng. Trong Kinh Pháp Bảo Đàn có nói: “Thuốc đắng hay trừ được bệnh khổ”.
Trước khi xuất gia, tôi thực sự rất sợ những khổ hạnh này. Tôi sợ việc từ bỏ thức ăn ngon và quần áo tốt đẹp của tôi, sợ ăn một bữa mỗi ngày, và sợ ngủ ngồi. Tôi đã có những giấc mơ không bao giờ có thể ăn dâu tây hoặc bánh ngọt chiên (donuts) nữa. (Sao tôi có thể sống thiếu bánh ngọt chiên được chứ?). Nhưng nước cho ta bài học khi bị ướt và lửa thì cho bài học khi bị cháy phỏng, “lợi ích” của khổ hạnh nằm ở việc thực hành khổ hạnh. Làm sao tôi từ lâu nay cứ nghĩ rằng sự hiểu biết chân thật là một “hành trình tri thức” tách biệt kinh nghiệm trực tiếp và nỗ lực dụng công? Thật đơn giản làm sao! Trong Phật giáo, có vô vàn cách để kinh nghiệm trí tuệ vô tận. Một trong bốn thệ nguyện của Bồ Tát là, “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”.
Những phương pháp tương tự, “pháp môn”, mà Quan Âm Bồ Tát sử dụng để “thâm nhập trí tuệ thậm thâm” có sẵn cho bất kỳ ai muốn thử. Đó thực sự là một cái gì đó! Sự hiểu biết không nằm ngoài việc làm - "Thực hành và cảm ứng quyện lẫn vào nhau," và bất nhị nguyên (không hai). Đây là viên mãn, vô hạn và vô thượng. Đây là Phật giáo. "Tuy có những tên gọi khác nhau, nhưng đều có một bản thể."

Hằng Triều - Ngày 1-3 tháng 10 năm 1977
Nếu có thể đoạn diệt dục niệm, con có thể tiến lên

Những ghi nhận và suy nghĩ ngẫu nhiên.
Ngay khi đến nơi (muộn) chúng tôi vào trong một chiếc xe với Sư Phụ, Kuo Jing, và Kuo Hsiang và viếng một ngôi chùa Phật giáo khác ở nơi nào đó ở Los Angeles. Thầy Hằng Thật, Hòa Thượng, và tôi ngồi ở hàng ghế sau. Tôi vụng về với lời nói và cảm xúc, cố bày tỏ sự bực bội và căng thẳng của tôi vào tháng vừa qua bằng rất nhiều cảm xúc và ít sáng suốt. Bàn tay của Sư Phụ đặt trên đầu gối tôi, và với bàn tay kia, ngày khiến tôi ngạc nhiên khi giơ lên xoa đầu tôi. Một lát sau Hòa Thượng lại làm lần nữa, nhẹ nhàng kéo những sợi tóc dài khoảng một phân và xoa đầu. Tôi chối không có bất kỳ suy nghĩ gì về bạn gái tôi. Sư Phụ mỉm cười. Tất cả mọi thứ đều dịu mát và bị chế phục, ngọn lửa lắng xuống. Sau đó Hòa Thượng đưa tay xoa đầu thầy Hằng Thật và nói “Nó đang chín dần”.
Hỏi: Sư Phụ, khi ở bên ngoài Bồ đề đạo tràng, chúng con nên nương tựa vào cái gì?
Hòa Thượng: Quy củ, giới luật. Ngay khi con bắt đầu tu hành, nếu con sai một ly, con sẽ đi xa một dặm.

Tình dục và Tu hành.
Hỏi: Lậu thoát là gì?
Hòa Thượng: Chúng còn hơn cả tập khí bất thiện. Chúng là dâm dục. Nếu mọi lúc đều không có niệm dâm dục, thì đây là “đoạn diệt lậu thoát”... "Công phu" thực sự là kiểm soát thứ này, điều phục nó, thực sự buông bỏ nó... Điều tồi tệ nhất trên thế giới này là dục niệm. Nếu có thể đoạn diệt dục niệm, con có thể tiến lên. Nhưng không ai muốn làm điều đó.
“Ôi tôi cô đơn lắm” Nếu con có thể chịu cô đơn, ,đơn độc được, thì đó là điều tốt nhất.
“Nhưng người ta nói ‘Ôi thế này thì là một mất mát quá lớn lao, nếu tôi đoạn trừ nó (tham dục)..’ Đây là cách duy nhất để giải thích nó (lậu thoát). Mọi thứ khác đều chỉ là bề ngoài. Tất cả cá Kinh đều giảng về điều này, nhưng nó chỉ tạm thời; không ai biết được... Phiền não là gì? Phiền não đến từ lậu thoát. Khi con có ham muốn, nó dẫn đến tánh ích kỷ, và sau đó sự ích kỷ đưa đến sự tức giận ... Đây là điều cơ bản. Nếu con đáng lẽ nên đoạn trừ nó mà con không đoạn trừ, thì con sẽ gặp rắc rối. Người xuất gia nam và nữ không nên cọ xát đụng chạm nhau. Hãy giữ quy củ, nếu không con sẽ bị đọa”
Trong bữa thọ trai.
Hằng Triều: À! Con đã khởi một vọng tưởng nhỏ ...
Sư Phụ: A, giờ thì anh ta thừa nhận! Trước kia, khi ta hỏi anh ta ở trong xe, anh ta nói là không có, nhưng bây giờ anh ta nói có. Chỉ chút sai khác đó thôi cũng khiến mọi thứ khác đi.
Hằng Triều: Con bị những quả chanh liệng trúng, bạch Sư Phụ ." (qua Thầy Hằng Thật.)
Sư Phụ: Bên trong con bị chua (cười), sợ ai đó sẽ cặp kè với bạn gái của con.
Hằng Triều: (tự hỏi) Sao Hòa Thượng biết ta có suy nghĩ đó? Ta có nói với ai đâu?
Sư Phụ: Đây vẫn là còn cái tôi. Con nhìn thấy cái tôi quá rõ ràng. Mọi rắc rối trên thế giới này đến từ sự hiện diện của cái tôi. Nếu con không có cái tôi, làm sao cơ thể con cảm thấy bất an được? Vọng tưởng của con cũng chiêu cảm những cơn gió. Con nghĩ sao về điều này?
Hằng Triều: (Tôi cứng họng – tự nhủ) Làm sao Hòa Thượng biết về những cơn gió lớn và sự khó chịu. Thế này thật là quá nhiều! Sư Phụ biết hết cho dù mình chưa từng nói một lời nào cả!
Sư Phụ: (cười) Giờ thì con đã biết vọng tưởng là không được rồi, con nên dừng lại. (Nói với cả hai chúng tôi) Các con phải giác ngộ ngay đi. Ai ở đó để cảm thấy sợ? Mọi rắc rối đến từ thứ này: ngã kiến quá lớn.
Khi tự tánh trong định, ma quỷ bị chế phục.
Không vọng tưởng, ngày nào cũng an bình.
Việc bái lạy của các con sẽ có một chiêu cảm lớn.
Chúng sanh không trí huệ
Tham ái đâm thương độc
Vì cứu họ nên Phật
Cầu Bồ-Ðề vô-thượng
Các Phật Pháp đều thế.
...
Ðạo sư hàng quân ma
Dũng kiện không ai hơn
Quang minh diễn diệu nghĩa
Từ bi nên như vậy. (1)
Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Quang Minh Giác

 
Ghi chú:
(1) Nguyên văn Hoa ngữ:
眾生無智慧,
愛刺所傷毒,
為彼求菩提,
諸佛法如是。
...
導師降眾魔,
勇健無能勝,
光中演妙義,
慈悲故如是。
Chúng sanh vô trí tuệ, 
Ái thứ sở thương độc,
Vi bỉ cầu Bồ Đề, 
Chư Phật Pháp như thị。
...
Đạo sư hàng chúng ma,
Dũng kiện vô năng thắng,
Quang trung diễn diệu nghĩa,
Từ bi cố như thị。

Hằng Triều - 3 tháng 10 năm 1977
Làm bất cứ điều gì để phá hoại sự lễ lạy

Chúng tôi trở lại trên đường nhựa. Lúc ông Chin Lee đón chúng tôi vào thứ Bảy, chúng tôi đã lạy đến phần bắt đầu của một cây cầu hẹp và nguy hiểm. Không có cách nào để đi băng qua, đặc biệt là trong lúc xe cộ giao thông quá dày đặc trênđường xa lộ. Làm thế nào để đi băng qua?
Khi chúng tôi trở về từ chùa Kim Luân, Cơ quan Bảo Trì Xa Lộ đang thực hiện sửa chữa, và đường xe bên trái đã bị đóng.
Chúng tôi thong thả bước qua. Sau mười cái lạy ở phía bên kia đường, đường xe mở trở lại, và giao thông tràn qua. Chúng tôi đã thành công!
Bản ngã của tôi đang chiến đấu để tồn tại: đau bụng, tiêu chảy đêm qua và sáng nay, và bây giờ thì buồn nôn và chóng mặt. Tu hành là thay đổi hoàn toàn tâm và thân. Tôi có thể nhớ đã tự khiến bản thân mình bị bệnh khi còn là một đứa trẻ vào những ngày mà tôi không muốn đi học. Vì vậy, bây giờ là một cái bản ngã tuyệt vọng cũng đang làm giống như vậy - làm bất cứ điều gì để phá hoại việc lễ lạy. "Ngươi sẽ cảm thấy tốt hơn nếu ngươi nghỉ ngơi. Ngươ bệnh quá không thể lạy. Việc lễ lạy này không lành mạnh”. Cái bản ngã tuyệt vọng ru ngủ và cầu xin nhưng vô ích.
Mỗi cái lạy là một lần rửa trôi hoàn toàn vọng tưởng. Mỗi lần đầu tôi chạm mặt đất, đầu óc tôi lặng đi không dấu vết. Tôi đánh mất việc tụng niệm và đi vào một số loại giấc mơ nơi đó thời gian cùng mặt đất biến mất. Khi đứng dậy từ một trong những lần chúi đầu lặn này, tôi thấy mẹ tôi ở trong một chiếc xe hơi đang chạy ngang qua. Tôi biết tôi đã tạo ra hình ảnh của bà, nhưng nó quá thật. Thật không thể tin được. Tôi khó mà tin nổi. Mẹ tôi đang cách tôi gần 3.000 dặm.

 
Hằng Triều - 4 tháng 10 năm 1977
Việc duy trì là ngay nơi đó

Chúng tôi đang cắm trại gần bãi rác Santa Barbara ở Xa lộ 101.
Mọi thứ đang phá vỡ những lời nói trong quá khứ. Nhìn thấy mẹ tôi ngày hôm qua và giấc mơ gần đây về người vợ cũ của tôi cho thấy rằng tôi đang níu kéo một mối liên hệ sâu sắc và sự bám chấp. Tôi cố gắng không can thiệp bằng cách ngăn chặn bất cứ điều gì đang xảy ra. Tôi tự nhủ: “Cứ tiếp tục lạy, hãy kiên nhẫn và đừng bị lay động. Hãy đoạn trừ tham dục và vô minh của ngươi. Đừng tránh ngay những thứ khác. Hãy độ chúng, đừng xóa và chôn vùi chúng ". Việc này có tác dụng. Ở trung tâm của một cơn bão lại có một điểm yên lặng. Kiên nhẫn chính là chìa khóa.
Việc đạt được là trống rỗng. Việc duy trì là ngay nơi đó. Chăm chỉ từng phút, kiên nhẫn trong từng cử động. Dùng phương pháp của bạn giống như một chú mèo rình bắt chuột. Không bám chấp vào đâu – không có bản ngã. “Bản ngã là nguyên nhân của mọi rắc rối trên thế giới này”. Nhìn vào bên trong chính bạn để hiểu biết, đừng hướng đến những người khác - ngay một mảy may cũng không.
Tất cả điều này chỉ có ý nghĩa khi chúng ta tu hành. Khi việc tu hành dừng lại, ngôn từ chết đi, và ngay trước mắt chúng ta, chúng ta đánh mất “nó”.

Đi đứng ngồi nằm
Không rời cái này
Hễ rời cái này
Thì sai lầm ngay. (1)

Hòa Thượng Tuyên Hóa

Ghi chú:
(1) Nguyên văn Hoa ngữ:
行住坐臥,
不離這個;
離了這個,
便是錯過。

Hành, trụ, tọa, ngọa,
Bất ly giá cá;
Ly liễu giá cá,
Tiện thị thác quá。

Hằng Thật - Tháng 10 năm 1977
Không phải vậy, bây giờ hãy xem ta
 
Quá Nhanh.
Ồ! Jack, hãy giữ lại! Ngươi có thể sẽ hối hận làm một lỗi lầm lớn vì sự tham cầu kết quả của ngươi. Hãy chậm lại. Ngươi hoàn toàn là người mới trong trò chơi năng lượng này và ngươi không thể đẩy nó mà nó không đẩy lại.
Các ống nước của ngươi cũng hoàn toàn mới. Đường ống dẫn nước và những vòng bịt kín các chỗ nối chỉ vừa mới được lắp vào. Đừng mạo hiểm làm vỡ bể chúng trước khi chúng được quen vận hành. Các mạch mới của ngươi là loại thật và vững chắc. Ngươi sẽ không bị chảy thóat ra như trước đây. Bàn chân ngươi ở trên mặt đất rắn chắc; nhận thức và thái độ của ngươi phải phát triển để phù hợp với sức mạnh mới của ngươi.
Ngươi phải vận hành thực sự. Ngươi không thể bất cẩn và nói “Không phải vậy, bây giờ hãy xem ta” nữa. Tất cả đều để lại phía sau. Thái độ mới: Chỉ tiến lên! Chỉ chiến thắng! Hãy sử dụng phương pháp của ngươi. Cứ chầm chậm, chầm chậm.

 
Hằng Triều - Ngày 5 tháng 10 năm 1977
Tất cả được thực hiện như thể đang ở trên sân khấu


Tôi đã quan sát thầy Hằng Thật. Thầy càng giữ nguyện tịnh khẩu lâu, thầy càng thay đổi. Đóng cái miệng lại là mở cặp mắt ra. Tôi nói với mọi người rằng “như vậy thầy có thể tập trung tốt đẹp hơn, thật sự tập trung, và nhìn vào mọi thứ”. Nó giống như việc dùng tia laser, thay vì dùng bóng đèn – bóng đèn thì tán xạ, không đấm xuyên thủng được, nhưng tia laser, nhờ sự tập trung ngay điểm nhỏ nên có thể cắt xuyên qua những thứ tưởng không cắt được.
Người ta nói rằng thần thông cũng như vậy. Tất cả chúng ta đều có thần thông, nhưng thần thông không hoạt động – chúng không thông, vì chúng ta phân tán ánh sáng của mình và lãng phí ánh sáng qua thân, khẩu, ý của chúng ta. Những hiểu biết nhỏ nhoi mà chúng tôi khai mở cho đến nay trên hành trình này là có được trong thời gian lễ lạy và trong những khoảng thời gian nhất tâm.
Tai không thể nghe khi miệng lép nhép. Mắt không thể nhìn thấy nếu chúng đang nhìn vào “cái ngã”. Tâm không thể nhìn thấy tiền kiếp và suy nghĩ của kẻ khác khi nó bị lôi kéo bằng cách này hay cách khác bởi tham dục và những sự bám chấp. Có câu rằng “Một niệm chẳng sinh toàn thể hiện”. Với một tâm trí đủ các giai điệu nhạc pop, những niệm tưởng về thức ăn và danh tiếng, được và mất, và mãi tính toán, thì còn cái gì khác có thể hiển hiện được nữa?
Vì vậy, sự im lặng của thầy ấy là một lời nhắc nhở liên tục với tôi để tập trung và giữ chánh niệm - để đóng lại và mở ra. Với từng niệm sinh khởi, cuộc sống chúng ta luân chuyển.
Có hai người, nói rằng họ là “những nhà trị liệu hành nghề tự do” dừng ngay trước bữa thọ trai và muốn chúng tôi “bước vào xe van và chia sẻ năng lượng”. Đây là một tình huống nhất định không thể được– một tình huống của “Cô bé quàng khăn đỏ gặp nhà trị liệu chó sói”.
Tôi từ từ học được rằng những lỗi lầm của tôi trong việc phán xét hoặc vọng tưởng đã tạo ra rắc rối (những con kiến, những cơn gió lớn, đồ vật phụ tùng bị đánh cắp, xe bị hư hỏng, v.v..). Có rất nhiều người không như những gì như họ cho thấy hay nói. Tôi đang tìm cách để ngăn cản những vị khách không mời mà đến. Ở Los Angeles, tôi có một cuộc đối thoại lịch sự và thân mật với một tên trộm trong khi hắn đang phá cửa sổ đột nhập vào xe hơi của chúng tôi vào lúc 3 giờ 30 sáng. “Tôi có thể giúp gì cho anh?” v.v...
Như thường lệ, chính việc bái lạy đã “nói chuyện” còn chính lời lẽ của tôi thì lầm lẫn. Nếu tôi có thể yên lặng hơn ở bên trong, tôi chắc chắn chúng tôi sẽ thu hút ít những “con sói không mời” từ bên ngoài.
Khi lạy về phía bắc trên xa lộ 101, một chiếc xe hơi chạy với tốc độ cao đột nhiên bị mất kiểm soát khi cách chúng tôi vài thước. Chiếc xe văng ra khỏi con đường, lao vào bờ dốc ngăn giữa đường, gần như bị lật ngược, và sau đó lao trở lại vào dòng giao thông, quay vòng và rít bánh xe qua các đường xe, hoàn toàn mất kiểm soát. Giao thông dày đặc, nhưng thật kỳ diệu, không hề có sự va chạm, và 10 hoặc 15 người rất run sợ, tiếp tục hướng về phía nam, họ vừa thoát khỏi cái chết trong gang tấc.
Tất cả điều này xảy ra trong vòng chưa đầy 15 giây, và chúng tôi đã ở giữa đó, không có lề đường hoặc thời gian để tìm sự an toàn. Làm thế nào mà chiếc xe đột nhiên được kiểm soát điều khiển trở lại? Bằng cách nào nó tránh đụng vào 5 hoặc 6 chiếc xe khác khi chỉ cách nhau vài phân? Tại sao không chiếc xe nào tránh đường bằng việc chạy vào đường xe khẩn cấp – đường xe mà chúng tôi đang lạy?
Thầy Hằng Thật nói thầy nhìn thấy rõ Hòa Thượng trước và trong khi xảy ra sự việc. Cả hai chúng tôi cảm thấy được bảo vệ và thấy những hình ảnh của Quan Thế Âm Bồ Tát trong suốt thời gian đó. Chiếc xe hơi tiến thẳng về phía chúng tôi và đột nhiên lấy lại kiểm soát rồi đi qua. Điều đó khiến tôi tự hỏi và bàng hoàng một chút.
Tôi nhìn đồng hồ để xem giờ và có sự cảm nhận hay "cảnh giới" này: giây phút chính xác này đứng ở đây trên xa lộ với thầy Hằng Thật, tôi đã từng “nhìn thấy”. Tôi cũng nhớ thời điểm mà tôi nhìn thấy. Đó là khi tôi đang ngồi trên một chiếc xe hơi gia đình đi trên một con đường tối tăm đầu mùa đông ở miền bắc tiểu bang Wisconsin. Chúng tôi đang quay trở về từ một chuyến đi. Lúc đó tôi 16 hoặc 17 tuổi.

Bạn đã làm gì với ánh sáng của bạn?
Tu đạo bắt đầu bằng việc “trở nên rõ ràng” – cởi nút thắt và phá vỡ những vỏ bọc và chỗ kẹt của trái tim. Với một sự trung thực như trẻ thơ, bạn nhìn vào từng ngóc ngách và tế bào, tẩy rửa sự giả dối và sai trái. Việc đẩy ra sự giả dối này là rất khó, nhưng theo thời gian, một cảm giác tự do thực sự sẽ đến, và dần dần diện mạo vốn có của bạn xuất hiện trở lại trong tâm cảnh. Một sự kiện rất vui.
Thật kinh ngạc, chúng ta có thể bị lạc đến cở nào từ “con đường với trái tim”, nghĩ rằng chúng ta không sao. Một thí dụ của điều này là sự biểu diễn.
Thầy Hằng Thật và tôi, với sự gia tăng thời gian yên lặng và cô lập với xã hội, đã bắt đầu thức tỉnh ra thấy rằng cuộc đời của chúng tôi là một màn trình diễn, một vở kịch như thế nào. Chúng tôi đã là gì, chúng tôi cười và ra điệu bộ cử chỉ như thế nào, những âm thanh mà chúng tôi đã tạo ra và đã lằng nghe, bày tỏ ‘cảm xúc” v.v... tất cả được thực hiện như thể đang ở trên sân khấu, với mưu đồ có ý thức hay vô thức. Chúng tôi khi một mình thì có một kiểu mà khi với người khác lại có kiểu khác. Chúng tôi có một kho tàng tiết mục biểu diễn như mặt nạ, tâm trạng, “kỹ năng xã hội”, và sự quyến rũ. Và, từ bình minh đến hoàng hôn, và ngay cả trong những giấc mơ của chúng tôi, chúng tôi làm bộ và biểu diễn, bắt chước và giả vờ.
Cả hai chúng tôi đã thực hiện một số vở diễn và giải trí trước khi xuất gia. Giờ chúng tôi căng thẳng và mất tự nhiên khi bị yêu cầu hát một bài hát hoặc nói trước công chúng. Tại sao? Chúng tôi chưa bao giờ chắc chắn, một cách chính xác. Tuần này, trong khi lạy một mình trên một đoạn đường dài, một phần cuộc sống đó của chúng tôi mở ra một chút, và đây là những gì chúng tôi nhận thấy:
Âm nhạc, phim ảnh, sân khấu, vv, là “sắc” và các thứ như vậy cũng giống như tình dục. Sắc là một trong ngũ uẩn, cùng với thọ, tưởng, hành, thức. Tại gốc rễ, tất cả chúng đều trống rỗng. Các uẩn được mô tả là “các yếu tố huyễn hoá của nhân cách.” Bị các uẩn làm xoay chuyển và mê mờ là nguyên nhân của khổ đau.
Người biểu diễn là người giỏi về dời đổi và sắp xếp các hình tướng. Đèn màu, trang phục, âm nhạc, hóa trang, v.v... khéo léo biểu diễn bất kỳ như thế nào bạn muốn. Cảm giác, cảm xúc và tham dục được vuốt ve và chỉ đạo giống như con rối được người điều khiển chỉ đạo. Ánh sáng tự nhiên của bạn bị hết sạch vì một ánh đèn sân khấu. Giỏi diễn xuất liên quan đến việc dùng "phần" năng lượng ánh sáng của bạn để điều khiển và ảnh hưởng người khác và đắm mình trong một chuyến du lịch giả tưởng của bản ngã.
Xoay ánh sáng của bạn đến ánh đèn sân khấu gây kiệt sức. Một người luôn bị áp lực (luôn “đến phiên anh rồi kìa”) để giữ mặt nạ và bức màn sân khấu lên. Xoay ánh sáng trở vào trong, không ai thấy, nhưng nhiều lợi ích. Quay ánh sáng ra ngoài, ai cũng thấy, nhưng không làm ai tốt hơn. Tất cả chúng ta đều có thứ ánh sáng hay năng lực này. Thật là lãng phí sử dụng nó để vắt sữa và lừa dối, để lẩn trốn và che đây! Chúng ta phá hủy phần bên trong của chúng ta khi cố cho bề ngoài trông tốt đẹp.
Nhưng thực sự là việc diễn xuất không chỉ dừng lại trên sân khấu. Làm một học trò, người yêu , người lãnh đạo, giáo viên, người chồng giỏi v.v.. thường là một kiểu diễn xuất – một vở kịch khác, một khán giả khác. Mắc kẹt làm sao! Có một bài hát rằng “Ta phải tránh xa cái ngày qua ngày lòng vòng này, ai cũng biết thế này chẳng tới đâu”.
Trong việc chia sẻ cái hiểu biết này, chúng tôi có cảm giác như một gánh nặng lớn đã được nhấc khỏi lưng chúng tôi. Cả hai chúng tôi đều cảm thấy hổ thẹn và chán ghét mọi sự biểu diễn của chúng tôi – về những gì chúng tôi đã làm với ánh sáng của mình. Nhưng bằng việc đơn giản tắt đi ánh đèn sân khấu đó, ánh sáng nguyên thủy vốn có sẽ tự quay trở lại. Ánh sáng nguyên thủy đó không bị lãng phí hay đi mất. Nó không giảm cũng không tăng. Chúng tôi chỉ đã quay lưng lại với nó. Và chúng tôi có thể, với nhất niệm sám hối và cải đổi, hợp nhất với “bổn tánh chân như” chân thật. Và một bài kệ thiền nói rằng:
Một niệm giác một niệm Phật, niệm niệm giác niệm niệm Phật. Một niệm mê một niệm là chúng sanh, niệm niệm mê niệm niệm là chúng sanh. (1)
Lục Tổ Pháp Bảo Đàn Kinh Lược Giảng

:
Nếu không khai ngộ, Phật cũng là chúng sanh. Nếu trong một niệm thời gian ngắn ngủi hoát nhiên khai ngộ, chúng sanh tức là Phật. Ðây cũng chính là "Giác giả Phật dã, mê giả chúng sanh (Giác là Phật, mê là chúng sanh)." Một niệm giác một niệm Phật, niệm niệm giác niệm niệm Phật. Một niệm mê một niệm là chúng sanh, niệm niệm mê niệm niệm là chúng sanh. Cái gì gọi là giác ngộ? Tức giác ngộ tình dục là những thứ nguy hại, làm tổn thương đến thân thể và khiến cho quý vị ngu si. Một niệm dục chính là một niệm ngu, niệm niệm dục chính là niệm niệm ngu si, cho nên nói: "Nghiệp hết tình không là chân Phật, nghiệp nặng tình mê là chúng sanh." Phải buông bỏ những tâm niệm ô nhiễm, ngoài cách này ra không còn cách nào hết. Tâm niệm ô nhiễm chính là dục niệm, nói rõ hơn, chính là niệm dâm dục. Nếu thân làm những niệm dâm dục này, chính là thân nghiệp không thanh tịnh. Nếu miệng nói việc ỷ ngữ, thì khẩu nghiệp không thanh tịnh. Nếu tâm thường nghĩ đến việc dâm dục, thì ý nghiệp không thanh tịnh. Nếu thân khẩu ý đều không phạm, thì ngày thành Phật không xa. Người đời thường đi ngược với sự giác ngộ, hiệp với trần lao. Hiệp với trần gì? Chính là hiệp với những thứ trần ô nhiễm không thanh tịnh. Nếu một khi quý vị rơi vào lưới dục tình thì sẽ bị ô nhiễm. Nếu ly khai tình dục, mới có thể rời xa ô nhiễm. Cho nên nói: quay lưng với trần lao chính là hiệp với sự giác ngộ, quay lưng với giác ngộ chính là lăn lộn trong trần lao. Nếu quý vị ô nhiễm thì không được thanh tịnh, không được thanh tịnh thì không thể thành Phật. Nếu muốn thanh tịnh thì không nên ô nhiễm. Ô nhiễm tức là chúng sanh, đó là đạo lý rất rõ ràng. Nhưng cần phải có một vài trợ duyên giúp quý vị thanh tịnh, điều quan trọng là không nên có tâm ích kỷ. Có tâm ích kỷ thì không thể thanh tịnh. Nếu tất cả đều không vì cá nhân, thì sẽ thanh tịnh, vì quý vị không còn lòng tham, lòng sân, lòng nghi, ngã kiến, đó chính là ngộ. Cho nên nói: một niệm ngộ, chúng sanh thành Phật.
Có người hỏi:
–Có phải mọi người đều là Phật?
Ðúng vậy, nhưng cần phải khai ngộ mới được, nếu không khai ngộ thì giống như đoạn trước nói một người dân bình thường, tự xưng là Quốc vương, nếu bị nhà vua thật biết sẽ bắt nó đem nhốt vào ngục, vì người này phao tin nhảm làm mê hoặc dân chúng, muốn tạo phản, cho nên nói: "Trời không có hai mặt nhựt, một nước không có hai vua."
Cho nên mới biết tất cả vạn pháp vốn từ trong tâm sanh ra, như vậy tại sao không từ trong tâm tu hành? Tự tâm chỉ cần bỏ đi những tâm niệm ô nhiễm, bụi bặm, thì có thể lập tức nhìn thấy Chân như tự tánh.

Hằng Thật - Tháng 10 năm 1977
Thực hành dựa trên những đạo lý chân thật
 
Chân, Thành và Hằng. (1)
Duy trì tâm niệm vững chắc đối với việc tu hành. Hãy nhẫn nại. Đừng chờ đến khi những đạo lý này trở thành rõ ràng trong tâm bạn rồi mới bắt đầu thực hành. Tâm bạn không ở nơi mà những đạo lý này hoạt động. Thực hành và hiểu rõ là một chứ không phải hai.
Đạo Phật là một chuỗi thực hành dựa trên những đạo lý chân thật thanh lọc tâm, chuyển cuộc sống của bạn theo chiều hướng tốt đẹp và khiến bạn tự do hoan hỷ.
Vấn đề là bạn đã tiến xa cho đến mức này bằng cách sử dụng phương pháp đó; ánh sáng dương mới mẻ là thật và nó sẽ không biến mất chỉ qua một đêm. Ánh sáng dương mới mẻ này đến một cách tự nhiên, tự nó đến. Đừng hành xử hồ đồ với cái đầu ngu ngốc và ép buộc mọi thứ. Bạn hành xử như thế chỉ làm hỏng mọi thứ. Hãy để nó đến tự nhiên; bạn không biết mình đang làm gì. Quan tâm đến nhân – bằng việc bái lạy đều đặn và đúng đắn. Đừng chú ý đến kết quả.
 

CHÂN, THÀNH, HẰNG
(Vạn Phật Thành ngày 22 tháng 10 năm 1982)
Kẻ tu hành không được đi rao bán, quảng cáo hay tuyên truyền sự nghiệp tu hành của bản thân. Khi rao bán, quảng cáo chuyện tu của mình thì có thể bị ma quỷ phá rối!
Có người tu thì được Phật tới hộ trì; có kẻ được Bồ Tát tới hộ trì, có kẻ được các vị A La Hán đến bảo vệ; có người được Trời ủng hộ; có người được quỷ thần hộ trì; có người thì được người đến hộ trì; nhưng có kẻ thì được yêu ma quỷ quái tới hộ trì. Bởi những kẻ đó có tâm tà, cho nên ma quỷ mới lại làm bạn với họ. Hễ có sự hiểu sai thấy lầm, tà tri tà kiến thì mình sẽ phát sinh ra rất nhiều thứ ma quỷ; tức là cống cao, ngã mạn, cuồng ngạo. Nếu mình không biết khiêm nhường, nhẫn nại, không biết tự nhận lỗi lầm, thì mình có thể gặp rất nhiều chướng ngại.
Vì vậy hôm nay tôi muốn nói với các vị một phương pháp tu hành chơn thật. Bí quyết của sự tu hành gồm có ba chữ:
1. Chân: nghĩa là không hư ngụy, không giả trá; làm chuyện gì cũng hết sức chơn thật.
2. Thành: nghĩa là thành tâm, hết sức cung kính, hết sức thành khẩn, không lười biếng giải đãi, không làm qua loa lấy lệ.
3. Hằng: nghĩa là luôn luôn kiên định, hằng thường bất biến, không thay đổi.
Phàm mỗi hành động, mỗi lời nói đều phải có tâm chân, thành, hằng. Làm việc gì mình cũng có ba cái tâm đó thì tương lai nhất định sẽ thành tựu.

Hằng Triều - 7 tháng 10, 1977
May thay, nó chỉ có một


Chúng tôi đang đọc cuốn Thủy Kính Hồi Thiên Lục của Thiền Sư Tuyên Hoá. Trong đó Hòa Thượng viết rằng “Thanh tịnh tâm ý quán sát ba ngàn đại thiên thế giới, ác nghiệp rẫy đầy ”. Tôi nhớ lại cảm giác mà tôi và những người khác có khi là những đứa trẻ ngày đầu đến trường, đọc phớt qua những quyển sách giáo khoa mới. Những cuốn sách lịch sử có nhiều hình ảnh nhất, nên nó là một giải thưởng, đặc biệt là chương Thế Kỷ 20. Chúng tôi mới choáng váng làm sao.
Những bức hình về chiến tranh và xung đột tràn đầy các trang giấy. Chiến tranh chiến hào, cơn bão bụi, và Đại khủng hoảng, Đức Quốc Xã, Thế chiến II (giống như đó là phần tiếp theo tự nhiên của Thế chiến I, “là cuộc chiến tranh để kết thúc các cuộc chiến tranh”, một trang hình ảnh lớn về đám mây hình nấm khổng lồ, một Einstein mệt mỏi và buồn bã, Martin Luther King, gia dình tổng thống Kennedy và những kẻ ám sát họ, Bức tường Berlin, Mao Trạch Đông, và một biểu đồ cho thấy sự chênh lệch về Tổng sản lượng quốc gia (GNP) giữa các nước “phát triển” và “kém phát triển”. Và đó là trước khi nó thật sự trở nên nặng nề! Chúng tôi đều biết những gì báo chí nói, và mỗi đêm tin tức trên TV chỉ mang những đám mây u ám vào cuộc sống của chúng tôi.
Và không chỗ nào trong những cuốn sách hay tờ báo này có người lớn trả lời những câu hỏi của chúng tôi như : “Tại sao?” Những vĩ nhân mang ánh sáng và hòa bình cho thế giới này đang ở đâu? Tại sao không có thêm anh hùng hay người viễn chinh xoay chuyển cơn thủy triều tàn sát và đau khổ kinh hoàng này? Vậy có hy vọng không?
Không có từ ngữ nào rõ ràng hơn, Thủy Kính Hồi Thiên Lục trả lời những câu hỏi thẳng thắn này, Hòa Thượng viết: “Vô lượng tai ương nạn ách đều do nghiệp sát tạo thành. Chúng ta nếu không kịp thời tỉnh thức ngăn chặn nguyên nhân sát sanh, duyên do sát sanh, phương pháp sát sanh, cùng nghiệp sát sanh, thì khó mà chuyển đổi được tai ách để được an lạc..”

Cuốn sách nhỏ bé này đi thẳng vào trọng tâm của căn bệnh thời đại, “Tai ương ách nạn là do sát nghiệp sanh ra, sát nghiệp là do tâm sanh ra”. Và, sau đó, thông điệp này được mang về nhà. “Nếu tâm không sanh lòng giết hại, lòng trộm cướp, lòng tà dâm, lòng nói dối, lòng uống rượu mà lại nghiêm trì năm giới, siêng tu tam vô lậu học (giới, định, huệ), thì tất cả ác nghiệp liền được tiêu trừ”.
Những lời nói của Hòa Thượng tràn đầy hy vọng và, đúng rồi, sự hùng dũng. Chúng nói thẳng vào cái thiện và cái từ bi trong tất cả chúng ta. “Đại dõng mãnh phát khởi lòng hướng thiện… Tại sao ta không nghĩ thay vì như thế (ý niệm xấu ác) thì hãy gột rửa thân tâm; rũ sạch bụi trần, khởi lòng hổ thẹn; hãy khổ nhọc thay đổi lỗi lầm trước kia để tạo một cuộc sống mới; hãy trở thành những người đặc biệt có đại lực; hãy làm lợi ích cho chúng sanh trong Pháp giới; hãy xem công dân mọi nước là anh em và tạo đức; hãy lập khuôn mẫu cho tất cả mọi người.”.
Những lời này nên được viết dưới bức tranh đám mây hình nấm trong những cuốn sách lịch sử. Nó chính xác là sự nói chuyện thẳng thắn với tấm lòng mà chúng tôi tìm kiếm khi còn là những đứa trẻ và chúng tôi đã không thể tìm thấy, những lời này là một thứ thuốc giải độc cho sự tuyệt vọng không thể tránh khỏi đã chộp lấy chúng tôi khi chúng tôi nhìn vào “Thời kỳ Văn minh”.
Lạy dọc theo xa hộ 1 ở California, Hoa Kỳ, ý nghĩ đến với tôi rằng các vị Bồ Tát đã cùng nhau giữ lại thế giới. Bằng việc thực sự tu hành những chân lý đơn giản này, các vị Bồ Tát ảnh hưởng đến mọi chúng sanh để họ làm cho tâm chúng sanh ngay thẳng và thanh tịnh tâm chúng sanh. Tôi tự nghĩ “Thật đơn giản!”. “Bí mật” tại sao và mọi thứ diễn ra như thế luôn thì thầm trong trái tim của tất cả chúng ta. “Tất cả do tâm tạo, tất cả do tâm tạo, tất cả thấy được là tôi”.
Khi còn là những đứa trẻ, chúng tôi biết rằng phía sau những tấm chân dung phiền muộn về “sự tiến bộ tàn ác”, vẫn có cái thiện và sự đại dũng mãnh. Làm thế nào chúng ta biết được như vậy? Vì nó vẫn đang đập nhịp trong mỗi chúng ta và đang tìm kiếm một nơi và một con đường để bám vào và trổ bông. Đây được gọi là “bổn địa”. Nó không biến mất theo thời đại và có thể “được làm mới mỗi ngày, ngày này qua ngày khác”.
Lúc đó tôi đã không biết làm thế nào để khởi phát mầm trí tuệ và từ bi đó. Và tất cả những bức hình khiến sự chia sẻ của tôi có vẻ nhỏ bé và là trò hề. Hòa Thượng viết “Bổn địa phong quang có lý thú kỳ diệu riêng mà ý vị thật vô cùng tận! Chúng ta nếu muốn được thưởng thức cái ý vị đó thì phải phát khởi lòng hướng thiện, gạn lọc tâm tính”. Sao người ta lại có thể bỏ dữ kiện thực tế này ra ngoài sách giáo khoa của chúng tôi?
Cảnh giới: Xe tải, đá, túi đeo vai máu vàng, âm thanh và mùi, và kể cả lưng của thầy Hằng Thật cũng trở nên rất quen thuộc – giống như về lại ngôi nhà bạn quen chăm sóc sau khi đi xa một thời gian dài.
Tôi có cảm giác về Hòa Thượng và các đệ tử của ngài trong khi bái lạy trên một con đường yên tĩnh: nhân duyên, nghiệp và quả, thệ nguyện và một vị thầy mô tả việc chúng tôi cùng đến và những khoãng thời gian xa cách. “Quy y” là “quay về và nương tựa”. Hầu hết mọi người, khi họ quy y, họ cảm thấy họ đang trở về nhà, như thể họ đã tìm thấy con đường quay trở về sau một hành trình dài đầy gian nan. Những khoãng thời gian và hồi ức trước kia đã mất và đầy lo lắng, nhiều chướng ngại và phiền não – tranh đấu và tìm kiếm, luôn có một cái gì thôi thúc “vẫn còn có gì đó, có một nơi nào đó ta thuộc về hơn”.
Với nhân duyên thâm sâu, chúng tôi gặp nhau nhiều lần trên đường đạo và ra đi. Cảm giác đã từng gặp (deja vus) và những cảm giác “Này, trông anh quen quá” là những dấu vết còn lại của những quan hệ xa hôi và kinh nghiệm cùng với nhau.
Nếu lần này chúng ta làm được, chúng ta có thể ra khỏi bánh xe luân hồi, và tự tại đến đi, vui vẻ nương theo nguyện từ bi. Ai giác ngộ có thể rời bụi trần và trở thành một nơi tin cậy cho mọi chúng sanh – một Bồ đề đạo tràng rộng lớn.
Sư Phụ: (Cuộc nói chuyện vào ngày tôi xuất gia, tháng 4 năm 1977) Con sẽ quay trở lại hoàng cung chứ? Lần này con có muốn bỏ chạy và làm hoàng đế lần nữa không?
Hằng Triều: Không, thưa Sư Phụ!
Sư Phụ: Tốt. Con có nhớ gì trong giấc mơ và cảnh giới của mình không?
Hằng Triều: Một chút.
Sư Phụ: Con có thể nói những vết đốt hương này trên đầu con là để con không bao giờ chạy đi nữa”, Sư Phụ cười và thổi hơi nóng và tro (do đốt hương trên đầu) bay khỏi đầu tôi.

“Răng Trí Tuệ”. (Răng khôn)
Chúng tôi không dừng tu hành để thọ trai. Ăn là một sự quán niệm. Cái gì được quán? 1) quán thức ăn từ đâu đến – mồ hôi công sức để có được bát cơm ngay trước mặt ngươi; 2) công việc tu đạo của ta có đủ đức hạnh để thọ nhận món cúng dường này không? Một vị tăng ở chùa Kim Sơn Thánh Tự nói rằng “Các vị có thể luôn trả lời “không” với câu hỏi này”. 3) canh chừng lòng tham – đừng như một con heo; 4) xem thức ăn là thuốc chữa bệnh và đừng tham mùi vị rồi ăn đồ “ngon nhất”; 5) thọ nhận đồ ăn để giúp tu đạo – đừng ăn nhiều hơn hoặc ít hơn lượng cần thiết.
Vấn đề của “Ngũ quán” này là điều khiển các niệm và tập trung tâm ý, ngay cả khi ăn. Có câu rằng “Định Huệ không hai”. Tuệ thị hiện với định; định không khác tuệ. Chúng không hai mà chỉ là một. Lìa định nhất tâm, ngay trước mắt bạn, bạn trở nên ngu si và tạo ra mớ hỗn độn. Vào bữa trưa, niệm tham phân tán khởi chớp nhoáng. Mắt trở nên to hơn dạ dày. Người ta cắn lưỡi và tay họ, bị nấc và hầu như luôn bị vì họ nuốt xuống nhanh hơn – con quỷ tham đang kiểm soát.
Mặc dù vậy, chủ yếu, ăn để giúp chúng ta giữ mạng sống. Nó giúp làm chậm quá trình hư hại và tan vỡ thành các yếu tố đất, nước, gió, lửa của chúng ta. Do đó có một nỗi lo lắng nào đó đi cùng thức ăn: chúng ta biết rõ rằng nếu không ăn, chúng ta sẽ phải đối diện với điều chúng ta sợ nhất: chết, bệnh, vô thường của chính mình. Cho nên khi chúng ta ăn, chúng ta lo lắng, bị mê hoặc và nghĩ nhiều về bản thân. Đối ngược lại thì vẫn đúng: khi chúng ta lo lắng và sợ hãi, chúng ta ăn. Sợ hãi từ gốc rễ là một chúc năng của vô minh. Chúng ta sợ điều không biết và không hiểu được, bóng đêm, âm thanh ồn ào, sự tổn hại cơ thể, ma, linh hồn, cái chết, tai họa, mất thứ chúng ta có, v.v... Mọi nỗi sợ đến từ việc không rõ ràng về sanh tử - “Bạn đến từ đâu, và sinh ra khi nào? Bạn sẽ đi đâu sau khi chết?”
Vì thế chúng ta hoảng loạn và bám víu bất kỳ thứ gì xảy ra xung quanh chúng ta đã cho thấy sự vô thường của cuộc sống. Bởi thế có câu rằng “Chúng ta sống say chết mộng”. Từ lúc còn trong nôi đến khi nằm mộ, không bao giờ biết, không bao giờ an lạc – hồ đồ và bị kéo lôi bởi những cái bóng và ức đoán. Đây là điều tự nhiên. Đây gọi là “trôi theo dòng”. Sống thì dễ mà chết thì khó.
Đi ngược dòng sanh tử là cốt tủy của việc tu hành. Trong hơn 2.600 năm trên hành tinh này, những dụng cụ và phương pháp để “cùng lên đường” đều luôn có sẵn. Con đường thanh tịnh nhất, trực chỉ nhất là ở ngay trong tâm chúng ta. Tất cả điều Phật giáo làm là cung cấp công cụ và một tấm bản đồ. Còn thực hiện là chính bạn. Mọi phương pháp (pháp) chỉ là công cụ, được tạo ra để ngăn chặn dòng vọng tưởng lưu chuyển vô tận. Khi tâm điên cuồng, tán loạn dừng lại, “toàn thể hiện” một cách tự nhiên.
Thấu hiểu, viên mãn và rõ ràng, như nước phản chiếu mặt trăng. Tâm định giống như bầu trời, muôn dặm không mây.
Tôi có một chiếc răng bị bể với sọi thần kinh răng lộ ra. Nó giúp giữ cho tâm tôi khỏi đi lang thang. Nếu tôi cố nói chuyện khi đang ăn, cái răng làm đau khủng khiếp. Nếu tôi ăn nhanh quá, nhiều quá, hay để tâm thao buông lung ăn kẹo, thì chiếc răng này đau ngay lập tức. Chuyện này xảy ra mọi lúc. Bạn có thể nói, nó là một “chiếc răng trí tuệ” (răng khôn) giữ cho tôi chân thật và chánh niệm khi ăn.
Nói chung, sự phản hồi đáp ứng với hệ thống vọng tưởng đang ngày càng chặt chẽ hơn và tinh tế hơn. Chúng tôi ít có chỗ để phạm sai lầm. Mọi lỗi nhỏ đều chiêu cảm một cái gai hay một lon bia, một cái răng đau hoặc xe bị hư. Thông điệp thật rõ ràng: giờ ngươi đã biết đó là sai lầm, đừng có chạy đi làm điều lỗi lầm – hãy chuyên chú.
(còn tiếp)

Hằng Thật - Tháng 10, 1977
Gió lạnh làm tôi xoay chuyển

Bên trong con đường đèo trên núi Gaviota, gió lạnh buổi sáng nay khiến tôi bị xoay chuyển – mặc không đủ áo – tôi chỉ mong khí huyết được lưu thông - không thể tập trung vào cái gì được cả.
Mặt trời lên cao và trạng thái ấy biến mất.

Hằng Triều - 10 tháng 10 năm 1977
Bắt gặp trái nho khô và được dạy cho bài học

Con đường núi nhỏ hẹp với những cơn gió lớn và đầy sương mù. Những đỉnh núi dốc, đầy đá nhọn, hiểm trở, quá dốc và gần như thẳng đứng; chỉ có loài diều hâu đuôi đỏ mới có thể ở nơi này. Những chiếc xe vận tải chạy bằng dầu cặn diesel và những chiếc xe cắm trại dài chạy vụt qua cuốn chúng tôi quay ngược giống như những chiếc lá khô.
Trí tuệ là hiểu được mọi thứ thực sự vận hành như thế nào. Đó là sự hiểu biết vượt qua giới hạn về việc mình là ai, mình sẽ đi về đâu, về sanh và tử, và về vô số những điều đến và đi không cùng tận.
Quá rõ ràng rằng tất cả chúng ta đều có liên hệ với nhau. Tất cả những người nam là cha, con và là anh em trai của ta. Tất cả những người nữ là mẹ, là em, là chị em gái của ta.
Cái mà chúng ta gọi là cuộc đời này thì vô cùng ngắn ngủi so với thời gian trước đây và sau này. Thân thể của chúng ta và trái đất giống như một ngôi nhà mà chúng ta sống ở đó trong chốc lát rồi lại di chuyển tiếp. Không có gì ở lại và cũng chẳng có gì biến mất : "Tĩnh lặng và trống rỗng", không có sự bắt đầu cũng không có kết thúc.
Tại sao phải tranh nhau và gây phiền toái, phải giết hại và tích trữ ? Không có chỗ và thời gian cho những điều nhỏ nhặt. Hãy mở rộng trái tim và tâm trí cho tới khi cả vũ trụ trở thành nhỏ bé tới mức mà quý vị cũng chẳng thể phân biệt được chúng. Đây mới là nhà của chúng ta. Đây là lòng Đại Bi và một cái thấy thoáng qua về đức Phật, tất cả đều ở bên trong chúng ta và đang chờ chúng ta khai mở. Quá đơn giản.
“Như tâm, Phật cũng như vậy
Như Phật, chúng sanh đồng
Phải biết Phật cùng tâm
Thể - tánh đều vô tận” (1)
Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Dạ Ma Cung kệ tán thán.

"Chớ chê khinh điều ác,
Cho rằng chưa đến mình
Như nước giỏ từng giọt
Rồi bình cũng đầy tràn.
Phạm tội một mảy may
Đọa vô lượng địa ngục
Nếu ra khỏi nhân gian,
Ức kiếp khó trở lại”
Kinh Pháp cú. Phẩm Ác

Chúng tôi ăn ngày một bữa. Thế thôi. Không ăn vặt và không có ngoại lệ đặc biệt. Có quá nhiều lý do tốt đẹp cho điều này, nhưng chánh yếu là vì ăn quá nhiều sẽ tạo ra nhiều ham muốn và làm giảm số lượng lương thực trên thế gian vốn đã thực sự không đủ cho tất cả.
Trong khi cất các dụng cụ vào trong xe sáng nay, tôi bất chợt nhìn thấy một trái nho khô nhỏ cô đơn. Tôi cầm lấy và định cho vào miệng nhưng đột nhiên dừng lại. Nhưng dù sao, trong tâm trí tôi đã nuốt chửng nó ngay cả trước khi tôi nhìn thấy điều gì đang diễn ra. Rất nhiều. Trái nho khô nhỏ đó đã hiển lộ con người thật của tôi, nơi là tôi thực sự, trước khi tôi có thời gian để che giấu hay bào chữa. Tôi đã bị trái nho bắt quả tang và dạy cho một bài học.
Một mặt, không ai ở bên cạnh nhìn thấy tôi nhét trái nho khô vào miệng hay không. Ý nghĩ này thực sự đi sai rồi. Không lẽ sự nhận thức về đức hạnh của tôi là một cuộc biểu diễn chỉ được duy trì nếu khi có người nhìn thấy thôi sao? Chuyện đó sẽ nhẹ tội hơn bởi vì tôi sẽ không bị phát giác hay sao ?
Dù thế nào đi nữa thì điều ấy là vì ai?
“Ôi, nó chỉ là một trái nho khô!” một ý nghĩ khác tới. Trái nho khô thì nhỏ, nhưng cái tâm tham lam nắm lấy nó thì thật là lớn. Sự thôi thúc bắt đầu từ cái nhỏ, nhưng cái nhỏ ấy dường như chẳng bao giờ nhỏ mãi cả. Có câu rằng “Sai một ly, đi ngàn dặm”. “Thêm một chút” hoặc “lãng phí nhỏ” hoặc “cái thù ghét nhỏ” nhân lên cả triệu lần ngay lập tức sẽ thành một cuộc khủng hoảng không thể kiểm soát được.
Khi tôi ngồi đó nhìn vào trái nho khô và tâm trí mình, tôi hiểu được một chút rằng : “Ba bước một lạy chính là những điều này đây – làm cho tất cả mọi thứ được đúng đắn và tinh khiết, ngay tại nơi nhỏ nhất. Ban đầu chỉ là một inch, tiếp đến là một bước, rồi ba bước, cho đến suốt đoạn đường về đến Vạn Phật Thánh Thành. Trong mỗi tâm niệm và trong ý định đầu tiên, là cần phải dọn sạch căn nhà cho tới khi không còn dù chỉ là mảy may bụi nhỏ của lòng tham, sân, si. Cái đó được gọi là tu luyện : Đức Phật dạy rằng,
Kinh Tứ thập nhị chương
Đó chính là “trái nho khô nhỏ” lớn nhất mà tôi từng quán tưởng. Tôi thận trọng để nó lại trong chai và đi ra ngoài đến chỗ lạy.
Lúc bấy giờ, đức Phật thuyết kinh Địa Tạng, "Những chúng sanh chưa được giải thoát thì tánh thức không định, quen làm điều ác thì kết thành nghiệp, quen làm điều thiện thì kết thành quả; làm thiện làm ác đều theo cảnh mà sanh, luân chuyển trong Ngũ Ðạo, chẳng tạm ngừng ngớt; trải qua trần kiếp, mê hoặc chướng nạn, như cá bơi trong lưới theo dòng nước chảy, tạm thoát ra được rồi lại mắc vào lưới. Vì những kẻ đó mà Ta phải lo nghĩ…” (3)
Kinh Địa Tạng. Phẩm thứ tư. Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh Ở Cõi Diêm Phù.

Không gian thật tĩnh lặng vào buổi sáng sớm. Lạnh và trong sạch, có nhiều chỗ để cho âm thanh và suy nghĩ tản mạn tới. Trong một cánh rừng thoáng đãng ở phía bên tay phải, tôi nhìn thấy một con nai nhỏ đang bình thản gặm cỏ. Vài phút sau đó, tôi nghe và nhìn thấy tiếng kêu ăng ẳng của bầy chó đang sục sạo cánh đồng. Chúng đuổi theo con nai nhỏ.
Chúng làm con nai bỏ chạy hoảng loạn; chúng cắn và vờn quanh con nai cho tới khi chúng lôi con nai vào một bụi cây lớn. Tiếng con nai kêu la kéo dài hơn năm phút khi nó từ từ bị cắn và xé cho đến chết sau một cuộc chạy kiệt sức để giành tự do và mạng sống.
Không phải cái chết của con nai đã làm tôi xúc động sâu xa. Chúng tôi đã chứng kiến hàng chục con vật và động vật hoang dã bị chết trong cuộc hành trình này. Chính tiếng kêu la và âm thanh của con nai: Tôi chưa bao giờ nghe thấy như vậy trước đây, tiếng khóc la và kêu than giống như một người đang trong sự thống khổ và đầy sợ hãi; con nai kêu giống như một đứa trẻ “Ahhh, ahh… aaahh, aarhh,” tiếng khóc la dài nhức nhối, rồi tiếng khóc nấc lên ầng ậc như máu của nó bị nghẹt và bị chặn lại ở chỗ cổ họng và phổi. Dần dần, bụi cây không còn tiếng sột soạt nữa và tiếng thét yếu dần, “aah, ah, a…” và tan dần trong những âm thanh của xe cộ lưu thông và tiếng gió luồn qua đám cây. Những con chó nhỏ hơn chăm chú và yên lặng nhìn từ đằng xa, chú ý và hấp thu những âm thanh bây giờ đã qua đi nhưng vẫn còn vang vọng trong tôi.
Tôi muốn nhảy băng qua cánh đồng đó và nói, “Dừng lại, dừng lại ! Chúng mày không nghe thấy gì sao ? Không nhớ gì sao, không nhớ gì sao ?” Đã biết bao lần và trong thời gian bao lâu tôi đã giết hại những chúng sanh khác ? Tôi có nhớ không ? Chỉ nhớ một chút thôi, phần còn lại là phải chịu đau khổ trong mù tịt, và chúng ta gọi đó là “định mệnh” hay “sự đổ vỡ” hay “số phận của chúng ta”. Nhưng đó không phải là định mệnh, mà đó là nghiệp : những hành vi mà chính chúng ta đã gây ra và quả báo do những hành vi đó mang lại. Nhân lành thì mang lại kết quả tốt. Nhân ác thì mang lại kết quả xấu. Tất cả nghiệp đó là do chúng ta – từ suy nghĩ cho tới hành động – không sai trật một mảy may.
Bây giờ làm thợ săn, thì sau này sẽ làm kẻ bị săn. Bây giờ làm con nai, sau sẽ làm chó. Bây giờ làm kẻ liệng bom, sau sẽ là kẻ bị liệng bom. Kẻ thắng – người thua, chiến thắng – thất bại, cứ thế mãi khi chúng ta “trôi nổi trong năm đường không lúc nào ngừng nghỉ (Năm đường là súc sinh, địa ngục, ngã quỷ, người và trời).
Trong nỗi sợ hãi và đau khổ tột cùng, nghiệp báo của việc giết hại phát ra, lặp đi lặp lại, mở rộng và phủ rộng ra cho tới khi, giống như ở trong lưới cá, chúng ta “lại bị mắc vào lưới một lần nữa”

Tức giận
Tức giận xuất hiện trước mọi hành động giết hại. Và, mỗi tâm niệm nóng giận đều khởi phát từ trong tâm trí. Thay thế sự nóng giận bằng trái tim từ bi và kiên nhẫn, thì thiện nghiệp đó sẽ lớn mạnh và làm đảo chiều mọi cuộc chiến tranh và thảm họa cho tới khi không bao giờ còn nghe thấy tiếng khóc của con nai nhỏ ấy trên thế gian này nữa.
Tại sao động vật lại bỏ chạy khi thấy chúng ta ? Vì sợ chúng ta sẽ giết chúng. Một người đàn ông ở trạm bơm xăng nói đùa rằng, “Các anh hãy bịt tai lại” khi anh ta đăt mua món sườn hảo hạng qua điện thoại. Nhưng, những âm thanh của con nai và những con chó vẫn vang lên bên trong tôi, và tôi không thể thấy chút gì khôi hài ở đây cả.
Tại sao ? Bởi vì những âm thanh và hình ảnh của sự đau khổ và khủng bố mà tất cả chúng ta đều trải qua và sợ hãi ; chúng ta sẽ làm bất cứ điều gì đó để chấm dứt nếu chúng ta biết phải làm như thế nào, bắt đầu ngay chính từ lúc này. Nghiệp báo là một chuỗi của những sự kết nối và hầu hết chúng ta chỉ nhìn thấy một vài mắc xích liên hệ phía cuối. Cái giá mà chúng ta phải trả cho việc làm ngơ trước những âm thanh của lò mổ là gì ? Cuối cùng thì cái giá phải trả cho món sườn hảo hạng là gì ?




Hằng Thật. Tháng 10. 1977
Sợ không gian rộng mở phía trước

Có phải tất cả các câu Pháp đều nói đến các cảnh giới hiện hữu?
Tôi đang nhìn thấy/cảm thấy mọi giáo lý dưới dạng năng lượng cơ thể trong những ngày này, và tôi biết mình mới chỉ chạm đến ngoài bề mặt thôi. “Chuyển cảnh, đừng bị cảnh chuyển”, ý nói đến sức mạnh ý chí, là công phu. Bất kỳ năng lượng nào thâm nhập (bất cứ pháp nào), có thể là cảm xúc, hay ý nghĩ, hoặc năng lượng của thói quen cũ, đều chuyển chúng thành năng lượng nuôi dưỡng trí tuệ. Tất cả chúng đều là trung tính vì mọi pháp đều như nhau, các pháp đều bình đẳng vì tất cả đều đến từ ý nghĩ và mọi ý nghĩ đều như nhau. Vung kiếm cắt đứt mọi pháp, đưa năng lượng vào mạch theo cái số không trung tâm, dẫn năng lượng quay lại và quan sát bên trong đang sáng dần lên.
Việc này gọi là chuyển cảnh, cũng còn được gọi là “Chuyển phiền não thành Bồ đề”.
Ví dụ: Sáng nay, cảm giác căng thẳng và bực bội với tất cả mọi thứ - hoàn toàn thể hiện bên ngoài (những con kiến, nóng, lạnh, đá) – và cảm thấy một luồng chạy rì rầm bên trong khiến tôi thực sự khó chịu. Chúng tôi dừng lại để đi tiểu tiện, và thầy Hằng Triều nói trúng cái yếu điểm. “Chúng ta đã thành công đi qua đèo mà không tạo ra lỗi lầm nào cả, nhưng chúng ta lại sợ hãi không gian rộng mở ở phía trước. Nó cảm giác giống như một sự lậu thoát hữu hình, nhưng đã được chặn lại. Vì thế, tôi nghĩ nó ở trong tâm trí, là nơi chúng ta đang để cho lậu thoát ra.”. Đúng vậy. Cái đầu của tôi nói với tôi điều như thế ba lần trong ba ngày trước đây, nhưng tôi lại không nắm bắt được điều đó. Vì thế, vấn đề hôm nay chỉ là những ý nghĩ sợ hãi. Phải làm việc. Tôi bắt đầu chuyển cảnh, và không bao lâu toàn bộ bối cảnh được thay đổi – tất cả mọi phiền não được chuyển thành ánh sáng, giống như câu nói đó. Luồng chạy rì rầm bên trong tôi ngay lập tức ngừng bặt, và tôi bắt đầu cảm thấy như là nó đã được đóng lại chặt hơn. Ồ, một khi ta làm tốt đẹp việc chuyển hóa năng lượng, thì khi cảnh càng đè nặng, càng đánh vào những điểm rất nhạy cảm của ta, thì ta sẽ có được càng nhiều ánh sáng hơn! Dục vọng sẽ được chuyển hóa ở một ngày nào đó. Ánh sáng rực rỡ!

 


Hằng Triều - Ngày 11 tháng 10, 1977
Luôn luôn bị săn và luôn làm kẻ đi săn

Sáng sớm nay lạy trên đường xa lộ, một bầy chó sói Bắc Mỹ dừng lại và quan sát chúng tôi một lúc, rồi chúng trườn vào đám bụi rậm và lùm cây. Chẳng bao lâu, chúng tôi nhìn thấy những con nai chạy ra từ phía bầy sói và chó hoang, chúng chạy vòng quanh chúng tôi. Bầy chó lập chốt trong khu rừng gỗ ngay cạnh chỗ chúng tôi cắm trại đêm qua – chúng hú và gầm gừ, gầm gừ lén lút kiểm tra chúng tôi dưới lớp sương mù buổi sớm, trong khi chúng tôi tập thái cực quyền và ngồi thiền trong bóng tối. Chúng tôi cảm nhận được một chút về nỗi sợ hãi và dễ bị nguy hiểm thường trực của những động vật thường sống trong đó. Luôn luôn bị săn và luôn làm kẻ đi săn.
Đám bò trong các cánh đồng có hàng rào thì kinh nghiệm về điều này theo cả hai nghĩa. Con bê con chạy về phía mẹ nó để được an toàn khi bầy sói đói đang xếp hàng dài trên đồng cỏ. Bây giờ thoát được những con chó sói, thì chỉ để sau đó sẽ bị giết cho món bánh kẹp thịt bằm mà thôi. Giết người và lo sợ cho mạng sống của mình chỉ là hai mặt khác nhau của một đồng xu. Bây giờ là mặt này, rồi sau đó sẽ là mặt kia. Lật qua lật lại, đời này qua đời khác, khi mà nợ nghiệp cứ tăng trưởng và đeo đuổi mãi.
Chúng tôi nghe thấy tiếng súng săn vang dội lại từ phía những quả đồi khô hạn nặng. Người ta có thể cảm nhận được lưới nghiệp dính bắt tăng trưởng và trói buộc ngày càng nhiều chúng sanh theo từng viên đạn.
Chúng ta có một lựa chọn: tiếp tục dấn thân vào trong chuỗi “gieo nhân, tạo duyên, các phương thức và nghiệp của việc giết hại” và vô lượng kiếp chúng ta luân chuyển quay trở lại nước chỉ để bị mắc vào lưới lại, rồi cứ như thế mãi. Có câu rằng, “Con người trên thế gian giống như cá trong lưới. Ở trong nước thì nó cảm thấy tốt đẹp. Ngay khi người đánh cá già nhấc chúng ra khỏi nước, thì cá thấy khó mà chịu nổi. Sự việc chính là như thế.” Hoăc, chúng ta có thể chấm dứt giết hại và giữ giới luật.
Lòng đại bi và sức mạnh của Giới luật đang dần trở nên hết sức rõ ràng đối với chúng tôi. Đó là tấm vé để thoát khỏi cái lưới và nước. Giữ giới là việc trước hết và là bước quan trọng nhất để chấm dứt tất cả mọi nỗi sợ hãi và đau khổ. “Cho dù nhân duyên của nghiệp chướng có như thế nào chăng nữa thì chúng cũng không thể kéo quý vị trở lại được”, nếu như quý vị thay đổi và tu Đạo. Giới luật làm sạch sẽ con đường. Giới luật (Vinaya) là tiếng Phạn, có nghĩa là “sự chữa trị tốt đẹp”. Giới luật thật hữu hiệu!
Tạm dịch:
“Giữ giới luật có thể làm cho người ta không bao giờ bị rơi trở lại vào những đường ác hoặc tám nạn khổ … và sẽ luôn được sinh ra trong cõi trời và người”
Kinh Phạm Võng, Chương Bồ Tát giới

Bằng mọi cách thực hành,
Bằng mọi cách cung kính.
Luôn luôn thực hành cung kính,
Luôn luôn cung kính thực hành.


Hằng Thật. Tháng 10/1977
Như thế là anh bị dẫn dắt để tin tưởng

Đừng tin hết tất cả những gì họ nói.
Anh luôn luôn nghe thấy rằng mình là người quyến rũ, tài năng, có năng khiếu, thông minh, xứng đáng và hài hước. Anh là người thú vị và khôn ngoan, và như vậy anh đã bị dẫn dắt để tin tưởng như thế.
Này người anh em, anh thật sự có tài năng, nhưng nó không phải là những gì anh nghĩ. Tài năng của anh là nằm ở chỗ dối gạt người, làm người ta mê hoặc, nói dối, lừa gạt người, trốn tránh trách nhiệm, không bao giờ hoàn tất nhiệm vụ của mình và cuối cùng, tài năng lớn nhất của anh chính là giả dối, bằng cách che dấu bất cứ ánh sáng chân thật nào dưới các lớp mặt nạ khác nhau.
Anh chẳng có gì thật để trao tặng cho bất cứ ai, ngoại trừ việc tu hành của mình, và đó là tất cả của ba ngày cũ. Nếu anh không bao giờ nói một lời nào khác, anh có thể chỉ vừa đủ để đền bù cho tất cả những tác hại, rắc rối và nỗi đau mà anh đã gây ra bằng những lời lẽ mà anh đã từng nói trong quá khứ.
Với vai trò là người trình diễn, việc giải trí duy nhất mà tôi đã từng làm là vì những mục đích không đúng đắn – là làm cho mọi người phấn khích, làm cho họ bị mê mờ, và rồi lấy đi năng lượng của họ. Mọi hành động, đóng kịch, ca hát, múa may của tôi mang lại rất ít ánh sáng. Thật dễ dàng khi ẩn núp vào trong một vai diễn - À! Tự do để làm cái mà “tôi” không dám làm. Là một diễn viên, trách nhiệm duy nhất của anh là đối với nhân vật giả tưởng mà anh đang thủ vai – mọi thứ sẽ trôi qua và chẳng để lại nghiệp báo gì cả - mọi người đều biết đó chỉ là một trò chơi, là một vai diễn, đúng thế không?
Chỉ tới khi rời sân khấu và sống “thật”, ha ha, nhìn kìa, giờ thì nghiệp ràng buộc của ai kia. Nhìn xem ai đang không được tự do kìa. Những chiếc mặt nạ là sự thật duy nhất. Giả dối là một dạng của sự thật bị bóp méo. Thật ở trên bề mặt, còn giả dối ở phía dưới và sự thật lần nữa lại ở mức độ nghiệp báo không thể trốn tránh được.
Bây giờ là lúc phải thừa nhận tất cả điều này – bỏ đi tất tủ trang phục và giá mặt nạ rồi bước ra vùng sáng mặt trời. Tôi không muốn mang theo chúng thêm một chút nào nữa. Việc giả mạo này đòi hỏi quá nhiều ánh sáng và năng lượng; nó chẳng làm được điều gì tốt đẹp cho ai cả. Quẳng gánh nặng ấy đi. Hãy trở nên tử tế và từ bi, hãy vui vẻ và từ bỏ tất cả những thứ đó. Hãy tìm đến sự thật đang nhăn cười nằm ở dưới đáy: con người chân và thật của anh - người mà anh đang tìm kiếm để khám phá ấy là diễn viên quan trọng bậc nhất, bộ mặt giả dối sáo rỗng nhất của tất cả các bộ mặt – quá lớn, và anh thậm chí vẫn còn chưa nhìn thấy nó nữa kìa. Bắt tại trận. Sàng lọc nó. Quẳng chiếc mặt nạ đi, dù cho mặt nạ đó để làm gì đi nữa, hãy luôn luôn chân thật.

Điều đó xảy ra một cách tự nhiên, từ trái tim

“Đơn giản là hãy để cho tâm trí như hư không trỗng rỗng mà không bám chấp vào cái cảnh trống rỗng ấy, và cáí ứng dụng sẽ vô ngại. Trong động hay tĩnh, không khởi lên ý niệm; quên đi cả cảm giác thánh phàm; dứt hết chủ thể lẫn khách thể. Tánh, tướng sẽ “như như” và không lúc nào là không ở trong cảnh định”.
“Lấy Pháp giới làm thể. Lấy vô hình làm tướng thì sẽ vô tướng. Lấy hư không làm tông. Lấy từ, bi, hỉ, xả làm công việc, làm dụng của mình”.
Hòa thượng Tuyên Hóa – Thiền thoại.

Chúng tôi đang ở phía bên kia của đèo Gaviota và đang rời khỏi xa lộ 101. Xa lộ 1 bắt đầu trở lại. Chúng tôi sẽ lạy một đoạn trải dài với những ngọn đồi trọc hoang vắng trùng trùng điệp điệp không có người ở , hướng về phía thành phố Lompoc và qua cả căn cứ không quân Vandenberg. Trời thật nóng nực, khô khan và tĩnh lặng.
4 giờ chiều. Tấm bảng chỉ đường che khuất ánh nắng mặt trời và nhìn lên bầu trời, ta có thể thấy không khí đầy những con bọ nhỏ và bụi bay lượn. Trông giống như là một trận bão tuyết của tất cả những vật sống và vật vô tri vô giác. Phấn hoa, bụi, côn trùng, hạt giống, các đám mây và những con chim bị xoáy và cuốn vào trong gió. Không khí đầy bụi đất. Cầm bình đựng nước đưa ra ánh sáng, có thể thấy đầy những sinh vật nhỏ, rất nhiều phù sa và những bong bóng không khí trôi nổi bập bềnh.
Đất và không khí đều ở trong nước. Lửa là một phần đất, một phần nước và một phần không khí. Ngôi sao ở xa nhất và chóp mũi của chúng ta tiếp xúc và kết nối nhau. Chúng ta thở và uống nó. Rồi nó trở thành chúng ta. Chúng ta sanh, trụ, hoạivà trở lại về nó. Chúng ta trở thành nó. Chúng ta tất cả đều là thành phần của điều này, và tất cả điều này đều là một phần của chúng ta. Nhìn nó như “thực sự như vậy”; thậm chí không có các phần hay các mảnh, không có ranh giới hay sự khác biệt gì cả. Toàn bộ Pháp giới giống như vậy. Không có diện mạo hay tên gọi, không có quá khứ hay tương lai; tất cả đều bình đẳng “tới tận cùng hư không”. Sự khác biệt và khoảng cách chỉ tồn tại trong tư duy của chúng ta. “Muôn Pháp (chân lý, con đường đi tới sự giác ngộ, các cách khai ngộ) đều như nhau”.
Như đất chỉ một tánh
Mọi loài riêng chỗ ở
Đất không nghĩ đồng khác
Pháp chư Phật cũng vậy.

Như lửa chỉ một tánh
Đốt cháy tất cả vật
Lửa không nghĩ đồng khác
Pháp chư Phật cũng vậy.

Cũng như một đại hải
Ngàn vạn lượng sóng trào
Nước biển vẫn duy nhất
Pháp chư Phật cũng vậy.

Cũng như gió một tánh
Thổi động tất cả vật
Gió không nghĩ đồng khác
Pháp chư Phật cũng vậy. (1)
Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Bồ Tát Vấn Minh thứ mười. Bài kệ do Ngài Đức Thủ Bồ Tát nói trả lời Ngài Văn Thù Sư Lợi.

Bay giờ thì tôi nhận ra được ba lý do gì để tôi trở thành tăng sỉ và thực hiện hành trình Ba bước, một lạy này:
1.      Hiểu được tâm của vạn vật
2.      Làm điều gì đó tốt cho những người khác bằng cuộc đời của mình
3.      Trả ơn lòng tốt của cha mẹ

thật ra đều chỉ là một, không phải là ba.
Làm lợi ích cho tất cả  chúng sanh cũng là trả ơn cha mẹ. Báo đáp lòng tốt của cha mẹ thì chính là đi tới tâm của vạn vật, tìm kiếm trí huệ cao nhất. Nếu tất cả những gì tôi làm chỉ là ăn, ngủ, mặc quần áo, thì những việc đó mang lại giá trị gì cho cuộc đời này mà cha mẹ đã cho tôi? Tu Đạo không khác với việc “giúp đỡ và hỗ trợ chúng sanh ở khắp mọi nơi”.
Giống như tứ đại: đất, gió, lửa và nước, chúng đan quyện vào nhau và không thể tách rời; chúng ta và những việc chúng ta làm cũng vậy. Công việc này thật hạnh phúc làm sao!
Không có một chỗ nào mà người ta có thể chỉ vào và nói rằng, “Đây chính là nơi tôi kết thúc và là nơi người khác bắt đầu”. Giữa tất cả vạn vật và trong toàn bộ vũ trụ, nó là thế này: tất cả chúng sanh đều là gia đình của ta, vạn vật là thân thể ta. Phá dỡ tất cả hàng rào là chúng ta quay trở về với bản tánh nguyên thủy của mình. Chẳng còn gì tốt đẹp hơn.

Ngũ Tổ hỏi: “Ông từ đâu đến, đến đây để làm gì?”
Lục Tổ Huệ Năng đáp, “Đệ tử là dân huyện Tân Châu xứ Lãnh Nam, ở Phương xa đến đây lạy Tổ sư, chỉ cầu thành Phật chứ chẳng cầu chi khác”
Ngũ Tổ nói, “Ngươi là người xứ Lãnh Nam, lại là giống man di, thế nào thành Phật được?”
Huệ Năng đáp, “Con người tuy phân Nam Bắc, nhưng Phật tánh vốn không Nam Bắc. Cái thân man di này cùng với Hòa Thượng tuy chẳng giống nhau, chứ Phật tánh nào có khác!” (2)
Kinh Lục Tổ, phẩm Hành Do đệ nhất.

Cuối cùng rồi thì cũng chẳng có lý do xuất gia và tu Đạo. Chẳng có quyết định hay lựa chọn, thực sự như vậy. Sống ở gần Sư Phụ, trở thành Tăng, ba bước một lạy diễn ra một cách tự nhiên, từ trong tâm. Hạt giống đã chín. Đó là những gì đến một cách tự nhiên và thành thật. Không có mục tiêu hay mục đích, không tìm kiếm hay có nhu cầu. Vậy có gì cần phải mở bày ra và làm cho tiến triển đây?
Không phải làm hay nỗ lực. Nó tiếp tục theo cách này. Tôi rất hạnh phúc và chẳng lo lắng chút gì nữa.

Đừng sợ chúng tôi

Cơn gió thứ hai.
Nghe thật lạ, nhưng khi lạy tôi cảm thấy như thể là cuộc hành trình này mới chỉ bắt đầu từ đèo Gaviota (Gaviota Pass). Cái gì? Nó giống như là tôi đang bắt đầu tất cả lại và phải học lại cách tập trung tâm trí và sự không sợ hãi, và kiểm soát việc không tham dự vào bất cứ chuyện gì, việc này đã được làm rất tốt đẹp trên xa lộ 101.
Về mặt thể chất, tôi bộc lộ sự sợ hãi và căng thẳng. Chiều nay, đầu tôi thay vì cắt đứt mọi vọng tưởng, thì nó lại vẽ lên những con nhện đen Châu Phi to cỡ con bò đang nhảy ra từ những tảng đá để ăn thịt chúng tôi. Tôi nhìn thấy một hình ảnh thoáng xẹt qua về một người trong hai chúng tôi đang nằm trên vệ đường và bị thương rất nghiêm trọng bởi một vật gì đó, người kia thì đứng đó bất lực, cảm giác vô cùng đau xót. Tôi đủ nhanh để phản ứng lại với ảo ảnh ấy, nhưng tôi đã thấy nó.
Điều gì ẩn đằng sau tất cả nỗi sợ hãi này? Sự thay đổi thời tiết và thay đổi vùng miền đang đánh trúng cái bám chấp vào sự tồn tại của tôi. Tôi sợ con đường khô khốc và cô quạnh mà chúng tôi đang đi qua – từ khi thấy nó trên bản đồ, và tôi sợ những buổi sáng và ban đêm lạnh lẽo sẽ mang lại nỗi khổ sở. Tôi có những nguyên tắc và lý do để phủ nhận những ý nghĩ kỳ quặc này, nhưng mà những phản ứng từ tận sâu trong lòng thì hiển hiện ra. Tôi mong rằng những điều này sẽ sớm phai mờ đi khi chúng tôi quen với điều kiện mới.

 Bản tuyên ngôn côn trùng
Chúng tôi nhận ra rằng thái độ của chúng tôi đối với những con bọ là chưa từ bi. Chúng tôi nguyện thay đổi và cải biến các hành động cùng suy nghĩ của mình đối với tất cả các loại côn trùng. Chúng tôi treo một tấm biển trong xe:
“Thông báo”
Đối với tất cả loài côn trùng bay, bò, nhảy và những sinh vật nhỏ bé khác: Đừng sợ chúng tôi; chúng tôi sẽ không làm hại gì quý vị cả. Đây là cả một Pháp giới rộng lớn, quý vị có thể tùy ý đến đi tự do. Chúng tôi sẽ chia sẻ không gian này tùy theo ý muốn của quý vị. Tuy nhiên, khi quý vị ở trong Đạo tràng hoặc ở trên thân thể - tràng, xin hãy tuân thủ những nguyên tắc sau:

1.      Luôn luôn tuân thủ ngũ giới
2.      Không tự tử vào trong dầu đèn, đồ uống hoặc trong chất dính hay các chất có dầu.
3.      Không tự tử vào trong quần áo hoặc chăn mền.
4.      Tất cả lương thực và đồ uống được dùng để cúng dường cho Tăng và không được cẩu thả sử dụng.
5.      Nếu quý vị uống máu hoặc ăn thịt chúng tôi, thì quý vị phải phát tâm để khai ngộ.

Ngay sau khi chúng tôi thực hiện giải pháp này và thông báo một cách công khai, thì những đám mây ruồi phủ quanh chiếc xe liền bay lên, chúng bay quanh và tụ lại thành đám nhỏ bên ngoài cửa và trên chiếc màn cửa. Chúng không quấy rầy chúng tôi trong những bữa trưa sau đó nữa. Tôi nhìn những con ruồi trên chiếc màn cửa xe và bắt quả tang chính tôi đang bảo vệ cho sự ghê tởm với những con ruồi trong hành trình trước và tôi đã vung nhanh thanh kiếm trí huệ cắt đứt ý nghĩ đó. Ngay sau khi ý nghĩ ấy biến mất, thì một đám mây năng lượng đen bị đập vỡ và biến mất.
Tôi nhận ra sự mất mát lớn lao mà tôi đã luôn phải đón nhận bởi sự phân biệt đối xử và chối bỏ “những côn trùng gây phiền nhiễu”. Thật là làm lãng phí vô ích ánh sáng thiện lành biết bao. Tôi sẽ ngay lập tức chấm dứt hành động ấy.
Cùng lúc đó, tôi chưa trở lại tiến trình làm tan chảy từ bên trong. Nó từ từ thay đổi từ âm sang dương – làm việc mà không cần phải chiều theo cái đầu đang la hét của tôi. Sư Phụ nói với ông Chou rằng, “Họ sẽ tới vào mùa xuân tới này”. Sư Phụ biết rõ rằng mùa xuân tới chúng tôi sẽ ở Monterey hoặc gần đó, vậy thì Sư phụ nói “tới” là ý gì? Tôi hy vọng Sư Phụ ám chỉ những điều mà việc phát Bồ đề tâm của tôi nghĩ tới những điều Sư Phụ hàm ý.

Hằng Triều. - Ngày 13 tháng 10, 1977
Con có thể không bao giờ thành Phật!

Chúng tôi đang thử một cách đối xử mới với những con bọ: chấm dứt sự phân biệt và đập chúng. Thầy Hằng Thật đưa ra ý tưởng mời chúng vào trong xe và lên trên cơ thể chúng tôi như là những vị khách chứ không như là những côn trùng gây hại. Do chúng tôi không thể thay đổi những thói quen cư trú của chúng là ở khắp mọi nơi và cắn vào bất cứ đâu, nên chúng tôi quyết định thay đổi quan điểm đối với chúng. Về căn bản thì, chúng tôi mới là vấn đề. Đó là một quan niệm lớn về bản ngã làm đánh một con côn trùng. Con ruồi nhỏ kia gây nhiễu “tôi”. Con muỗi nọ đang làm phiền “tôi”. Nếu chúng ta không có trái tim nhỏ bé và quan điểm hẹp hòi như thế, thì chúng sẽ hẳn sẽ không để ý đến quá nhiều sự khác biệt và chuốc lấy sự rất khó chịu. Bên cạnh đó, việc đập những con bọ chỉ là một thói quen xấu và có thể thay đổi. Tôi đã thử điều này trong buổi chiều nay. Có hiệu nghiệm. Việc này không hề khó chút nào. Đột nhiên, tôi cảm thấy tốt đẹp hơn, thư thái hơn và thoải mái. Bụi và lửa bực bội đã dịu nguội đi, thế giới trở nên mềm mại và thật thoải mái.
Chúng tôi lập nguyện rằng bất kỳ con bọ nào đậu trên chúng tôi sẽ thành Đạo và chỉ yêu cầu chúng phải tuân thủ ngũ giới khi ở trong xe, giống như tất cả mọi người. Thật bất ngờ tình cờ, nhiều con trong bọn chúng đã rời bỏ đi sau khi qu định về giới luật được thiết lập. Cũng giống như rất nhiều người, chúng chưa thực sự sẵn sàng để “nghiêm túc” chuyển đổi về phía tốt. Điều này gọi là “khẩu đầu thiền” – nói thì nhiều nhưng chẳng làm gì cả.
Sự thức tỉnh của chúng tôi về việc từ bi đối với tất cả chúng sanh được gợi ý từ một câu chuyện mà chúng tôi nghe kể từ một trong những gia đình tới thăm và cúng dường. Khi chúng tôi đang dọn dẹp sau bữa trưa, gia đình ấy đã hết sức thận trọng không dẫm nát hay gây hại gì tới bất kỳ con kiến nào trên thức ăn và tấm mền trải. Người mẹ nói, “Khi con trai của con được hai tuổi, nó chạy tới khóc và nói, ‘Má, má, con có thể không bao giờ thành Phật được! Con đã giết một con kiến!” Chư Phật không sát sinh. Đây là lòng hiếu thảo.

Hằng Triêu. Ngày 14 tháng 10, 1977
Đi chậm và không bao giờ tức giận

Một ghi chép về thời tiết:
Trời rất nóng và khô. Chúng tôi bắt đầu mang những bình nước. Say nắng và sốt cao thực sự đang là mối lo lắng. Những cây đèn cầy chúng tôi dùng để đọc sách và viết vào ban đêm đều bị tan chảy vào ban ngày trong xe. Trông chúng giống như mấy chiếc bánh bích quy sáp.
Tôi bắt đầu hiểu được tại sao những người sống trong sa mạc họ mặc áo choàng: để giảm thiểu sự thoát độ ẩm do tiếp xúc da trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời. Không khí khô và gió khô hút ra chất ẩm cơ thể của chúng tôi trong vài phút. Chúng tôi ngậm miệng càng nhiều chừng nào có thể, nếu không miêng chúng tôi sẽ trở thành “miệng khô như bông vải”.
Khu vực này thật hoàn toàn giống Thung lũng Chết. Không có bóng râm. Vài cây sồi xương xẩu bao quanh bời những cây leo sồi độc và ở phía sau hàng rào dây thép gai của trang trại. Không có thị trấn hay một trạm xăng nào suốt hàng dặm. Chúng tôi có lượng nước dùng hạn chế và đang giảm dần. Không lâu nữa mọi sự việc có thể sẽ khác rất nhiều.
Giữ cho mình mát mẻ và tập trung là đang thực hiện điều này: đi chậm và không bao giờ tức giận! Giữ tham thoại đầu, “Ai đang quá nóng nực đây?, “Ai đang quá khát nước đây”. Điều này thật hiệu nghiệm. Mọi công đức được hồi hướng để chấm dứt sự đau khổ và tính nóng nảy (giận dữ - phiền não) cho tất cả chúng sanh.

Người đi tìm sự tĩnh lặng
Một trong các nghĩa của chữ Sa di là “người đi tìm sự tĩnh lặng”. Tĩnh lặng là kết quả của việc chế phục được bản ngã và giảm ham muốn. Không ham muốn nghĩa là không có bám chấp. Và, khi không còn những trở ngại bám dính và những mong muốn thì ở nơi đâu mà quý vị không tự do và tĩnh lặng? Tìm kiếm sự yên lặng bằng cách không tìm kiếm là tất cả những gì điều này nhắm đến.
Thỉnh thoảng tôi nếm được mùi vị của sự tĩnh lặng. Hôm nay, đó là lúc ở trên đỉnh của ngọn đồi cô quạnh sau một thời gian dài nóng nực leo đồi. Không có xe cộ lưu thông, âm thanh duy nhất là tiếng sột soạt mềm mại của áo choàng và y giới của chúng tôi trong cơn gió nhẹ khiến cho tai và tâm trí có thể dõi theo hàng nhiều dặm không cùng tận.
Không mong muốn thì không lo lắng. Tĩnh lặng. Ngày mai và hôm qua chỉ là những từ ngữ không thật. Tĩnh lặng.
“… biết tất cả âm thanh đều là không chỗ có, thật chẳng thể được, không có tác giả, cũng không có bổn tế, đồng với Pháp giới không sai khác”. (1)
Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Thập Hạnh thứ 21.

Đúng rồi! Từ từ đi theo cách của chúng tôi qua những hẻm núi, có hai hay ba lần tất cả mọi âm thanh đều ngừng bặt. Không xe hơi hay xe tải, không có chim choc và thậm chí không có một tiếng xào xạc của chiếc lá khô trong nhiều dặm – chỉ có sự yên lặng bao trùm khắp, sâu và rộng tựa như chính hư không. Khi điều này xảy ra, tất cả mọi vật – đại dương, những ngọn đồi chập chùng, mặt trời và không khí – đều trở thành một phần nhỏ của tâm trí; và tôi, chỉ là một hạt bụi vi trần bị gió cuốn đi xuyên qua vùng đất rộng lớn này. Thực sự không có cả các phần nữa. Tất cả giống như là một dòng chảy liên tục.
Tôi đã biết cái kiểu tĩnh lặng này một lần trước đây. Khi là một thiếu niên trong khu rừng phía bắc tiểu bang Winconsin sau một trận bão tuyết. Lúc đó là 2 giờ khuya khi cơn bão đã tan. Tôi đứng bên ngoài căn nhà gỗ ghép một lúc lâu, chỉ nghe hư vô. Chỉ có những vì sao và sự tĩnh lặng hoàn hảo. Không có dù chỉ là một làn gió. Chỉ có sự tĩnh lặng. Tôi đã bị lạc đường và tìm thấy điều gì đó trong cái đêm đông lạnh giá ấy. Giống như sự tĩnh lặng, đó là suy nghĩ và những lời nói đã qua.
Cả hai lần, lúc ấy và hôm nay, cảm giác rất thật. Không giống như tiếng động và những âm thanh đến và giảm dần mà chúng tôi nghe cả ngày. Âm thanh của sự tĩnh lặng này đem lại cảm giác về một phương diện giống như là nhà. Đây là những kinh nghiệm thực sự mà tất cả chúng ta cùng có nhưng không thể nào nói ra được. Nói gì đây?
Tối nay, trong khi ngồi thiền trên tấm nắp đậy phía sau xe ở đoạn đường cụt tách ra khỏi xa lộ vào tối thứ Sáu, tôi nhớ lại hai trường hợp của sự hoàn toàn yên tĩnh này. Cái “tôi” nhận ra cái “không âm thanh” là luôn ở trong tâm trí của tôi, trong trái tim tôi, luôn luôn như vậy. Sự tĩnh lặng bên ngoài chỉ là sự nhắc nhở, một cái thấy thoáng qua về nơi mà tôi nay đã lạc lối xa khỏi chỗ đó rất xa rồi. Những âm thanh của xe hơi và âm nhạc đài phát thanh và tiếng nói của tôi là rỗng tuếch, duyên hợp. Và rồi tôi nhớ lại bài kệ này:
Mắt thấy hình sắc tâm không động.
Tai nghe âm trần tâm chẳng hay.
Đúng rồi!




Vũ trụ là do tâm tạo

Vấp vápqua các cảnh giới.
Khi nào thì tôi sẽ học được rằng: đừng tin vào tâm trí và suy nghĩ của mình. Lúc nào chúng cũng đánh lừa bạn. Rất nhiều “cảnh giới” (những kinh nghiệm và nhân duyên bất thường và lạ thường) phát sinh trong quá trình tu hành. Đây là một phần của công việc tu hành. Một số cảnh giới thì kinh khủng, một số thì tuyệt trần. Tất cả chúng đều trống rỗng, như "mộng, huyễn, bọt, ảnh" Chúng chỉ là chức năng của chấp trước sâu dày và vọng tưởng. Thứ chân thật duy nhất là luôn dụng công tu tập. Bất kỳ điều gì khác chỉ là trò gian trá của cái bản ngã sợ hãi và là cái bẫy.
“Đừng xem các trạng thái của tâm là thật hay giảTu hành chăm chỉ mới là thật . Với những người không được chỉ dạy và thiếu hiểu biết điều này, khi gặp một cảnh giới, họ vui mừng và nghĩ rằng mình đã giác ngộ hoặc kinh sợ cho rằng mình bị ma ám. Đừng bám lấy nỗi sợ hay niềm vui. Đừng bám chấp vào bất cứ cái gì, như vậy quý vị mới đạt đến cảnh giới thành tựu thực sự”.
Hòa thượng Tuyên Hóa - Khai thị, tháng 12/1972

Và quý vị càng chăm chỉ tu tập thì càng có cơ hội có được cảm ứng, một cảnh giới khác thường liền hiện ra. Nếu quý vị chấp vào nó, ví dụ nghĩ rằng “Tôi vừa đạt được cái gì đó ”, thì quý vị sắp bị té ngã, và “Đối cảnh mà không biết, phải luyện lại từ đầu”.
“Không chấp cũng không xả, vì không sở đắc, Bồ tát nương theo Bát nhã Ba la mật đa nên tâm không quái ngại…”
Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa

Vô minh là cội rễ của tất cả mọi vấn đề và phiền não của tôi. Gốc rễ của vô minh là ngã kiến. Lúc nào cũng vậy và thật nực cười, tôi giống như chú chó trong phim hoạt hình chỉ biết chạy hết tốc độ rượt theo con mèo mà quên rằng nó vẫn đang bị buộc dây với chuồng chó. Ngay khi tôi nghĩ là đã tóm được nó rồi thì.. Ái da! Vẫn còn bị trói buộc và mắc kẹt. Nếu muốn bắt lấy con mèo, thì trước tiên cần phải ngưng bị rò rỉ. Nếu muốn chấm dứt điên đảo và phiền não, quý vị cần phải đoạn vô minh. Không tìm kiếm hay ham muốn gì hết. “Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm”. Cố gắng một lần nữa đừng cố gắng.
"Trí chẳng biết cảnh mà cảnh cũng chẳng biết trí.»
Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Bồ Tát Vấn Minh. (1)

“Do nghiệp lực chúng sanh,
Xuất sanh nhiều quốc độ.
Nương trụ nơi phong luân,
Và nương thủy – luân trụ.
Trong mỗi mỗi chân lông
Ức cõi bất tư nghì,
Các thứ tướng trang nghiêm.
Chưa từng có chật hẹp”
 Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Hoa tạng thế giới. (2)

Vũ trụ (thái hư) ở đâu ? Tôi luôn luôn nghĩ rằng nó “ở ngoài kia”. Ngay lúc này, chúng ta đang ở trong vũ trụ. Thân thể, hành tinh của chúng ta – tất cả mọi thứ đó đều ở trong vũ trụ, thậm chí cả lời nói và chỗ nằm của chúng ta. Có vô lượng mặt trời như mặt trời của chúng ta, có vô số hành tinh như trái đất. Có thể đó là ý của câu
“bên trong mỗi một cọng tóc có hàng triệu Phật quốc, không thể nghĩ bàn”.
Nếu ai đó hiểu được tâm, thì sẽ hiểu được tất cả. Vũ trụ được tạo ra từ tâm trí. Không có phương hướng, trên hay dưới, cao hay thấp trong vũ trụ. Không khởi đầu hay kết thúc, không giá trị hay bản ngã. Tất cả đều giống như vậy. Khi tâm điên cuồng ngừng bặt, vũ trụ cũng biến mất.
Yên lặng lạy dọc theo con đường trống vắng dưới trời nắng nóng, tôi nhận ra “Á, ngay lúc này tôi đang ở trong vũ trụ! Thân thể này đang trôi nổi bồng bềnh trong hư không trên một hạt bụi nhỏ! Thật lạ làm sao”. Có bao nhiêu thế giới và thực tế khác nhau mà tôi là một phần trong đó mà tôi không thấy được?
Chúng tôi thận trọng giúp khuyến khích con nhện đen Châu phi to cỡ bàn tay của thầy Hằng Thật ra khỏi vị trí giữa đường để chúng tôi có thể lạy tiếp.
Đêm đến, chúng tôi có thể nghe thấy tiếng kêu ăng ẳng và tiếng hú của một bầy chó hoang trong khu rừng phía sau chúng tôi chừng 75 thước (68m). Đêm nay có trăng lưỡi liềm và những đám sương mù gần sát mặt đất.


Làm lại thành thép kim cang

Chất độc đường
Thầy Hằng Triều hôm nay chỉ ra rằng dù chỉ một lượng rất nhỏ đường trong bánh và kẹo đã có tác dụng giống như thuốc độc đối với tôi như thế nào. Thầy ấy đúng. Không dùng đường nữa cho tới khi thân thể bên trong tôi hoàn toàn được tái chế lại thành thép kim cang.
Một điều lớn khác càn thận trọng nữa là nước. Tôi có đủ nước trong cơ thể tôi và không đủ lửa. Uống quá nhiều nước đưa tôi vào trạng thái âm tính, quá no nước và nặng nề khiến cho việc tập trung thẫt vô cùng khó khăn.

Hằng Triều. Ngày 16 tháng 10, 1977
Anh có nghe cái tên “điên rồ” này sẽ làm gì không?

Một giáo viên từ Lompoc cùng với con trai ông dừng lại và cúng dường. Họ rất quan tâm tới đời sống tu sĩ và những thay đổi cơ thể của việc lạy hàng trăm dặm ở ngoài trời này. Họ là những người lặn ở dưới nước không mang bình dưỡng khí và đã có sự tri ân đặc biệt về sự tịnh khẩu của thầy Hằng Thật.
“Tham thoại đầu” có tác dụng. Tôi dùng cách “tham thoại đầu” này mỗi khi tôi bị lạc ra khỏi trung tâm của mình, và nói với chính tôi rằng, “Ai đang quá bận rộn đây?” hoặc là, “Ai đang quá tức giận và đau đớn đây?” Gần đây, mỗi khi việc lạy gần đến điểm muốn nỗi điên thì tôi hỏi, “Ai đang lạy đây?” Bình tĩnh và lắng dịu xuống.
Hôm nay, tôi không thể tìm ra được “Ai”. Không chỉ có bình tĩnh thôi, mà còn có cái gì hơn nữa. Nó giống như bầu trời tự nó hé mở ra với đầu óc và trái tim tôi, phóng ra một áp suất rất mạnh. Không có điểm bắt đầu và kết thúc. Trống rỗng, bình an và tự do cho tới vọng tưởng tiếp theo.

Tâm chẳng trụ nơi thân,
Thân chẳng trụ nơi tâm.
Mà làm được Phật sự,
Tự tại chưa từng có.
Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Dạ Ma Cung Kệ Tán Thán thứ hai mươi. Bài kệ do Giác Lâm Bồ tát tuyên nói.

Hồi tưởng:
Tháng 10, 1976, Kim Sơn Thánh Tự. Quang cảnh: trong bếp, sau buổi giảng kinh tối. Thầy Hằng Cụ, Hằng Quán, Hằng Lai và Hằng Thật đang thảo luận về điều gì đó khi tôi bước vào lấy cái ba lô của mình và chuẩn bị rời đi để đón chuyến xe buýt East Bay quay trở lại Berkeley.
Thầy Hằng Cụ: “Này, anh có biết cái tên “điên rồ” này sẽ làm gì không?” (hất đầu về phía thầy Hằng Thật)
Tôi: “Không, sẽ làm gì?”
Thầy Hằng Quán: “San Bu I Bai.” (Tam bộ, nhất bái ).
Tôi: “Là cái gì vậy?”
Thầy Hằng Cụ: ““Ba bước một lạy”
Thầy Hằng Quán: “Phải, thầy ấy sẽ bỏ qua tất cả công việc vất vả ở đây và lạy lên phía bờ biển” (nói đùa)
Tôi: (Có cái gì đó ăn khớp ý vang lên bên trong. Tôi đặt ba lô xuống). "Thật sao? Chỉ một mình?”
Thầy Hằng Lai: “Tất nhiên, là một mình. Ai khùng đến đổi muốn đi cùng với thầy ấy làm chuyện khùng điên ấy chứ”. (Cười)
Tôi: (nói với chính mình, “Ai mà không chịu làm chứ! Ý tôi là, tôi muốn, nhưng…” Quá trễ rồi. Cho dù tôi có thể chịu khó nhọc như thế nào đi nữa, tôi biết tôi muốn và thật sự muốn đi. Ý tưởng này đã đánh trúng và in sâu đậm vào tôi, giống như là tên của tôi vậy. “Và chưa ”, tôi nghĩ, “Tôi sẽ phải xa bạn gái, công việc và vị trí dạy học của mình, và , và… Hừm, Ba bước, một lạy vì tất cả chúng sanh ”) “ Khi nào ? ”
Thầy Hằng Thật : (Cuối cùng cũng lên tiếng sau khi ngồi trên chiếc ghế băng giả vờ như đang đọc sách với vẻ không quan tâm). “Không chắc lắm nhưng có thể là cuối mùa hè, cũng có thể sớm hơn ”
Tôi : “Ai sẽ đi để mang dụng cụ, nấu nướng và… ”
Thầy Hằng Thật : “Không biết ”. (nhún vai) Bất cứ ai muốn. Có thể tôi sẽ làm một mình, nếu không ai nguyện làm hu fa (hộ pháp)."
Tôi : “ Hu… gì ? ”
Thầy Hằng Lai : “Hu fa. Có nghĩa là Hộ pháp ”
Tôi : “ Bắt đầu từ đâu và tới đâu ? ”
Thầy Hằng Quán : “Từ Los Angeles, tới chùa Vạn Phật Thánh Thành”
Tôi : “Thầy không thể làm một mình được” (Cái đầu hoạch định dụng cụ và kế hoạch thực hiện của tôi đã cho ra các chi tiết. Tôi đã từng thưc hiện rất nhiều việc đi bộ đường dài và leo núi, nhưng việc này sẽ phải mất đến gần 2 năm ! Một cuộc hành trình lớn !
“Thầy sẽ phải tính toán ít nhất là 60-70 pound (27-32kg) cho một người, và nếu thầy đi men theo bờ biển …” Tôi đang say mê.
Thầy Hằng Thật : “Cái đó chưa kể những trang bị đăc biệt mà nhà sư phải mang, và toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm, và…”
Chúng tôi bắt được tâm nhau! Một sự kết nối không lời lâu xa giữa hai chúng tôi nổi hiện lên. Chúng tôi đã quen biết nhau, và lời nguyện chung đã lập từ lâu giờ đang được chín muồi. Đột nhiên, tôi thấy mình chú tâm tới việc lên kế hoạch cho cuộc hành trình khó thể nghĩ bàn với thầy Hằng Thật, một mặt tôi biết mình không thể bỏ qua,đồng thời mặt khác tôi cũng không thể tưởng tượng ra nổi – có đủ sáng suốt và tự do bên trong để đi ra ngoài. Thật tiến thoái lưỡng nan ! Tôi lỡ chuyến xe buýt.
Năng lượng bên trong căn bếp (của Kim Sơn Thánh Tự) đêm ấy thật mạnh mẽ, tinh khiết và gần gủi. Mọi người ai cũng thấy vui vẻ và ủng hộ quyết định của thầy Hằng Thật. Điều ấy được gọi là nhân duyên. Tôi đã về nhà, ở căn nhà thân thuộc đến nổi tôi đã không nhận ra rằng tôi là người duy nhất không cạo đầu và không choàng y, cho tới khi tôi bước tới cửa trước để rời khỏi chùa. Mình đang đi đâu đây? Tại sao mình lại bị lộn xộn như thế.
Tấm bảng bên trên cửa ghi: “Hãy cố gắng hết mình”.
Mọi việc diễn ra thật nhanh và sâu xa. Mãi sau tôi mới nhận ra sự thật rằng chính tôi đang tiến quá chậm và nông cạn. Mọi việc diễn ra một cách tự nhiên và mọi việc sẽ như thế. Chỉ có tôi đang quá bị vướng mắc và trói buộc để tiến bước cùng họ. Một chân ở trên thuyền đang rời bến còn chân kia thì vẫn trên bến tàu. Đã đến lúc phải lựa chọn, hoặc là sẽ bị xé làm đôi.


Vì Pháp Quên Mình

Cuộc đối đầu tại Rancho San Julian.
Chiều thứ ba: bất ngờ, những cuộc tấn công tới tấp của tư tưởng, cảm xúc, các xung động, rung cảm, hình ảnh chớp nhoáng thoáng qua. Với tất cả những thứ đó dồn lại, tôi gần như đã khóc, vỡ nát và bỏ chạy. Không suy nghĩ, chỉ nhặt thanh kiếm lên, giữ kiếm ở trung tâm, và đánh lại. Cảm giác như một người lính chống lại một đội quân xâm lược. Chẳng bao lâu, tôi muốn hét lên với Quả Đình, để dừng lại và ngồi, để gọi cho Sư Phụ, để bỏ cuộc. Đột nhiên nhận thức ra: đúng nó rồi, là cái bẫy. Bạn phải tự mình chiến đấu. Bạn phải dùng giỏi thanh kiếm đó và kỹ thuật chuyển đổi năng lượng. Đây là những gì bạn sẽ làm từ bây giờ, và nếu bạn không chịu nổi sức nóng, hãy đi ra khỏi phòng có lò sưởi và ngừng rên rỉ về phiền não, chướng ngại và giác ngộ. Làm sao người khác có thể nương tựa vào một đứa trẻ nào đó còn không độ được bản thân - ý niệm của nó? Đây là cơ hội để bạn gặt hái được vị trí xứng đáng trong trận chiến của mình. Bạn đang được theo dõi - bạn có thể chiến đấu và thắng không? Nếu có thể, hãy tiến lên. Nếu không thể, hãy về nhà.
Sử dụng các phương tiện của bạn một cách chính xác, khéo léo, và giành chiến thắng một số trận đánh, sau đó họ có thể cho phép bạn sử dụng ánh sáng.
Ngừng tìm kiếm sự giúp đỡ. Bạn đã làm điều đó cả đời rồi, và hãy xem nó đưa bạn đến đâu…
Khi tôi đã quyết định tiếp tục chiến đấu, cho dù có kỳ quái và đầu óc tôi nổ tung đến đâu, bỗng nhiên tôi được một số sự giúp đỡ, bước lớn đã vượt qua, và bỗng tôi nghe thấy câu “Vì Pháp quên mình”. Và trúng rồi! Bingo! Đầu óc rỗng rang, và thanh kiếm chặt đứt mọi niệm - khảo nghiệm và cuộc chiến đã kết thúc. Tôi đã thắng 60%. Số còn lại đã đánh cắp ánh sáng trong khi tôi đang chạy tới chạy lui. Lần sau tôi sẽ làm tốt hơn. Lần sau tôi sẽ làm mạnh hơn. Chính là như vậy!.
 


Trang bị cần thiết tốt nhất và đáng tin cậy nhất

Chúng tôi tiếp tục quay trở lại những điều căn bản, là trang bị cần thiết tốt nhất và đáng tin cậy nhất của chúng tôi.
1) Giữ giới luật chặt chẽ không có ngoại lệ và giữ mọi lúc. Tụng giới thường xuyên.
2) Luôn luôn thực hành, luôn luôn làm việc hết sức mình. Không một giây phút nào nghĩ rằng mình đã đạt được một thứ gì đó. Thực hành và hiểu biết đều giống nhau.
3) Xem tất cả mọi thứ là nhân duyên và vô thường, đặc biệt là thân và tâm.
4) Sử dụng nỗ lực và sức mạnh nội tại để vượt qua các trạng thái (vui, buồn, buồn ngủ, suy nghĩ phân tán, đói, đau, lạnh, sợ hãi). Sự hiểu biết có được trong gian nan, không phải có trước gian nan.
5) Nhẫn chịu. Không bao giờ sử dụng vũ lực, không bao giờ nổi giận.
6) Dựa vào chỉ dạy của Sư Phụ và Kinh điển. Các chỉ dạy của Sư Phụ và Kinh điển là một. Kinh điển soi sáng Đạo, sự thực hành chiếu sáng Kinh điển.
7) Ăn năn hối cải. Không mắc lại sai lầm và đối xử với tất cả bằng Tứ Vô Lượng Tâm: từ, bi, hỉ, xả.
8) “Tất cả mọi thứ đều ok!”
Ba "sinh viên đại học" đi đến và tiến hành một cuộc phỏng vấn ghi âm cho lớp học triết học của họ. Sau đó chúng tôi phát hiện ra họ là phóng viên của báo Lompoc Record và đang cố gắng tìm một câu chuyện thực tế.
Chỉ có một cách để đối phó với các phương tiện truyền thông mà tôi tìm thấy: Hãy tu hành. Các cuộc phỏng vấn không phải là màn trình diễn hay diễn tập. Không có gì như vậy. Nếu cuộc phỏng vấn không tiến hành tốt đẹp, không phải vì tôi không “giỏi về việc đó lắm” hoặc “không có kinh nghiệm”. Nếu cuộc phỏng vấn không tiến hành tốt đẹp thì lý do của nó cũng giống như bao lý do khác khi mọi việc không tốt đẹp – cái tôi. Khi bạn lay động từ trái tim của bạn và nói về những gì bạn biết thì mọi thứ đều rất tự nhiên và ok. Mọi rắc rối đến từ cái tôi. Không có cái tôi, thì không có rắc rối. Tu hành mọi lúc. Rồi tất cả mọi thứ đều kỳ diệu và "đúng đắn".
Càng lớn, càng biết ít,
Khi cái Tôi biến mất, Đạo hiện ra.
Hai người chủ trang trại địa phương cúng dường một hộp trái cây hữu cơ và rau quả trong vườn họ. Họ chỉ về phía một vết đen trên sườn đồi cháy đen, nơi hỏa hoạn xảy ra vào tuần trước. Họ may mắn có một cái giếng. Họ nói rằng những người khác không may mắn như vậy và thật sự “làm tổn thương nhau vì nước”. Các mối đe dọa của địa ngục rùng rợn không kiểm soát được đè nặng lên tinh thần của những người dân nơi đây.
Không còn chỗ nào để tách ra khỏi xa lộ và cả vùng đất đều có hàng rào và bảng cấm, thầy Hằng Thật và tôi phải đối mặt với khả năng khó tìm được một chỗ cắm trại đêm nay. Khi chúng tôi kết thúc việc bái lạy vào lúc mặt trời lặn gần Cầu Creek San Jaro, chúng tôi được một sự chào đón bất ngờ. Rich Danaho, thành viên của một gia đình sở hữu trang trại San Julian rộng lớn, lái một chiếc xe tải đến và nói “Các thầy cứ sử dụng vùng đất biệt lập đó nằm phía sau con lạch bao lâu cũng được. Tôi biết các thầy không ở trong nhà, hay trên bãi sân nhà, nhưng ở đó không có ai sẽ làm phiền các thầy. Rất yên tĩnh và bình yên. Thầy thấy thế nào?" Chúng tôi vui vẻ chấp nhận và chia sẻ không gian với một số con bò có chút tò mò nhưng vui vẻ gặm cỏ chung quanh chiếc xe và nhìn chằm chằm vào cửa sổ xe trong các buổi công phu của chúng tôi.
 


Sự đoạn trừ sẽ sâu xa hơn


Đừng giả định bất cứ điều gì, người anh em. Tu hành chăm chỉ và kiên nhẫn đến cực điểm là những gì sẽ cứu giúp bạn. Kiên nhẫn và tinh tấn là áo giáp của Bồ Tát. Sám hối, sửa đổi, hành trì theo phương pháp, lập đại nguyện, phát tâm Bồ đề!
Hằng Cụ và Quả Hữu đến cùng với một xe đầy bánh kẹo. Phút trước đang bái lạy tốt đẹp và rõ ràng. Phút sau đang ở trong chiếc xe của Hội Phật Giáo Trung Mỹ với lòng tham lam. Phút tiếp theo là nói chuyện thị phi, thực phẩm, sách, và khảo nghiệm. Ngươi sẽ bám vào cái nào trước hả Quả Chân? Chấp vào thức ăn? Bám vào sách? Bám vào tin tức? Áp phích? Những người bạn? Trà? Điều mới lạ? Những cảnh giới của chính ngươi? Sẽ là cái nào đây?
Tôi giữ lấy vùng rốn và thần chú của tôi, lần này rồi lần nữa, kiểm tra và kiểm tra lại, “Nó có vững chắc không? Giữ lấy”. Câu này luôn trôi tuột. Giữ lấy nó - đây là của ngươi và là điều duy nhất là thật.
Tôi đã tu hành chăm chỉ để hồi hướng cho những điều thiện. Đối với bạn bè, các tu sĩ đồng đạo, anh em, tôi sẽ cho họ tất cả, cho họ những gì tôi có, nhưng không thông qua miệng tôi.
Điều gì làm tôi hứng khởi nhất? Một chiếc y áo mới màu xám chắc, những Kinh mới, một bức tranh mới về Sư Phụ, và những thông tin rằng Pháp Hội Hoa Nghiêm sẽ bắt đầu tại Vạn Phật thành vào ngày 1 tháng 11. Và như bạn biết, tôi duy trì khá tốt đẹp. Tiến bộ. Có một sự thay đổi - bây giờ các vòng tròn kéo chặt hơn, thanh kiếm vung chém ngày và đêm. Ngay cả bữa thọ trai ngọ trở nên hữu ích trong những cách thức mới: rất nhiều dục niệm để đốt cháy và tái chế. Khóa công phu chiều trở nên khó khăn hơn - ít tâm niệm hơn, có lẽ, nhưng vi tế hơn. Công phu khuya và Thái cực quyền là thời gian khó khăn nhất. Tôi dựa vào Chú Đại Bi cho đến khi bắt đầu lạy.
Sự khác biệt ở đây là gì? Tiếp tục bái lạy mọi lúc. Dọn sạch tâm trí, thanh tịnh ý niệm mọi lúc. Nâng cao công phu. Trở nên giỏi về điều đó rồi xem chuyện gì xảy ra. Sự đoạn trừ sẽ sâu xa hơn và tâm sẽ phát triển yên tĩnh hơn.

Hằng Triều - 19 tháng 10 năm 1977
Tam muội không có thời gian
 
Trễ! Cả đời tôi đều trễ. Những cuộc hẹn trễ, vào lớp trễ, đi làm trễ, họp trễ, thức dậy trễ, và đi ngủ trễ. Cha mẹ tôi thường quở mắng tôi rằng “Con sẽ bị trễ cho đám tang của chính mình."
Tôi thường bào chữa giải thích rằng “Đừng quá lệ thuộc vào đồng hồ. Hãy tự do và tự nhiên. Thời gian là nhân tạo, không tự nhiên. " Nhưng đằng sau sự hợp lý hóa này là một “cái tôi” to lớn – to đến nỗi ngay cả thời gian cũng bị kỳ vọng là bị trì hoãn. "Tôi" sẽ quyết định khi nào đến và đi, khi nào bắt đầu và từ bỏ. Bằng cách nào đó tôi không bao giờ có thể nhìn thấy đây là rắc rối cho người khác và nó cản trở, hạn chế cuộc sống của người khác ra sao. Ngay cả khi tôi đã cố gắng, tôi không thể đơn giản là dừng cái trễ đó lại.
Sáng nay tôi lại trễ giờ cầu nguyện sáng. Ngay lập tức tôi đã cố gắng đổ lỗi cho đồng hồ báo thức và sau đó là thầy Hằng Thật. (Tôi tự nhủ “Thầy Hằng Thật đã không điều chỉnh giờ báo thức đúng hoặc đã vô tình tắt chuông vào ban đêm”) Tuy nhiên, khi đang bước đến chỗ bái lạy, tôi nhớ một câu kệ chúng tôi đọc trong Kinh Lục Tổ vào sáng nay. Đó là một bài kệ tán được viết bởi Tỳ Kheo Pháp Hải khi ngài đại ngộ câu "Tâm là Phật".
Tức tâm nguyên thị Phật,
Bất ngộ nhi tự khuất.
Ngã tri định huệ nhân,
Song tu ly chư vật.

Dịch nghĩa:
Tức tâm vốn là Phật,
Chẳng ngộ là tự oan,
Ta biết nhân định huệ,
Song tu lìa vạn pháp.
 

Câu kệ này truyền cảm hứng để tôi “hồi quang” và cuối cùng vượt qua lỗi lầm này.
Vì vậy, cứ mỗi phút tôi trễ trong trong ngày, thời gian đó sẽ gấp đôi, trừ vào bữa ăn trưa hôm sau. Tôi có một chồng thẻ 3x5 và vẽ lên một đồ thị với các hoạt động, thời gian bắt đầu, và những ô vuông để đánh dấu + hay – khi trễ. Ngay trước bữa ngọ, tôi sẽ tính điểm, và ăn hoặc chờ đợi hết thới gian phạt và quán sát cảm giác khi cứ chờ đợi. Tôi sẽ đề ra các mục tiêu cho đến khi hành vi của tôi thay đổi. Không cần mất quá nhiều thời gian để thay đổi khi thức ăn là yếu tố chủ yếu củng cố sự thay đổi.
Như người giỏi dược phương
Chẳng cứu được bệnh mình
Nơi pháp chẳng tu hành
Ða văn cũng như vậy.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

Chúng tôi cả hai đang tìm lại được rất nhiều năng lượng và hạnh phúc từ việc chân thật và thay đổi những thói quen xấu của chúng tôi. Tôi hổ thẹn vì đã không thay đổi sớm hơn, và vì tất cả những rắc rối mà tôi gây ra cho những người bị lôi kéo vào “tam muội không có thời gian” của tôi. Làm thế nào tôi có thể kết thúc sanh tử nếu tôi trễ cho đám tang của chính mình? Làm sao tôi có thể làm lợi ích cho người khác nếu tôi “chẳng cứu được bệnh chính mình”? Chúng tôi cắm trại trên một đường nhỏ hoang vắng của trang trại San Julian.
 

Không có cảnh giới nào là thật
 
Có 84.000 thứ. Hãy để chúng đi hết.
Đừng chấp vào cảnh giới. Tôi không bao giờ có cảnh giới trước khi chấp vào nó. Giờ đây tôi thấy ý nghĩa của Kinh Lăng Nghiêm khi nói về những kinh nghiệm do giác quan sanh ra là các cảnh giới, không có cảnh giới nào là thật ở trong hay ngoài. Lấy và chấp vào một cảnh giới là một sự lãng phí thời gian và nguy hiểm. Dù cảnh giới là thân hoặc tâm – hãy để cảnh giới đó đi.
 


Chỉ làm điều đúng đắn

Phật giáo bắt đầu bằng đạo hiếu thảo và mở rộng thành lòng từ bi không giới hạn dành cho hết thảy chúng sanh. Sư Phụ của tôi bắt đầu tu Đạo với việc làm ấm giường cha mẹ già của ngài vào ban đêm trước khi họ nghỉ ngơi và âm thầm bái lạy họ trong khi họ đang ngủ vào sáng sớm. Ngài ngồi thủ hiếu bên cạnh mộ mẹ trong 3 năm với trong chiếc lều trống hở bằng thân cây bo bo để trải qua mùa đông lạnh giá ở Mãn Châu.
Cha tôi từ bỏ những cơ hội hấp dẫn và đầy hứa hẹn trong làm ăn và du lịch để ở gần và chăm sóc người mẹ tàn tật của ông trong hơn 25 năm. Mẹ tôi cưu mang người chị gái đang hấp hối khi không ai có thể tìm được chỗ trong nhà họ cho người phụ nữ không nơi nương tựa này khi bà đang trong giai đoạn cuối của căn bệnh ung thư. Tôi còn nhớ mùi hôi thối và âm thanh đau khổ không thể tưởng tượng nổi. Tôi còn nhớ sự âm thầm nhẫn nại và nỗ lực của cha mẹ tôi khi chỉ làm “điều đúng đắn”.
Đây là giáo pháp cho tất cả chúng sanh, và là tinh túy của Phật giáo: chúng ta đều cùng thể tánh. Việc đạt được thành tựu tâm linh cao nhất bắt đầu từ những bước nhỏ chân thật. Bạn bắt đầu việc này ở nhà, với cha mẹ và gia đình. Nhận ra căn nguyên và món nợ. Hãy đi đến cốt tủy của mọi vật. Bạn có thể không bao giờ lừa dối được bản thân. Tại sao cố lừa dối người khác? Hãy từ bỏ tham, sân, si ngay lúc này ở nhà, trong từng niệm nhỏ. Rồi mọi thứ sẽ diễn tiến tốt đẹp và một “phước điền” sẽ dư dật cho tất cả mọi người.
Như lúc mặt trời mọc
Chiếu sáng khắp thế gian
Phật phước điền cũng vậy
Phá trừ những tối tăm.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

Khi con cái và cha mẹ lạc Đạo thì gia đình sẽ tan vỡ. Khi gia đình bị tan vỡ thì các quốc gia sẽ gậy chiến tranh và khắp nơi trên thế giới sẽ không biết đến hòa bình. Những người tu Đạo giữ cho thế giới nguyên vẹn. Họ làm điều đó mà không phô trương và họ làm điều đó tại nơi thật sự cần đến. Những hành vi "nhỏ" hàng-ngày của sự từ bi và bố thí, chăm sóc cho toàn bộ gia đình các chúng sanh tỏa sáng như ánh mặt trời. Khi không còn có người hành đạo hiếu thì mặt trời sẽ không tỏa sáng và thế giới này sẽ sụp đổ.
Hiểu biết nhỏ: như đức Phật dạy, “… vì vọng tưởng và bám chấp mà chúng sanh không đắc quả”. Mọi rắc rối của tôi đến từ việc tìm kiếm bên ngoài, từ việc tìm cầu. Tìm cầu là bám chấp và có nhiều hình tướng. Nhưng luôn như nhau: dù tôi có sở hữu được gì, tôi cũng không bao giờ thỏa mãn. Tôi luôn có kế hoạch phía trước, tiến lên và tìm kiếm một giao dịch tốt nhất; luôn phan duyên và bám lấy. Tôi đoán nó quá đơn giản và dễ dàng, vì thế tôi đã bỏ qua nó. Tôi rời Đạo chứ Đạo không rời tôi.
Hòa Thượng nói điều này một lần tại Chùa Kim Luân: “Đạo không bao giờ rời chúng ta dù chỉ trong tích tắc. Nếu Đạo có thể bỏ ta thì không phải là Đạo chân thật. Quý vị không thể rời đạo trong một giây phút. Nếu rời đạo một giây, đó không phải là Đạo”. Tôi vẫn đang dụng công về điều đó. “Sự hiểu biết nhỏ bé” của tôi nhỏ hơn là tôi đã nghĩ.
 


Thêm rung động tiêu cực

Hãy mềm trong gió.
Tôi lãng phí nhiều năng lượng vào việc không thích cơn gió và đấu tranh với nó. Hãy để gió thổi. Giống như những chú ruồi: Tôi đã mang đến cho chúng sự rung động xấu. Điều đó đòi hỏi phải làm việc, và kết quả là chiêu cảm những rung động tiêu cực. Tại sao lại bận tâm? Giữ năng lượng lại, trả năng lượng lại, hãy để mọi pháp – mọi hiện tượng – trở về nguồn. Đoạn diệt chúng nếu chúng kéo dài. Thả lỏng và tu tập.

 
Hằng Thật - Tháng 10 năm 1977
10 pháp thực hành để làm sạch tâm ý

Điều gì làm sạch tâm ý tốt nhất vào những ngày này?
Những pháp thực hành này:
1) Đừng nói chuyện bên trong. Hãy tụng niệm, hãy im lặng.
2) Vì người khác từ bỏ cái tôi nhỏ nhoi.
3) Quên mình vì Pháp
4) Không chạy theo. Hãy thả lỏng bên dưới thanh kiếm.
5) Hổ thẹn. Cúng dường Phật sự im lặng
6) Báo đáp tất cả.
7) Bạn không có gì để góp sức với lưỡi của bạn. Giữ lưỡi lại. Hãy dụng công.
8) Đánh dấu khoảng cách. Im lặng trong khoảng cách đó.
9) Đầu tiên và căn bản nhất là: dùng kiếm loại bỏ vọng tưởng và đưa ánh sáng về trung tâm, kéo từ bàn chân của bạn trên mặt đất. Hồi quang phản chiếu.
10) Chánh pháp là phương tiện. Hãy dùng phương tiện này
 



Bạn phải đóng chặt cửa
 
Lạy qua những hẻm núi và ngọn đồi nhỏ quanh co. Thanh bình. Tĩnh lặng.
Sự im lặng kéo dài của thầy Hằng Thật khiến cho thầy hầu như đã chết, giống như một đống tro. Bản ngã của chúng ta giống như ngọn lửa bên trong chúng ta. Nó cháy ngày đêm và cần được cho ăn. Nó ăn tham dục, danh tiếng, tiền tài, thức ăn, ngủ nghỉ. Khi không được cho ăn, nó rống lên tức giận và bùng lên cho đến khi chúng ta thật sự làm những điều ngu ngốc.
Mát mẻ, thoáng mát. Cảm thấy thật tốt khi trở nên mát mẻ và trong sạch. Không còn lửa hay bụi nữa, à, như vậy rất tốt. Hành giả tu Đạo quay ánh sáng vào trong. Họ để cho bản ngã tự cháy thành đống tro tàn mềm, mát. Từ đống tro tàn, phượng hoàng bay lên – loài chim thần thoại của giải thoát và tái sinh; chúng sanh giác ngộ với sự tự chủ độc lập và thoải mái. Thầy Hằng Thật có thể trông hơi đần độn, giống như đống tro tàn. Nhưng, giống như phượng hoàng, có một ánh sáng mới và một sự an lạc phát sáng phóng ra từ đống tro tàn. Người tu hành có thể trông giống như "con chim đã chết”, nhưng đó là vì tôi quen với việc nhìn thấy mọi người trên đống lửa. Sự chớp lóe và bừng lên của niềm đam mê và việc nhìn thấy được chuyển thành lòng từ bi và trí tuệ thâm sâu. Những người tu Đạo không ở trước ánh đèn sân khấu. Họ đã rời xa rạp hát, rời xa đồ hóa trang và trang phục sân khấu. Ánh sáng là ở bên trong. Ánh sáng đó đang làm kinh ngạc. Tất cả chúng ta đều có ánh sáng đó. Với ánh sáng đó, chúng ta có thể thắp sáng tâm thức, nhìn thấy bộ mặt nguyên thủy, tự nhiên của mình.
Khi bạn xuất gia, bạn phải đóng chặt cánh cửa phía sau mình.
Quay mình đi, không nhìn lại để tìm cái tôi và cái tên,
Ví như một làn gió, nó sẽ khuấy động một ngọn lửa đang chết dần;
Không để lại một dấu vết nào của lửa trong than,
Và đóng chặt cửa khi bạn ra đi.
Hãy rời bỏ nỗi sợ hãi của bạn, chúng là niềm tự hào của ai đó;
Nhất tâm bái lạy, cho đến khi nào không còn chút gì bên trong,
Tâm niệm về tôi, trôi dạt như tuyết rơi,
Và đóng chặt cửa khi bạn ra đi.
 


Phải giữ thanh kiếm của mình hoạt động

Cảnh báo cơn bão.
Tôi đánh hơi thấy một khảo nghiệm lớn ở phía trước – thời tiết khắc nghiệt và những cơn gió lốc đầu tiên thổi qua ngày hôm nay. Điều rất quan trọng đối với đà công việc của tôi là tiếp tục không bị gián đoạn bởi các tập khí bất thiện trong quá khư hay bất kỳ cảnh giới hoặc sự việc gì xảy ra.
Những chuyến viếng thăm của các Phật tử tại gia là bước làm lệch đường lớn đối với tôi trên suốt chặng đường. Tôi luôn mất thời gian để phục hồi từ 1) năng lượng bị mất sau khi mất sức từ đôi mắt, lời nói và vọng tưởng không được kiểm soát; 2) ăn thức ăn không phù hợp quá nhiều; 3) mắc sai lầm về nhân quả. “Chỉ một chút lòng tham lần nào cũng khiến tôi bị thua. Sân và si cũng vậy.
Để giữ cho con tàu đứng vững qua những cơn giông bão quan trọng sắp tới, tôi phải tiếp tục làm việc lúc thọ trai hôm nay. Cho dù là ai đến, tôi cũng phải giữ thanh kiếm của mình hoạt động, rời khỏi sân khấu, xem tất cả những người phụ nữ như mẹ tôi, hay em gái tôi, bám giữ vào số không, tránh sữa và đường. Không nói chuyện, viết, nghe hoặc nhìn. Hãy tu hành. Tiếp tục bái lạy. Tự trông chừng mình cẩn thận.


Từ bỏ những phản ứng đã huân tập
 
Hãy làm chủ tham dục của bạn: Nó đến từ chính bạn.
Hôm nay gió thổi, nhưng là cơn gió nhẹ ngọt ngào và là cơn gió của sự khám phá: Ham muốn tình dục từ chính tôi mà ra. Tất cả là sự phóng chiếu của tôi, và hôm nay tôi nhìn thấy nó. Ham muốn tình dục không đến từ trái tim - nó xuất phát từ những thói quen cũ. Ham muốn tình dục là ý nghĩ của tự thân. Nó không đến từ các pháp khác, nó xuất phát từ tôi. Các pháp và những người khác không đáng trách. “Các pháp không dơ không sạch”.
Ở một lúc nào đó, trong cuộc đời, tôi đã học cười thầm về những pháp nào đó và gọi chúng là “tình dục”, và xem chúng là dơ bẩn và đặc biệt. Tôi củng cố thói quen đó hàng ngày, hàng giờ, cho nó giá trị kích thích nào đó liên hệ với cơ thể của riêng tôi và thói quen đó đã trở nên rất quan trọng trong chín năm của cuộc đời tôi. Hiện tại, tôi đang từ bỏ những phản ứng đã huân tập và đang làm mất giá trị các tín hiệu, nhân và duyên của tình dục và hành vi tình dục. Từng chút một, thói quen đó tan rã ra, và từ từ tôi trở về với sự bình đẳng của các pháp - không có những pháp dơ bẩn đặc biệt, không có những pháp đặc biệt hứng khởi hay vui vẻ.
Tôi cảm giác thanh sạch hơn khi không phải né tránh những phần nào đó của thế gian. Cảm giác được giải thoát khi không phải phản ứng theo những cách cố định với những phần khác của thế gian. Tất cả đều xuất phát từ thói quen tinh thần của tôi, và tôi đang chặt bỏ từng ngày để không còn sự bám chấp nữa. Hôm nay quả là một cú nhảy lớn.
 


Nơi nào thì bùn kết thúc và hoa sen bắt đầu?

Thầy Hằng Thật và tôi đã thọ trai xong thì gia tộc Phật pháp ở L.A. đến. Họ đã đi một quãng đường dài để đến cúng dường và họ rất hoan hỷ, hào hứng khi chúng tôi ngồi xuống ăn một lần nữa.
Chúng tôi ăn quá nhiều, nhưng không sao cả. Hòa Thượng có lần ăn mười ba tô thức ăn thiu trong một buổi giảng dạy mọi người không vướng mắc vào hương vị và thức ăn ngon. Cho đến thời điểm đó, không ai chịu ăn đồ ăn đó. Tất cả họ chỉ ngồi trên ghế nhìn chằm chằm vào thức ăn và chê. Hòa Thượng đi vào và di chuyển từ chỗ này sang chỗ kia, thưởng thức đồ ăn mà họ không muốn chạm vào. Ngay sau đó, cảm giác hổ thẹn lan tỏa và tất cả mọi người bắt đầu ăn. Đó là bố thí.
Với cái gương đó, bữa ăn thứ hai của chúng tôi không là gì cả. Nó lại càng khiến tôi thêm cảm kích lòng từ bi và trí tuệ của Sư Phụ tôi.
Lúc bấy giờ Bồ-Tát vì muốn làm cho tâm chúng-sanh trong ngoài đều được thỏa mãn, Bồ Tát buông xả tất cả, không còn chấp trước, và lúc đó Bồ Tát có năng lực thanh tịnh bố thí ba-la-mật. (1)
Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Minh Pháp

Ta là ai? Ai là ta?
Bồ Tát là một người tự giác và giác tha. Tại sao không chỉ lo cho bản thân mình, và để người ta tự lo lấy họ? Trong sự tỉnh giác của mình, Bồ Tát thấy thể tánh không hai (bất nhị) của mọi thứ. Ngài hoàn toàn hiểu “chân lý của sự vô ngã”, và biết rằng chúng sanh sẽ chịu khổ đau cho đến chừng nào giác ngộ. Tất cả chúng ta đều tìm cầu giác ngộ, chúng ta đều khổ đau.
Trong cái khổ có cái hiểu biết, và trong cái hiểu biết, chúng ta đau khổ. Chứng kiến mẹ cha mình đau khổ, bạn cảm thấy như chính nỗi đau của mình. Chứng kiến con cái đau khổ, bản cảm thấy như chính mình đau. Và khi gia đình bạn đoàn tụ và vui vẻ, trái tim ai không được viên mãn? Tâm ai lại không bình yên?
Khi chúng ta giác ngộ sự nhất nguyên của tất cả, tâm chúng ta mở rộng và không phân biệt với tâm của chúng sanh khắp nơi. Trái tim duy nhất này, trái tim của Đại Bi, là mong muốn chấp dứt mọi khổ đau, cho mọi loài, khắp mọi nơi. Tôi đang ở đây, không có nơi nào mà tôi không ở. Kết quả thật bao la rộng lớn, nhưng sự bắt đầu thì nhỏ nhoi.
Hoa sen mọc lên từ bùn lầy. Bùn sinh ra hoa sen. Nơi nào bùn kết thúc và hoa sen bắt đầu? Nó bắt đầu từ một niệm. Đầu tiên, thay đổi tâm trí, sau đó, thay đổi thế giới. Chuyển hóa tham, sân, si thành giới, định, tuệ. Trong một niệm, tâm đi từ bùn đến sen, từ sen đến bùn.
Nếu tôi không thể làm một việc nhỏ đúng, thì làm sao việc lớn có thể hoàn thành được? Nếu tôi không thanh tịnh tâm mình, thế giới sẽ không bao giờ chỉnh đốn được. Khi tâm thanh tịnh, thế giới thanh tịnh. Khi tâm loạn và uế trược, thế giới ô nhiễm và xáo trộn.
Ví như tâm-vương bửu
Tùy tâm thấy màu sắc
Vì tâm chúng-sanh tịnh
Được thấy cõi thanh-tịnh.
Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Hoa Tạng Thế Giới

Tạp-nhiễm và thanh-tịnh
Vô-lượng thế-giới-chủng
Tùy tâm chúng-sanh khởi
Bồ-Tát-lực gia-trì .
Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Hoa Tạng Thế Giới
 

Ghi chú:

 Bồ Tát vi lệnh chúng sanh tâm mãn túc cố,nội ngoại tất xả nhi vô sở trứ, thị tắc năng tịnh đàn ba la mật.


Mọi thứ nên như vậy
Điều mà tôi muốn thực hiện.

Tôi rất thích nói về Phật pháp. Đây là việc tôi muốn làm mãi mãi. Tại sao? Vì nó là điều thiện. Chúng sanh gần gủi Phật pháp thì đều thiện lành. Tu hành đem lại kết quả chân chánh. Đó là điều đúng. Mọi thứ nên như vậy. Không thể nói về điều này đơn giản hơn hay mạnh mẽ hơn nữa. Đó là Chánh Pháp. Đây chính là nơi tôi đặt cuộc đời của mình vào “trải qua hằng hà sa số kiếp không ngừng nghỉ”.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.21/2/2018.

No comments:

Post a Comment