IV.13-15 Kinh Đại Bảo Tích tập IV..
Đức Thế Tôn bảo A Nan rằng: “Phật có pháp yếu sơ trung hậu đều lành, nghĩa ấy vi diệu thuần nhứt không tạp đầy đủ tướng phạm hạnh thanh bạch. Đó là nhập mẫu thai tạng Tu đa la pháp vậy. Các ông phải nghe kỹ khéo suy nghĩ, nay Phật vì các ông phân biệt giải nói.”
Kinh Đại Bảo Tích Tập IV
Chương XIII: PHÁP HỘI PHẬT THUYẾT NHƠN XỬ THAI - THỨ MƯỜI BA
Như vậy tôi nghe, một lúc đức Phật ở nước Xá Vệ, vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, Tôn giả A Nan sáng sớm từ thiền định dậy cùng năm trăm Tỳ kheo đồng đến chỗ đức Phật chắp tay cung kính lễ chân Phật rồi ở một bên.
Đức Thế Tôn bảo A Nan rằng: “Phật có pháp yếu sơ trung hậu đều lành, nghĩa ấy vi diệu thuần nhứt không tạp đầy đủ tướng phạm hạnh thanh bạch. Đó là nhập mẫu thai tạng Tu đa la pháp vậy. Các ông phải nghe kỹ khéo suy nghĩ, nay Phật vì các ông phân biệt giải nói.”
Tôn giả A Nan bạch Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi xin thích muốn được nghe.”
Đức Thế Tôn bảo Ngài A Nan: “Nếu có chúng sanh lúc muốn nhập thai, nhơn duyên đầy đủ thì được thọ thân, nếu chẳng đủ duyên thì chẳng thọ thân.
Thế nào gọi là chẳng đủ duyên? Đó là cha mẹ phát khởi tâm nhiễm ái, trung ấm hiện tiền cầu chỗ thọ sanh, nhưng cha mẹ này trắng đỏ hòa hiệp hoặc trước hoặc sau mà chẳng chung thời gian, trong thân còn có các bịnh hoạn. Nếu như vậy thì chẳng nhập thai.
Thai tạng của người mẹ, hoặc có bịnh phong hoàn khí huyết bế tắc, hoặc mỡ bế tắc, hoặc thịt tăng kết, hoặc bịnh chất mặn, bịnh bụng lúa mạch, bịnh lưng eo kiến, hoặc như miệng lạc đà, như gỗ cong càng xe, như trục bánh xe, như miệng cốt bánh xe, như lá cây, hoặc cong vòng như măng tre cong, hoặc phía trong thai tạng như tua hột lúa mạch, hoặc tinh huyết rỉ chảy nhiều chẳng dứt, hoặc bịnh đái hạ chảy nước, hoặc đường thai tạng quá rít, hoặc trên nhọn dưới nhọn, hoặc cong, hoặc cạn, hoặc lủng lọt, hoặc cao, hoặc thấp, hoặc ngắn nhỏ, và các tạp bịnh. Nếu như vậy thì chẳng nhập thai.
Hoặc cha mẹ tôn quí có phước đức lớn mà trung ấm ti tiện. Hoặc trung ấm tôn quí có phước đức lớn mà cha mẹ ti tiện. Hoặc đều có phước đức mà không nghiệp tương cảm. Nếu như vậy cũng chẳng nhập thai.
Trung ấm ấy lúc muốn thọ thai trước phát khởi hai quan niệm điên đảo. Lúc cha mẹ hòa hiệp, nếu trung ấm nam thì đối với mẹ sanh lòng yêu, với cha sanh lòng giận, lúc cha chảy tinh thì cho là của mình. Nếu trung ấm nữ thì đối với mẹ sanh lòng giận, với cha sanh lòng yêu, lúc mẹ chảy nhớt thì cho là của mình. Nếu trung ấm không khởi lòng yêu giận ấy thì không thọ thai.
Này A Nan! Thế nào được thọ thai? Đó là cha mẹ khởi lòng ái nhiễm, nguyệt kỳ điều thuận, trung ấm hiện tiền, không có những bịnh những lỗi như trên, nghiệp duyên đầy đủ, như vậy thì thọ thai.
Trung ấm ấy lúc muốn nhập thai còn có hai thứ: một là không phước đức, hai là có phước đức lớn.
Trung ấm không phước đức, tâm giác quán khởi lên thấy cảnh giới liền nghĩ rằng: Nay tôi gặp gió lạnh mưa tối, người đông ồn ào, nhiều oai dữ đến bức hại, do đó nên sợ hãi mà nghĩ rằng: nay tôi phải chạy vào nhà cỏ, nhà lá, hoặc ẩn trốn chân tường, hoặc chạy vào núi, chằm, rừng rậm, hang động, lại còn phát sanh nhiều thứ thấy khác nữa. Tùy theo chỗ nghĩ thấy bèn nhập vào thai mẹ.
Trung ấm đại phước đức, tâm giác quán khởi lên cũng thấy cảnh giới liền nghĩ rằng: Nay tôi gặp gió lạnh mưa tối, người đông ồn ào nhiều oai dữ đến bức hại, do đó nên cũng kinh sợ liền chạy lên lầu cao, lên gác cao, vào điện đường, lên ghế lên giường, và cũng phát sanh nhiều thứ thấy khác nữa, tùy theo chỗ nghĩ thấy bèn nhập thai mẹ.
Này A Nan! Trung ấm ấy lúc tối sơ vào thai mẹ có tên là ca la lã, đây là nương chất bất tịnh của cha mẹ và nghiệp quá khứ của nó mà được thọ thân. Nghiệp ấy và trong các duyên cha mẹ đều riêng chẳng tự sanh, do sức hòa hiệp mà thọ thân. Ví như lấy thùng đựng chất lạc và dùng dây v.v... mà sản xuất chất tô. Trong riêng các món đều không chất tô, do sức hòa hiệp mới sanh được chất tô.
Thân ca la lã cũng như vậy, sức nhơn duyên hòa hiệp thì được thọ thai.
Lại này A Nan! Ví như nương nơi cỏ xanh, phân bò, táo và lạc mà đều riêng sanh côn trùng. Trong mỗi thứ không có trùng, do sức nhơn duyên thì trùng sanh. Lúc trùng ấy sanh đều riêng theo chỗ nó nương mà có màu chỗ đó, hoặc xanh hoặc vàng đỏ trắng.
Vì thế nên biết phụ mẫu bất tịnh mà sanh thân ấy, tìm trong các duyên đều chẳng có thân, cũng chẳng rời ngoài sức các duyên hòa hiệp mà thọ thai. Lúc thân ấy sanh cùng tứ đại chủng tánh của cha mẹ cũng chẳng sai khác. Đó là địa đại làm chất cứng, thủy đại làm chất ướt, hỏa đại làm chất nóng, phong đại làm chất động. Thân ca la lã nếu chỉ có địa đại mà không thủy đại thì như người bốc bột hay tro khô trọn chẳng hòa hiệp được. Nếu chỉ có thủy đại mà không địa đại thì như dầu hay nước tánh nó lỏng ướt bèn chảy tan. Nếu chỉ có địa giới thủy giới mà không hỏa giới thì như mùa hạ khối thịt tươi để chỗ râm không nắng chiếu nó sẽ thúi rã. Nếu chỉ có địa thủy và hỏa mà không có phong giới thì chẳng tăng trưởng như có người thợ và đệ tử giỏi nghề thổi đường làm thành nhiều món trong ruột trống bọng, nếu không sức gió thổi thì chẳng nên được. Bốn đại tánh ấy y trì lẫn nhau mà được kiến lập.
Vì thế nên biết thân ca la lã cũng vậy, nhơn nơi cha mẹ tứ đại và gió nghiệp mà được sanh. Trong mỗi duyên đều không có, do sức hòa hiệp mà được thọ thân.
Lại này A Nan! Ví như hột giống mới sạch khéo cất chứa chẳng cho trùng ăn, không hư mục cháy khô lủng lỗ. Có người chọn ruộng tốt chỗ nhuần ẩm mà gieo hột giống ấy rồi muốn trong một ngày mầm cây nhánh lá rậm rợp bông trái sum suê thảy đều đầy đủ có được chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Không được!
- Này A Nan! Cũng vậy, thân ca la lã đều từ nhơn duyên thứ đệ sanh trưởng mà chẳng được đồng thời tất cả các căn đều đầy đủ. Thế nên phải biết dầu từ cha mẹ mà có thân ấy, nhưng tìm trong các duyên đều không có, do sức hòa hiệp mà có thọ sanh.
Lại này A Nan! Ví như người mắt sáng cầm châu nhựt quang đặt trong ánh nắng giữa ngày, đem phân bò khô treo trên ấy cách châu vừa chừng bèn phát sanh lửa.
Cũng vậy, thân từ cha mẹ sanh ra, thân ca la lã có năm ấm: sắc, thọ, tưởng, hành và thức, gọi nó tên là danh sắc. Trong sát na thọ thân đã phải trải qua các sự khổ, Phật chẳng khen tặng, huống lại thời gian dài luân hồi các cõi.
Ví như chút phẩn còn là dơ hôi huống là nhiều.
Thân ngũ ấm ca la lã ấy, ai sẽ ưa thích nó.
Lại này A Nan! Thân ấy ở trong thai mẹ trải qua ba mươi tám thất nhựt rồi mới sanh ra.
Thất nhựt thứ nhứt, lúc ở thai mẹ tên ca la lã, thân tướng tối sơ hiện ra như giọt sanh lạc, trong bảy ngày hơi nóng nấu nung tứ đại lần thành.
Thất nhựt thứ hai, lúc ở thai mẹ gió nghiệp được cảm gọi là biến mãn, gió ấy rất nhỏ nhẹ thổi hông tả và hông hữu của mẹ khiến ca la lã thân tướng lần hiện, dạng như lạc đặc, hoặc như tô đọng, hơi nóng nấu nung bèn chuyển làm thân an phù đà tứ đại lần thành.
Thất nhựt thứ ba, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên tàng khẩu, do sức gió này khiến lần ngưng kết, an phù đà ấy chuyển làm bế thủ dạng như chày đâm thuốc mà ngắn nhỏ. Ở trong thai hơi nóng nấu nung tứ đại ấy lần tăng trưởng.
Thất nhựt thứ tư, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên nhiếp thủ, do sức gió ấy khiến bế thủ chuyển làm già na dạng như đá ấm, hơi nóng nấu nung tứ đại lần tăng.
Thất nhựt thứ năm, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên nhiếp trì, do sức gió ấy hay khiến già na chuyển làm bát la xa khư các mụt vỡ ra xuất hiện hai vai hai vế và thân đầu, như tháng mùa xuân trời mưa đúng mùa cây cối cành lộc phát sanh, sức gió nhơn duyên các bóng mụt xuất hiện cũng vậy.
Thất nhựt thứ sáu, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là phạn, do sức gió ấy mà bốn tướng xuất hiện, đó là hai gối hai cánh.
Thất nhựt thứ bảy, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên triền chuyển, do sức gió ấy có bốn tướng xuất hiện, đó là hai bàn chân hai bàn tay, bốn tướng này mềm dịu như khối bọt.
Thất nhựt thứ tám, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên phiên chuyển, do sức gió ấy có hai mươi tướng xuất hiện, đó là tướng hai mươi ngón chân tay, như mưa xuống nhánh chồi lần được tăng trưởng, do sức gió nghiệp các căn hiện ra cũng vậy.
Thất nhựt thứ chín, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên phân tán, do sức gió ấy hiện ra chín tướng, đó là hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi, miệng và chỗ đại tiện tiểu tiện tên là cửu tướng.
Thất nhựt thứ mười, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là kiên ngạnh, do sức gió ấy nên liền cứng chắc. Lại có nghiệp phong tên là phổ môn thổi thân trong thai khiến đều nổi phồng như trái nổi.
Thất nhựt thứ mười một, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là kim cương, do sức gió ấy ở tại trong thai hoặc lên hoặc xuống khiến các lỗ trên thân đều được thông suốt, cũng do sức gió khiến người mang thai hoặc buồn hoặc vui đi đứng ngồi nằm tánh nết đổi khác vận động tay chân khiến các lỗ thân thai lần tăng trưởng, ở trong lỗ miệng chảy ra máu đen, trong lỗ mũi chảy ra nước dơ, gió ấy hồi chuyển rồi dứt.
Thất nhựt thứ mười hai, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là khúc khẩu, do sức gió ấy trong thân thai giữa hai hông sanh đại trường tiểu trường như tơ sen hoặc như nhợ se để trên đất, cuộn mười tám vòng ở trong thân. Lại có nghiệp phong tên là xuyên phát, do sức gió ấy mà ba trăm hai mươi chi tiết và trăm lẻ một huyệt sanh trong thân thai.
Thất nhựt thứ mười ba, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là cơ khát, do sức gió ấy thân thai trống gầy sanh ý tưởng đói khát, bà mẹ ăn uống có chất bổ dưỡng liền thấm nuôi thân thai từ lỗ rốn và các huyệt.”
Đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Đứa con ở thai mẹ
Trải qua mười ba thất
Thân nó biết trống gầy
Nên nghĩ tưởng đói khát
Bà mẹ có ăn uống
Thấm nuôi lấy thân thai
Do đó thân mạng còn
Lần lần được lớn thêm.
Thất nhựt thứ mười bốn, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là tuyến khẩu, do sức gió ấy sanh chín trăm gân giao kết trước sau và hai bên thân.
Thất nhựt thứ mười lăm, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là liên hoa, do sức gió ấy sanh hai mươi mạch chất bổ uống ăn chảy vào các mạch ấy nhuần ích nơi thân. Những gì là hai mươi? Đó là phía trước phía sau bên tả và bên hữu của thân đều riêng có năm mạch. Mỗi mạch ấy đều riêng có bốn mươi mạch nhỏ chi phái. Mỗi mạch nhỏ ấy lại đều riêng có một trăm chi phái nhỏ. Phía trước thân, hai vạn chi mạch nhỏ tên là thương khư. Phía sau thân, hai vạn chi mạch nhỏ tên là lực. Bên tả thân, hai vạn chi mạch nhỏ tên là an định. Bên hữu thân, hai vạn chi mạch nhỏ tên là cụ thế. Tám vạn chi mạch lớn nhỏ như vậy sanh nơi thân ấy, và nó còn có nhiều màu sắc, đó là xanh vàng đỏ trắng màu tô màu lạc màu dầu. Tám vạn mạch ấy, mỗi mạch mỗi rễ, trên mỗi rễ sanh một lỗ hoặc hai lỗ đến bảy lỗ, mỗi lỗ đều liền nhau với lỗ lông, như rễ sen có các lỗ.
Thất nhựt thứ mười sáu, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là cam lộ, do sức gió ấy làm cho mắt tai mũi miệng ngực ức bốn bên tâm tạng chỗ chín lỗ đều khai phát hơi thở ra vào trên dưới thông suốt không chướng ngại. Nếu có uống ăn tư nhuận thân ấy, có chỗ ngừng chứa lại hay tiêu hóa theo phía dưới chảy ra. Như thợ gốm và đệ tử giỏi nhồi bùn bố trí vòng dây dưới trên xoay chuyển tạo thành đồ vật. Đây cũng vậy, do sức gió và nghiệp thiện ác khiến mắt tai v.v... lần lần đầy đủ.
Thất nhựt thứ mười bảy, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là mao ngưu diện, do sức gió ấy khiến hai mắt được sáng sạch, các căn tai mũi thành tựu. Ví như có mặt gương bị bụi đóng, hoặc dùng bột gạch và dầu tro chùi lau cho sạch. Sức gió nghiệp thổi các căn mắt tai v.v... khiến được sáng sạch cũng như vậy.
Thất nhựt thứ mười tám, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là đại kiên cường, do sức gió ấy làm cho các căn lần hoàn thành mà còn sáng sạch. Ví như nhựt nguyệt bị mây mù che khuất gió mạnh bỗng nổi lên thổi tan mà nhựt nguyệt ấy bỗng rất sáng chói. Gió nghiệp thổi các căn làm sáng sạch thêm cũng vậy.
Thất nhựt thứ mười chín, lúc ở thai mẹ do sức gió nghiệp trước mà bốn căn nhãn nhĩ tỷ thiệt thành tựu. Lúc tối sơ nhập thai đã có ba căn là thân căn mạng căn và ý căn. Như vậy đến đây các căn đều đã đủ.
Thất nhựt thứ hai mươi, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là kiên cố, do sức gió ấy khiến trong thân sanh các thứ xương, trong mỗi chân sanh hai mươi xương, gót có bốn, mắt cá có hai, gối có hai, vế có hai, eo lưng có ba, xương sống có mười tám, sườn có hai mươi bốn, ngực có mười ba, mỗi tay có hai mươi, cánh có bốn, vai có hai, hàm có hai, sọ có bốn và gốc răng có ba mươi hai. Ví như thợ điêu khắc và đệ tử trước dùng gỗ cứng sau dùng dây mực tạo thành hình tượng, đầu chưa đắp bùn mà bấy giờ gọi là cốt tượng. Do sức gió nghiệp lúc sanh các xương cũng vậy. Trong bảy ngày này, trừ các xương nhỏ còn các xương lớn được sanh số có hai trăm cái.
Thất nhựt thứ hai mươi mốt, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là sanh khởi, do sức gió ấy mà sanh thịt trên thân. Ví như thợ hồ và đệ tử đem hồ tô tường vách, do sức gió nghiệp hay sanh thịt trên thân cũng vậy.
Thất nhựt thứ hai mươi hai, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là phù lưu, do sức gió ấy mà sanh máu huyết.
Thất nhựt thứ hai mươi ba, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là tịnh trì, do sức gió ấy mà sanh da nơi thân.
Thất nhựt thứ hai mươi bốn, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là trì vân, do sức gió ấy làm cho da thứa được điều hòa bằng phẳng sắc sáng nhuần bóng.
Thất nhựt thứ hai mươi lăm, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là trì thành, do sức gió ấy mà máu thịt tăng trưởng.
Thất nhựt thứ hai mươi sáu, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là sanh thành, do sức gió này mà sanh lông tóc móng, mỗi thứ đều liền với các mạch.
Thất nhựt thứ hai mươi bảy, lúc ở thai mẹ lại có nghiệp phong tên là khúc thược, do sức gió ấy làm cho thân tướng lần thành. Hoặc đời trước tạo nghiệp ác bỏn sẻn chẳng bố thí, hoặc chẳng chịu nghe lời dạy bảo của cha mẹ sư trưởng, do nghiệp ác ấy nên thân tướng xấu, nếu thân cao lớn mập trắng mềm mại mà cho là đẹp thì lại thọ lấy thân lùn ốm đen cứng, hoặc thọ lấy thân phần chẳng đầy đủ, hoặc thọ lấy thân đui điếc câm ngọng các căn chẳng đủ, giọng nói người chẳng muốn nghe, thân thể xấu xí như ngạ quỉ, do nghiệp ác mà thọ lấy thân chẳng vừa ý như vậy, cha mẹ quyến thuộc thấy còn chẳng vui huống là người khác. Nếu đời trước tạo mười nghiệp lành ưa bố thí, không có lòng gian tham bỏn sẻn dua dối phỉnh gạt, biết nghe lời cha mẹ sư trưởng dạy bảo, do đó nên thọ được thân không có các tướng xấu xí tàn tật, mà đoan trang xinh đẹp đủ các tướng tốt, giọng nói người thích nghe, ai thấy cũng mến ưa, do nghiệp thiện mà thọ được thân thắng diệu như vậy.
Thân ở thai mẹ ấy, nếu là nam thì ngồi bẹp trong bụng mẹ phía nách hữu hai tay bụm mặt hướng về xương sống mẹ mà ở yên đó. Nếu là nữ thì ngồi bẹp trong bụng mẹ phía nách tả hai tay bụm mặt quay lưng về phía sống lưng mẹ ở yên đó. Thân thai ấy ở dưới sanh tạng trên thục tạng, hơi nóng nấu nung, năm chỗ trói cột như ở trong túi da. Người mẹ ăn nhiều hay ăn ít, ăn ngon ăn dở, ăn khô ăn ướt, ăn đắng cay mặn chua nóng lạnh, hoặc dâm dục, đi gấp nhảy nhót, nằm lâu ngồi lâu, thân thai đều cảm thọ khổ não. Lúc ở thai mẹ chịu nhiều sự khổ bức bách, loài người còn vậy huống là loài địa ngục khó có gì để ví dụ được. Ai là người có trí mà còn ưa thích thân trong biển sanh tử.
Thất nhựt thứ hai mươi tám, lúc ở thai mẹ phát sanh tám ý tưởng điên đảo: một là tưởng ngồi xe cỡi ngựa, hai là tưởng lầu gác, ba là tưởng giường chõng, bốn là tưởng suối chảy, năm là tưởng ao hồ, sáu là tưởng sông rạch, bảy là tưởng vườn tược, tám là tưởng vườn rộng lớn.
Thất nhựt thứ hai mươi chín, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là hoa điều, do sức gió ấy khiến thân thai sắc sáng nhuần bóng các tướng rõ ràng, đều do quá khứ đã tạo các nghiệp sai biệt chẳng đồng, tùy hình loại riêng mà có các thứ màu sắc, hoặc màu trắng, màu đen, hoặc màu chẳng trắng chẳng đen, hoặc màu xanh, màu khô khốc, màu nhuần bóng.
Thất nhựt thứ ba mươi, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là thiết khẩu, do sức gió ấy mà tóc lông móng đều tăng trưởng, cũng hiện các ánh sáng trắng đen, theo nghiệp duyên phát khởi mà sanh tướng ấy.
Thất nhựt thứ ba mươi mốt đến thất nhựt thứ ba mươi lăm, lúc ở thai mẹ thân tướng trưởng đại lần đầy đủ tướng người.
Thất nhựt thứ ba mươi sáu, lúc ở thai mẹ sanh tâm yểm ly chẳng vui thích.
Thất nhựt thứ ba mươi bảy, lúc ở thai mẹ phát khởi năm ý tưởng điên đảo: Một là tưởng bất tịnh, hai là tưởng hôi dơ, ba là tưởng ngục tù, bốn là tưởng tối tăm, năm là tưởng nhàm gớm. Đứa con ở thai sanh các tâm nhàm lìa ấy.
Thất nhựt thứ ba mươi tám, lúc ở thai mẹ lại cảm nghiệp phong tên là câu duyên, do sức gió này liền xoay chuyển. Lại có một thứ gió tên là xu hạ hay làm cho đầu hướng xuống, hai tay duỗi dài làm muốn sanh ra. Nếu đứa con ấy đời trước từng chứa họp các nghiệp đọa lạc làm cho thân ấy tay chân tung hoành chẳng chuyển trở được, do nghiệp ác nên chết trong bụng mẹ. Lúc ấy người mẹ chịu nhiều đau khổ hoặc phải chết. Nếu đứa con ấy đời trước tu nghiệp thiện tạo nhơn trường thọ, lúc sắp sanh ra mẹ con an ổn không có các nạn khổ như trên.
Quá thất nhựt thứ ba mươi tám rồi, lúc sắp sanh ra chịu các sự đau khổ mới sanh được. Do đó nên biết rằng thọ lấy thân ấy thiệt là khổ lớn.
Lúc tối sơ sanh ra, hoặc nam hay nữ vừa sanh rơi xuống, hoặc lấy tay bưng, hoặc khăn áo hứng, hoặc tại giường chiếu, hoặc trong nhà, hoặc tại đất, hoặc chỗ xa xôi, hoặc tại giữa ngày, hoặc mùa đông mùa hạ gió lạnh hơi nóng chạm xúc, thân sơ sanh chịu đau đớn lớn, như bò sống bị lột da chạm phải tường vách, hoặc ở tại đất trống bị trùng kiến cắn, cũng như có người bị muỗi mòng cắn chích mà thêm bị đánh đập, lúc sơ sanh dùng nước ấm nóng tắm chạm đến thân đau đớn cũng vậy.
Con đã được sanh lần tăng trưởng, mẹ dùng sữa tạp huyết nơi thân để nuôi con mà Phật đã nói rộng ở các kinh khác.
Vì thế nên biết rằng thân ấy đều thành tựu bởi những bất tịnh và đau khổ. Ai là người có trí mà lại mến thích thân sanh tử như vậy.
Lại này A Nan! Lúc sơ sanh trong bảy ngày có tám vạn hộ trùng theo thân mà sanh, nó tung hoành ăn nuốt.
Có hai hộ trùng tên sĩ phát nương tóc ăn tóc. Có hai hộ trùng nương mắt ăn mắt. Có bốn hộ trùng tên án thừa, tên hữu ngạc, tên phát bịnh và tên viên mãn nương đầu ăn đầu. Có một hộ trùng tên hắc đạo diệp nương tai ăn tai. Có một hộ trùng tên tàng khẩu nương mũi ăn mũi. Có hai hộ trùng tên diêu trịch và biến trịch nương môi ăn môi. Có một hộ trùng tên châm khẩu nương lưỡi ăn lưỡi. Có một hộ trùng tên lợi khẩu nương cuống lưỡi ăn cuống lưỡi. Có một hộ trùng tên thủ viên nương nướu ăn nướu. Có hai hộ trùng tên thủ võng và bán khuất nương bàn tay ăn bàn tay. Có hai hộ trùng tên viễn tý và cận tý nương cánh tay ăn cánh tay. Có hai hộ trùng tên thiết và cận thiết nương yết hầu ăn yết hầu. Có hai hộ trùng tên kim cương và đại kim cương nương tim ăn tim. Có hai hộ trùng tên luy và luy khẩu nương thịt ăn thịt. Có hai hộ trùng tên cụ sắc và cụ xưng nương huyết nút huyết. Có hai hộ trùng tên dũng kiện và hương khẩu nương gân ăn gân. Có hai hộ trùng tên bất cao và hạ khẩu nương xương sống ăn xương sống. Có một hộ trùng tên chỉ sắc nương mỡ ăn mỡ. Có một hộ trùng tên hoàng sắc nương mật ăn mật. Có một hộ trùng tên chân châu nương phổi ăn phổi. Có một hộ trùng tên địch nương lá lách ăn lá lách. Có trăm hộ trùng tên là nguyệt, có trăm hộ trùng tên nguyệt khẩu, có trăm hộ trùng tên huy diệu, có trăm hộ trùng tên huy diện và trăm hộ trùng tên quảng đại, năm trăm hộ trùng này nương bên tả ăn bên tả. Có năm trăm hộ trùng có năm tên như trên nương bên hữu ăn bên hữu. Có bốn hộ trùng tên thiểu xuyên, đại xuyên, cốt xuyên và cốt diện nương xương ăn xương. Có bốn hộ trùng tên đại bạch, tiểu bạch, hấp lực và hổ đạo nương mạch ăn mạch. Có bốn hộ trùng tên ý lạc, sư tử lực, thố phúc và đam dục nương sanh tạng mà ăn sanh tạng. Có hai hộ trùng tên dũng mãnh và dũng mãnh chủ nương thục tạng ăn thục tạng. Có bốn hộ trùng tên diêm khẩu, võng khẩu, uẩn khẩu và điểu khẩu nương đường tiểu ăn đường tiểu. Có bốn hộ trùng tên ưng tác, đại tác, toái mạt và ức sô nương đường đại ăn đường đại. Có hai hộ trùng tên hắc diện và khả úy diện nương vế ăn vế. Có hai hộ trùng tên tật lại và tiểu lại nương gối ăn gối. Có một hộ trùng tên ngu căn nương mắt cá chân ăn mắt cá chân. Có một hộ trùng tên hắc đầu nương chân ăn chân.
Này A Nan! Lược nói tám vạn hộ trùng nương thân này, ngày đêm ăn nút và có thể làm cho khí lực hư kém dung nhan tiều tụy, các thứ bịnh khổ đều họp tại thân, lại hay làm cho tâm lo buồn nhiệt não, dầu có lương y cũng phải mê lầm chẳng biết thuốc gì để trị. Ai là người có trí lại mến thích thân sanh tử như vậy.
Lại này A Nan! Từ khi sơ sanh đến trưởng thành áo cơm nuôi dưỡng thành lập thân ấy, thọ mạng hoặc trăm tuổi hoặc ngắn ngủi. Trong trăm năm có ba trăm mùa, xuân là lúc nóng, hạ là lúc mưa, và đông là lúc lạnh. Mỗi mùa có bốn tháng, một năm có mười hai tháng. Trong trăm năm có ngàn hai trăm tháng chia nửa tháng trăng nửa tháng không trăng thành hai ngàn bốn trăm, ngày đêm có ba vạn sáu ngàn, mỗi ngày ăn hai lần thành bảy vạn hai ngàn bữa ăn, nếu có không ăn cũng ở số ấy, nghĩa là lúc bịnh, lúc say hoặc nhịn ăn, hoặc lúc sân hận ngủ say chơi đùa các sự vụ khác và uống sữa mẹ, đó gọi là không ăn. Thân thể ấy dầu thọ trăm tuổi rồi cũng chết mất. Ai là người trí mà lại mến thích thân trong biển sanh tử như vậy.
Lại này A Nan! Thọ thân ấy có hai thứ khổ: một là các thứ bịnh nhóm họp làm khổ gọi là nội khổ, hai là người và Phi nhơn bức não gọi là ngoại khổ.
Những gì gọi là các thứ bịnh nhóm họp nơi thân? Đó là các thân phần mắt tai mũi lưỡi răng cổ v.v... đều có các bịnh sanh ra. Hoặc là phong, hoặc nhiệt, chảy mũi chảy dãi, điên cuồng, khô đét, hơi lên ngột thở, tiểu tiện lâm lịch, cùi hủi ung thư, trĩ lậu, bụng đau ruột thắt, ghẻ dữ máu mủ, rét nóng các thứ bịnh đều họp nơi thân. Còn có trăm lẻ một bịnh tâm hoàng, trăm lẻ một bịnh phong, trăm lẻ một bịnh đàm và trăm lẻ một bịnh do phong hoàng đàm hòa hiệp cùng sanh. Bốn trăm lẻ bốn bịnh như vậy bức thiết thân ấy gọi là nội khổ.
Còn có ngoại khổ gia hại thân ấy. Đó là hoặc tại lao tù bị đánh đập gông xiềng, hoặc thẻo tai thẻo mũi, hoặc chặt tay chân, chém đầu lóc thịt. Nếu không có chư Thiên thần thủ hộ thì có thể bị Phi nhơn quỉ quái làm hại. Hoặc bị muỗi mòng ong kiến độc trùng cắn chích. Hoặc nóng rét đói khát gió mưa các thứ khổ não bức thiết thân ấy. Thân người còn dường ấy huống là thân các ác đạo khổ khó kể hết. Đó là do thuở quá khứ tạo các nghiệp bất thiện nên phải thọ báo như vậy. Hoặc ngừa binh khí gia hại mà xây thành lũy tường hào để phòng vệ lấy thân. Vì ngăn gió mưa trùng độc mà cất nhà cửa. Vì bốn trăm lẻ bốn bịnh nội khổ ngoại khổ mà cầu tìm uống ăn y phục giường mền thuốc men ruộng vườn nhà phòng vàng bạc tiền của xe cộ tôi tớ đồ dùng cung cấp, nếu chẳng vừa ý thì sanh khổ não. Dầu được dư thừa thì tham lam bỏn xẻn do gìn giữ, lúc bị tan mất lại rất khổ sầu.
Này A Nan! Thân ngũ ấm ấy mỗi oai nghi đi đứng ngồi nằm không lúc nào chẳng khổ. Nếu đi mãi không tạm nghỉ thì khổ, đứng mãi, ngồi mãi, nằm mãi cũng đều khổ.
Nếu đi lâu mà tạm đứng nghỉ thì sanh ý tưởng vui, kỳ thiệt chẳng phải vui. Hoặc đứng lâu mà tạm ngồi, hoặc ngồi lâu mà tạm nằm thì vọng sanh ý tưởng vui, thiệt ra không có vui. Vì thế nên gọi thân ngũ ấm đều là khổ.
Nếu có ai hoặc vì tự lợi, hoặc vì lợi tha, hoặc vì tự tha cùng lợi thì nên chán sợ các khổ như vậy mà xuất gia tu học, ở nơi pháp Niết bàn giải thoát tất chẳng luống uổng.
Nếu có người đem y phục uống ăn giường nệm thuốc men những đồ cần dùng thí cúng cho người xuất gia ấy thì sẽ được quả báo lớn oai lực phước đức.
Này A Nan! Sắc là thường hay vô thường?
- Bạch Thế Tôn! Sắc là vô thường!
- Này A Nan! Nếu vô thường thì khổ hay chẳng khổ?
- Bạch Thế Tôn! Sắc vô thường tức là khổ.
- Này A Nan! Nếu vô thường khổ tức là pháp bại hoại. Nếu là đệ tử đa văn của Phật nghe lời ấy có chấp sắc thân như vậy là ngã là ngã sở chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Không. Trong sắc không ngã cũng không ngã sở.
- Lại này A Nan! Thọ tưởng hành và thức là thường hay vô thường?
- Bạch đức Thế Tôn! Bốn ấm ấy đều vô thường.
- Này A Nan! Nếu là vô thường thì khổ hay chẳng khổ?
- Bạch đức Thế Tôn! Bốn ấm ấy đều gọi là khổ.
- Này A Nan! Nếu là vô thường khổ tức là pháp bại hoại. Nếu là đệ tử đa văn của Phật nghe lời ấy có chấp bốn ấm ấy là ngã là ngã sở chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Không. Bốn ấm ấy thiệt không ngã ngã sở.
- Lại này A Nan! Ngã ấy chẳng ở quá khứ hiện tại vị lai, hoặc nội hoặc ngoại, hoặc thô hoặc tế, hoặc thắng hoặc liệt, hoặc cận hoặc viễn. Tất cả pháp khác cũng đều không ngã không ngã sở. Dùng như thiệt trí quan sát các pháp không có ngã. Nếu đệ tử đa văn của Phật mà quan sát như vậy thì sanh lòng chán lìa mà được giải thoát cứu cánh Niết bàn. Tu học như vậy thì chứng pháp thân ấy, phần sanh khởi đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng còn thọ thân sau.”
Đức Phật nói kinh này rồi, Tôn giả A Nan xa trần rời cấu được pháp nhãn thanh tịnh, năm trăm Tỳ kheo chẳng thọ các pháp lậu tận ý giải. Tất cả đại chúng nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng tín thọ phụng hành./.
(PHÁP HỘI PHẬT THUYẾT NHƠN XỬ THAI THỨ MƯỜI BA HẾT)
Chương XIV: PHÁP HỘI PHẬT THUYẾT NHẬP THAI TẠNG - THỨ MƯỜI BỐN
Như vậy tôi nghe, một lúc đức Phật ở thành Ca Tỳ La vườn Đa Căn Thọ chúng Tỳ kheo vô lượng người câu hội.
Bấy giờ đức Thế Tôn có em trai tên Nan Đà, thân như màu hoàng kim đủ ba mươi tướng đại trượng phu thấp hơn Phật bốn ngón tay. Vợ tên Tôn Đà La nghi dung đoan chánh thế gian ít có, đẹp sáng siêu tuyệt người đều thích thấy. Nan Đà cưng vợ triền miên lưu luyến không tạm xa rời, tình ái nhiễm rất nặng quyết chung sống trọn đời.
Đức Thế Tôn xét biết đến thời kỳ thọ hóa độ, bèn vào lúc sáng sớm đắp y cầm bát đem Trưởng lão A Nan làm thị giả vào thành khất thực, kế đến cổng nhà Nan Đà mà đứng. Đức Thế Tôn dùng sức đại bi phóng ánh sáng màu hoàng kim chiếu khắp trong nhà Nan Đà đều thành màu hoàng kim cả.
Nan Đà nghĩ rằng ánh sáng bỗng chiếu đến chắc là đức Như Lai. Liền sai người hầu ra cổng xem, vội trở vào báo rằng đức Thế Tôn đứng tại cổng nhà. Nan Đà nghe báo liền muốn ra mau nghinh lễ đức Thế Tôn.
Tôn Đà La tự nghĩ nếu ta để y đi, đức Thế Tôn tất định cho y xuất gia. Nàng bèn níu áo chồng lại.
Nan Đà bảo vợ nay nên tạm cho ta đi ra lễ đức Thế Tôn rồi ta liền trở vào.
Tôn Đà La nói cùng nhau ước kỳ hẹn tôi mới cho đi. Nàng lấy phấn ướt đắp lên trán rồi nói với chồng rằng: Điểm này chưa khô phải trở vào, nếu trễ hẹn phải phạt năm trăm tiền vàng. Nan Đà ưng chịu rồi liền ra ngoài cổng lễ chân đức Phật, tiếp lấy bát của Như Lai mang vào nhà đựng đầy cơm ngon bưng ra ngoài cổng.
Đức Thế Tôn liền bước đi đồng thời ra dấu cho A Nan chớ có lấy bát ấy.
Đức Như Lai Đại Sư oai nghiêm tôn trọng, Nan Đà chẳng dám kêu đứng lại, bèn trao bát đầy cơm cho A Nan.
Ngài A Nan hỏi: “Vừa rồi anh tiếp lấy bát ở nơi ai?”
Nan Đà nói: “Ở nơi đức Phật.”
Ngài A Nan nói: “Như vậy nên trao cho đức Phật.”
Nan Đà chẳng dám gọi đức Phật chỉ lặng lẽ đi theo sau.
Về đến Tinh xá ở vườn Đa Căn Thọ, đức Thế Tôn rửa tay chân rồi đến ghế mà ngồi. Nan Đà dâng bát cơm. Đức Thế Tôn ăn xong bảo Nan Đà rằng: “Em xuất gia được chăng?” Vì đức Thế Tôn thuở xưa lúc tu Bồ tát đạo, đối với cha mẹ sư trưởng và chư tôn túc chưa hề trái lời dạy bảo, nên lời dạy của Phật không ai trái lại. Do đó mà Nan Đà nghe đức Phật bảo xuất gia liền đáp rằng: “Xuất gia được.”
Đức Thế Tôn liền sai Ngài A Nan cạo râu tóc Nan Đà.
Ngài A Nan vâng lịnh đức Phật tìm người đến cạo.
Nan Đà nói với người ấy rằng: “Ngươi biết chăng, không bao lâu ta sẽ làm Chuyển Luân Vương, nếu ngươi cạo tóc ta, ta sẽ chặt cánh tay ngươi.”
Người ấy sợ hãi gói dao lại muốn từ đi về.
Ngài A Nan vội bạch đức Phật. Đức Phật đến hỏi Nan Đà: “Em chẳng xuất gia ư?”
Do oai đức của Phật, Nan Đà thưa: “Xin xuất gia.”
Đức Thế Tôn cầm bình nước rưới lên đầu Nan Đà, tịnh nhơn liền cạo.
Nan Đà nghĩ rằng nay phải kính phụng đức Thế Tôn, ban ngày tạm xuất gia, chờ tối sẽ về nhà. Đến chiều tối, Nan Đà theo đường cũ đi về nhà. Đức Thế Tôn hóa hố lớn ngay giữa đường. Nan Đà thấy hố ấy tự nghĩ rằng: Bây giờ không làm sao đi về nhà được, đành phải xa Tôn Đà La. Đêm nay nhớ tưởng nàng có thể chết được. Nếu còn sống, sáng mai sẽ về. Vì nhớ Tôn Đà La nên Nan Đà sầu khổ suốt đêm.
Biết ý nghĩ của Nan Đà, đức Phật bảo Ngài A Nan đến cho Nan Đà hay là đức Phật sai Nan Đà làm tri sự nhơn.
Ngài A Nan tuân hành lời đức Phật.
Nan Đà hỏi A Nan: “Sao gọi là tri sự nhơn và phải làm gì?”
Ngài A Nan nói: “Phải kiểm điểm các việc trong chùa.”
Nan Đà hỏi: “Phải làm những sự gì?”
Ngài A Nan nói: “Này Cụ thọ! Phàm người tri sự, lúc chư Tỳ kheo đi khất thực phải rưới quét trong chùa, lấy phân trâu mới thứ đệ tô cho sạch, phải để ý canh phòng chớ cho thất lạc, có việc phải phán quyết thì đem bạch chư Tăng. Nếu có hương hoa thì đem trao cho chúng. Đêm đến thì đóng cổng đóng cửa đến sáng mới mở. Chỗ đi đại tiểu phải thường rửa lau. Trong chùa nếu có chỗ nào hư thì phải tu bổ.”
Nghe xong, Nan Đà nói: “Thưa Đại đức! Như lời đức Phật sai bảo, tôi xin vâng làm.”
Sáng ngày đến giờ tiểu thực, chư Tỳ kheo chấp trì y bát vào thành Ca Tỳ La khất thực.
Nan Đà thấy chùa vắng người liền nghĩ rằng ta quét chùa xong sẽ trở về nhà. Do thần lực của Phật, chỗ Nan Đà quét sạch hiện ra phân dơ. Thấy vậy Nan Đà bỏ chổi hốt sạch phân, nhưng phân vẫn còn không hốt hết được. Nan Đà nghĩ rằng: Thôi mặc, đóng cửa chùa rồi về. Cũng do thần lực của đức Phật, đóng cửa phòng này xong qua đóng cửa phòng kia thì phòng này cửa lại tự nhiên mở trống.
Nan Đà lo rầu nghĩ rằng nếu có kẻ trộm xâm phạm thì có hại gì. Ta sẽ làm vua lại xây trăm ngàn ngôi chùa lớn tốt hơn đây. Ta nên về nhà. Sợ đi đường lớn gặp Phật nên Nan Đà theo đường nhỏ mà đi. Đức Phật biết bèn từ đường nhỏ ngược chiều đi lại. Từ xa Nan Đà thấy Phật, chẳng muốn gặp Phật, liền ẩn mình trong tàng cây rậm bên đường. Thần lực của Phật làm cho các nhánh cây đều cất cao lên lộ Nan Đà ra.
Đức Phật hỏi Nan Đà: “Em từ đâu đến đây nên theo ta.”
Nan Đà hổ thẹn cúi đầu đi theo Phật.
Đức Phật biết Nan Đà quá luyến ái vợ, muốn dẫn tiếp Nan Đà khiến xả ly nên đức Phật ra khỏi thành Ca Tỳ La đến Thất La Phiệt ở tại vườn Lộc Tử Mẫu của bà Tỳ Xá Khư.
Đức Phật thầm nghĩ Nan Đà ngu si nhiễm hoặc mãi nhớ vợ chẳng bỏ tình ái, nên làm phương tiện cho thôi dứt.
Đức Phật bảo Nan Đà rằng: “Từ trước em có thấy núi Hương Túy chưa?” Nan Đà thưa chưa từng thấy.
Đức Phật nói: “Nếu như vậy em nên nắm chéo y ta.”
Nan Đà tuân lời nắm chéo y của đức Phật.
Lúc ấy đức Thế Tôn dường như Nga Vương bay lên hư không đến núi Hương Túy dắt Nan Đà xem ngó hai bên. Dưới cây có trái kia thấy một con khỉ cái mù một mắt đang ngửa mặt nhìn sững đức Như Lai.
Đức Phật bảo Nan Đà rằng con khỉ cái này sánh với Tôn Đà La thì ai đẹp?
Nan Đà thưa: “Tôn Đà La con dòng Thích Ca đẹp như Thiên nữ nghi dung đệ nhứt trong đời không có hai người. Khỉ cái này đem sánh với nàng thì ngàn muôn ức phần chẳng bằng một.”
Đức Phật hỏi: “Em có thấy Thiên cung chưa?”
Nan Đà thưa rằng chưa thấy.
Đức Phật lại bảo Nan Đà nắm chéo y rồi như Nga Vương bay lên hư không đến trời Đao lợi, khiến Nan Đà nhìn ngắm cảnh thù thắng ở cõi trời. Nan Đà tuân lời đến vườn hoan hỉ, vườn thể thân, vườn thô thân, vườn giao hiệp, cây viên sanh, tòa Thiện Pháp Đường, các thắng cảnh cõi trời như vậy, nào cung điện vườn tược, nào hoa quả ao tắm, những chỗ dạo chơi vui vẻ thù thắng đều quan sát hết.
Kế đến Nan Đà vào trong thành Thiện Kiến, lại thấy các thứ âm nhạc âm thanh vi diệu, nhà cửa cao rộng màn che trướng phủ, nơi nào cũng có các Thiên nữ cùng nhau vui đùa. Nan Đà xem khắp mọi cung, thấy có một cung điện chỉ có Thiên nữ mà không có Thiên tử, bèn hỏi Thiên nữ rằng: “Tại sao mọi cung đều có Thiên tử Thiên nữ ở chung cùng nhau vui thú, mà cung này chỉ có toàn Thiên nữ?”
Thiên nữ đáp: “Đức Thế Tôn có người em trai tên Nan Đà theo Phật xuất gia tu phạm hạnh mạng chung sẽ sanh nơi đây, chúng tôi chờ ông ấy.”
Nan Đà nghe nói vui mừng hớn hở vội trở lại chỗ đức Phật.
Thấy Nan Đà, đức Phật hỏi em có thấy cảnh thắng diệu ở cõi trời chăng? Nan Đà thưa đã thấy, rồi thuật lại mọi sự đã được thấy.
Đức Phật hỏi có thấy Thiên nữ chăng?
Nan Đà thưa: “Đã thấy.”
Đức Phật hỏi: “Các Thiên nữ ấy sánh với Tôn Đà La thì ai đẹp?”
Nan Đà thưa: “Đem Tôn Đà La so với các Tiên nữ ấy thì cũng như đem con khỉ cái chột mắt ở núi Hương Túy sánh với Tôn Đà La, trăm ngàn muôn lần chẳng bằng một.”
Đức Phật bảo Nan Đà rằng: “Người tu phạm hạnh có thắng lợi ấy, nay em nên gắng tu phạm hạnh sẽ được sanh cõi trời hưởng khoái lạc này.”
Nan Đà nghe đức Phật nói lòng vui mừng đứng yên.
Bấy giờ đức Thế Tôn cùng Nan Đà rời cõi trời Đao lợi trở lại rừng Thệ Đa. Từ ngày ấy vì ái mộ Thiên cung mà Nan Đà chuyên tu phạm hạnh.
Đức Phật biết tâm niệm của Nan Đà nên sai Ngài A Nan đi truyền lịnh đức Phật cho các Tỳ kheo không người nào được cùng Nan Đà ngồi chung chỗ, kinh hành đồng chỗ, để y một sào, để bát một chỗ, để bình một chỗ, chẳng được đồng một chỗ với Nan Đà mà đọc tụng kinh điển.
A Nan truyền lịnh đức Phật, các Tỳ kheo đều tuân hành.
Nan Đà thấy mọi người xa lánh mình thì rất hổ thẹn. Lúc sau, Ngài A Nan cùng các Tỳ kheo ở trong nhà thị giả vá y phục. Nan Đà nghĩ rằng các Tỳ kheo đều rời bỏ tôi chẳng ở đồng một chỗ. Còn A Nan này là em trai tôi há lại lánh tôi.
Nghĩ vậy Nan Đà liền đi vào nhà ngồi bên A Nan.
Lúc ấy A Nan vội đứng dậy tránh ra. Nan Đà nói: “Này A Nan! Các Tỳ kheo khác bỏ tôi đã đành. Còn A Nan là em trai tôi sao nỡ ghét lánh tôi.”
Ngài A Nan đáp: “Thiệt có lý ấy, nhưng anh tu hành đạo riêng, còn tôi theo đường khác, vì vậy mà phải tránh nhau.”
Ngài Nan Đà hỏi: “Thế nào là đạo anh đường em?”
Ngài A Nan đáp: “Anh thích sanh cõi trời mà tu phạm hạnh, tôi cầu Niết bàn mà trừ dục nhiễm vậy.”
Ngài Nan Đà nghe lời ấy càng thêm lo buồn.
Đức Thế Tôn biết tâm niệm của Nan Đà nên đến hỏi: “Em đã thấy địa ngục chưa?”
Ngài Nan Đà thưa: “Chưa thấy.”
Đức Phật bảo Ngài Nan Đà nắm chéo y của Phật rồi đem Nan Đà vào trong địa ngục. Đức Phật đứng qua một bên bảo Ngài Nan Đà đi xem các nơi trong địa ngục. Ngài Nan Đà liền đi, trước hết thấy sông tro, kế đến rừng gươm, sông phẩn. Vào trong quan sát thấy các chúng sanh thọ nhiều sự khổ: hoặc bị kềm rút lưỡi, bẻ răng, móc mắt, hoặc bị cưa xẻ đôi thân thể, hoặc bị búa chặt rời tay chân, hoặc bị mâu xuyên qua thân, hoặc roi đánh, xóc đâm, hoặc bị chùy sắt đập nát, hoặc bị rót nước đồng vào miệng, hoặc bị ném lên cây guơm núi dao, hoặc bị chày giã đá xay, hoặc ôm cột đồng nằm giường sắt cháy đỏ, lại thấy vạc sắt đốt lửa lớn dầu nước sôi trào nấu các hữu tình, lại thấy một vạc dầu nước sôi sục mà không có ai bị nấu trong ấy.
Ngài Nan Đà hỏi duyên cớ. Ngục tốt giải đáp rằng: “Em trai đức Phật là Nan Đà chỉ nguyện muốn sanh Thiên mà tu phạm hạnh, rồi đây ông ấy sẽ được sanh cõi trời tạm hưởng khoái lạc, khi thân trời mạng chung sẽ phải vào vạc dầu sôi này, nên tôi chụm lửa chờ ông ấy.”
Nghe ngục tốt nói, Ngài Nan Đà rất kinh sợ rởn ốc dựng lông mồ hôi lạnh tuôn ra, tự nghĩ rằng nếu nó biết mình là Nan Đà có thể nó sẽ lấy chỉa xom mình bỏ vào vạc để nấu. Ngài Nan Đà vội vã chạy gấp về chỗ đức Phật.
Đức Phật hỏi: “Em đã thấy địa ngục chăng?”
Ngài Nan Đà buồn khóc rơi nước mắt nghẹn ngào nói nhỏ thưa rằng: “Tôi đã được thấy.”
Đức Phật hỏi: “Em đã thấy những gì?”
Ngài Nan Đà đem tất cả những sự đã thấy thuật trình đức Phật.
Đức Phật phán: “Nếu nguyện nhơn gian, hoặc cầu Thiên thượng thì có những lỗi lầm như vậy. Nay em phải cầu Niết bàn mà tu phạm hạnh, chớ thích cõi trời mà gây sự khổ về sau.”
Ngài Nan Đà nghe đức Phật dạy như vậy, trong lòng rất hổ thẹn cúi đầu nín lặng.
Đức Thế Tôn liền dắt Ngài Nan Đà cùng ra khỏi địa ngục về đến rừng Thệ Đa bảo Ngài Nan Đà và chư Tỳ kheo rằng: “Trong tâm có ba thứ cấu dơ là dâm dục, giận thù và ngu si rất đáng được vứt bỏ, phải nên xa rời, các ông phải tu học.”
Đức Thế Tôn ở rừng Thệ Đa chưa bao lâu, vì muốn tùy duyên giáo hóa chúng sanh nên cùng đồ chúng qua nước Chiêm Ba ở bên ao Yết Già.
Ngài Nan Đà cùng năm trăm Tỳ kheo cũng đi theo đức Phật. Các Ngài đến chỗ đức Phật đảnh lễ chân Phật rồi ngồi qua một phía.
Đức Phật thấy đại chúng ngồi xong bảo Ngài Nan Đà rằng: “Phật có pháp yếu sơ trung hậu đều thiện, văn nghĩa khéo hay thuần nhứt viên mãn phạm hạnh thanh bạch. Đó là kinh Nhập Mẫu Thai. Ông phải lắng nghe kỹ khéo suy nghĩ, nay Phật sẽ vì ông mà nói kinh ấy.”
Ngài Nan Đà thưa: “Vâng, bạch đức Thế Tôn. Xin muốn được nghe.”
Đức Phật nói: “Dầu có thai mẹ mà có nhập và chẳng nhập. Thế nào là thọ sanh nhập vào trong thai mẹ?
Nếu cha mẹ nhiễm tâm cùng làm dâm ái, bụng mẹ sạch sẽ, nguyệt kỳ điều hòa đến thời kỳ và trung ấm hiện tiền, như vậy thì nhập thai mẹ.
Trung ấm ấy có hai thứ hình: một là dung sắc xinh đẹp, hai là dung mạo xấu xí.
Trung ấm địa ngục có dung mạo như cây gỗ cháy trụi. Trung ấm bàng sanh có màu như khói. Trung ấm ngạ quỉ có màu như nước. Trung ấm trời hay người có màu như hoàng kim. Trung ấm cõi sắc thì hình sắc trắng láng. Trời Vô sắc không có thân trung ấm vì không sắc thân vậy.
Trung ấm của hữu tình hoặc có hai tay hai chân, hoặc nhiều chân bốn chân không chân, tùy theo nghiệp ngày trước đáng phải thác sanh chỗ nào thì cảm thân trung ấm như thân hình ấy.
Nếu là trung ấm trời thì đầu hướng lên trên, trung ấm người bàng sanh và quỉ thì đi ngang, trung ấm địa ngục thì đầu trút xuống.
Phàm thân trung ấm thì đều có thần thông đi trong hư không, như Thiên nhãn ở xa thấy chỗ thọ sanh.
Nói nguyệt kỳ đến thời kỳ là nói thời kỳ nạp thai.
Này Nan Đà! Hoặc có nữ nhơn trải qua ba ngày, hoặc năm ngày, nửa tháng, một tháng, hoặc có chờ duyên trải qua lâu nguyệt kỳ mới đến. Nếu có nữ nhơn thân không oai thế thọ nhiều tân khổ hình dung xấu xí không ăn uống tốt, nguyệt kỳ dầu đến mà mau dứt; dường như đất khô khi rưới nước dễ khô. Nếu có nữ nhơn thân có oai thế thường thọ an lạc nghi dung đoan chánh được ăn uống tốt, có nguyệt kỳ đến chẳng mau dứt, dường như đất nhuần khi rưới nước thì khó khô.
Thế nào là chẳng nhập vào thai mẹ?
Lúc cha xuất tinh thì mẹ chẳng xuất, lúc mẹ xuất tinh thì cha chẳng xuất, hoặc đều chẳng xuất, đều chẳng thọ thai.
Nếu mẹ bất tịnh mà cha tịnh, hoặc cha bất tịnh mà mẹ tịnh, hoặc đều bất tịnh cũng đều chẳng thọ thai.
Nếu chỗ âm của mẹ có bịnh phong, bịnh hoàng, bịnh đàm, hoặc có huyết khí thai kiết, hoặc bị thịt tăng, hoặc bị uống thuốc, hoặc bịnh bụng lúa mạch, bịnh eo lưng kiến, hoặc sản môn như miệng lạc đà, hoặc trong ấy như cây nhiều rễ, như đầu cày, như càng xe, như dây leo, như lá cây, như tua lúa mạch, hoặc bụng dưới sâu, hoặc trên sâu, hoặc chẳng phải đồ thọ thai, hoặc máu thường xuất, hoặc thường chảy nước, hoặc như mỏ quạ, hoặc mở mà chẳng hiệp, hoặc trên dưới bốn bên rộng hẹp chẳng đồng, hoặc cao hạ lõm lồi, hoặc bên trong có trùng ăn thúi hư bất tịnh. Nếu mẹ có những lỗi ấy thì chẳng thọ thai.
Hoặc cha mẹ tôn quí mà trung ấm ti tiện, hoặc trung ấm tôn quí mà cha mẹ ti tiện cũng chẳng thành thai.
Nếu cha mẹ và trung ấm đều tôn quí mà nghiệp chẳng hòa hiệp cũng chẳng thành thai.
Nếu ở nơi cảnh trước mà trung ấm không có nam nữ hai thứ ái niệm cũng chẳng thọ thai.
Này Nan Đà! Thế nào là trung ấm được vào thai mẹ?
Nếu bụng mẹ tịnh, trung ấm hiện tiền thấy làm việc dục, không có những lỗi như trên, cha mẹ và con có nghiệp tương cảm mới nhập vào thai mẹ.
Lại lúc trung ấm sắp nhập thai tâm liền điên đảo. Nếu là nam thì với mẹ sanh yêu với cha sanh ghét. Nếu là nữ thì với cha sanh yêu với mẹ sanh ghét. Đời quá khứ vì tạo các nghiệp mà sanh vọng tưởng có tâm niệm hiểu sai lầm, tưởng lạnh rét, tưởng gió lớn mưa lớn mây mù; hoặc nghe tiếng đông người ồn ào, tưởng như vậy rồi tùy theo nghiệp đời trước ưu hay liệt mà sanh mười thứ vọng tưởng: Nay tôi vào nhà, tôi muốn lên lầu, tôi lên đài điện, tôi lên giường ghế, tôi vào nhà cỏ, tôi vào nhà lá, tôi vào lùm cỏ, tôi vào trong rừng, tôi vào lỗ vách, tôi vào trong rào.
Này Nan Đà! Lúc trung ấm niệm tưởng như vậy liền nhập thai mẹ. Phải biết tối sơ thọ sanh gọi là yết la lam, là tinh cha huyết mẹ chớ chẳng phải vật khác. Do tinh huyết cha mẹ hòa hiệp làm chỗ sở duyên của thức nương ở nơi đó. Ví như chất lạc bình dùi nhơn công động chuyển mãi thì có chất tô suất sanh, khác đây thì chất tô chẳng sanh. Phải biết cha mẹ tinh huyết bất tịnh và thân yết la lam cũng như vậy.
Lại này Nan Đà! Có bốn thí dụ, ông nên lắng nghe:
Như nương cỏ xanh mà trùng sanh ra. Cỏ chẳng phải trùng, trùng chẳng rời cỏ, nương nơi cỏ nhơn duyên hòa hiệp thì trùng sanh thân nó màu xanh như màu cỏ. Cha mẹ tinh huyết và thân yết la lam nhơn duyên hòa hiệp có đại chủng căn sanh cũng như vậy.
Như nương phân bò mà sanh trùng. Phân chẳng phải trùng, trùng chẳng rời phân, nương phân nhơn duyên hòa hiệp mà trùng được sanh thân nó màu vàng. Tinh cha huyết mẹ thân yết la lam cũng như vậy, nhơn duyên hòa hiệp thì đại chủng căn sanh.
Như nương táo sanh trùng, táo chẳng phải trùng, trùng chẳng rời táo, nương nơi táo nhơn duyên hòa hiệp mà trùng được sanh thân nó màu đỏ. Tinh cha huyết mẹ thân yết la lam cũng như vậy, nhơn duyên hòa hiệp thì đại chủng căn sanh.
Như nương chất lạc sanh trùng, lạc chẳng phải trùng, trùng chẳng rời lạc, nương chất lạc nhơn duyên hòa hiệp mà trùng được sanh thân nó màu trắng. Tinh cha huyết mẹ thân yết la lam cũng như vậy, nhơn duyên hòa hiệp thì đại chủng căn sanh.
Lại này Nan Đà! Nương cha mẹ bất tịnh và yết la lam nên địa giới hiện tiền tánh cứng rắn, thủy giới hiện tiền tánh ướt nhuần, hỏa giới hiện tiền tánh ấm nóng, phong giới hiện tiền tánh nhẹ động.
Này Nan Đà! Nếu cha mẹ bất tịnh và thân yết la lam chỉ có địa giới mà không thủy giới thì khô khốc mà phân tán như tay bóc bột tro khô vậy. Nếu chỉ có thủy giới mà không có địa giới thì lỏng chảy như dầu như giọt nước. Do thủy giới nên địa giới chẳng tan, do địa giới mà thủy giới chẳng chảy.
Này Nan Đà! Thân yết la lam có địa thủy hai giới mà không hỏa giới thì thúi rã như ngày mùa hạ khối thịt tươi để chỗ râm mát.
Này Nan Đà! Thân yết la lam có địa thủy hỏa giới mà không phong giới thì chẳng tăng trưởng quảng đại.
Đây đều do nghiệp quá khứ làm nhơn, lại làm duyên lẫn nhau cùng chiêu cảm nhau mà thức được sanh, địa giới hay trì, thủy giới hay nhiếp, hỏa giới hay chín, phong giới hay lớn. Như có người thợ bánh và học trò trộn nấu đường cát rồi dùng miệng thổi cho nó lớn rộng thêm mà bên trong thì rỗng trống như củ sen. Trong thân bốn đại chủng địa thủy hỏa phong do nghiệp lực tăng trưởng cũng như vậy.
Này Nan Đà! Cha mẹ bất tịnh có thân yết la lam, thân ấy chẳng phải bụng mẹ, chẳng phải là nghiệp, chẳng phải nhơn chẳng phải duyên, do các thứ ấy hòa hội mới có thai.
Như hột giống mới chẳng bị gió nắng làm tổn hư, chắc thiệt không lỗ cất chứa đúng cách, đem gieo vào ruộng tốt nhuần ướt. Do nhơn duyên hòa hiệp như vậy mà rễ mầm cọng nhánh lá bông trái thứ đệ sanh trưởng.
Này Nan Đà! Hột giống ấy chẳng phải rời lìa các duyên hòa hiệp mà mầm cây v.v... được sanh.
Do đó mà biết rằng chẳng phải chỉ có cha mẹ, chẳng phải chỉ có nghiệp và các duyên khác mà thai được sanh, cần phải do tinh huyết của cha mẹ, nghiệp và các duyên hòa hiệp mới có thai vậy.
Này Nan Đà! Như người sáng mắt vì cầu lửa nên đem nhựt quang châu để trong ánh nắng rồi đặt phân bò khô lên mới có lửa phát sanh. Nương đủ các duyên hòa hiệp mới có thai sanh cũng như vậy.
Cha mẹ bất tịnh thành yết la lam gọi đó là sắc thọ tưởng hành thức cũng gọi là danh sắc. Khối uẩn danh sắc ấy đáng chán ghét, thác sanh các loài nhẫn đến chút phần sát na, Phật chẳng tán thán. Tại sao? Vì sanh vào các loài là rất khổ, ví như phẩn dơ, chút phần cũng hôi, sanh vào các loài chút phần cũng khổ. Năm thủ uẩn sắc thọ tưởng hành thức ấy đều có sanh trụ tăng trưởng và suy hoại. Sanh tức là khổ, trụ tức là bịnh, tăng trưởng suy hoại tức là lão tử.
Vì lẽ ấy người trí đâu nên ở nơi biển sanh tử mà mến ưa nằm trong thai mẹ thọ khổ lớn ấy.
Lại này Nan Đà! Phàm nhập thai cứ đại số mà nói thì có ba mươi tám thất nhựt.
Thất nhựt thứ nhứt, thai ở bụng mẹ như ở trong nồi, thân căn ý căn đồng ở một chỗ, hơi nóng đốt nấu rất đau khổ tên là yết la lam trạng như nước cháo hay nước lạc. Trong bảy ngày hơi nóng bên trong nấu nung, bốn đại chủng mới phát hiện.
Thất nhựt thứ hai thai ở bụng mẹ có gió khởi lên tên là biến xúc do nghiệp trước phát sanh thổi chạm thai ấy tên là án bộ đà trạng như lạc đặc như tô đọng. Trong bảy ngày hơi nóng bên trong nấu nung bốn đại chủng phát hiện.
Thất nhựt thứ ba thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là đao sao thổi chạm thai ấy tên là bế thi trạng như chiếc đũa hay con trùng, trong bảy ngày bốn đại chủng phát hiện.
Thất nhựt thứ tư thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là nội khai thổi chạm thai ấy tên là kiện nam trạng như vỏ hài hay ôn thạch, trong bảy ngày bốn đại chủng phát hiện.
Thất nhựt thứ năm thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là nhiếp trì thổi chạm thai ấy có năm tướng hiện đó là hai cánh hai đùi và đầu. Như mùa xuân mưa xuống rừng cây rậm rợp nhánh lá tăng trưởng, năm tướng nơi thai tăng trưởng cũng như vậy.
Thất nhựt thứ sáu thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là quảng đại thổi chạm thai ấy có bốn tướng hiện đó là hai chỏ hai gối.
Thất nhựt thứ bảy thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là triền chuyển thổi chạm thai ấy có bốn tướng hiện đó là hai tay hai chân.
Thất nhựt thứ tám thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là phiên chuyển thổi chạm thai ấy có hai mươi tướng hiện đó là tay chân đều mười ngón.
Thất nhựt thứ chín thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là phân tán thổi chạm thai ấy có chín tướng hiện đó là hai mắt hai tai hai mũi miệng và hai lỗ dưới.
Thất nhựt thứ mười thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là kiên ngạnh làm cho thai cứng chắc. Lại có gió nghiệp tên là phổ môn làm cho thai phồng lên như trái nổi.
Thất nhựt thứ mười một thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là sơ thông làm cho thai thông suốt chín lỗ hiện ra. Lúc mẹ đi đứng ngồi nằm làm việc gió ấy xoay chuyển hư thông lần lần khiến chín lỗ lớn ra.
Thất nhựt thứ mười hai thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên khúc khẩu thổi hai bên thai làm đại trường và tiểu trường. Lại có gió nghiệp tên là xuyên phát lai cho thai sanh ra một trăm ba mươi lóng. Lại do sức gió làm một trăm chỗ cấm.
Thất nhựt thứ mười ba thai ở bụng mẹ do sức gió trước nên biết đói khát, lúc mẹ uống ăn có chất bổ dưỡng từ rún vào để nuôi thân thai.
Thất thứ mười bốn thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là tuyến khẩu làm cho thai sanh một ngàn lóng: thân trước sau tả hữu đều sanh hai trăm năm mươi lóng.
Thất thứ mười lăm thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là liên hoa làm cho thai sanh hai mươi mạch hấp rút chất bổ dưỡng: thân trước sau tả hữu đều có năm mạch nhiều thứ tên nhiều màu sắc, hoặc tên bạn tên lực tên thế, màu thì xanh vàng đỏ trắng, màu đậu, màu dầu, màu tô, màu lạc và nhiều màu khác, tướng nó hòa nhã. Hai mươi mạch ấy, mỗi mạch đều riêng có bốn mươi mạch làm quyến thuộc hiệp lại có tám trăm mạch hấp rút hơi: thân trước sau tả hữu đều riêng có hai trăm. Tám trăm mạch ấy, mỗi mạch còn có một trăm đường mạch quyến thuộc liền nhau hiệp có tám vạn: thân trước sau tả hữu đều có hai vạn. Tám vạn mạch ấy còn có nhiều lỗ, hoặc một lỗ, hoặc hai lỗ nhẫn đến bảy lỗ, mỗi lỗ liền với lỗ lông. Như rễ sen có nhiều lỗ thông nhau.
Thất nhựt thứ mười sáu thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là cam lộ hành có thể làm phương tiện an trí nơi chỗ cho hai mắt, hai tai, mũi miệng cổ họng, ngực hông, chỗ chứa đựng đồ ăn uống, hay làm cho hơi thở ra vào thông suốt.
Thất nhựt thứ mười bảy thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là lông phất khẩu hay làm cho mắt tai mũi miệng v.v... nhuần ướt.
Thất nhựt thứ mười tám thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là vô cấu làm cho sáu căn thanh tịnh.
Thất nhựt thứ mười chín thai ở bụng mẹ thành tựu bốn căn nhãn nhĩ tỷ và thiệt cộng với ba căn lúc tối sơ nhập thai là thân căn mạng căn và ý căn.
Thất nhựt thứ hai mươi thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là kiên cố làm cho thân thai, chân tả sanh hai mươi lóng xương ngón chân, chân hữu sanh hai mươi lóng xương ngón chân, gót có bốn, mắt cá có hai, gối có hai, vế có hai, eo có ba, sống có mười tám, sườn có hai mươi bốn. Tay tả sanh hai mươi xương ngón, tay hữu sanh hai mươi xương ngón, cánh có bốn, bắp có hai, ngực có bảy, vai có bảy, cổ có bốn, hàm có hai, răng có ba mươi hai, sọ đầu có bốn. Trong đây trừ xương nhỏ thì xương lớn có hai trăm.
Thất nhựt thứ hai mươi mốt thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là sanh khởi hay làm cho trên thân thai sanh thịt.
Thất nhựt thứ hai mươi hai thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là phù lưu hay làm cho thân thai sanh huyết.
Thất nhựt thứ hai mươi ba thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là tịnh trì hay làm cho thân thai sanh da.
Thất nhựt thứ hai mươi bốn thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là tư mạn hay làm cho da sáng bóng.
Thất nhựt thứ hai mươi lăm thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là trì thành hay làm cho máu thịt tư nhuận.
Thất nhựt thứ hai mươi sáu thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là sanh thành hay sanh tóc lông móng cùng các mạch liền nhau.
Thất nhựt thứ hai mươi bảy thai ở bụng mẹ có gió tên là khúc thược hay làm cho tóc lông móng đều thành tựu.
Này Nan Đà! Nếu đứa con đời trước tạo nghiệp ác tham gian bỏn sẻn bất hiếu bất hòa, nay sanh nhơn gian được quả báo chẳng vừa ý. Nếu đời cho cao là đẹp thì thân nó lùn, nếu cho thấp là đẹp thì thân nó cao, thô tế ít nhiều gầy mập cận ly khiếp dũng trắng đen v.v... đều ngược sở hảo của người đời. Lại còn do nghiệp ác nó cảm lấy ác báo như đui điếc câm ngọng ngu đần xấu xí, giọng nói người ghét, tay chân cong què, hình như ngạ quỉ thân thuộc còn ghét chẳng muốn nhìn huống là người khác, ba nghiệp đối với người nói điều gì, người chẳng tin nhận chẳng để ý. Tại sao? Vì đời trước nó tạo nghiệp ác nên nay được báo ác như vậy.
Này Nan Đà! Nếu đứa con ấy đời trước tạo nghiệp phước bố thí chẳng tham gian cứu giúp người nghèo thiếu làm nhiều nghiệp lành hiếu thảo thuận hòa, thì nay cảm báo lành sanh trong nhân gian được quả báo vừa ý, cao thấp thô tế nhiều ít mập gầy dũng khiếp v.v... đều hiệp sở thích người đời, sáu căn tròn đủ đoan chánh đẹp xinh, giọng nói người ưa, ba nghiệp trình bày người đều tin nhận kính nhớ để lòng. Tại sao? Do đời trước nó tạo nghiệp lành nên được báo tốt như vậy.
Này Nan Đà! Nếu thai là nam, ở bên hông hữu của mẹ ngồi bẹp hai tay bụm mặt hướng sống lưng mẹ mà ở yên. Nếu thai là nữ, ở bên hông tả ngồi bẹp hai tay bụm mặt hướng bụng mẹ mà ở yên. Nó ngồi dưới sanh tạng trên thục tạng, vật sống đè xuống, vật chín đâm lên, như trói năm chỗ cắm tại đầu cây nhọn. Lúc mẹ ăn nhiều hay ăn ít đều bị đau khổ, hoặc ăn quá lỏng, quá khô, quá lạnh, quá nóng, quá mặn, quá đắng, quá cay, quá chua, quá ngọt đứa con đều đau khổ cả. Hoặc mẹ hành dục, hoặc đi gấp chạy mau, ngồi lâu nằm lâu, hay nhảy nhót thảy đều bị khổ.
Này Nan Đà! Phải biết lúc ở thai mẹ có nhiều thứ khổ đau bức bách đứa con chẳng thể kể hết. Ở trong loài người còn khổ đến thế huống là các ác đạo, ai là người có trí mà lại ưa thích lấy thân tai ách trong biển khổ sanh tử.
Thất nhựt thứ hai mươi tám thai ở bụng mẹ, đứa con ấy vọng sanh tám thứ tưởng điên đảo: tưởng là ở nhà, là ngồi xe, là vườn là lầu, là gác, là rừng cây, là giường ghế, là sông ao, mà thiệt không các thứ ấy chỉ hư vọng phân biệt.
Thất nhựt thứ hai mươi chín thai ở bụng mẹ có gió nghiệp tên là hoa điều hay làm thân đứa con láng trắng sạch sẽ, hoặc do nghiệp lực khiến màu đen thâm, hay xanh, hay các màu khác, hay khô khốc không tươi nhuần, ánh sáng trắng ánh sáng đen đều theo màu sắc mà phát ra.
Thất nhựt thứ ba mươi thai ở bụng mẹ có gió tên thiết khẩu làm cho tóc lông móng được sanh trưởng và nhuần sáng.
Thất nhựt thứ ba mươi mốt đến thất nhựt thứ ba mươi bốn thai ở bụng mẹ tăng trưởng quảng đại.
Thất nhựt thứ ba mươi lăm thai ở bụng mẹ chi thể đầy đủ.
Thất nhựt thứ ba mươi sáu và ba mươi bảy thai ấy chẳng thích ở bụng mẹ.
Thất nhựt thứ ba mươi bảy thai ấy sanh ba ý tưởng chẳng điên đảo. Đó là ý tưởng bất tịnh, hôi dơ và tối tăm.
Thất nhựt thứ ba mươi tám, thai ở bụng mẹ có gió tên là lam hoa hay làm cho thai hướng xuống giăng dài hai tay xu hướng cửa đẻ. Kế có gió tên xu hạ thổi khiến thai trút đầu xuống hai chân đưa lên sắp ra cửa đẻ.
Này Nan Đà! Nếu đứa con ấy, đời trước nó tạo những nghiệp ác và làm trụy thai người, do đó nên nay thai ấy tay chân ngang loạn chẳng lay chuyển được bèn chết trong bụng mẹ. Người mẹ nhơn đó mà chịu vô lượng thống khổ hoặc cũng phải chết.
Này Nan Đà! Nếu đứa con ấy, đời trước nó tạo phước đầu chuyển mình chẳng tổn hại mẹ an ổn ra ngoài không các tai ách, lúc đẻ cũng khiến người mẹ rất đau khổ gần chết thai mới sanh ra được. Các ông nên quan sát kỹ mà cầu xuất ly.
Lại này Nan Đà! Nay ông đã biết ở thai khổ, lúc sanh khổ. Ông nên biết phàm người thọ sanh rất khổ não.
Lúc sơ sanh hoặc nam hay nữ rơi vào tay người, hoặc trên khăn, chiếu v.v... hoặc trong nắng hay chỗ râm, hoặc trên xe, hoặc nơi giường, trong lòng người, tất cả chỗ đều chịu sự đau đớn, khổ sở. Như bò bị lột da đứng dựa vách bị kiến bu, hoặc dựa cây bị sâu cắn, dầu đứng chỗ trống bị nắng gió cũng rất đau khổ. Trẻ sơ sanh cũng vậy lúc tắm nước nóng chịu khổ rất là bức thiết.
Sau khi được sanh, trẻ ấy uống máu dơ của mẹ mà lớn. Nói máu dơ đó là sữa vậy.
Này Nan Đà! Đã có nhiều thứ khổ không gì đáng ưa, đâu có người trí mà lại ái luyến sanh tử.
Sanh bảy ngày rồi, trong thân ấy có tám vạn hộ trùng ngang dọc ăn nuốt.
Có một hộ trùng tên thực phát nương tóc ăn tóc.
Có hai hộ trùng tên phục tàng và thô đầu nương đầu ăn đầu.
Có một hộ trùng tên nhiễu nhãn nương mắt ăn mắt.
Có bốn hộ trùng tên khu trục, bôn tẩu, ốc trạch và viên mãn nương óc ăn óc.
Có một hộ trùng tên đạo diệp nương tai ăn tai.
Có một hộ trùng tên tàng khẩu nương mũi ăn mũi.
Có hai hộ trùng tên dao trịch và biến trịch nương môi ăn môi.
Có một hộ trùng tên mật diệp nương răng ăn răng.
Có một hộ trùng tên mộc khẩu nương chân răng ăn chân răng.
Có một hộ trùng tên châm khẩu nương lưỡi ăn lưỡi.
Có một hộ trùng tên lợi khẩu nương cuống lưỡi ăn cuống lưỡi.
Có một hộ trùng tên thủ viên nương nướu ăn nướu.
Có hai hộ trùng tên thủ võng và bán khuất nương bàn tay ăn bàn tay.
Có hai hộ trùng tên đoản huyền và trường huyền nương bắp tay ăn bắp tay.
Có hai hộ trùng tên cận tý và viễn tý nương cánh tay ăn cánh tay.
Có hai hộ trùng tên dục thôn và dĩ thôn nương yết hầu ăn yết hầu.
Có hai hộ trùng tên hữu oán và đại oán nương ngực ăn ngực.
Có hai hộ trùng tên loa bối và loa khẩu nương thịt ăn thịt.
Có hai hộ trùng tên hữu sắc và hữu lực nương máu ăn máu.
Có hai hộ trùng tên dũng kiện và hương khẩu nương gân ăn gân.
Có hai hộ trùng tên bất cao và hạ khẩu nương xương sống ăn xương sống.
Có hai hộ trùng đồng tên chỉ sắc nương mỡ ăn mỡ.
Có một hộ trùng tên hoàng sắc nương hoàng ăn hoàng.
Có một hộ trùng tên chân châu nương thận ăn thận.
Có một hộ trùng tên đại chân châu nương eo lưng ăn eo lưng.
Có một hộ trùng tên vị chí nương lá lách ăn lá lách.
Có bốn hộ trùng tên thủy mạng, đại thủy mạng, châm khẩu và đao khẩu nương ruột ăn ruột.
Có năm hộ trùng tên nguyệt mãn, nguyệt diện, huy diệu, huy diện và biệt trụ nương hông bên hữu ăn hông bên hữu.
Có năm hộ trùng đồng tên trên nương hông bên tả ăn hông bên tả.
Có bốn hộ trùng tên xuyên tiền, xuyên hậu, xuyên kiên và xuyên trụ nương xương ăn xương.
Có bốn hộ trùng tên đại bạch, tiểu bạch, trùng vân và xú khí nương mạch ăn mạch.
Có bốn hộ trùng tên sư tử, bị lực, cấp tiển và liên hoa nương sanh tạng ăn sanh tạng.
Có hai hộ trùng tên an chí và cận chí nương thục tạng ăn thục tạng.
Có bốn hộ trùng tên diêm khẩu, uẩn khẩu, võng khẩu và tước khẩu nương đường tiểu ăn nước tiểu.
Có bốn hộ trùng tên ưng tác, đại tác, tiểu hình và tiểu thúc nương đường đại ăn phẩn.
Có hai hộ trùng tên hắc khẩu và đại khẩu nương vế ăn vế.
Có hai hộ trùng tên lại và tiểu lại nương gối ăn gối.
Có một hộ trùng tên ngu căn nương bắp chân ăn bắp chân.
Có một hộ trùng tên hắc hạng nương bàn chân ăn bàn chân.
Này Nan Đà! Thân này rất đáng chán sợ, nó thường có tám vạn hộ trùng ngày đêm cắn ăn, vì thế mà làm cho thân nóng khổ gầy ốm mỏi mệt đói khát.
Lại còn tâm có nhiều khổ não lo rầu chết ngất, nhiều bịnh phát hiện, không lương y trị lành được.
Này Nan Đà! Người trí đâu có ở trong biển sanh tử ưa thích thân rất khổ này.
Thân ấy lại còn bị các thần bịnh bắt giữ đó là Thiên thần, Long thần, Bát bộ thần và các quỉ thần các ly mị bắt giữ. Hoặc bị nhựt, nguyệt, tinh thần làm tổn. Các quỉ thần ấy làm bịnh hoạn, bức não thân tâm khó nói hết.
Này Nan Đà! Có ai ở sanh tử thích vào thai mẹ để chịu nhiều đau khổ, sanh thành như vậy, tăng trưởng như vậy, uống máu sữa của mẹ và uống ăn vọng có ý tưởng là ngon lần lần trưởng thành, dầu cho được an lạc không bịnh, áo cơm dư thừa, sống trăm tuổi, trong đời ấy giấc ngủ gần phân nửa. Ban đầu làm trẻ thơ, kế làm đồng tử, đến trưởng thành nhiều ưu bi hoạn nạn các bịnh hoạn đau nhức vô lượng trăm thứ khổ hành hạ thân ấy khó nói hết.
Các khổ trong thân bức não, lúc khó chịu đựng thì chẳng còn muốn sống, có ý tìm chết. Thân như vậy nhiều khổ, ít vui, dầu tạm sống còn tất rồi hoại diệt.
Này Nan Đà! Phàm sanh đều tử không thường còn. Dầu cho uống thuốc tư dưỡng thọ mạng được kéo dài năm tuổi chung quy cũng chẳng khỏi tử thần giết chết đưa qua đất trống.
Phải biết sanh sống không đáng vui ưa, tư lương đời sau phải siêng chứa họp, chớ có buông lung, chuyên tu phạm hạnh chẳng nên lười nhác. Đối với các gia hành: lợi hành, pháp hành, công đức hành, thuần thiện hành phải thường thích tu tập. Hằng quan sát chính mình, lòng ghi nhớ hai nghiệp thiện ác, chớ để sau này phải nói ăn năn, lúc ấy tất cả sở hữu mến ưa đều rời lìa mà theo nghiệp thiện ác đi vào đời sau.
Này Nan Đà! Thọ mạng trăm năm có mười vị:
Tối sơ là anh nhi, vị này nằm trong nôi. Thứ hai gọi là đồng tử, làm trẻ nít vui đùa. Thứ ba gọi là thiếu niên thọ các dục lạc. Thứ tư gọi là thiếu tráng dũng kiện đa lực. Thứ năm gọi là thanh niên có trí đàm luận. Thứ sáu gọi là thành tựu hay khéo tư tưởng giỏi làm kế sách. Thứ bảy gọi là lần suy giỏi biết pháp thức. Thứ tám gọi là hủ mại các việc suy nhược. Thứ chín gọi là cực lão không còn làm gì được. Thứ mười gọi là trăm tuổi, là đúng vị chết.
Này Nan Đà! Khái quát những đại vị lược nói có mười vị như vậy, tính theo bốn tháng làm một mùa thì trong trăm năm có ba trăm mùa, xuân hạ và đông đều có trăm mùa. Một năm có mười hai tháng tổng số có một ngàn hai trăm tháng. Lấy mỗi nửa tháng làm số thì có tất cả hai ngàn bốn trăm lần nửa tháng. Theo ba mùa thì đều riêng có tám trăm lần nửa tháng. Ngày đêm thì có ba vạn sáu ngàn. Một ngày ăn hai bữa thì có bảy vạn hai ngàn bữa ăn. Dầu có sự duyên chẳng ăn cũng ở trong số ấy. Sự duyên chẳng ăn như là vì sân hận mà chẳng ăn, vì gặp khổ mà chẳng ăn, vì cầu chẳng được, vì ngủ, trì trai, chơi đùa mà chẳng ăn, vì sự vụ, vì bịnh mà chẳng ăn. Ăn cùng chẳng ăn cộng lại có tổng số như trên, gồm lúc uống sữa mẹ. Mạng người trăm tuổi Phật đã nói đủ. Năm, tháng, ngày, đêm và số uống ăn các ông phải nhàm chán.
Này Nan Đà! Thân ấy sanh thành trưởng đại có nhiều bịnh hoạn, như là những bịnh đầu, mắt, tai, mũi, lưỡi, răng, cổ, họng, ngực, bụng, tay, chân, hủi, cùi, điên cuồng, sưng thủng, ho suyển, bịnh phong, hoàng nhiệt, đàm ấm, ngược bịnh, gân cốt đau nhức. Thân người có nhiều bịnh khổ như vậy. Lại còn có trăm lẻ một bịnh phong, trăm lẻ một bịnh hoàng nhiệt, trăm lẻ một bịnh đàm ấm, trăm lẻ một bịnh tổng hợp, cộng là bốn trăm lẻ bốn bịnh từ nội thân phát sanh.
Này Nan Đà! Thân thể ung nhọt các bịnh họp thành không tạm thời dừng niệm niệm chẳng ở lại, thể chất nó là vô thường, là khổ, là không, là vô ngã, là pháp bại hoại gần nơi chết mất chẳng thể bảo tồn yêu cưng được.
Này Nan Đà! Các chúng sanh còn có sự thống khổ lúc sống, như là bị chặt tay, chân, đầu, móc mắt, thẻo tai, lắt mũi, ngục tù giam cầm gông xiềng đánh đập khảo tra, đói khát khổ sở, rét nóng mưa tuyết, muỗi mòng, kiến, rận, gió bụi, ác thú, độc trùng nhiều thứ bức não khổ sở vô lượng vô biên khó kể hết được. Mà các hữu tình thường ở giữa sự thống khổ như vậy lại đam mê vui thích. Bao nhiêu dục lạc đều lấy khổ làm căn bổn, mà hữu tình chẳng biết rời bỏ lại đi tìm cầu, ngày đêm bị nung nấu thân tâm nhiễu não, bên trong cháy nóng không lúc nào nghỉ.
Các khổ như là sanh khổ, lão khổ, bịnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ thủ uẩn khổ, đi đứng ngồi nằm bốn oai nghi ấy đều khổ cả, đi mãi, đứng lâu, ngồi lâu, nằm luôn đều phát sanh đau khổ, nếu tạm thay đổi oai nghi cho rằng vui sướng kỳ thiệt chẳng phải vui sướng.
Này Nan Đà! Những hữu tình ấy đều là bỏ khổ tìm khổ, chỉ là khổ sanh, chỉ là khổ diệt, các hành nhơn duyên nối nhau phát khởi đức Như Lai biết rõ nên nói pháp hữu tình sanh tử. Các hành đều vô thường chẳng phải cứu cánh chân thiệt, là pháp biến hoại chẳng bảo thủ được, phải cầu tri túc phải rất chán sợ siêng cầu giải thoát.
Này Nan Đà! Các loài hữu tình trong thiện đạo chỗ sanh bất tịnh còn phải chịu nhiều thứ đau khổ kể nói khó hết, huống là các hữu tình địa ngục ngạ quỉ bàng sanh ba ác đạo có biết bao là thống khổ không thể chịu được.
Lại này Nan Đà! Có bốn thứ người nhập thai mẹ:
Một là hữu tình nhập trụ xuất thai đều chánh niệm.
Hai là hữu tình nhập và trụ chánh niệm, xuất thai chẳng chánh niệm.
Ba là hữu tình nhập thai chánh niệm, trụ xuất chẳng chánh niệm.
Bốn là hữu tình nhập trụ và xuất thai đều chẳng chánh niệm.
Ai là người nhập trụ và xuất thai đều chánh niệm? Như có một loại hữu tình tánh ưa trì giới luôn tập hạnh lành thích làm thắng sự tạo phước, rất giỏi giữ gìn, chất trực chẳng buông lung có trí huệ lớn, lúc lâm chung không có gì phải ăn năn liền thọ sanh. Đây hoặc là bực Dư Lưu bảy đời, hoặc là bực Gia Gia sáu đời đến hai đời, hoặc là bực Nhứt Lai, hoặc là bực Nhứt Gian Bất Hoàn Hướng. Người ấy do trước tu hạnh lành, lúc lâm chung dầu có khổ não mà tâm chẳng tán loạn chánh niệm mà chết, lại còn chánh niệm nhập vào thai mẹ biết rõ các pháp. Phàm đã do nghiệp thọ sanh đều từ các nhơn duyên mà được sanh khởi, thường ở cùng chỗ với các ma.
Này Nan Đà! Phải biết thân này luôn là hang ổ của tất cả bất tịnh, thể chất chẳng thường còn, là vật ngu si dụ gạt kẻ mê. Thân này lấy xương làm cơ quan, gân mạch liền nhau thông các lỗ huyệt, mỡ xương thịt tủy cùng ràng rịt nhau dùng da phủ lên để che sự dơ xấu đầy những bất tịnh, tóc lông răng móng phần vị sai biệt, vì chấp là ngã và ngã sở nên luôn bị bắt kéo đi chẳng được tự tại, thường tuôn ra mũi dãi mồ hôi dơ dáy, nước vàng đàm nhớt, mỡ trỉn hư rã, thân mật gan phổi, đại trường tiểu trường phẩn tiểu đáng gớm, còn những loài trùng đầy dẫy khắp nơi, trên dưới các lỗ thường chảy hôi dơ, hai tạng sanh thục trùm bằng da mỏng nào khác hầm tiêu.
Này Nan Đà! Ông phải quan sát phàm lúc ăn nuốt, răng nhai nước miếng ngấm nuốt vào cổ họng tủy óc hòa chung chảy tân dịch trong bụng, như chó gặm xương khô vọng cho là ngon, đồ ăn vào bụng ợ ngược trở lên lại nuốt trở vào.
Này Nan Đà! Thân này nguyên từ yết la lam, án bộ đà, bế thi v.v... các vật bất tịnh mà được sanh trưởng, anh nhi lưu chuyển nhẫn đến lão tử, luân hồi trói buộc như hố tối tăm, như hầm thúi dơ thường dùng mặn lạt đắng cay ngọt chua các thực phẩm để tư dưỡng. Lại lửa trong bụng mẹ đốt nấu thân căn, nồi phẩn bất tịnh thường bị nóng khổ. Lúc người mẹ đi đứng nằm ngồi như bị trói năm chỗ, như bị lửa thui khó chịu nổi, không gì ví dụ.
Này Nan Đà! Thai ấy dầu bị khổ thiết ở trong hầm phẩn dơ, nhưng do lợi căn nên tâm chẳng tán loạn.
Lại có một loại hữu tình bạc phước, thai ở bụng mẹ hoặc ngang hoặc ngược, do nghiệp lực đời trước, hoặc do mẹ ăn uống lạnh nóng mặn cay chẳng khéo điều hòa, hoặc uống nước quá lượng, hoặc nhiều làm dâm dục, hoặc nhiều tật bịnh, hoặc hay sầu não, hoặc có lúc trợt té, hoặc bị đánh đập, do đó mà thân người mẹ tăng nóng, do thân mẹ nóng nên thai như bị thiêu đốt rất khổ sở, do khổ đau nên thai liền động chuyển, do động chuyển nên hoặc thai nằm ngang nằm úp sanh ra chẳng được. Có nữ nhơn giỏi dùng dầu tô thoa tay cho vào bụng mẹ nhẹ nhàng đưa thai về chỗ cũ. Lúc tay họ chạm vào thai thì đứa con ấy rất là đau khổ, như trẻ nhỏ bị lóc da thịt rồi rắc tro lên đau khổ khó nói được.
Dầu bị khổ thống ấy nhưng vì thượng lợi căn nên chánh niệm chẳng tán. Thai ấy ở bụng mẹ chịu khổ như vậy.
Lúc sắp sanh, đau khổ mà ra ngoài. Do nghiệp phong ấy làm cho hai tay giao hiệp, gân cốt co rút rất khổ sở, thân thể xanh bầm như sưng thủng khó chạm đến được, đói khát bức ngặt, tim treo nhiệt não, do nghiệp lực nên có gió thổi xô ra. Đã được ra ngoài bị hơi gió chạm đến đau như dao cắt như đụng lửa than, tay người hay khăn chiếu đụng đến đều rất đau đớn. Dầu bị khổ nhưng do thượng lợi căn nên chánh niệm chẳng tán loạn biết nhập thai ở thai ra ngoài đều rất khổ. Ai là người trí lại ưa thích nhập thai mẹ.
Này Nan Đà! Ai nhập và trụ thai có chánh niệm còn lúc xuất thai chẳng chánh niệm?
Có hạng hữu tình tánh ưa trì giới tu tập phẩm lành thường làm thắng sự tạo phước, tâm họ chất trực chẳng phóng dật có ít trí huệ, lúc lâm chung không hối tiếc. Đây hoặc là bực Dự Lưu bảy đời, hoặc bực Gia Gia sáu đời đến hai đời, hoặc bực Nhứt Lai, hoặc bực Nhứt Gian Bất Hoàn Hướng. Người này do trước đã tu hạnh lành, nên dầu lúc lâm chung các khổ bức ngặt mà tâm chẳng loạn lại còn chánh niệm nhập vào thai mẹ biết rõ các pháp, do nghiệp sanh ra thì đều từ các nhơn duyên mà được sanh khởi, ở bụng mẹ và lúc ra ngoài đều chịu nhiều đau khổ, do trung lợi căn nên nhập thai và trụ thai có chánh niệm mà lúc xuất thai thì không. Ai là người trí lại thích nhập thai mẹ.
Này Nan Đà! Ai nhập thai có chánh niệm mà trụ và xuất thai thì không?
Có hạng hữu tình tánh ưa trì giới tu tập phẩm lành thường làm thắng sự tạo phước, tâm họ chất trực chẳng buông lung có ít trí huệ, lúc lâm chung không hối tiếc. Đây hoặc là bực Dự Lưu bảy đời, hoặc là bực Gia Gia sáu đến hai đời, hoặc là bực Nhứt Lai hoặc là bực Nhứt Gian Bất Hoàn Hướng. Lúc lâm chung dầu nhiều đau khổ mà tâm chẳng tán loạn lại còn chánh niệm nhập vào thai mẹ, vì là bực hạ lợi căn nên lúc ở thai và lúc xuất thai không chánh niệm. Ai là người trí lại thích vào thai mẹ.
Này Nan Đà! Ai nhập trụ và xuất thai đều không chánh niệm?
Có các hữu tình ưa phá giới chẳng tu thiện phẩm thường làm việc ác tạo nghiệp ác, tâm chẳng chất trực nhiều buông lung không trí huệ tham của bỏn sẻn tay luôn co rút chẳng thể mở giăng ban bố cho người, luôn hi vọng lòng chẳng điều thuận, kiến và hành điên đảo, lúc lâm chung hối hận các nghiệp bất thiện hiện ra, đương lúc chết rất khổ sở bức thiết, làm họ tán loạn chẳng tự nhớ biết tôi là ai từ đâu đến nay đi chỗ nào, đây gọi là ba thời kỳ nhập thai trụ thai và xuất thai đều không chánh niệm.
Này Nan Đà! Các hữu tình ấy sanh làm người dầu có vô lượng khổ não như vậy nhưng là chỗ tốt, trong vô lượng kiếp khó được thân người.
Nếu sanh cõi trời thường sợ trụy lạc, có khổ ái biệt ly, lúc lâm chung, chư Thiên bảo rằng: Nguyện ông được thác sanh thiện đạo, đó là Trời Người.
Nhơn đạo khó được, xa rời các chỗ nạn chướng lại càng khó.
Những gì là ác đạo? Đó là địa ngục đạo thường bị khổ thiết khó ví dụ được. Ngạ quỉ đạo tánh nhiều sân hận không tâm nhu nhuyến, dối gạt giết hại, lấy máu nhuộm tay không có tình thương hình dung xấu xí ai thấy cũng kinh sợ, dầu đến gần người nhưng vì đói khát nên luôn bị chướng ngại. Bàng sanh đạo vô lượng vô biên, tạo việc vô nghĩa, việc vô phước, việc vô pháp, việc bất thiện, việc không thuần chất, ăn nuốt lẫn nhau kẻ mạnh lấn kẻ yếu. Có các bàng sanh lúc sanh lúc sống lúc chết đều ở trong chỗ bất tịnh phẩn dơ hôi thúi tối tăm. Hoặc có loại tạm ra ánh sáng như ong bướm muỗi ruồi kiến mối rận rệp. Ngoài ra có vô lượng vô biên giống sanh trưởng thường tối tăm. Do vì chúng nó ở đời trước là kẻ ngu si chẳng nghe kinh pháp, phóng túng nơi ngũ dục tạo nghiệp ác nên sanh trong các loài thọ lấy khổ ngu mê tăm tối.
Này Nan Đà! Lại có vô lượng vô biên bàng sanh hữu tình nghe mùi phẩn đái liền chạy đến lấy đó làm món ăn uống, đó là các giống heo dê chó gà chồn kên quạ ruồi nhặng bọ hung, chúng nó do nghiệp ác đời trước mà tự cảm lấy báo ấy.
Này Nan Đà! Lại có vô lượng vô biên bàng sanh hữu tình sanh và sống đều ở trong nước như thủy tộc cá tôm v.v... , chúng nó do nghiệp ác đời trước mà tự cảm lấy báo ấy.
Này Nan Đà! Lại có vô lượng vô biên bàng sanh hữu tình thường lấy cỏ cây và các thứ bất tịnh làm món ăn uống, như voi ngựa trâu bò đà lừa, chúng nó do nghiệp ác đời trước mà thọ báo ấy.
Này Nan Đà! Biển khổ sanh tử rất khổ rất khổ, lửa nóng đốt cháy, không một hữu tình nào là chẳng bị thiêu đốt. Các hữu tình ấy do nơi ngọn lửa phừng mạnh nhãn nhĩ tỷ thiệt thân và ý tham cầu trần cảnh sắc thanh hương vị xúc pháp.
Thế nào gọi là ngọn lửa phừng mạnh?
Này Nan Đà! Đó là những ngọn lửa tham sân si, những ngọn lửa sanh lão bịnh tử, những ngọn lửa ưu bi khổ não độc hại thường tự đốt cháy không một ai được khỏi.
Này Nan Đà! Người giải đãi thọ nhiều khổ sở, họ bị phiền não vây buộc mà tạo nghiệp ác, nên luân hồi chẳng dứt, sanh tử chẳng hết. Người tinh tấn thọ nhiều an lạc, phát tâm dũng mãnh dứt trừ phiền não, tu tập pháp lành chẳng bỏ việc thiện không lúc nào thôi nghỉ.
Các ông nay phải quan sát thân thể này da thịt gân xương máu mạch tủy não sẽ tan rã chẳng lâu, thường phải nhứt tâm chớ để giải đãi, người chưa chứng đắc phải siêng cầu chứng ngộ. Các ông phải cần học tập như vậy.
Này Nan Đà! Phật chẳng cùng thế gian làm những tranh luận, nhưng thế gian đối với Phật lại cưỡng làm tranh luận. Tại sao?
Vì những người biết rõ các pháp chẳng tranh luận với ai, đã rời lìa ngã và ngã sở thì còn ai tranh luận với ai.
Do vì thế gian không thấy hiểu mà vọng phát khởi chấp trước, nên Phật chứng Đẳng Chánh giác tuyên lời rằng Phật ở nơi các pháp không gì chẳng biết rõ.
Này Nan Đà! Phật nói có sai dị chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Đức Phật nói không sai dị.
- Này Nan Đà! Lành thay, tốt thay! Như Lai nói quyết không sai dị. Như Lai là đấng chân ngữ, đấng thiệt ngữ, đấng như ngữ, đấng bất dị ngữ, là người muốn tất cả thế gian mãi mãi an vui được thắng lợi lớn, là người biết đạo, là người hiểu đạo, người thuyết đạo, người khai đạo, là Đại Đạo sư, Như Lai, Ứng Cứng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.
Người thế gian vô tri vô tín, thường làm nô bộc cho các căn, chỉ thấy trong bàn tay mà chẳng nhìn lợi lớn chân thiệt, việc dễ chẳng tu, việc khó lại luôn làm.
Này Nan Đà! Thôi đi. Cảnh giới trí huệ như đây, nay ông phải dùng nhục nhãn để quan sát những thứ ấy được. Biết những thứ được thấy đều là hư vọng thì gọi là giải thoát.
Này Nan Đà! Ông chớ tin Phật, chớ theo chỗ muốn của Phật, chớ y lời của Phật, chớ xem tướng Phật, chớ theo chỗ thấy hiểu của Sa môn, chớ phát sanh cung kính đối với Sa môn, chớ nói Sa môn Kiều Đàm là đại sư của tôi, mà ông chỉ nên ở nơi pháp được tự chứng của Phật riêng tại chỗ tịch tĩnh suy lường quan sát thường siêng tu tập, tùy theo pháp đã được dụng tâm quan sát, liền theo pháp ấy quán tưởng cho thành tựu, chánh niệm ở yên nơi đó, tự làm cồn bãi, tự làm nương về, pháp là cồn bãi là chỗ nương về, không có cồn bãi nào khác, không có chỗ về nào khác.
Này Nan Đà! Thế nào là Tỳ kheo tự mình làm cồn bãi chỗ về?
Này Nan Đà! Nếu có Tỳ kheo theo nội thân của mình quan sát siêng gắng nhiếp niệm được chánh hiểu rõ, đối với thế gian có bao nhiêu giận não thường suy xét điều phục, đây gọi là theo nội thân quan sát là khổ. Nếu quan sát ngoại thân và nội ngoại thân cũng như vậy.
Này Nan Đà! Ông ở nơi tập pháp quan sát nơi thân rồi an trụ nơi đó, quan sát nơi diệt rồi an trụ nơi đó. Lại ở nơi tập và diệt hai pháp quan sát nơi thân rồi an trụ nơi đó. Tức ở thân này hay thành chánh niệm. Hoặc chỉ có trí, hoặc chỉ có kiến, hoặc chỉ có niệm, hoặc không y tựa mà an trụ, đối với thế gian này biết là không lấy được. Đây gọi là Tỳ kheo ở nơi tự nội thân theo nội thân quan sát mà an trụ nơi đó, quan sát ngoại thân và nội ngoại thân cũng vậy.
Kế quan sát nội thọ, ngoại thọ, nội ngoại thọ mà an trụ nơi đó. Kế quan sát nội tâm, ngoại tâm, nội ngoại tâm mà an trụ nơi đó. Kế quan sát nội pháp, ngoại pháp, nội ngoại pháp rồi an trụ nơi đó. Siêng gắng nhiếp niệm được chánh hiểu rõ, đối với thế gian có bao nhiêu giận não đều thường suy xét điều phục, quan sát tập pháp rồi an trụ, quan sát diệt pháp rồi an trụ, lại quan sát tập diệt hai pháp rồi an trụ. Tức ở nơi thân này hay thành chánh niệm, hoặc chỉ có tri, hoặc chỉ có kiến, hoặc chỉ có niệm, với các thế gian này biết không lấy được.
Đây gọi là Tỳ kheo tự làm cồn bãi chỗ về nương, pháp làm cồn bãi chỗ về nương, không có cồn bãi chỗ về nương nào khác.
Này Nan Đà! Nếu có trượng phu bẩm tánh chất trực không siểm cuống, lúc sáng sớm đến chỗ Phật, Phật đem pháp lành tùy cơ chỉ dạy. Người ấy đến chiều tự trình bày sở đắc. Hoặc chiều chỉ dạy đến sáng trình bày sở đắc.
Này Nan Đà! Pháp lành của Phật hiện được chứng ngộ hay trừ nhiệt não khéo ứng thời cơ dễ làm phương tiện, là pháp tự giác khéo hay che chở. Người đối trước Phật thân nghe Phật nói pháp thuận với tịch diệt Niết bàn hay đến Bồ đề Chánh giác, đây là chỗ biết của Phật. Vì thế nên nay ông thấy các pháp tự lợi, lợi tha hoặc tự tha đều lợi phải thường tu học. Với pháp xuất gia nên cẩn thận thật hành chớ để luống qua. Như vậy sẽ được thắng quả vô vi an lạc đáng được thọ cúng dường, làm cho các thí chủ được phước lợi lớn được quả báo rất tốt tôn quí quảng đại. Các ông phải nên tu học như vậy.
Lại này Nan Đà! Chưa có một sắc pháp nào là đáng được mến ưa và có thể về sau chẳng biến hoại. Chưa có sắc pháp nào chẳng phát khởi ưu bi chẳng sanh phiền não.
Này Nan Đà! Sắc ấy là thường hay vô thường?
- Bạch Thế Tôn! Thể nó là vô thường.
- Này Nan Đà! Đã là vô thường thì nó là khổ chăng?
- Bạch Thế Tôn! Là khổ.
- Này Nan Đà! Đã là vô thường là khổ tức là pháp biến hoại. Các đệ tử đa văn của Phật có cho sắc là ngã, ngã có sắc, sắc thuộc ngã, ngã ở tại trong sắc chăng?
- Bạch Thế Tôn! Không cho như vậy.
- Này Nan Đà! Thọ tưởng hành và thức là thường hay vô thường?
- Bạch Thế Tôn! Là vô thường.
- Này Nan Đà! Đã là vô thường thì thọ tưởng hành thức có là khổ chăng?
- Bạch Thế Tôn! Đều là khổ.
- Này Nan Đà! Đã là vô thường khổ tức là pháp biến hoại. Các đệ tử đa văn của Phật có cho rằng thọ v.v... là ngã, ngã có thọ v.v... , thọ v.v... thuộc ngã, ngã ở trong thọ v.v... chăng?
- Bạch Thế Tôn! Đều không cho như vậy.
- Này Nan Đà! Do đó mà biết rằng phàm là sắc, hoặc quá khứ, hoặc vị lai, hoặc hiện tại, hoặc nội, hoặc ngoại, hoặc thô, hoặc tế, hoặc thắng, hoặc liệt, hoặc cận, hoặc viễn, tất cả sắc đều chẳng phải ngã, ngã chẳng có sắc, sắc chẳng thuộc ngã, ngã chẳng ở trong sắc. Phải dùng chánh niệm chánh huệ mà quan sát như vậy. Với thọ tưởng hành và thức cũng dùng chánh niệm chánh huệ mà quan sát như vậy. Nếu đệ tử đa văn của Phật quan sát như vậy, chán sợ nơi sắc, chán sợ thọ tưởng hành thức. Đã chán sợ thì không nhiễm trước liền được giải thoát. Đã giải thoát rồi tự biết mình giải thoát mà tuyên lời rằng sự sanh của tôi đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong chẳng còn thọ thân sau.”
Phật nói pháp ấy xong, Cụ thọ Nan Đà xa trần rời cấu được pháp nhãn thanh tịnh, năm trăm Tỳ kheo ở nơi hữu lậu tâm được giải thoát.
Đức Thế Tôn lại nói kệ bảo Nan Đà rằng:
“Này người không chánh định
Thì không trí thanh tịnh
Chẳng dứt được phiền não
Nên ông phải siêng tu
Ông thường tu diệu quán
Biết các uẩn sanh diệt
Thanh tịnh nếu viên mãn
Chư Thiên đều vui đẹp
Cùng bạn bè giao hoan
Qua lại ái niệm nhau
Tham danh say mê lợi
Nan Đà! Ông phải bỏ
Chớ thân cận tại gia
Với những người xuất gia
Nhớ vượt biển sanh tử
Cùng tận bờ mé khổ
Trước từ yết la lam
Kế thành bóng thịt nhão
Bóng thịt thành bế thi
Bế thi thành kiện nam
Kiện nam tạm chuyển biến
Sanh đầu và tứ chi
Các xương họp thành thân
Đều từ nghiệp mà có
Xương đầu hiệp chín miếng
Hàm có hai xương liền
Răng có ba mươi hai
Chân răng cũng như vậy
Lỗ tai và xương cổ
Xương nướu và sống mũi
Ngực hông cùng yết hầu
Tổng có hai mươi xương
Khuôn mắt có bốn xương
Hai vai cũng hai cặp
Hai cánh cùng đầu ngón
Tổng có năm mươi xương
Sau cổ có tám xương
Xương sống ba mươi hai
Tất cả có căn bổn
Số ấy cũng bốn phần
Xương sườn bên hông hữu
Liền nhau có mười ba
Hông tả liền nhau sanh
Cũng có mười ba xương
Những cốt tỏa như vậy
Ba ba liền nối nhau
Hai hai móc kéo nhau
Ngoài ra chẳng nối nhau
Hai đùi chân tả hữu
Hiệp có năm mươi xương
Tổng ba trăm mười sáu
Chống đứng cho thân thịt
Lóng xương móc nối nhau
Hiệp thành thân chúng sanh
Đấng thiệt ngữ ghi nói
Chỗ biết của Chánh giác
Từ chân đến nơi đầu
Hôi dơ chẳng bền chắc
Do đây cọng thành thân
Mỏng manh như nhà cỏ
Không ngọn chỉ xương đứng
Máu thịt tô đắp khắp
Đồng người gỗ cơ quan
Cũng như tượng huyễn hóa
Nên quan sát thân này
Gân mạch lại vấn quanh
Da ướt gói bọc nhau
Chín chỗ có miệng ghẻ
Khắp nơi thường chảy tràn
Phẩn đái các bất tịnh
Ví như kho cùng thúng
Đựng những lúa bắp thảy
Thân này cũng như vậy
Hôi dơ đầy trong ấy
Vận động cơ quan xương
Mỏng manh chẳng bền chắc
Kẻ ngu thường ưa thích
Người trí không nhiễm trước
Thường chảy mũi dãi dơ
Mủ máu luôn đầy dẫy
Mỡ vàng lộn nước sữa
Óc đầy trong sọ đầu
Ngực ức đàm ấm chảy
Trong có tạng sanh thục
Mỡ nhớt và da màn
Năm tạng những ruột dạ
Các thứ hôi rã ấy
Những dơ dáy đồng ở
Thân tội sâu đáng sợ
Đây tức là oan gia
Người vô thức đam mê
Ngu si thường bảo hộ
Thân hôi dơ như vậy
Dường như thành quách mục
Ngày đêm bị phiền não
Trôi dời không tạm dừng
Thân: thành, xương: tường vách
Máu thịt làm bùn tô
Vẽ màu tham sân si
Theo chỗ mà trang sức
Đáng gớm thành thân xương
Máu thịt liên hiệp nhau
Thường bị ác tri thức
Khổ trong ngoài đốt nhau
Nan Đà! Ông phải biết
Những lời Phật đã nói
Ngày đêm thường nhiếp niệm
Chớ nghĩ đến cảnh dục
Nếu người muốn xa lìa
Thường quan sát như vậy
Siêng cầu chỗ giải thoát
Mau khỏi biển sanh tử.”
Đức Thế Tôn nói kinh Nhập Thai này rồi, Cụ thọ Nan Đà và năm trăm Tỳ kheo đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.
Tỳ kheo Nan Đà vượt khỏi biển sanh tử hiểm nạn đến Niết bàn cứu cánh an ổn được quả A La Hán nói kệ tự mừng rằng:
“Kính tâm dưng nước tắm
Nước sạch và hương thoa
Cùng tu những ruộng phước
Được báo thù thắng này.”
Đại chúng nghe lời kệ ấy đều nghi ngờ, vì muốn hết nghi nên bạch đức Phật rằng: “Tỳ kheo Nan Đà trước tạo nghiệp gì mà được thân màu hoàng kim đủ ba mươi tướng trang nghiêm, trông với thân Thế Tôn chỉ kém có bốn ngón. Với cảnh dục lạc, ông ấy rất nhiễm trước. Nhờ đức Phật xót thương cưỡng vớt ra khỏi biển sanh tử đặt ông ấy nơi cứu cánh Niết bàn. Mong đức Thế Tôn giải thích cho.”
Đức Phật bảo đại chúng rằng: “Tỳ kheo Nan Đà đời trước tạo nghiệp nay quả báo thành thục đều được phát hiện.”
Đức Phật liền nói kệ rằng:
“Giả sử trải trăm kiếp
Nghiệp đã tạo chẳng mất
Lúc nhơn duyên hội ngộ
Lại tự thọ quả báo.
Các ông nên lắng nghe đây. Thuở quá khứ chín mươi mốt kiếp, người thọ tám vạn tuổi, có Phật xuất thế hiệu là Tỳ Bà Thi Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn, cùng sáu vạn hai ngàn Tỳ kheo du hành nhơn gian đến thành Thân Huệ chỗ nhà vua đóng đô. Đức Phật ấy đến ở tại rừng Thân Huệ. Đức Phật ấy có em trai khác mẹ rất say đắm cảnh dục lạc. Đức Tỳ Bà Thi Phật khuyên em xuất gia ra khỏi biển sanh tử phương tiện đặt tại cứu cánh Niết bàn.
Nhà vua lúc bấy giờ tên là Hữu Thân dùng pháp trị nước, nhơn gian đông giàu no đủ an ổn. Vua có em trai khác mẹ rất say mê dâm nhiễm. Vua nghe đức Phật và đại chúng đến ở rừng Thân Huệ, bèn đem các Vương tử thị thần cung nữ nhơn dân đến chỗ đức Phật, đảnh lễ chân Phật rồi ngồi một phía.
Đức Tỳ Bà Thi Phật vì vua và đại chúng tuyên dương diệu pháp chỉ dạy cho họ được lợi ích vui mừng được sự hiểu biết thù thắng.
Em trai vua say mê sắc dục chẳng chịu ra khỏi cửa. Các con đại thần và các tri hữu đến bảo rằng: Thiện hữu có biết chăng? Nay nhà Vua và Vương tử cùng nội cung đại thần nhơn chúng đến chỗ đức Tỳ Bà Thi Phật lễ kính nghe pháp được sự hiểu biết thù thắng. Thân người khó được, Ngài đã được, sao nay Ngài vẫn say đắm dâm dục chẳng chịu ra khỏi cửa. Nghe các bạn trách, em vua hổ thẹn, miễn cưỡng đi theo, Tỳ kheo em trai đức Phật gặp hỏi, họ thuật cớ sự. Tỳ kheo ấy nói tôi là em trai đức Phật, ngày trước ở nhà say mê cảnh dục, may được đức Phật cưỡng dắt xuất gia an ổn đến cứu cánh Niết bàn. Nay còn có hạng người ngu si giống như tôi. Các Ngài từ bi cưỡng dắt đồng đi thiệt là việc lành rất lớn. Đến chỗ đức Phật tất sẽ tin sâu.
Nhóm người ấy đến chỗ đức Phật. Đức Tỳ Bà Thi Như Lai quan sát các căn tánh dục mà vì họ thuyết pháp. Em vua được nghe pháp rồi phát khởi lòng tin sâu lễ Phật bạch rằng: Mong Thế Tôn cùng Thánh chúng sáng mai đến nhà tôi vào ôn thất tắm gội. Đức Phật yên lặng nhận.
Em trai vua biết đức Phật đã nhận lời, liền lễ chân Phật, về đến chỗ vua thưa rằng: tôi đến chỗ Phật nghe pháp sanh lòng tin, với cảnh dâm dục sanh lòng chán lìa. Tôi phụng thỉnh Phật và Tăng sáng mai đến nhà tôi vào ôn thất tắm gội. Đức Như Lai Đại Sư đã từ bi nhận lời. Đức Phật là chỗ mà trời và người đều phải cúng dường, Đại vương nên rưới quét đường sá, trang nghiêm thành quách.
Nhà vua nghĩ rằng em trai ta mê say sắc dục khó khuyên can, nay Phật điều phục được thiệt là hi hữu. Đức Phật vào thành ta nên nghiêm sức. Vua đáp rằng rất tốt. Em về lo sắm sửa các vật cần thiết để tắm gội. Ta sẽ tùy sức trang nghiêm thành quách. Em vua rất vui mừng tạ từ về nhà.
Nhà vua bảo các quan nên truyền lịnh phổ cáo nhơn dân sáng ngày Thế Tôn sẽ vào thành, nhơn dân đều nên tùy sức trang nghiêm thành quách rưới quét đường sá, cầm các hương hoa đón rước đức Đại Sư.
Nhơn dân nghe lời phổ cáo liền rưới quét trang nghiêm khắp nơi rưới nước hoa, đốt hương thơm, treo phan lọng rải hoa cúng dường như vườn hoan hỉ của Thiên Đế Thích. Em trai vua thì sắm sửa nước nóng thơm và dầu thơm, trang nghiêm nhà tắm đặt bày ghế ngồi.
Sáng ngày, đức Tỳ Bà Thi Phật sắp vào đến thành. Nhà vua đem đại chúng ra tiếp nghinh lễ chân Phật rồi theo sau Phật vào thành.
Em trai vua tiếp đức Thế Tôn vào ôn thất dưng nước thơm để Phật tắm rửa. Thấy thân Phật như màu hoàng kim ba mươi hai tướng tốt tám mươi tùy hình hảo toàn thân xinh đẹp, liền vui mừng sanh lòng tin sâu. Đức Phật tắm xong mặc y phục rồi, em trai vua đảnh lễ chân Phật phát nguyện rằng: Nay tôi may mắn gặp phước điền tối thượng dâng lễ mọn cúng dường, nguyện tôi đời sau thân màu hoàng kim như đức Phật. Như em trai Phật đam mê cảnh dục, được Phật cưỡng dắt ra khỏi đến chỗ an trú cứu cánh Niết bàn. Nguyện tôi đời sau được làm em Phật, được thân màu hoàng kim, lúc tôi đam mê cảnh dục được Phật cưỡng dắt ra khỏi sông sâu ái nhiễm đến chỗ Niết bàn an ổn.
Này các Tỳ kheo! Em trai vua Thân Huệ đam mê sắc dục chính là Nan Đà hiện nay, do ngày trước tạo nhơn lành cúng dường Phật Tỳ Bà Thi và phát thiện nguyện nên nay được thân màu hoàng kim và được Phật cưỡng dắt ra khỏi đến chỗ an ổn cứu cánh Niết bàn.”
Chư Tỳ kheo còn có chỗ nghi nên bạch đức Phật do tạo nghiệp gì mà Tỳ kheo Nan Đà được ba mươi tướng đại trượng phu?
Đức Phật bảo chư Tỳ kheo: “Ông ấy tạo nghiệp rộng nói như trước. Về quá khứ trong tụ lạc có một Trưởng giả giàu lớn nhiều của đồ dùng không thiếu. Có một khu vườn bông trái sum suê, suối chảy ao tắm rừng cây sầm uất, có thể làm nơi ở ẩn tu hành cho người xuất gia.
Bấy giờ có vị Độc giác xuất thế thương xót chúng sanh mà ở nơi nhàn tĩnh. Thế gian không Phật chỉ có phước điền ấy.
Có một Độc giác Tôn giả du hành nhơn gian đến tụ lạc ấy quan sát khắp nơi đến vườn trên. Người giữ vườn thấy Tôn giả liền thỉnh ngơi nghỉ tại vườn. Giữa đêm Tôn giả nhập hỏa quang tam muội. Người giữ vườn thấy vậy liền về báo với Trưởng giả về sự thù thắng hi hữu đáng vui mừng ấy. Trưởng giả nghe báo vội đến vườn lễ chân Tôn giả bạch rằng: Ngài vì khất thực làm phước điền cho tôi, mong Ngài ở lại vườn này, tôi sẽ thường cúng dường.
Tôn giả thấy ân cần liền nhận lời ở trong vườn ấy nhập chánh định thắng diệu giải thoát. Tôn giả lại nghĩ rằng thân hôi thúi này luân hồi sanh tử, việc nên làm đã làm xong, nay tôi phải nhập viên tịch vĩnh chứng vô sanh. Nghĩ như vậy rồi Tôn giả bay lên hư không nhập hỏa quang định hiện các thần biến phóng ánh sáng lớn, trên chói lửa hồng, dưới chảy nước trong. Bỏ thân ấy rồi thần thức chẳng sanh vĩnh viễn chứng vô dư Niết bàn giới.
Trưởng giả thâu thi hài dùng dầu thơm để thiêu lại lấy nước sữa để tắt lửa, thâu xương tàn để trong bình mới xây Tháp treo phan lọng, lòng rất kính tin, rưới ba mươi thứ nước thơm và phát đại nguyện cầu các tướng hảo.
Này chư Tỳ kheo! Trưởng giả thuở quá khứ ấy chính là Nan Đà hiện nay. Do nơi nghiệp kính tín cúng dường nên nay thọ quả báo cảm được ba mươi tướng thắng diệu.”
Đại chúng lại có chỗ nghi lại bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Tỳ kheo Nan Đà đã từng tạo nghiệp gì, nếu không xuất gia bỏ trần tục thì quyết sẽ nối ngôi Luân Vương?”
Đức Phật bảo các Tỳ kheo: “Thuở quá khứ trong kiếp Hiền này lúc người thọ hai muôn tuổi, có Phật Ca Diếp Ba xuất thế đủ mười đức hiệu an trụ tại rừng Thí Lộc. Trong thành ấy có vua tên Ngật Lật Chỉ, dùng pháp trị dân làm đại Pháp Vương, có ba Vương tử. Việc giáo hóa đã xong, Phật Ca Diếp Ba nhập đại Niết bàn. Nhà vua kính tin dùng các gỗ thơm như chiên đàn, trầm thủy, hải ngạn, ngưu đầu, Thiên mộc hương để làm lễ trà tỳ, rưới tắt lửa với sữa thơm, thâu Xá lợi của Phật đựng trong bình vàng báu xây Tháp bằng tứ bửu, ngang rộng đều một do tuần, cao nửa do tuần. Lúc đặt tướng luân lên Tháp, Vương tử thứ hai đích thân treo lọng ở giữa.
Này chư Tỳ kheo! Vương tử thứ hai thuở ấy chính là Nan Đà vậy. Do thuở xưa ông ấy kính tâm cúng dường treo lọng ở giữa Tháp, thiện nghiệp ấy làm cho ông hai ngàn năm trăm đời thường làm Lực Luân Vương cai trị một châu Thiên hạ. Trong đời này nếu chẳng xuất gia, Nan Đà lại sẽ làm Lực Luân Vương được đại tự tại.”
Trong đại chúng lại còn nghi bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn! Tỳ kheo Nan Đà từng tạo nghiệp gì mà nay ở trong đệ tử Phật là người thiện hộ căn môn đệ nhứt?”
Đức Phật phán dạy: “Này chư Tỳ kheo! Đây là do nguyện lực vậy. Thuở Phật Ca Diếp Ba, đời trước Nan Đà xả tục xuất gia, thân giáo sư của ông ấy ở trong pháp của Phật Ca Diếp Ba, thiện hộ căn môn được xưng là đệ nhứt. Ông ấy trọn đời tự giữ phạm hạnh, nhưng hiện đời ấy không chứng ngộ. Lúc lâm chung ông ấy phát thệ rằng: Tôi ở chỗ Phật trọn đời giữ phạm hạnh mà không chứng ngộ. Tôi nguyện đem căn lành tu hành này, lúc Phật Thích Ca Mâu Ni ra đời, tôi sẽ ở trong giáo pháp của đức Phật ấy lìa tục xuất gia dứt các phiền não được quả A La Hán. Thân giáo sư tôi đây thiện hộ căn môn đệ nhứt, tôi nguyện sau này ở trong giáo pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni tôi cũng là người thiện hộ căn môn đệ nhứt.
Do nguyện lực ấy nên nay đây Nan Đà là người thiện hộ căn môn đệ nhứt trong hàng đệ tử Phật.
Này chư Tỳ kheo! Nếu thuần ác nghiệp cảm thuần ác báo, nếu thuần thiện nghiệp cảm thuần thiện báo, nếu là tạp nghiệp sẽ cảm tạp báo. Vì thế nên các ông phải rời lìa thuần ác nghiệp và tạp nghiệp mà tu thuần thiện nghiệp. Các ông phải tu như vậy./.”
(PHÁP HỘI PHẬT THUYẾT NHẬP THAI TẠNG – THỨ MƯỜI BỐN HẾT)
Chương XV: PHÁP HỘI VĂN THÙ SƯ LỢI THỌ KÝ - THỨ MƯỜI LĂM
Như vậy tôi nghe, một lúc đức Phật ở thành Vương Xá núi Kỳ Xà Quật cùng chúng Tỳ kheo một ngàn người, tám vạn bốn ngàn Bồ tát, bực thượng thủ có Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Quan Thế Âm Bồ tát, Đắc Đại Thế Bồ tát.
Lại có bảy mươi hai ức chư Thiên đều xu hướng Bồ tát đạo, lại có Tứ Thiên Vương, Thiên Đế Thích Đề Hoàn Nhơn, Phạm Thiên Vương cùng chư Thiên quyến thuộc đều năm muôn hai ngàn cũng đều xu hướng Bồ tát đạo. Có bốn A tu la vương cùng quyến thuộc vô lượng chúng.
Có bảy vạn hai ngàn Đại Long vương như Nan Đà Long vương, Bạt Nan Đà Long vương, Bà Lưu Na Long vương, Ta Kiệt La Long vương, Trì Đại Địa Long vương, Vô Nhiệt Não Long vương, Cao Thắng Long vương, Phục Ma Long vương, Tối Thắng Long vương, Nguyệt Thượng Long vương v.v... làm bực thượng thủ.
Lại có vô lượng Dạ xoa Long vương, như Kim Tỳ La Dạ xoa vương, A Tra Bạc Câu Dạ xoa vương, Tô Chi Lộ Ma Dạ xoa vương, Diệu Ý Dạ xoa vương, Diệu Huệ Dạ xoa vương, Diệu Tướng Dạ xoa vương, Phổ Sắc Dạ xoa vương, Bất Động Dạ xoa vương, Hữu Lực Dạ xoa vương, Đại Lực Dạ xoa vương v.v... làm bậc thượng thủ.
Đại chúng như vậy cùng chung họp tại pháp hội.
Bấy giờ trong thành Vương Xá, Quốc Vương, đại thần và hàng tứ chúng, cùng Thiên Long Bát bộ Nhơn Phi nhơn đều mang y phục, đồ uống ăn, mùng mền, thuốc men, các vật cần dùng đến chỗ Như Lai mà cung kính cúng dường tôn trọng tán thán.
Một ngày kia, sáng sớm đức Thế Tôn đắp y mang bát cùng chư Tỳ kheo đại chúng hướng đến thành Vương Xá cung vua A Xà Thế. Thần lực của Phật phóng trăm ngàn tia sáng màu đẹp, trăm ngàn âm nhạc đồng thời hòa tấu, mưa những hoa đẹp như hoa ưu bát la, hoa bát đầu ma, hoa câu vật đầu, hoa phân đà lợi lăng xăng rơi xuống.
Do thần lực của đức Phật, nên chỗ nào đức Như Lai bước đến đều có hoa sen báu xuất hiện lớn như bánh xe, cọng bằng bạc, cánh bằng vàng, tua bằng tỳ lưu ly. Trong đài hoa có Hóa Bồ tát ngồi kiết già. Chư Bồ tát ấy cùng hoa sen báu bay vòng bảy lần quanh thành Vương Xá rồi nói kệ:
“Đại Đạo sư đáng kính cúng dường
Lợi lạc chúng sanh khiến an ổn
Đủ oai đức lớn tâm tịch tĩnh
Bực đời nương nhờ sẽ vào thành
Ai muốn xa rời khổ sanh tử
Hoặc thích du hí ở Thiên cung
Hoặc ai muốn phá các ma quân
Phải gần đấng Pháp Vương diệu biện
Phật khó nghe danh nay xuất hiện
Trải trăm ngàn kiếp tu các hạnh
Dùng tâm đại bi đi thế gian
Đấng đáng kính ấy sẽ vào thành
Từng hành vô lượng vô biên xả
Nam nữ thê thất và ngôi vua
Đầu mắt tai mũi và chân tay
Y phục uống ăn thảy đều xả
Đã tu vô lượng đức bố thí
Dùng thí điều tâm chắc công hạnh
Tịnh giới không khuyết bực đại nhơn
Thành tựu vô lượng đức nhẫn nhục
Đấng tâm tịch tĩnh sẽ vào thành
Câu chi kiếp hành đại tinh tấn
Thương chúng sanh khổ quên mỏi mệt
Đầy đủ vô lượng vô tỉ thiền
Đấng phạm âm sẽ vào Vương Xá
Trí huệ vô lượng không ai sánh
Dường như hư không vô biên tế
Tối thắng Thế Tôn giới đức đủ
Tu hết các hạnh trí thanh tịnh
Phá tan quân ma hay cứu khổ
Được ở ngôi cao yên bất động
Pháp Vương Vô thượng chuyển pháp luân
Đấng Thích Sư Tử sẽ vào thành
Nếu muốn thành Phật hiện ra đời
Ba mươi hai tướng để trang nghiêm
Phải phát Vô thượng Bồ đề tâm
Kính trọng cúng dường đức Như Lai
Nếu muốn bỏ hẳn tham sân si
Và cùng xa rời các phiền não
Phải mau thân cận Thích Sư Tử
Cung kính dâng lên đồ cúng dường
Nếu muốn được thành Thích Phạm Vương
Trăm ngàn quyến thuộc cùng tùy tùng
Hằng thọ Thiên cung các khoái lạc
Phải mau thân cận Thích Sư Tử
Muốn làm tứ châu Thánh Luân Vương
Nguyện được thất bửu đều thành tựu
Ngàn con Vương tử đều dũng kiện
Phải mau cúng dường đấng tối thắng
Muốn làm Trưởng giả chủ trong ấp
Của cải thêm rộng nhiều vô lượng
Quyến thuộc sắc tướng đều siêu luận
Phải mau cúng dường Thích Sư Tử
Đã được giải thoát và sẽ được
Đều do nghe Phật pháp tịch tĩnh
Đấng Thế Tôn khó được gặp gỡ
Phải nghe câu vô ưu cam lộ.”
Trong thành Vương Xá, nam nữ già trẻ vô lượng chúng sanh nghe lời kệ ấy đều được khai ngộ, mọi người mang hương hoa phan lọng vô lượng âm nhạc đến chỗ đức Như Lai nhứt tâm chiêm ngưỡng hớn hở vui mừng cung kính cúng dường.
Lúc đức Thế Tôn vào thành chân đạp ngạch cổng thành, mặt đất toàn thành chấn động sáu cách, mưa những hoa đẹp và các âm nhạc. Chúng sanh trong thành, người đui được thấy, người điếc được nghe, người cuồng tỉnh trí, người truồng được mặc, người đói được ăn, người nghèo có của. Các chúng sanh ấy cũng chẳng bị não bức vì tham sân si kiêu mạn. Họ đều có lòng từ đối với nhau như cha con thân thuộc. Trong tiếng nhạc ấy nói kệ rằng:
“Đại trượng phu thập lực
Tối thắng hơn Sư Tử
Vào đô thành lợi người
Chúng sanh được an vui
Mù đui được thấy sắc
Điếc lác được nghe tiếng
Điên cuồng tâm trí tỉnh
Lõa lồ mặc y phục
Đói khát được uống ăn
Nghèo cùng được của cải
Lại ở trên hư không
Trăm ngàn ức chư Thiên
Đồng vì cúng dường Phật
Hòa tấu các âm nhạc
Đấng Thập Lực oai đức
Nay vào trong thành này
Trong thành sáu thứ động
Đó là khắp động thảy
Chúng sanh khỏi kinh sợ
Đều được rất vui mừng
Mà nay trong thành này
Tất cả các chúng sanh
Chẳng bị tham sân si
Tật đố nó não bức
Vui mừng đầy thân tâm
Lòng từ đối đãi nhau
Nguyện Phật mau vào thành
Làm an vui chúng sanh
Lúc Thế Tôn vào thành
Khắp phóng quang minh lớn
Trời Người đều tấu nhạc
Vui thích nơi tâm ý
Các sự lạ như vậy
Có nhiều vô lượng thứ
Trời Người A tu la
Tất cả đều chiêm phụng.”
Lúc ấy thành Vương Xá có Bồ tát Trưởng giả tử tên Tồi Quá Cữu ở trong đường phố xa thấy đức Thế Tôn tướng hảo kỳ đặc, đoan nghiêm lặng sáng, các căn đứng lặng, người thấy không nhàm, an trụ xa ma tha điều phục tối thượng, điều phục các căn như giỏi điều tượng, chánh niệm chẳng loạn như ao vực trong, thân trang nghiêm với ba mươi hai tướng. Bồ tát Tồi Quá Cữu thấy đức Phật sanh lòng tin thanh tịnh rất tôn trọng đến lễ chân Phật đi nhiễu ba vòng rồi đứng qua một bên.
Lại có vô lượng trăm ngàn chúng sanh đồng đến chỗ đức Phật. Vô số chư Thiên đứng trên không chắp tay cung kính tôn trọng đảnh lễ.
Bồ tát Tồi Quá Cữu bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Bồ tát thành tựu bao nhiêu pháp mau được Vô thượng Chánh giác tùy sở nguyện trang nghiêm thanh tịnh Phật độ?”
Vì muốn điều phục các chúng sanh, vì thương xót Tồi Quá Cữu, đức Thế Tôn đến chợ ở giữa đại chúng tuyên rằng: “Này Thiện nam tử! Bồ tát thành tựu một pháp mau được Vô thượng Bồ đề tùy sở nguyện nghiêm tịnh Phật độ. Gì là một pháp? Này Thiện nam tử! Bồ tát đối với tất cả chúng sanh vì thật hành đại bi nên do chí nguyện thù thắng mà phát Bồ đề tâm.
Thế nào gọi là do chí nguyện thù thắng mà phát Bồ đề tâm? Đó là người đã phát Bồ đề tâm rồi thì nhẫn đến việc ác rất nhỏ cũng trọn chẳng làm. Chẳng làm những gì? Đó là tham sân si cùng những cử chỉ cợt đùa của người tại gia thảy đều xa rời. Nếu là người đã xuất gia thì chẳng còn hi vọng danh lợi cung kính mà an trụ nơi pháp tu hành xuất gia.
Thế nào là pháp tu hành xuất gia? Đó là như thiệt ngộ nhập tất cả các pháp.
Những gì là tất cả pháp được ngộ nhập? Đó là uẩn, giới, xứ, hữu vi, vô vi.
Thế nào là ngộ nhập? Đó là quan sát ngũ uẩn tịch diệt như huyễn không vô sở hữu. Lúc ngộ nhập như vậy, chẳng thấy ngộ nhập, vô giác vô tư, tất cả phân biệt thảy đều tịch diệt. Ở nơi các uẩn nếu ngộ nhập như vậy, tức là ngộ nhập tất cả pháp. Đây gọi là pháp tu hành xuất gia.
Lúc Bồ tát tu hành như vậy vẫn chẳng bỏ rời các chúng sanh. Tại sao? Như chỗ mình quan sát, Bồ tát đem dạy lại chúng sanh, mà vẫn chẳng thấy có pháp và chúng sanh.
Này Thiện nam tử! Đây gọi là Bồ tát thành tựu một pháp mau được Vô thượng Bồ đề, cũng làm cho Phật độ được đầy đủ viên mãn.
Phật nói pháp ấy rồi, Bồ tát Tồi Quá Cữu được vô sanh nhẫn, vui mừng hớn hở bay lên hư không cao bảy cây đa la. Trong đại chúng ấy, hai ngàn người phát Bồ đề tâm, một vạn bốn ngàn chư Thiên và Nhơn xa trần rời cấu ở trong các pháp được pháp nhãn thanh tịnh.
Đức Thế Tôn mỉm cười, từ diện môn phóng các thứ tia sáng màu chiếu suốt vô lượng thế giới. Chiếu xong, tia sáng màu ấy trở lại nhiễu quanh Phật ba vòng rồi rót vào đảnh đức Phật.
Tôn giả A Nan chỉnh y phục trịch y vai hữu, gối hữu chấm đất, chắp tay cung kính ở trước Phật mà nói kệ rằng:
“Đại Sư sức tự tại
Đến bờ kia các pháp
Thế Tôn Nhứt thiết trí
Duyên gì hiện mỉm cười
Đấng Thập Lực Thiện Thệ
Hay làm những lợi ích
Suốt thấu cả ba đời
Duyên gì hiện mỉm cười
Rõ tâm hành chúng sanh
Thượng trung hạ sai biệt
Biết ý tưởng vô ngại
Mong Phật tuyên nói cho
Ức do tha chư Thiên
Đều đến đảnh lễ Phật
Mong Phật phát diệu âm
Tế độ người khát ngưỡng
Thắng định đến bờ kia
Trí huệ cũng đến bờ
Rời xa những lầm lẫn
Duyên gì Phật mỉm cười
Trăm ngàn chúng chư Thiên
Vì chánh pháp đến họp
Vô lượng các Tỳ kheo
Chắp tay đều nguyện nghe
Hòa tấu các âm nhạc
Cúng dường đức Như Lai
Lành thay Phật Thế Tôn
Mong giải quyết chúng nghi.”
Đức Phật bảo Ngài A Nan: “Nay ông có thấy Bồ tát Tồi Quá Cữu bay lên hư không chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Có thấy.
- Này A Nan! Sau đây sáu vạn hai ngàn a tăng kỳ kiếp, Tồi Quá Cữu sẽ thành Phật tại thế giới này hiệu là Tịch Tĩnh Điều Phục Âm Thanh Như Lai đủ mười đức hiệu. Kiếp ấy tên Ly Nhiệt Não, quốc độ công đức trang nghiêm, đại chúng Thanh văn Bồ tát như đức Bất Động Như Lai tại thế giới Diệu Hỉ.”
Bấy giờ đức Thế Tôn cùng chư Tỳ kheo thẳng đến cung vua A Xà Thế theo thứ tự trải tọa mà ngồi.
Nhà vua đem các thứ uống ăn tự tay rót sớt cúng Phật và Tăng, cũng dâng lên đức Phật y phục thượng diệu.
Cúng dường xong, Vua ngồi lên ghế thấp trước Phật chắp tay bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Phẩn hận sân não từ đâu sanh? Ngu si vô trí từ đâu diệt?”
Đức Phật nói: “Này Đại vương! Phẫn hận sân não từ ngã và ngã sở sanh. Nếu chẳng biết được công đức và lỗi lầm cùng ngã và ngã sở thì gọi là vô trí. Nếu như thiệt biết ngã và ngã sở ấy thì tức là chẳng phải trí chẳng phải chẳng phải trí vậy.
Đại vương nên biết tất cả các hành: tới không từ đâu, đi không chỗ đến. Nếu không lai khứ thì không sanh diệt. Nếu không sanh diệt thì trí và vô trí ấy cũng đều không. Tại sao? Không có chút pháp nào mà có thể biết rõ sanh cùng chẳng phải sanh. Nếu rời năng tri thì là tri vậy.”
Vua A Xà Thế bạch Phật rằng: “Đức Như Lai rất hi hữu, khéo nói pháp như vậy. Nay tôi thà được nghe pháp mà chết, chớ chẳng mong luống sống.”
Đức Thế Tôn vì vua A Xà Thế mà khuyến phát khai hiểu làm cho vua vui mừng rồi, liền trở lại núi Kỳ Xà Quật, rửa chân xong trải tọa ngồi nhập tam muội. Vì pháp thí nên lúc xế trưa đức Phật từ tam muội dậy. Chư đại Bồ tát và chúng Thanh văn đều từ chánh định dậy.
Bấy giờ Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát chung cùng bốn vạn hai ngàn Thiên tử xu hướng Đại thừa. Di Lặc Bồ tát cùng chung năm ngàn chúng Bồ tát. Dũng Mãnh Lôi Âm Bồ tát cùng chung năm trăm chúng Bồ tát. Vua A Xà Thế cũng đem quyến thuộc cùng chung đến chỗ đức Thế Tôn, đảnh lễ chân Phật lui ngồi một phía.
Thành Vương Xá lại có vô lượng trăm ngàn chúng sanh đồng đến núi Kỳ Xà Quật, chỗ đức Như Lai đảnh lễ chân Phật lui ngồi một phía.
Thừa oai thần của Phật, Ngài Xá Lợi Phất đứng dậy trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chấp tay cung kính bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Trước đây đức Như Lai ở tại chợ trong thành Vương Xá đã vì Tồi Quá Cữu Bồ tát mà nói tóm lược về đại Bồ tát công đức trang nghiêm thanh tịnh Phật độ. Lành thay đức Thế Tôn! Nguyện đức Phật nói rộng về chư Bồ tát thật hành hạnh bất thối chuyển Bồ đề, dứt các phiền não, nghiêm tịnh Phật độ, viên mãn đại nguyện, tu hành đầy đủ các Ba la mật, xa rời bực Thanh văn Bích Chi Phật, noi đi theo dấu đi của Như Lai, hàng phục chúng ma chế ngự các ngoại đạo, đủ Nhứt thiết trí chuyển diệu pháp luân. Bồ tát như vậy dầu chưa được Nhứt thiết chủng trí mà có thể quyết định lợi ích an lạc vô lượng chúng sanh. Trong hội này, các Thiện nam tử thiện nữ nhơn được nghe pháp ấy rồi sẽ vui mừng tu hành.”
Đức Thế Tôn tự nghĩ nay ta thuyết pháp chẳng phải chỉ vì đại chúng hiện tiền, ta phải thị hiện thần biến.
Đức Thế Tôn phóng trăm ngàn ức tia sáng màu đẹp, mỗi tia sáng chiếu khắp trăm ngàn ức thế giới mười phương, tất cả nhựt nguyệt châu ma ni điện lửa Thiên Long đều bị chói luốt tất cả, cho đến tất cả núi rừng cây cối vì ánh sáng Phật chiếu suốt nên không hiện được bóng.
Đức Thế Tôn lại thị hiện tiếng dặng hắng oai đức, tiếng ấy vang đến thế giới mười phương.
Đông phương cách đây tám mươi bốn hằng hà sa Phật độ, có thế giới tên Phổ Quang Minh hiện có Phật hiệu Tập Cát Tường Vương. Thế giới ấy không có danh từ Thanh văn Bích Chi Phật, chỉ có Bồ tát đông đầy. Mỗi Bồ tát đều có trăm ức bất thối Bồ tát làm quyến thuộc. Trong chúng Bồ tát ấy có một Bồ tát tên Pháp Thượng. Tại sao lại tên là Pháp Thượng? Vì Bồ tát ấy ở trước chúng hội nghe Phật thuyết pháp rồi bay lên hư không cao bảy cây đa la, tự ẩn thân mình mà nói pháp môn Bồ tát tạng tên là câu Đà la ni Kim Cương. Chúng hội ấy đều nghĩ rằng: Tất cả các pháp đều chỉ có tiếng gọi nó mà thôi. Tại sao? Vì như Pháp Thượng Bồ tát chẳng hiện thân tướng chỉ nghe tiếng nói thôi. Tiếng ấy không thể tánh như thân tướng kia, đã rời thấy nghe thì tức là pháp tánh. Lúc nói pháp ấy, trong pháp hội có vô lượng đắc nhẫn Bồ tát xa thấy Pháp Thượng Bồ tát ở thế giới ấy. Lại thấy ở thế giới này. Phật phóng quang minh và nghe tiếng dặng hắng của Phật vang khắp thế giới ấy. Chư Bồ tát ấy đồng đến chỗ đức Phật Tập Cát Tường Vương đảnh lễ chân Phật rồi đứng một phía. Pháp Thượng Bồ tát bạch Phật: ”Bạch đức Thế Tôn! Có nhơn duyên gì mà hiện thoại ứng này?”
Đức Phật Tập Cát Tường Vương nói: “Này Pháp Thượng! Phương Tây cách đây tám mươi bốn hằng hà sa Phật độ có thế giới tên Ta Bà hiện có Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni, vì muốn triệu tập chư Bồ tát mười phương nên từ tất cả lỗ lông phóng ra tia sáng ấy, cùng phát tiếng dặng hắng.
- Bạch đức Thế Tôn! Nay tôi muốn qua thế giới Ta Bà lễ kính cúng dường Phật Thích Ca Mâu Ni và chư Bồ tát cùng muốn nghe pháp.”
Đức Phật Tập Cát Tường Vương nói: “Nên đi, nay đã phải lúc.”
Pháp Thượng Bồ tát nghĩ rằng: Ta phải dùng thần biến gì để qua thế giới Ta Bà lễ kính Phật Thích Ca Mâu Ni? Nghĩ xong, liền nhập tam muội tên Nhứt thiết trang nghiêm thân.
Do sức oai thần của tam muội ấy làm cho Tam Thiên Đại Thiên thế giới này đầy những hoa đẹp chứa cao đến gối, trăm ngàn âm nhạc đồng trỗi, phan lọng báu nhiều thứ trang nghiêm, lại có hương thơm xông khắp mọi nơi như cung trời Tha Hóa Tự Tại.
Hiện thần biến rồi, Pháp Thượng Bồ tát cùng sáu mươi ba ức đại Bồ tát, như thời gian tráng sĩ co duỗi cánh tay, ẩn mất nơi thế giới Phổ Quang Minh mà hiện ra trong thế giới này đến lễ chân Phật đi nhiễu bên hữu ba vòng rồi theo hướng đã đến dùng nguyện lực hóa hiện tòa sen mà ngồi.
Phương Nam cách đây chín mươi sáu ức na do tha Phật độ có thế giới tên Ly Trần hiện có Phật hiệu Sư Tử Dũng Mãnh Phấn Tấn, có vô lượng đại Bồ tát cung kính vây quanh. Có một Bồ tát tên Bửu Chưởng. Tại sao tên là Bửu Chưởng? Bồ tát ấy lúc ở các Phật độ giáo hóa chúng sanh, muốn dùng bàn tay hữu rờ khắp bao nhiêu thế giới thì liền làm được như ý muốn, từ tay ấy phát ra tiếng Phật, Pháp Tăng, tiếng thí, giới, nhẫn, tấn, thiền, huệ, từ, bi, hỉ, xả v.v... , trăm ngàn ức na do tha tiếng pháp bửu như vậy.
Bửu Chưởng Bồ tát thấy ánh sáng và tiếng vang của Phật liền bạch hỏi nơi đức Phật Sư Tử Dũng Mãnh Phấn Tấn rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Do duyên cớ gì mà có thoại ứng ấy?”
Đức Phật nói: “Này Bửu Chưởng! Phương Bắc cách đây chín mươi sáu ức na do tha Phật độ có thế giới tên Ta Bà hiện có Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni, vì muốn diễn nói pháp môn Phật độ công đức trang nghiêm, họp chư Bồ tát cho nghe pháp ấy để nhiếp thọ công đức nên hiện ra thoại ứng ấy.
- Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi muốn qua thế giới Ta Bà kính lễ cúng dường Phật Thích Ca Mâu Ni và chư Bồ tát cùng nghe pháp.
- Này Thiện nam tử! Chớ đi làm gì. Tại sao? Vì thế giới Ta Bà có đủ tam độc và là chỗ tụ họp của chúng sanh khổ não.
- Bạch đức Thế Tôn! Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh giác thấy nghĩa lợi gì mà rời cõi thanh tịnh để hiện thân trong cõi trược uế?
- Này Thiện nam tử! Đức Phật ấy thuở xưa xa phát thệ rằng: Nguyện tôi mau thành tựu đại bi thường ở trong chúng sanh tệ ác thành Phật chuyển pháp luân.
- Bạch đức Thế Tôn! Đức Thích Ca Như Lai thuở xưa phát nguyện đại bi khó phát ấy nay ở trong thế giới ác. Đức Thế Tôn ấy rất là khó gặp, nay tôi phải qua kính lễ cúng dường.”
Đức Sư Tử Dũng Mãnh Phấn Tấn Phật nói: “Nên đi, nay đã phải lúc. Nhưng này Thiện nam tử! Ông đến cõi ấy phải khéo quan sát cẩn thận chớ để tổn thương. Tại sao? Vì ở đó chư Bồ tát thiệt là khó gặp, mà các chúng sanh khác thì tâm hành hiểm độc dối trá khó điều phục được.
- Bạch đức Thế Tôn! Cõi ấy dầu có giận hờn oán thù cũng chẳng tổn tôi được. Giả sử tất cả chúng sanh cùng tận vị lai giận hờn mắng nhiếc đến đánh đập tôi đều chịu được chẳng phiền.”
Đức Phật ấy nói với tất cả chư Bồ tát: “Này các Thiện nam tử! Các ông nếu được như Bửu Chưởng Bồ tát thì có thể cùng đi.”
Nghe lời phán của Phật, liền có bảy vạn hai ngàn Bồ tát đồng thanh bạch rằng: “Chúng tôi xin đi.”
Bửu Chưởng Bồ tát nghĩ rằng nay tôi phải dùng thần biến gì để qua kính lễ Phật Thích Ca Mâu Ni và có thể an lạc vô lượng chúng sanh.
Nghĩ xong liền đưa bàn tay hữu che trùm cõi Tam Thiên Đại Thiên này rồi mưa những đồ uống ăn y phục xe cộ vàng bạc lưu ly chân châu kha bối san hô bích ngọc, tùy lòng hi vọng chúng sanh đều được đầy đủ. Người thích nghe pháp liền được nghe. Lại khiến vô lượng chúng sanh nghe pháp chứng được chân thiệt. Cũng làm cho vô số chúng sanh bịnh khổ thọ vui vi diệu thù thắng. Hiện thần biến xong, Bửu Chưởng Bồ tát cùng chư Bồ tát trong khoảng một niệm, ẩn nơi kia mà hiện nơi đây, đến đảnh lễ chân Phật nhiễu bên hữu ba vòng rồi theo hướng đã đến dùng nguyện lực hóa hiện đài sen mà ngồi.
Phương Tây cách đây bảy mươi hai ức na do tha trăm ngàn Phật độ có thế giới tên Ma Ni Tạng hiện có Phật hiệu Ma Ni Tích Vương. Phật độ ấy thành tựu bằng lưu ly thanh tịnh, không có Thanh văn và Bích Chi Phật, chỉ có chúng đại Bồ tát thanh tịnh đi đứng đến lui nơi đất lưu ly đều thấy đức Như Lai hiện rõ ràng như trong gương sáng thấy đầu mặt mình, thấy Phật rồi thỉnh pháp, đức Phật ấy vì chư Bồ tát nói đại nguyện thuở trước. Chư Bồ tát ấy nghe pháp đắc nhẫn.
Trong bạch hào ma ni bửu giữa chặng mày của Như Lai phóng ánh sáng lớn chiếu khắp cõi Ma Ni Tạng, tất cả ánh sáng khác đều bị chói lấp. Cõi ấy có Bồ tát tên Thắng Trí Nguyện thấy ánh sáng ấy liền đến bạch đức Phật Ma Ni Tích Vương rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Có duyên cớ gì mà hiện thoại ứng ấy?”
Đức Phật nói: “Này Thiện nam tử! Phương Đông cách đây bảy mươi hai ức na do tha trăm ngàn Phật độ có thế giới tên Ta Bà hiện có Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni vì muốn triệu tập chư Bồ tát mà hiện thoại ứng ấy.”
Bồ tát Thắng Trí Nguyện bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi muốn qua thế giới Ta Bà kính lễ cúng dường Phật Thích Ca Mâu Ni và chư Bồ tát cùng nghe pháp.”
Đức Ma Ni Tích Vương Như Lai nói: “Nên đi, nay đã phải lúc.”
Bồ tát Thắng Trí Nguyện nghĩ rằng: Nay tôi phải hiện thần biến gì để qua kính lễ Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Nghĩ xong liền nhập tam muội làm cho trong cõi này sự khổ trong ba ác đạo đều tiêu diệt mà được vui Vô thượng như Tỳ kheo được chánh định. Bấy giờ tất cả chư Thiên, thế nhơn và hàng Phi nhơn chẳng bị tham sân si mạn nghi ác kiến các phiền não bức nhiễu và đều phát lòng từ đối với nhau.
Hiện thần biến xong, Bồ tát Thắng Trí Nguyện cùng bốn vạn hai ngàn Bồ tát, trong khoảng một niệm ẩn nơi cõi kia mà hiện ra nơi cõi này, đến lễ chân Phật rồi theo hướng đã đến dùng nguyện lực hóa hiện đài sen mà ngồi.
Phương Bắc cách đây sáu vạn ba ngàn Phật độ có thế giới tên Thường Trang Nghiêm hiện có Phật hiệu Ta La Khởi Vương. Cõi ấy chưa hề có tên nữ nhơn, tất cả đều liên hoa hóa sanh ca sa theo thân. Lúc ấy Phật Ta La Khởi Vương vì chư Bồ tát mà nói pháp môn Phật chủng tánh ấn. Sao gọi là Phật chủng tánh ấn? Đó là tối sơ phát tâm Bồ đề tức là đủ giới Bồ tát, nhập Bồ tát tạng được Đà la ni tâm chẳng tán loạn, chẳng rời nơi xả, chứng tánh không, chánh tu vô tướng, không chỗ nguyện cầu, tánh rời tham nhiễm, hay chứng nhập nơi uẩn giới xứ, phát khởi quan sát đều ưa cầu Phật huệ, chân thiệt biết rõ tánh vô sanh, chứng tất cả pháp mà vô phân biệt, đầy đủ chánh kiến dứt các vọng niệm, đây gọi là Phật chủng tánh ấn.
Trong đại chúng ấy có Bồ tát tên Tướng Trang Nghiêm Tinh Tú Tụ Vương. Bồ tát này có bốn nguyện thù thắng, chúng sanh nào thấy thân Ngài thì nhứt định sẽ được ba mươi hai tướng. Bồ tát này thấy ánh sáng và nghe tiếng của Phật liền đến bạch đức Phật Ta La Khởi Vương rằng: “Do duyên cớ gì mà hiện thoại ứng ấy?”
Đức Phật nói: “Này Thiện nam tử! Phương Nam cách đây sáu vạn ba ngàn Phật độ có thế giới tên Ta Bà có Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni vì muốn triệu tập chư Bồ tát nên hiện điềm ấy.
- Bạch đức Thế Tôn! Cớ sao hiệu là thế giới Ta Bà?
- Này Thiện nam tử! Cõi ấy kham nhẫn tham sân si và các khổ não nên gọi là thế giới Ta Bà.
- Bạch đức Thế Tôn! Chúng sanh cõi ấy đều có thể nhẫn thọ được các sự đánh đập mắng nhiếc não hại chăng?
- Này Thiện nam tử! Chúng sanh cõi Ta Bà ấy ít có ai thành tựu được công đức nhẫn nhục, mà phần nhiều tùy thuận tham sân si oán hận triền phược.
- Bạch đức Thế Tôn! Nếu như vậy thì thế giới ấy chẳng nên gọi là Ta Bà.
- Này Thiện nam tử! Thế giới ấy cũng có những Thiện nam tử thiện nữ nhơn tu hành Bồ tát thừa đã từng cúng dường vô lượng chư Phật, thành tựu hạnh nhẫn nhục cứu hộ chúng sanh giỏi tự điều phục. Nếu bị gia hại những người này đều có thể nhẫn chịu không hề buông lung tham sân si. Do có những thiện trượng phu ấy nên gọi là thế giới Ta Bà. Lại trong cõi ấy cũng có chúng sanh đầy đủ những điều ác ít biết hối lỗi tâm họ thô dữ không tàm quí, chẳng kính Phật, chẳng trọng Pháp, chẳng mến Tăng nên thường phải đọa địa ngục ngạ quỉ súc sanh. Đức Thích Ca Mâu Ni Phật ở trong các chúng sanh hạ liệt ấy đều nhẫn thọ được tất cả sự mạ nhục ghét hờn chê bai não loạn mắng chửi khủng bố, tâm Phật như đại địa chẳng ai lay động được, không chỗ trái nghịch được. Nếu được cúng dường tôn trọng, tâm Phật không cao hạ cũng không ghét thương. Vì cớ đó nên thế giới ấy tên là Ta Bà.
- Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi được lợi lành lớn là chẳng sanh vào trong chúng sanh hạ liệt tệ ác ấy.
- Này Thiện nam tử! Chớ có nói như vậy. Tại sao? Phương Đông Bắc có thế giới tên Diệu Trang Nghiêm Nhẫn hiện có Phật hiệu Đại Tự Tại Vương. Chúng sanh cõi ấy thảy đều đầy đủ một bề an vui như Tỳ kheo nhập diệt tận định. Nếu có người ở cõi ấy tu phạm hạnh trăm ngàn ức năm chẳng bằng ở cõi Ta Bà tu khoảng đàn chỉ. Đối với chúng sanh khởi tâm từ bi được công đức còn nhiều hơn nữa, huống là an trụ tâm thanh tịnh một ngày một đêm.
- Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi muốn qua thế giới Ta Bà kính lễ Phật Thích Ca Mâu Ni và chư Bồ tát cùng nghe pháp.”
Đức Phật Ta La Khởi Vương bảo Tướng Trang Nghiêm Tinh Tú Tụ Vương Bồ tát rằng: “Nên đi, nay đã phải lúc.”
Bồ tát ấy nghĩ rằng nay tôi phải hiện thần thông gì để qua lễ kính Thích Ca Mâu Ni Như Lai? Nghĩ xong liền hóa lọng báu che trùm cõi Đại Thiên này, có trăm ngàn muôn ức chuỗi ngọc phan báu rũ thòng giáp vòng, mưa các thứ hoa, tự nhiên trỗi trăm ngàn âm nhạc, lại khiến trong hội này hàng tứ chúng và Bát bộ Nhơn Phổ Nhơn tự thấy mình có đủ ba mươi hai tướng hiện ra trong lọng báu ấy.
Hiện thần thông xong, Tướng Trang Nghiêm Tinh Tú Tụ Vương Bồ tát cùng mười ức Bồ tát trong khoảng một niệm ẩn nơi kia hiện ra nơi đây, đến lễ chân Phật rồi theo hướng đã đến dùng nguyện lực hiện đài sen mà ngồi.
Như vậy khắp mười phương có Vô Lượng Phật độ, trăm ngàn ức Bồ tát thấy ánh sáng và nghe tiếng dặng hắng của Phật, đồng thưa bạch cùng đức Như Lai bên ấy rồi đồng qua thế giới này lễ chân Phật hiện đài sen mà ngồi.
Trong thế giới này, hàng Thích Phạm Hộ Thế đại oai đức chư Thiên Bát bộ đều thấy ánh sáng và nghe tiếng Phật cũng đồng đến lễ chân Phật rồi ngồi một phía.
Bấy giờ đức Thế Tôn hiện thần biến làm cho vô lượng Bồ tát ở mười phương đến đều thấy cõi này công đức trang nghiêm và thân lượng của Phật cũng đồng với Phật độ mình không chút sai khác. Nhưng chư Bồ tát ấy vẫn biết rõ độ kia cõi này chẳng tạp loạn.
Đức Di Lặc Bồ tát đứng dậy chỉnh y trịch bày vai hữu, gối hữu chấm đất chắp tay hướng Phật mà nói kệ rằng:
“Danh chấn mười phương trí vô lượng
Phóng đại quang minh chiếu thế gian
Tất cả chúng sanh cùng đo lường
Chẳng lường được trí huệ Thế Tôn
Mười phương vô lượng ức Bồ tát
Vì cầu pháp nên đồng đến họp
Mà đều tin ưa các pháp môn
Nguyện Phật diễn nói cho vui mừng
Như Lai giới định và trí huệ
Danh xưng nghe khắp mười phương cõi
Thuyết pháp vô úy như sư tử
Sáng khắp hư không như mặt nhựt
Tất cả Trời Rồng và La sát
Và chư Tỳ kheo Tỳ kheo ni
Chúng Ưu bà tắc Ưu bà di
Chắp tay thích nghe đức Phật nói
Quá khứ vị lai và hiện tại
Thế Tôn nơi ấy đều biết rõ
Dùng sức thắng giải cứu quần mê
Mong giải quyết nghi cho hiểu rõ
Thế nào trí hành của Bồ tát
Nghiêm tịnh Phật độ cho sáng sạch
Thế nào thệ nguyện mau thành mãn
Nay thỉnh Như Lai tuyên nói cho
Thế nào không tham giới không khuyết
Hay nhẫn các sự mắng nhục đánh
Tinh tấn tu hành không biếng lười
Giải thoát vô lượng chúng sanh khổ
Chuyên tâm ưa nhập môn tam muội
Ở yên cung điện thiền thanh tịnh
Ở đời lợi ích mà không nhiễm
Ví như hoa sen chẳng dính nước
Thế nào trí huệ xuất thế gian
Diễn nói pháp thậm thâm vi diệu
Hàng phục tất cả các chúng ma
Mau đầy đủ được xa ma tha.”
Đức Thế Tôn bảo Di Lặc đại Bồ tát rằng: “Nay ông vì Phật mà sắp đặt pháp tọa. Phật sẽ thăng tọa nói chỗ tu hành theo chí nguyện thuở trước, hay khéo xuất sanh Phật độ công đức trang nghiêm xu hướng pháp môn chân thiệt.”
Di Lặc Bồ tát tự nghĩ rằng nay do ý nghĩa gì mà đức Thế Tôn truyền tôi sắp đặt pháp tọa mà chẳng bảo các ông A Nan, Mục Kiền Liên v.v... Tại sao Phật lại bỏ rơi các Thanh văn. Phải chăng đức Thế Tôn chỉ vì chư Bồ tát mà thuyết pháp. Hoặc là hàng Thanh văn và Bích Chi Phật chẳng phải pháp khí đối với pháp môn ấy. Vì lẽ ấy mà đức Phật Thế Tôn truyền tôi sắp đặt pháp tọa.
Di Lặc Bồ tát liền dùng thần thông hóa hiện tòa sư tử báu cao bốn vạn do tuần giáp vòng trang nghiêm đẹp, trải tòa với Thiên y mềm nhuyễn, từ bửu tọa ấy phát ra những tia sáng chiếu suốt Tam Thiên Đại Thiên thế giới này.
Đức Như Lai thăng tòa, cả thế giới này chấn động sáu cách.
Bấy giờ đức Thế Tôn bảo Ngài Xá Lợi Phất rằng: “Bồ tát thành tựu bốn pháp có thể làm cho sở nguyện đều được đầy đủ. Những gì là bốn?
Một là phát chí nguyện thù thắng.
Hai là đối với chúng sanh phát tâm thương xót.
Ba là phát khởi tinh tấn.
Bốn là kính thờ bực thiện tri thức.
Lại này Xá Lợi Phất! Bồ tát thành tựu một pháp làm cho sở nguyện chẳng thối lui nghiêm tịnh Phật độ. Đó là Bồ tát phải thích học theo đức Bất Động Như Lai lúc làm Bồ tát tu hành lập thệ nguyện rộng lớn rằng: Tôi sanh vào xứ nào, lúc sơ sanh nếu chẳng xuất gia thì khi dối chư Phật mười phương. Chư Bồ tát phải học theo như vậy. Hoặc có Phật xuất thế hay không có Phật xuất thế, tất cả đời sanh vào xứ nào đều quyết định xuất gia. Tại sao? Vì chỗ tối thắng của Bồ tát là xuất gia vậy.
Này Xá Lợi Phất! Người thích xuất gia hay nhiếp lấy mười thứ công đức. Những gì là mười?
Một là chẳng nhiễm lấy các dục.
Hai là ưa thích nơi A lan nhã.
Ba là thật hành chỗ sở hành của Phật.
Bốn là rời lìa việc làm của phàm phu
Năm là chẳng nhiễm lấy vợ con và tài sản
Sáu là rời lìa nhơn nghiệp ác đạo.
Bảy là tu tập các pháp thiện đạo
Tám là căn lành đời trước đều chẳng tổn giảm.
Chín là luôn được chư Thiên khen tặng.
Mười là tất cả quỉ thần đều cung kính thủ hộ.
Nếu Bồ tát thường thích xuất gia thì được mười thứ công đức như vậy. Vì thế nên Bồ tát có chí cầu Bồ đề muốn độ chúng sanh thường phải xuất gia. Đây gọi là Bồ tát thành tựu một pháp.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát thành tựu hai pháp làm cho sở nguyện chẳng thối lui nghiêm tịnh Phật độ. Đó là Bồ tát chẳng thích Thanh văn địa chẳng cầu Thanh văn thừa, chẳng ưa thích nói pháp Thanh văn thừa, chẳng gần gũi người Thanh văn thừa, chẳng học giới Thanh văn, chẳng thích nói pháp cùng tương ưng với Thanh văn thừa, cũng chẳng khuyên người hành Thanh văn thừa. Với Duyên giác thừa, Bồ tát chẳng ưa thích cũng như vậy. Bồ tát chỉ vì Phật pháp khuyến phát chúng sanh thành tựu tối thượng Vô thượng Bồ đề. Đây gọi là hai pháp vậy.
Này Xá Lợi Phất! Nếu có ai khuyên người xu nhập Phật thừa, Bồ tát này có thể nhiếp lấy mười thứ công đức. Những gì là mười?
Một là được quốc độ thanh tịnh không có Thanh văn và Bích Chi Phật.
Hai là được thuần một chúng Bồ tát thanh tịnh.
Ba là được chư Phật Thế Tôn hộ niệm.
Bốn là thường được chư Phật xướng danh khen ngợi và thuyết pháp cho.
Năm là chỗ phát tâm đều rộng lớn.
Sáu là nếu sanh cõi trời thường làm Đế Thích hoặc Phạm Thiên Vương
Bảy là nếu sanh nhơn gian thì làm Chuyển Luân Vương.
Tám là thường thấy chư Phật.
Chín là được chư Thiên và người mến nhớ.
Mười là nhiếp lấy vô lượng vô biên a tăng kỳ công đức. Tại sao? Nếu có người hay khiến bao nhiêu chúng sanh toàn cõi Đại Thiên tất cả đều được quả A La Hán, hoặc quả Duyên giác. Nếu lại có người hay đặt một chúng sanh nơi Phật Bồ đề, thì công đức này nhiều hơn công đức kia. Tại sao? Vì chẳng phải do Thanh văn Duyên giác xuất hiện mà Phật chủng chẳng dứt. Thế gian nếu không Phật thì không có Thanh văn Duyên giác. Do Phật xuất hiện mà Phật chủng chẳng dứt và xuất sanh Thanh văn Duyên giác. Vì thế nên Bồ tát làm cho người an trụ trong Phật thừa thì được mười thứ công đức như vậy và được quốc độ thanh tịnh.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát thành tựu ba pháp khiến sở nguyện chẳng thối lui nhiếp thọ Phật độ công đức trang nghiêm. Những gì là ba?
Một là tôn trọng ưa thích an trụ A lan nhã.
Hai là không chỗ nhiễm trước mà làm pháp thí.
Ba là bền vững an trụ luật nghi thanh tịnh.
Này Xá Lợi Phất! Bồ tát an trụ giới luật thì được mười thứ vô úy. Những gì là mười?
Một là vào tụ lạc vô úy.
Hai là ở trong chúng thuyết pháp vô úy.
Ba là ẩm thực vô úy.
Bốn là ra khỏi tụ lạc vô úy.
Năm là vào chùa vô úy.
Sáu là ở trong chúng ăn uống vô úy.
Bảy là giáo thọ vô úy.
Tám là thân cận hòa thượng a xà lê vô úy.
Chín là đối với quyến thuộc của mình, từ tâm dạy bảo vô úy.
Mười là thọ dụng bốn sự y phục, uống ăn, mền mùng, thuốc men vô úy.
Này Xá Lợi Phất! Người an trụ giới luật, có lời nói ra mọi người đều tin nhận. Đây là mười thứ vô úy của Bồ tát.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát thuyết pháp tâm không chỗ nhiễm trước thì hay nhiếp thọ mười thứ công đức. Những gì là mười?
Một là chẳng sanh ác dục.
Hai là chẳng cầu người khác biết mình.
Ba là chẳng phát khởi tâm cầu danh.
Bốn là đối với nhà đàn việt tâm chẳng nhớ luyến.
Năm là chẳng trông nom giữ gìn nhà đàn việt.
Sáu là với tứ sự cúng dường rất hạ liệt cũng lấy làm vui đủ.
Bảy là thuyết pháp khiến người tin nhận.
Tám là được thiện thần thủ hộ.
Chín là chẳng sanh tà giác.
Mười là phát khởi tâm niệm Phật.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát tôn kính thích ở A lan nhã thì thành tựu mười thứ công đức lợi ích. Những gì là mười?
Một là xa rời ngôn luận thế tục.
Hai là chuyên quên nhàn tĩnh.
Ba là tâm duyên định cảnh.
Bốn là bỏ rời những doanh vụ.
Năm là mến ưa chư Phật.
Sáu là hằng thọ thiền định hỉ lạc.
Bảy là lúc tu phạm hạnh không có chướng ngại.
Tám là dùng ít công lực mà được tam muội.
Chín là giáo pháp được thọ chưa hề quên mất.
Mười là pháp nghĩa được nghe thảy đều biết rõ.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát thành tựu bốn pháp khiến sở nguyện chẳng thối lui nghiêm tịnh Phật độ. Những gì là bốn?
Một là như lời nói hay làm được, như việc làm hay nói được.
Hai là thường tự khiêm hạ.
Ba là xa rời bỏn sẻn và ganh ghét.
Bốn là thấy người được lợi sanh lòng hoan hỉ.
Này Xá Lợi Phất! Bồ tát ấy như việc làm hay nói được có bốn điều lợi ích. Những gì là bốn?
Một là trong miệng thường phát ra mùi thơm hoa sen xanh.
Hai là ngữ nghiệp thanh tịnh, lời nói không sai lầm.
Ba là tất cả thế gian đồng tin nhận.
Bốn là nhiếp thọ âm thanh viên mãn của chư Phật.
Này Xá Lợi Phất! Bồ tát khiêm hạ có bốn điều lợi ích:
Một là xa rời những thân súc sanh ác thú.
Hai là thọ khoái lạc vi diệu.
Ba là mưu ngầm giặc giữ đều chẳng hại được.
Bốn là kham thọ trời và người cung kính lễ bái.
Này Xá Lợi Phất! Bồ tát rời bỏn sẻn ganh ghét có bốn điều lợi ích:
Một là chẳng quên mất lòng bố thí.
Hai là lúc đói khát thì làm nhà đại thí chủ.
Ba là thấy người trì giới đến thì tiếp rước dẫn vào.
Bốn là hoặc thọ người thí hay thí cho người không có ai ganh ghét.
Này Xá Lợi Phất! Bồ tát thấy người được lợi sanh lòng hoan hỉ có bốn điều lợi ích:
Một là thường sanh tâm này: Tôi nhiếp chúng sanh phải cho họ lợi lạc, nay họ tự được lợi lạc nên tôi sanh lòng vui mừng.
Hai là chỗ có tài vật, vua quan nước lửa cướp giặc oán thân đều chẳng xâm đoạt được.
Ba là tùy sanh xứ nào của báu và các con thảy đều đầy đủ, vua còn chẳng đố kỵ huống là người khác.
Bốn là của cải chứa dùng đều vô cùng tận.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát thành tựu năm pháp khiến sở nguyện chẳng thối lui nghiêm tịnh Phật độ. Những gì là năm?
Một là Bồ tát đến chỗ Pháp sư thưa hỏi tu những công hạnh gì có thể được Phật độ thanh tịnh trang nghiêm? Nếu được nghe, như lời tu hành.
Hai là do Bồ tát trì giới thanh tịnh và nguyện lực nên sanh trong Phật quốc. Được sanh Phật quốc rồi quan sát nước ấy nhiều thứ trang nghiêm các thứ đồ dùng báu đẹp, chúng Thanh văn và Bồ tát thân tướng vi diệu. Đối với Phật cung kính tôn trọng bạch hỏi Bồ tát tu những công hạnh gì được Phật độ rộng lớn thanh tịnh trang nghiêm? Được Phật dạy cho rồi như pháp tu hành.
Ba là Bồ tát có trí có hành, phải tịnh trí ấy, phải tấn hành ấy. Thế nào là tịnh trí? Đó là ở nơi pháp năng duyên và pháp sở duyên xa rời trí Thanh văn và Duyên giác. Thế nào là tấn hành? Đó là như chỗ được nghe quyết định tu hành, rời lìa chẳng tu hành.
Bốn là Bồ tát khéo biết nhơn sanh tử và biết xuất ly. Nhơn sanh tử là chẳng chánh tư duy, đây là chỗ y chỉ của bốn điên đảo làm nhơn sanh tử. Xuất ly là chánh tu hành, với tất cả pháp chẳng sanh phân biệt đó là xuất ly vậy.
Năm là Bồ tát biết rõ thể tánh chư Phật và tánh quốc độ đều chỉ có giả danh, giả danh cũng tịch diệt. Biết rõ như vậy nên chẳng sanh khởi tri tưởng.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát thành tựu sáu pháp khiến mau được Vô thượng Bồ đề, cũng hay nhiếp lấy Phật độ tối thượng:
Một là Bồ tát làm đại thí chủ, bao nhiêu vật sở hữu trân ngoạn khả ái đều hoan hỉ bố thí chẳng tiếc, lại nghĩ rằng tôi làm bố thí lớn để viên mãn Đại thừa. Nghĩa là lúc cầu Vô thượng Bồ đề, tất cả đều xả thí, lòng không luyến tiếc, đầy đủ thành tựu tư lương Bồ đề, bỏ thân mạng này còn chẳng hối tiếc, huống là tư sản vợ con. Này Xá Lợi Phất! Cớ chi Như Lai được gọi là đấng Nhứt thiết trí? Đó là lúc tu Bồ tát hạnh, nơi sở hữu của mình đều xả bỏ tất cả, do đó được Bồ đề rồi gọi là đấng Nhứt thiết trí.
Hai là Bồ tát tại gia hay xuất gia, thà bỏ thân mạng chớ trọn chẳng phá giới. Đem sự trì giới ấy cùng chúng sanh hồi hướng Vô thượng Bồ đề. Trì giới như vậy tự cảm thấy vui mừng thích tu phạm hạnh, ngày đêm an vui càng siêng cầu pháp an trụ chánh tu hành, chán sợ tam giới mong cầu xuất ly. Dầu thấy sức yếu mà nhớ đến chúng sanh, họ cũng khổ như tôi, tôi sẽ gánh lấy gánh nặng ấy nhiếp lấy chúng sanh đặt tại Niết bàn an lạc. Trì giới như vậy lúc tự giác hỉ liền được tâm đại bi, nhẫn đến khi chưa được Nhứt thiết chủng trí chẳng bỏ tinh tấn xem như tự cứu lửa cháy đầu.
Ba là Bồ tát mặc giáp nhẫn nhục rời cao mạn được sức đại nhẫn, nếu bị mắng hay đánh, tâm nhẫn thành tựu chẳng sanh sân hận. Giả sử có gậy lớn như núi Tu Di, có người cầm đánh mắng suốt cả ức kiếp cũng chẳng sanh lòng oán giận. Tại sao? Vì các chúng sanh ấy chẳng theo Phật học, mà tôi thì đương theo Phật học, được họ đánh mắng bao nhiêu thêm lớn đại bi bấy nhiêu. Tôi phải mặc giáp hoằng thệ nhiếp thủ chúng sanh làm cho họ được giải thoát nhập Niết bàn, vì thế nên tôi chẳng nên sân hận. Bồ tát lúc đương an trụ nhẫn lực như vậy thì thành tựu mười điều đầy đủ: một là chủng tánh, hai là tài sản, ba là quyến thuộc, bốn là sắc tướng, năm là thiện xả, sáu là thiện hữu, bảy là được nghe chánh pháp, tám là như lời nói tu hành, chín là lúc mạng chung được thấy chư Phật, mười là được thấy Phật rồi sanh lòng tin thanh tịnh.
Bốn là Bồ tát vì muốn thành tựu thiện pháp nên kiên cố tự định thời khóa phát khởi tinh tấn, lại vì mỗi mỗi chúng sanh mà tận thuở vị lai ở trong sanh tử thứ đệ tu hành các hạnh tinh tấn chẳng mỏi mệt. Đem công nghiệp tự định khóa và đại bi ấy vì tất cả chúng sanh trong tất cả thời gian lúc còn lưu chuyển sanh tử chẳng bỏ chúng sanh.
Này Xá Lợi Phất! Nếu có Bồ tát đem thất bửu đầy hằng sa thế giới mười phương, trong mỗi niệm, dâng lên đức Như Lai, cúng dường nối tiếp như vậy mãi đến tận vị lai tế.
Nếu có Bồ tát phát tâm đại bi mặc giáp tinh tấn, công đức này nhiều hơn công đức kia.
Này Xá Lợi Phất! Bồ tát có đủ tinh tấn này thì được mười thứ pháp chí nguyện thù thắng. Những gì là mười?
Một là rời lìa hạnh phàm ngu. Hai là nhiếp thọ hạnh Phật. Ba là thấy lỗi sanh tử. Bốn là an trụ tâm đại bi. Năm là chẳng thối thất bổn nguyện. Sáu là ít tật bịnh. Bảy là thuận chư Phật giáo. Tám là mỏng nhẹ dâm nộ si. Chín là theo văn rõ nghĩa. Mười là tu hành thành tựu.
Năm là Bồ tát nghĩ rằng chư Phật Như Lai tâm thường ở tại chánh định chưa hề thất niệm, tôi phải theo chỗ làm của Phật. Nếu tâm tán loạn thì trọn chẳng chứng được chỗ làm của Phật. Vì thế nên phải rời bỏ tất cả tâm chấp lấy, cũng bỏ tất cả lợi dưỡng cung kính tụ lạc thành ấp uống ăn đồ cần dùng và các thân hữu. Vì muốn lợi ích các chúng sanh nên chẳng bỏ chúng sanh. Thường ưa ở A lan nhã chỗ tịch tĩnh, độc hành không bạn như con tê giác một sừng. Ở chỗ tịch tĩnh rồi khởi tâm đại từ ban đầu khắp một phương rồi lần lần đến khắp mười phương đến khắp chúng sanh. Tâm từ khắp cả rồi được nhập thiền định.
Này Xá Lợi Phất! Nếu có Bồ tát tại gia đem tất cả đồ dùng đáng ưa thích cúng dường tất cả hằng sa chư Phật và Tỳ kheo Tăng trong hằng sa kiếp. Nếu có Bồ tát xuất gia đi bảy bước hướng đến chỗ A lan nhã tịch tĩnh, phước đức này hơn phước đức kia nhiều. Vì có thể mau được đại Bồ đề vậy.
Này Xá Lợi Phất! Bồ tát ưa ở tịch tĩnh nhập thiền định thì được mười thứ công đức lợi ích. Những gì là mười? Một là được niệm, hai là được huệ, ba là tu hành, bốn là biện luận mau, năm là được Đà la ni, sáu là khéo biết pháp sanh, bảy là khéo biết pháp diệt, tám là giới tụ chẳng phạm, chín là chư Thiên cúng dường, mười là chẳng tham sự tốt của người.
Sáu là Bồ tát khéo biết trí huệ đẳng lưu, đó là trí huệ lấy giới làm đầu, pháp lành tăng trưởng lấy huệ làm đầu. Vì thế nên Bồ tát phải học trí huệ. Thế gian có bao nhiêu tất cả công xảo khó làm khó thành, tất cả y dược đều học hết mà sự thông hiểu này chẳng chứng nhập được ly dục tịch diệt, cũng chẳng thể xu hướng Bồ đề, chẳng phải hướng Sa môn Bà la môn, chẳng phải xu hướng Niết bàn. Vì thế nên nay tôi phải lại khắp cầu công xảo pháp dược, do trí này khiến tôi được cứu cánh tịch diệt. Bồ tát cầu pháp bổn: chẳng thấy chút pháp hay khởi được pháp. Do chẳng thấy nên an trụ nơi tịch diệt. Do an trụ tịch diệt thì không nhiệt não. Do không nhiệt não nên biết rõ sanh tử, vì chúng sanh mà thọ sanh để làm cho chúng sanh trừ diệt khổ sanh tử vậy. Đây là sáu pháp.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát thành tựu bảy pháp khiến sở hữu chẳng thối lui nghiêm tịnh Phật độ. Những gì là bảy?
Một là tự bỏ tất cả, mà thí bất khả đắc vậy.
Hai là giới chẳng khuyết phạm, mà chẳng dính mắc nơi giới vậy.
Ba là nhẫn nhục nhu hòa, mà chúng sanh bất khả đắc vậy.
Bốn là phát khởi tinh tấn, mà thân tâm bất khả đắc vậy.
Năm là thành tựu thiền định, mà chẳng trụ nơi thiền vậy.
Sáu là trí huệ viên mãn, mà vô phân biệt vậy.
Bảy là tùy niệm chư Phật, mà xa rời tướng vậy.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát thành tựu tám pháp khiến sở nguyện chẳng thối lui nghiêm tịnh Phật độ. Những gì là tám?
Một là chẳng thích Niết bàn, hai là bố thí đồ trang nghiêm, ba là tâm quảng đại, bốn là tôn kính Pháp sư, năm là chẳng làm tà mạng, sáu là bình đẳng ban cho, bảy là chẳng tự căng cao, tám là chẳng khinh miệt người.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát thành tựu chín pháp khiến nguyện chẳng thối lui nghiêm tịnh Phật độ. Những gì là chín?
Một là đủ thân luật nghi, hai là đủ ngữ luật nghi, ba là đủ ý luật nghi, bốn là diệt các tham dục, năm là diệt các sân hận, sáu là diệt các ngu si, bảy là chẳng làm điều khi dối, tám là làm bạn kiên cố, chín là chẳng khinh mạn thiện tri thức.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát thành tựu mười pháp khiến sở nguyện chẳng thối lui nghiêm tịnh Phật độ. Những gì là mười?
Một là nghe địa ngục khổ chỉ khởi đại bi mà chẳng kinh sợ.
Hai là nghe súc sanh khổ chỉ khởi đại bi mà chẳng kinh sợ.
Ba là nghe ngạ quỉ khổ chỉ khởi đại bi mà chẳng kinh sợ.
Bốn là nghe chư Thiên suy não chỉ khởi đại bi mà chẳng kinh sợ.
Năm là nghe nhơn gian đói khát giặc cướp oán địch giết hại chỉ khởi đại bi mà chẳng kinh sợ.
Sáu là Bồ tát tự nghĩ: Giờ đây tôi phải phát khởi tinh tấn, nhẫn đến chưa được Phật độ thanh tịnh trọn chẳng lười trễ.
Bảy là khiến trong nước tôi đồ uống ăn y phục theo ý niệm liền được.
Tám là các chúng sanh trong nước tôi thọ mạng vô lượng.
Chín là các chúng sanh trong nước tôi không tâm bỉ ngã.
Mười là bao nhiêu chúng sanh trong nước tôi quyết định xu hướng Vô thượng Bồ đề.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Nếu Bồ tát cầm hoa đẹp đến chỗ Như Lai, hoặc chỗ Tháp Phật mà cúng dường thì nguyện rằng: Nguyện hoa đẹp này sắc hương thù thắng, người thấy hoa đều vui đẹp. Lúc tôi thành Phật, khiến trong nước tôi khắp nơi đầy những hoa đẹp như vậy, và những cây báu trang nghiêm mọi chỗ. Nhẫn đến hương bột hương thoa y phục uống ăn lọng báu tràng phan vàng bạc lưu ly chân châu các thứ báu lúc dùng cúng dường cũng phải như hoa, hồi hướng công đức trang nghiêm Phật độ. Do vì Bồ tát an trụ nơi giới luật nên tùy tâm sở nguyện đều được thành tựu.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát phải thường nhiếp lấy mười nghiệp đạo thiện đều hồi hướng Nhứt thiết chủng trí. Vì thế nên lúc Bồ tát thành Phật, trong Phật độ ấy bao nhiêu chúng sanh lúc sơ sanh đều có đủ mười nghiệp đạo thiện và trí xuất ly.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát đến đâu cũng khuyên các chúng sanh đều xu hướng Vô thượng Bồ đề. Chỉ ca ngợi Phật thừa mà chẳng nói đến Nhị thừa và cộng pháp. Vì thế nên lúc Bồ tát thành Phật, trong Phật độ ấy các chúng sanh quyết định sẽ được Vô thượng Bồ đề, xa rời Thanh văn và Bích Chi Phật. Có vô lượng Bồ tát đầy trong nước ấy.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát đối với lợi dưỡng của người chẳng hề ngăn dứt, thấy người được lợi thì vui mừng. Vì thế nên lúc Bồ tát thành Phật, trong Phật độ ấy bao nhiêu chúng sanh có những đồ vật cần dùng không hề đoạn dứt, đầy đủ được đại pháp quang minh.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát nếu thấy Tỳ kheo, Tỳ kheo ni có ai phạm tội thì trọn chẳng đem rao nói, chỉ tự mình an trụ trong chánh pháp. Vì thế nên lúc Bồ tát thành Phật, trong Phật độ ấy tất cả không có danh từ tội lỗi. Tại sao? Vì đại chúng trong nước ấy đều được thanh tịnh không có pháp tội lỗi.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát thích pháp cầu pháp chẳng sanh nhiệt não, như pháp đã được nghe an trụ đúng mà tu hành. Vì thế nên lúc Bồ tát thành Phật, trong Phật độ ấy tất cả chúng sanh đều thích pháp cầu pháp không có nhiệt não, tu hành đúng pháp.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát đem các thứ âm nhạc cúng dường Phật pháp hồi hướng thiện căn về công đức trang nghiêm Phật độ. Vì thế nên lúc Bồ tát thành Phật, trong Phật độ ấy có trăm ngàn âm nhạc tự nhiên hòa tấu.
Lại nữa, này Xá Lợi Phất! Bồ tát nếu thấy chúng sanh thất niệm thì làm cho họ được chánh niệm. Vì thế nên lúc Bồ tát thành Phật, trong Phật độ ấy các hàng đệ tử được thìền duyệt thực.
Này Xá Lợi Phất! Phật độ công đức như vậy, đầy đủ biện tài Như Lai, hoặc một kiếp, hoặc hơn một kiếp nói kể chẳng hết được.
Này Xá Lợi Phất! Nhưng nay Phật tùy theo chỗ thích muốn của chư Bồ tát mà lược nói như vậy. Người có chí nguyện thù thắng nghe rồi xu hướng sẽ được viên mãn công đức Phật độ.
Này Xá Lợi Phất! Bồ tát thành tựu ba pháp mau được Vô thượng Bồ đề cầu Phật độ đều được thành. Những gì là ba? Một là đại nguyện thù thắng, hai là an trụ chẳng phóng dật, ba là như pháp được nghe phát khởi chánh tu hành.”
Ngài Xá Lợi Phất bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Đức Như Lai hi hữu khéo nói pháp ấy. Vì đức Thế Tôn an trụ bất phóng dật nên được pháp Bồ đề phần. Vì an trụ chánh tu hành nên được đại Bồ đề. Vì an trụ thắng nguyện nên được Phật độ công đức trang nghiêm.”
Đức Phật nói: “Đúng vậy, đúng như lời ông nói. Như thuở trước, Phật dùng đại nguyện lực thành tựu Phật độ, vì chẳng phóng dật nên được đại Bồ đề.
Này Xá Lợi Phất! Nếu chỉ có ngôn thuyết an trụ phóng dật mà chẳng chánh tu hành, người ấy còn chẳng đến được bực Thanh văn huống là có thể được Vô thượng Bồ đề. Vì thế nên Bồ tát nếu muốn tự biết mình là chân Bồ tát thì như sở học của Bồ tát phải học như vậy.”
Bây giờ trong hội có bốn vạn Bồ tát đứng dậy chắp tay hướng Phật mà đồng thanh bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Như đức Phật đã thọ ký chỗ học của Bồ tát, chúng tôi sẽ học theo an trụ chẳng phóng dật tu hành thành tựu đầy đủ đại nguyện nghiêm tịnh Phật độ.”
Đức Phật vui vẻ mỉm cười.
Ngài Xá Lợi Phất bạch Phật có duyên cớ gì mà hiện mỉm cười?
Đức Phật hỏi: “Ông có thấy chư Thiện nam tử sư tử hống ấy chăng?”
Ngài Xá Lợi Phất bạch Phật: “Vâng, đã thấy.”
Đức Phật nói: “Này Xá Lợi Phất! Các Thiện nam tử ấy, quá trăm ngàn kiếp, đều riêng ở cõi khác được Vô thượng Chánh giác đồng hiệu Nguyện Trang Nghiêm Như Lai đủ mười đức hiệu cũng như đương lai Sư Tử Phật v.v... Cõi ấy thanh tịnh như nước của Vô Lượng Thọ Phật chỉ trừ thọ lượng đều thọ mười kiếp.”
Bấy giờ Sư Tử Dũng Mãnh Lôi Âm Bồ tát liền từ tòa đứng dậy trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay hướng Phật bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Văn Thù Sư Lợi đồng chân Bồ tát đây được chư Phật Thế Tôn thường khen tặng, bao lâu sẽ được Vô thượng Bồ đề? Phật độ sẽ được như thế nào?”
Đức Phật nói: “Này Thiện nam tử! Ông nên hỏi Văn Thù Sư Lợi.”
Sư Tử Dũng Mãnh hỏi Văn Thù Sư Lợi rằng: “Chừng nào Ngài sẽ được Vô thượng Bồ đề?”
Văn Thù Sư Lợi nói: “Sao Ngài chẳng hỏi tôi có xu hướng Bồ đề chăng mà lại hỏi tôi thành Bồ đề. Tại sao? Vì ở nơi Bồ đề, tôi còn chẳng xu hướng huống là sẽ được.”
Sư Tử Dũng Mãnh hỏi: “Ngài há chẳng vì lợi ích chúng sanh mà đến Bồ đề ư?”
Văn Thù Sư Lợi nói: “Không. Tại sao? Vì chúng sanh bất khả đắc vậy. Nếu chúng sanh là có thì có thể làm lợi ích mà hướng đến Bồ đề. Nhưng chúng sanh thọ mạng và nhơn đều vô sở hữu, nên nay tôi chẳng đến Bồ đề cũng chẳng thối chuyển.”
Sư Tử Dũng Mãnh nói: “Ngài có xu hướng chư Phật pháp chăng?”
Văn Thù Sư Lợi nói: “Không. Thưa Ngài, tất cả các pháp đều xu hướng Phật pháp. Tại sao? Các pháp vô lậu vô hệ vô hình vô tướng là xu hướng Phật. Như xu hướng Phật các pháp cũng vậy. Thưa Ngài! Như lời Ngài hỏi xu hướng Phật pháp, nay tôi hỏi Ngài tùy ý Ngài đáp. Là sắc cầu Bồ đề ư? Là sắc bổn tánh cầu, là sắc như cầu, là sắc tự thể cầu, là sắc không cầu, là sắc ly cầu, là sắc pháp tánh cầu Bồ đề ư? Thưa Ngài! Là sắc được Bồ đề ư? Nhẫn đến là sắc pháp tánh được Bồ đề ư?”
Sư Tử Dũng Mãnh đáp: “Không, thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi. Sắc chẳng cầu Bồ đề, nhẫn đến sắc pháp tánh chẳng cầu Bồ đề. Sắc chẳng được Bồ đề, nhẫn đến sắc pháp tánh chẳng được Bồ đề.”.
Văn Thù Sư Lợi hỏi: “Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Thọ tưởng hành thức cầu Bồ đề nhẫn đến thức pháp tánh cầu Bồ đề ư? Thức được Bồ đề nhẫn đến thức pháp tánh được Bồ đề ư?”
Sư Tử Dũng Mãnh đáp: “Không. Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! Thọ tưởng hành thức chẳng cầu Bồ đề nhẫn đến thức pháp tánh chẳng cầu Bồ đề. Thức chẳng được Bồ đề nhẫn đến thức pháp tánh chẳng được Bồ đề.”
Văn Thù Sư Lợi hỏi: “Rời lìa ngũ uẩn có ngã sở chăng?
- Không. Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi.
- Đúng vậy. Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Lại còn lấy pháp gì để cầu Bồ đề và được Bồ đề!
- Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! Lời Ngài nói đại chúng đều kính tin. Nay Ngài nói chẳng cầu Bồ đề chẳng được Bồ đề, hàng tân phát ý Bồ tát nghe lời này sẽ sanh kinh sợ.
- Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Tất cả pháp không có kinh sợ. Trong thiệt tế cũng không kinh sợ. Đức Như Lai vì người không kinh sợ mà thuyết pháp. Nếu người kinh sợ thì họ sanh nhàm. Nếu sanh chán nhàm thì họ ly dục. Nếu ly dục thì họ giải thoát. Nếu giải thoát thì không Bồ đề. Nếu không Bồ đề thì là vô trụ. Nếu họ vô trụ thì là vô khứ. Nếu vô khứ thì là vô lai thì là vô nguyện cầu. Nếu không nguyện cầu thì chẳng thối chuyển. Nếu chẳng thối chuyển thì là thối chuyển. Thối chuyển những pháp gì? Đó là chấp ngã chúng sanh thọ mạng và nhơn, hoặc đoạn hoặc thường thủ tướng phân biệt thảy đều thối chuyển cả. Nếu kia thối chuyển thì là chẳng thối chuyển. Chẳng thối chuyển những pháp gì? Đó là không vô tướng vô nguyện thiệt tế và các Phật pháp đều chẳng thối chuyển. Sao gọi là Phật pháp? Nghĩa là chẳng rời chẳng dính và không sở duyên, không nhập không xuất không có sở hành cũng không biểu thị, chỉ có giả danh, không, vô sanh, vô khứ vô lai, vô nhiễm vô tịnh, không trần, lìa trần, không ngã, không phân biệt, không hòa hiệp, không chấp thủ, bình đẳng không trái, đây là Phật pháp.
Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Các Phật pháp ấy chẳng phải pháp chẳng phải phi pháp. Tại sao? Vì các Phật pháp không chỗ sanh vậy. Hàng tân phát ý Bồ tát kia nghe lời này nếu sanh kinh sợ thì mau được Bồ đề. Nếu khởi tâm phân biệt mà nghĩ rằng nay chúng tôi được thành Bồ đề, tùy có phát tâm an trụ nơi hiện chứng mới được Bồ đề. Nếu chẳng phát tâm thì trọn chẳng được. Vì các phân biệt này đều chẳng sanh nên Bồ đề và tâm đều bất khả đắc. Vì bất khả đắc thì vô phân biệt. Nếu vô phân biệt thì không hiện chứng. Tại sao? Vì sở nhơn hiện chứng bất khả đắc vậy.
- Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Hư không có thể được Bồ đề chăng?
- Không, thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi.
- Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Đức Như Lai há chẳng nói tất cả pháp đồng hư không ư?
- Đúng vậy. Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi.
- Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Như hư không Bồ đề cũng vậy. Như Bồ đề hư không cũng vậy. Hư không với Bồ đề không hai không khác. Nếu Bồ tát biết nghĩa bình đẳng này thì không có tri cũng không bất tri cũng không bất kiến.”
Lúc nói pháp ấy, có một vạn bốn ngàn Tỳ kheo tận các lậu tâm được giải thoát, mười hai na do tha Tỳ kheo xa trần rời cấu ở trong các pháp được pháp nhãn thanh tịnh, chín vạn sáu ngàn chúng sanh phát tâm Bồ đề, năm vạn hai ngàn Bồ tát được vô sanh nhẫn.
Sư Tử Dũng Mãnh Lôi Âm Bồ tát hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ tát rằng: “Từ khi Ngài phát tâm Bồ tát đến nay được bao nhiêu thời gian?”
Văn Thù Sư Lợi Bồ tát nói: “Thôi đi, Ngài chớ sanh vọng niệm. Nếu có ai ở trong pháp vô sanh mà nói rằng tôi phát tâm Bồ đề, tôi làm hạnh Bồ đề là đại tà kiến.
Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Tôi trọn chẳng thấy có tâm phát hướng Bồ đề. Do chẳng thấy tâm và Bồ đề nên không có phát.”
Sư Tử Dũng Mãnh hỏi: “Ngài Văn Thù Sư Lợi trọn chẳng thấy tâm, đó là cú nghĩa gì?”
Văn Thù Sư Lợi nói: “Thưa Ngài! Là trọn chẳng thấy gọi là bình đẳng.
- Thế nào nói là bình đẳng? Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi.
- Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Bình đẳng như vậy bởi các thứ tánh đều vô sở hữu. Các pháp ấy vì là một vị nên nói. Một vị nói ấy, đó là rời lìa vậy, không nhiễm không tịnh, chẳng đoạn chẳng thường, chẳng sanh chẳng diệt, không ngã không thọ, chẳng thủ chẳng xả. Thuyết pháp như vậy, chẳng quan niệm tôi nói cũng không phân biệt. Ở trong pháp bình đẳng ấy mà biết rõ tu hành thì gọi là bình đẳng.
Lại nữa, thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Nếu Bồ tát nhập vào bình đẳng ấy thì trọn chẳng thấy có các thứ giới hoặc ít hoặc nhiều. Ở trong bình đẳng chẳng thấy bình đẳng, ở trong tương vi chẳng thấy tương vi. Tại sao? Ví nó bổn lai tánh thanh tịnh vậy.”
Bấy giờ Sư Tử Dũng Mãnh Lôi Âm Bồ tát bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Văn Thù Sư Lợi Bồ tát chẳng chịu nói mình phát tâm bao lâu mà đại chúng đều muốn nghe.”
Đức Phật nói: “Này Thiện nam tử! Văn Thù Sư Lợi là bực trí nhẫn thậm thâm. Ở trong trí nhẫn thậm thâm ấy, Bồ đề và tâm đều bất khả đắc. Vì bất khả đắc nên chẳng nói. Nhưng này Thiện nam tử! Nay Phật sẽ nói Văn Thù Sư Lợi phát tâm lâu mau. Này Thiện nam tử! Thuở quá khứ lâu xa quá bảy mươi vạn a tăng kỳ hằng sa kiếp, có Phật hiệu Lôi Âm Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh giác xuất thế tại phương Đông cách đây bảy mươi hai na do tha Phật độ, thế giới ấy tên Vô Sanh, Lôi Âm Như Lai thuyết pháp tại đó. Chúng Thanh văn có tám mươi bốn ức na do tha. Chúng Bồ tát nhiều gấp bội.
Bấy giờ có Vua tên Phổ Phúc đủ bảy báu trị bốn Thiên hạ với chánh pháp lý làm Chuyển Luân Vương. Trong thời gian tám vạn bốn ngàn năm, vua Phổ Phúc thường cung kính cúng dường Phật Lôi Âm với những y phục uống ăn cung điện đền đài đẹp tốt, cũng thường cung kính cúng dường chư Bồ tát và chúng Thanh văn.
Thân tộc của vua, nội cung Thể nữ Vương tử đại thần chỉ chuyên lo cúng dường mà không làm gì khác. Dầu thời gian nhiều năm mà không ai mỏi nhọc.
Sau thời gian ấy, nhà vua ở vắng một mình suy nghĩ: nay tôi đã nhóm họp căn lành quang đại mà còn chưa định chỗ hồi hướng, vì cầu Đế Thích Phạm Vương Chuyển Luân Vương chăng? Vì cầu Thanh văn Bích Chi Phật chăng?
Lúc vua nghĩ như vậy rồi, trên không có chư Thiên bảo rằng: Đại vương chớ phát khởi tâm kém hẹp ấy. Tại sao? Vì phước đức của vua đã họp được rất nhiều, vua nên phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Nghe lời khuyến cáo ấy, vua Phổ Phúc vui mừng nghĩ rằng nay tôi ở nơi đây quyết định chẳng lui, vì chư Thiên biết lòng tôi nên đến khuyến cáo. Nhà vua đem tám mươi ức na do tha trăm ngàn người đến chỗ Phật Lôi Âm, đảnh lễ chân Phật, hữu nhiễu bảy vòng, cúi mình cung kính chắp tay nói kệ bạch Phật:
“Nay tôi lễ Thế Tôn
Mong vì tôi chỉ dạy
Làm sao được thành tựu
Đấng Thế Tôn tối thượng
Chỗ nương nhờ cho đời
Tôi đã rộng cúng dường
Bởi tâm chẳng quyết định
Chưa biết chỗ hồi hướng
Tôi đã tu phước lớn
Nên hồi hướng chỗ nào
Là cầu ngôi Chuyển Luân
Đế Thích hay Phạm Vương
Là cầu quả Thanh văn
Hay cầu Bích Chi Phật
Lúc tôi nghĩ như vậy
Trên không chư Thiên bảo
Đại vương chớ nên phát
Tâm hồi hướng kém hẹp
Nên vì các chúng sanh
Mà phát nguyện rộng lớn
Vì lợi ích thế gian
Nên phát tâm Bồ đề
Nay tôi thỉnh Thế Tôn
Đấng Pháp Vương tự tại
Mong nói các phương tiện
Phát khởi tâm Bồ đề
Phát tâm Bồ đề rồi
Sẽ được như Thế Tôn
Duy nguyện đức Thế Tôn
Vì tôi tuyên nói đủ.”
Bấy giờ đức Lôi Âm Như Lai vì vua Phổ Phúc mà nói kệ rằng:
“Đại vương nên lắng nghe
Phật sẽ thứ đệ nói
Tất cả pháp nhơn duyên
Tùy căn dục thật hành
Như sở nguyện đã có
Được quả báo như vậy
Phật ở thuở quá khứ
Cũng phát tâm Bồ đề
Vì tất cả chúng sanh
Nguyện làm lợi ích họ
Như chỗ Phật phát nguyện
Như xưa đã phát tâm
Được bất thối Bồ đề
Ý nguyện mau viên mãn
Đại vương phải kiên cố
Tu tập các công hạnh
Vua sẽ được Vô thượng
Phật Bồ đề quảng đại.”
Vua Phổ Phúc nghe Phật nói vui mừng hớn hở được chưa từng có, liền ở trước đại chúng đại sư tử hống mà nói kệ rằng:
“Nay đối trước đại chúng
Phát tâm đại Bồ đề
Vì mỗi mỗi chúng sanh
Thệ tận vị lai tế
Thọ vô lượng sanh tử
Mà làm lợi ích lớn
Tu đủ hạnh Bồ tát
Cứu các chúng sanh khổ
Từ nay nếu trái thệ
Phát khởi tâm tham dục
Bỏn sẻn ganh oán hờn
Là dối Phật mười phương
Tôi từ ngày hôm nay
Nhẫn đến thành Bồ đề
Thường phải học chư Phật
Tu hành các phạm hạnh
Tùy thuận giới thanh tịnh
Xa rời các lỗi lầm
Tôi ở nơi Bồ đề
Cũng chẳng nguyện mau chứng
Sẽ tận vị lai tế
Rộng lợi ích chúng sanh
Nghiêm tịnh các Phật độ
Vô lượng bất tư nghị
Sẽ khiến danh hiệu tôi
Nghe khắp mười phương cõi
Nay tôi tự thọ ký
Quyết định sẽ thành Phật
Chí nguyện thắng thanh tịnh
Nơi đây vốn không nghi
Tôi sẽ sạch ba nghiệp
Chẳng cho sanh các ác
Tôi dùng chân thiệt này
Thành Phật Lưỡng Túc Tôn
Nếu tâm tôi chân thiệt
Đất sẽ động sáu cách
Nếu lời tôi thành thiệt
Không có chút hư vọng
Sẽ khiến trong hư không
Âm nhạc tự nhiên trỗi
Nếu tôi không siểm khúc
Cũng không tâm oán hận
Do tâm chân thiệt ấy
Sẽ mưa hoa mạn đà.”
Lúc vua Phổ Phúc nói kệ rồi, vì tâm vua chân thiệt nên mười phương các ức thế giới chấn động sáu cách, trên không âm nhạc tự nhiên hòa tấu và mưa hoa mạn đà la.
Hai mươi ức người tùy tùng nhà vua đều rất vui mừng mà tự bảo rằng chúng tôi sẽ được Vô thượng Bồ đề, rồi bắt chước nhà vua mà phát Bồ đề tâm.
Đức Phật bảo đại chúng: “Vua Phổ Phúc thuở xưa ấy đâu phải ai khác, chính là Văn Thù Sư Lợi hiện nay vậy. Ông ấy ở thuở quá khứ bảy mươi vạn a tăng kỳ hằng sa kiếp tối sơ phát tâm Bồ đề, kế đó quá sáu mươi bốn hằng sa kiếp được vô sanh pháp nhẫn hay đầy đủ Bồ tát thập địa và thập trí lực Như Lai, các pháp ở Phật địa thảy đều viên mãn, mà ông ấy chưa từng khởi tâm, nghĩ rằng tôi sẽ thành Phật.
Này chư Thiện nam tử! Thuở ấy, hai mươi ức người tùy tùng nhà vua đồng phát Bồ đề tâm ấy, đều do Văn Thù Sư Lợi khuyên dạy cho vào sáu Ba la mật: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ, nay tất cả đều đã chứng Vô thượng Bồ đề chuyển đại pháp luân, xong Phật sự, nhập Niết bàn. Văn Thù Sư Lợi đều cúng dường chư Phật ấy và hộ trì chánh pháp của chư Phật ấy. Chỉ còn có một đức Phật hiện tại là Địa Trì Sơn Như Lai ở thế giới tên Địa Trì tại Hạ phương cách đây bốn mươi hằng sa Phật độ, cũng có vô số chúng sanh Thanh văn và Bồ tát.”
Lúc đức Phật nói nhơn duyên đời trước của Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, trong đại chúng có bảy ngàn người phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Sư Tử Dũng Mãnh Lôi Âm Bồ tát bạch Văn Thù Sư Lợi Bồ tát: “Thưa Ngài! Ngài đã đầy đủ thập địa và Như Lai thập lực đầy đủ tất cả Phật pháp, cớ sao chẳng thành Vô thượng Bồ đề?”
Văn Thù Sư Lợi nói: “Thưa Ngài! Không có đã viên mãn tất cả Phật pháp rồi lại còn chứng Bồ đề. Tại sao? Vì đã viên mãn thì chẳng nên lại chứng.
- Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! Thế nào viên mãn tất cả Phật pháp?
- Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Phật pháp viên mãn như chân như viên mãn. Chân như viên mãn như hư không viên mãn. Phật pháp chân như và hư không như vậy cũng không có hai. Như Ngài hỏi rằng thế nào viên mãn tất cả Phật pháp? Như sắc viên mãn, như thọ tưởng hành thức viên mãn, Phật pháp viên mãn cũng như vậy.
- Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! Thế nào là sắc v.v... viên mãn?
- Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Sắc được Ngài thấy, là thường hay vô thường?
- Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! Đều chẳng phải cả.
- Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Nếu pháp đã chẳng phải thường chẳng phải vô thường, nó có tăng giảm chăng?
- Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! Chẳng tăng giảm.
- Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Nếu pháp chẳng tăng giảm thì gọi là viên mãn. Thế nào là viên mãn? Nếu ở nơi các pháp chẳng biết rõ được thì sanh phân biệt, nếu biết rõ được thì không phân biệt. Nếu không phân biệt thì không tăng giảm. Nếu không tăng giảm thì là bình đẳng. Nếu thấy sắc bình đẳng tức là sắc viên mãn. Thọ tưởng hành thức và tất cả pháp viên mãn cũng như vậy.
Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! Từ lúc Ngài được pháp nhẫn đến nay không một tâm niệm nguyện thành Chánh giác, nay sao lại khuyên người xu hướng Bồ đề?
- Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Tôi thiệt chẳng hề khuyên một chúng sanh xu hướng Bồ đề. Tại sao? Vì chúng sanh vô sở hữu vậy. Vì chúng sanh tánh tự ly vậy. Nếu chúng sanh là có thì khiến họ xu hướng Bồ đề. Chúng sanh đã bất khả đắc nên không có được khuyên. Tại sao? Vì là bình đẳng vô phân biệt vậy. Chẳng phải đem bình đẳng cầu bình đẳng, cũng không có khởi. Vì thế nên thường nói rằng phải quan sát các hành: tới không từ đâu, đi không đến đâu, đây gọi là bình đẳng, là tánh không. Ở trong tánh không, chẳng có sở cầu.
- Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Như lời Ngài hỏi tôi rằng từ lúc đắc nhẫn đến nay không có một niệm tâm sẽ được Bồ đề! Thưa Ngài! Ngài có thấy tâm ấy chăng, mà dùng tâm ấy được Bồ đề chăng?
- Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! Không. Tại sao? Vì tâm chẳng phải sắc nên chẳng thấy được. Bồ đề cũng vậy chỉ là danh tướng thôi. Hoặc tâm danh hay Bồ đề danh đều vô sở hữu cả.
- Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Như lời Ngài nói tôi chẳng sanh một niệm tâm được Bồ đề, đó là mật ý mà nói. Tại sao? Vì tâm bổn lai không có sanh nên là vô sanh. Đã vô sanh thì gì được gì chứng.
- Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! Sao gọi là bình đẳng chứng nhập?
- Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Ở trong các pháp mà không buộc dính thì gọi là bình đẳng chứng. Nói chứng nhập là trí vi tế ấy chẳng sanh diệt không khác với chân như không phân biệt, đây gọi là chứng nhập. Nếu là người chánh kiến tu hành thì trong bình đẳng không có một pháp để được, rời lìa các thứ tánh, cũng chẳng dính mắc nơi một, đây gọi là chứng nhập. Nếu dùng thân chứng các pháp vô tướng, biết rõ tướng ấy là vô tướng, mà đối với thân tâm cũng chẳng chấp trước, đây gọi là viên mãn chứng nhập.
- Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! Thế nào gọi là được?
- Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Do ngôn thuyết thế gian mà gọi là được. Chỗ được của chư Thánh chẳng phải ngôn ngữ nói được. Tại sao? Vì pháp không y chỉ rời lìa ngôn thuyết ấy.
Lại nữa, thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Lấy không được làm được, cũng chẳng phải được chẳng phải chẳng được gọi đó là được.”
Sư Tử Dũng Mãnh Lôi Âm Bồ tát bạch đức Phật: “- Bạch đức Thế Tôn! Xin nói Phật độ của Văn Thù Sư Lợi được.”
Đức Phật bảo Ngài Sư Tử Dũng Mãnh hỏi nơi Ngài Văn Thù Sư Lợi.
Sư Tử Dũng Mãnh Bồ tát bạch Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Thưa Ngài! Ngài sẽ được Phật độ công đức trang nghiêm nào?”
Văn Thù Sư Lợi Bồ tát nói: “Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Nếu tôi cầu Bồ đề, Ngài có thể hỏi Phật độ sẽ được.
- Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! Ngài há lại chẳng cầu Bồ Đề ư?
- Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Tôi chẳng cầu. Tại sao? Vì nếu có chỗ cầu thì có nhiễm trước, nếu có nhiễm trước thì có tham ái, nếu có chỗ ái thì có sanh, nếu có sanh thì có ái, nếu có ái thì trọn chẳng xuất ly. Vì thế nên tôi chẳng cầu Bồ đề. Tại sao? Vì Bồ đề bất khả đắc vậy. Do vì bất khả đắc nên chẳng cầu.
Nhưng Ngài hỏi tôi Phật độ nào tôi sẽ được. Tôi không thể nói. Tại sao? Vì đối với đức Như Lai Nhứt thiết trí mà tự nói Phật độ công đức trang nghiêm của mình, thì thành ra Bồ tát tự khen công đức của mình.”
Đức Phật nói: “Này Văn Thù Sư Lợi! Ông có thể tự nói dùng những nguyện gì trang nghiêm Phật độ. Khiến chư Bồ tát nghe rồi quyết định thành mãn nguyện ấy.”
Bấy giờ Ngài Văn Thù Sư Lợi tuân lời Phật, liền đứng dậy trịch y vai hữu, gối hữu chấm đất chắp tay bạch đức Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Nay tôi thừa thần lực Phật sẽ tuyên nói, những ai muốn cầu đại Bồ đề đều nên lắng nghe. Nếu nghe điều nguyện ấy phải như thiệt tu học cho được viên mãn.”
Lúc Văn Thù Sư Lợi Bồ tát gối hữu chấm đất, mười phương đều có hằng sa Phật độ chấn động sáu cách.
Văn Thù Sư Lợi Bồ tát bạch đức Phật: “Bạch Thế Tôn! Tôi từ thuở xa xưa trăm ngàn ức na do tha a tăng kỳ kiếp đến nay phát khởi nguyện như vầy:
Tôi dùng Thiên nhãn vô ngại thấy trong vô lượng vô biên Phật độ có tất cả chư Phật Như Lai, nếu chẳng phải là do tôi khuyên phát tâm quyết định Bồ đề và giáo hóa khiến tu sáu Ba la mật cho đến thành Vô thượng Bồ đề, thì ở nơi Bồ đề tôi trọn chẳng nên chứng. Mà tôi quyết phải viên mãn sở nguyện này, rồi sau sẽ chứng Vô thượng Bồ đề.”
Chư Bồ tát đều nghĩ rằng: Ngài Văn Thù Sư Lợi dùng Thiên nhãn vô ngại thấy bao nhiêu Như Lai?
Đức Phật biết tâm niệm ấy mới bảo Ngài Sư Tử Dũng Mãnh Lôi Âm Bồ tát rằng: “Này Thiện nam tử! Ví như đem cả Tam Thiên Đại Thiên thế giới này nghiền nát thành vi trần, có thể dùng toán số biết số là bao nhiêu chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Không thể biết được.
- Này Thiện nam tử! Thiên nhãn vô ngại của Văn Thù Sư Lợi thấy vô lượng chư Phật ở phương Đông lại quá số ấy, chín phương kia cũng như vậy.”
Văn Thù Sư Lợi Bồ tát bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Tôi có nguyện là lấy hằng sa Phật độ làm một Phật độ vô lượng báu đẹp xen lẫn trang nghiêm. Nếu không như vậy thì tôi trọn chẳng chứng Vô thượng Bồ đề.
Bạch đức Thế Tôn! Tôi còn có nguyện khiến trong nước tôi có cây Bồ đề lượng bằng mười cõi Đại Thiên, ánh sáng của cây ấy chiếu khắp nước.
Bạch đức Thế Tôn! Tôi còn có nguyện là tôi ngồi Bồ đề rồi chứng Vô thượng Bồ đề nhẫn đến Niết bàn, trong thời gian ấy chẳng rời khỏi tòa Bồ đề mà chỉ dùng biến hóa hiện thân khắp mười phương vô lượng vô số Phật độ thuyết pháp cho các chúng sanh.
Bạch đức Thế Tôn! Tôi còn có nguyện là khiến nước tôi không tên nữ nhơn, chỉ thuần có Bồ tát rời lìa phiền não cấu đủ phạm hạnh, lúc sơ sanh ca sa theo thân ngồi kiết già bỗng nhiên hiện ra, Bồ tát như vậy đầy khắp nước tôi. Không có tên Thanh văn và Bích Chi Phật, ngoại trừ đức Như Lai biến hóa qua đến mười phương vì các chúng sanh nói pháp tam thừa.”
Bấy giờ Ngài Sư Tử Dũng Mãnh Lôi Âm Bồ tát bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Văn Thù Sư Lợi đương lai thành Phật hiệu là gì?”
Đức Phật nói: “Này Thiện nam tử! Lúc Văn Thù Sư Lợi thành Phật hiệu Phổ Kiến. Tại sao lại hiệu là Phổ Kiến? Bởi đức Như Lai ấy, ở nơi mười phương vô lượng trăm ngàn ức na do tha Phật độ đều khắp làm cho được thấy. Nếu các chúng sanh thấy đức Phật Phổ Kiến thì tất định sẽ được Vô thượng Bồ đề.
Nay Phổ Kiến Như Lai dầu chưa thành Phật, khi ta hiện tại đây và sau khi ta nhập Niết bàn, có ai nghe danh hiệu ấy, cũng đều tất định sẽ được Vô thượng Bồ đề, chỉ trừ người đã nhập ngôi vị ly sanh và người tâm nguyện hẹp kém.”
Ngài Văn Thù Sư Lợi lại bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Tôi còn có nguyện là như cõi nước đức Phật A Di Đà lấy pháp hỉ làm món ăn, mà trong nước tôi Bồ tát sơ sanh lúc khởi ý nghĩ ăn liền có món ăn trăm vị đầy trong bát tại tay hữu, liền nghĩ rằng nếu chưa cúng dường mười phương chư Phật và bố thí những chúng sanh nghèo khổ não và ngạ quỉ v.v... cho họ no đủ thì tôi quyết định chẳng nên tự ăn. Lúc nghĩ như vậy liền được ngũ thần thông bay đi vô ngại đến mười phương vô lượng vô số Phật độ cúng dường chư Phật và chúng Thanh văn, cùng chu cấp cho chúng sanh nghèo khổ, rồi thuyết pháp cho họ rời lìa khát ái, trong khoảng một niệm trở về bổn xứ.
Lại nữa, bạch Đức Thế Tôn! Tôi còn có nguyện là trong nước tôi chư Bồ tát sơ sanh cần dùng y phục, trong tay họ tùy ý xuất hiện các thứ bửu y tốt sạch vừa mặc đúng y phục của Sa môn tự nghĩ rằng nếu chưa cúng dường mười phương chư Phật tôi chẳng nên tự dùng, trong khoảng một niệm qua đến mười phương vô lượng Phật độ, đem bửu y ấy cúng dường chư Phật rồi trở về bổn xứ mới tự thọ dụng.
Lại nữa, bạch đức Thế Tôn! Tôi còn có nguyện là trong nước tôi, chúng Bồ tát được của báu và những đồ dùng cần phải chia cúng chư Phật và chúng Thanh văn. Khắp cúng dường rồi sau mới thọ dụng.
Trong nước tôi lại rời lìa tám nạn và pháp bất thiện. Đã không tội lỗi lại không cấm giới, không có các thứ nhiệt não bất như ý”.
Ngài Sư Tử Dũng Mãnh Lôi Âm Bồ tát bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Phật độ ấy tên là gì?”
Đức Phật nói: “Này Thiện nam tử! Nước ấy tên là Tùy Nguyện Tích Tập Thanh Tịnh Viên Mãn.
- Bạch đức Thế Tôn! Phật độ ấy ở phương nào?
- Này Thiện nam tử! Phật độ ấy ở tại phương Nam. Thế giới Ta Bà này cũng ở trong Phật độ ấy.
Ngài Văn Thù Sư Lợi lại bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Tôi còn có nguyện trong nước tôi chứa họp vô lượng diệu bửu làm thành, lại dùng vô lượng báu ma ni xen lẫn trang nghiêm. Báu ma ni ấy ở trong các thế giới mười phương chưa từng có. Tên của các báu ấy, trong câu chi năm nói cũng chẳng hết được. Tùy ý thích của chư Bồ tát muốn nước ấy bằng vàng thì thấy là vàng. Thích bằng bạc thì thấy nước ấy bằng bạc, nhưng với người thấy vàng không hề tổn giảm. Hoặc thích bằng pha lê lưu ly mã não xích chân châu vô lượng thứ báu đều tùy sở thích mà thấy không chướng ngại nhau. Cho đến thích bằng chiên đàn hương a già la hương xích chiên đàn hương v.v... đều tùy sở thích riêng mà thấy không chướng ngại nhau.
Trong nước ấy chẳng dùng ánh sáng nhựt nguyệt tinh tú châu ngọc đèn lửa để soi sáng, chư Bồ tát ấy đều dùng ánh sáng của tự thân mình chiếu suốt ngàn ức na do tha cõi.
Trong nước ấy lấy hoa nở xòe làm ngày, hoa khép lại làm đêm, tùy ý thích thời tiết của chư Bồ tát mà đều ứng đúng theo, nhưng không có lạnh nóng già bịnh chết. Chỉ tùy sở nguyện của chư Bồ tát muốn chứng Bồ đề liền qua thế giới khác ở cung trời Đâu suất mãn thọ giáng sanh mà thành Phật. Trong nước ấy không có nhập Niết bàn. Trăm ngàn thứ nhạc ở hư không, dầu chẳng hiện tướng hình mà nghe tiếng nhạc. Nhạc ấy chẳng phát thanh thuận tham ái, chỉ phát thanh Phật Pháp Tăng và các Ba la mật, các pháp môn Bồ tát tạng. Tùy theo chỗ hiểu của chư Bồ tát thảy đều được nghe diệu pháp.
Chư Bồ tát nếu muốn thấy Phật, tùy chỗ đến kinh hành đứng ngồi, theo ý nghĩ liền thấy Phổ Kiến Như Lai ngồi cây Bồ đề. Nếu các Bồ tát có chỗ nghi, chỉ cần thấy đức Phổ Kiến Phật chẳng đợi giải thích mà liền hết nghi hiểu rõ pháp nghĩa.”
Lúc ấy trong hội có vô lượng trăm ngàn ức na do tha chư Bồ tát đồng thanh nói rằng:
- “Nếu có ai được nghe danh hiệu Phổ Kiến Phật bèn được lợi lành tối thượng, huống là người sanh về cõi nước ấy.
- Nếu có ai được nghe pháp môn Văn Thù Sư Lợi thọ ký này và nghe tên Văn Thù Sư Lợi thì gọi là diện kiến chư Phật.”
Đức Phật bảo chư Bồ tát rằng: “Đúng như vậy. Đúng như lời các ông nói. Này Thiện nam tử. Nếu có ai thọ trì trăm ngàn ức danh hiệu chư Phật, nếu lại có ai xưng danh hiệu Văn Thù Sư Lợi Bồ tát thì phước nhiều hơn, huống là xưng danh hiệu Phổ Kiến Phật. Tại sao? Vì trăm ngàn ức na do tha đức Phật ấy lợi ích chúng sanh chẳng bằng Văn Thù Sư Lợi làm lợi ích trong một kiếp.”
Lúc ấy trong chúng có vô lượng trăm ngàn ức na do tha Thiên Long Bát bộ Nhơn Phi nhơn đồng thanh xướng rằng:
“Nam mô Văn Thù Sư Lợi đồng Chân Bồ tát.
Nam mô Phổ Kiến Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh giác.”
Xướng lời trên rồi có tám vạn bốn ngàn ức na do tha chúng sanh phát tâm Bồ đề. Vô lượng chúng sanh căn lành thành thục được bất thối chuyển trong ba thừa.
Ngài Văn Thù Sư Lợi lại bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Tôi còn có nguyện như tôi đã được thấy vô lượng vô số trăm ngàn ức na do tha chư Phật Thế Tôn, bao nhiêu Phật độ công đức trang nghiêm của chư Phật ấy tất cả đều có đủ trong một Phật độ của tôi, chỉ trừ Nhị thừa và ngũ trược.
Bạch đức Thế Tôn! Nếu tôi tự nói các thứ công đức trang nghiêm trong Phật độ hơn hằng sa kiếp cũng nói chẳng hết. Như sở nguyện của tôi, chỉ có đức Phật biết được.”
Đức Phật nói: “Đúng vậy. Này Văn Thù Sư Lợi! Ở trong tam thế, tri kiến của đức Như Lai không có hạn lượng chướng ngại.”
Bấy giờ trong đại chúng có chư Bồ tát nghĩ rằng: Phật độ công đức trang nghiêm của Văn Thù Sư Lợi được có bằng quốc độ của đức Phật A Di Đà chăng?
Đức Thế Tôn biết tâm niệm của chư Bồ tát nên nói với Ngài Sư Tử Dũng Mãnh Bồ tát rằng: “Này Thiện nam tử! Ví như có người phân tích một sợi lông làm trăm phần, đem một phần lông chấm lấy một giọt nước trong đại hải. Một giọt nước biển ấy đem dụ cho sự trang nghiêm của quốc độ Phật A Di Đà, còn toàn nước đại hải đem lại dụ cho quốc độ trang nghiêm của Phật Phổ Kiến, lại còn hơn đây nữa. Tại sao? Vì Phật độ trang nghiêm của Phổ Kiến Như Lai chẳng thể nghĩ bàn được vậy.”
Sư Tử Dũng Mãnh Lôi Âm Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Những loại Phật độ trang nghiêm như vậy, trong tam thế chư Phật còn có quốc độ như vậy chăng?”
Đức Phật nói: “Có. Này Thiện nam tử! Phương Đông cách đây quá trăm ức hằng sa thế giới có Phật độ tên Trụ Tối Thượng Nguyện, có Phật hiệu Phổ Quang Thường Đa Công Đức Hải Vương Như Lai thọ mạng vô lượng vô biên thường thuyết pháp cho chúng Bồ tát. Cõi này công đức trang nghiêm đồng như cõi của Phổ Kiến Như Lai.
Này Thiện nam tử! Có bốn Bồ tát mặc giáp hoằng thệ bất tư nghị quyết định thành mãn thệ nguyện ấy, cũng sẽ được Phật độ trang nghiêm như Phật độ của Phổ Kiến Như Lai.”
Ngài Sư Tử Dũng Mãnh Lôi Âm Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Xin nói danh hiệu và chỗ ở của chư Bồ tát ấy. Lại xin hiển thị quốc độ của Phổ Quang Thường Đa Công Đức Hải Vương Như Lai để cho đại chúng đây được nhiều lợi ích. Tại sao? Vì chư Bồ tát đây nếu được thấy nghe thì ở nơi đại nguyện ấy sẽ được thành mãn.”
Đức Phật nói: “Này Thiện nam tử! Các ông lắng nghe, Phật sẽ nói cho. Này Thiện nam tử! Bốn Bồ tát ấy, một người tên Quang Minh Tràng ở tại Phật độ phương Đông của Phật Vô Ưu Đức. Người kế tên Trí Thượng ở tại Phật độ phương Nam của Phật Trí Vương. Người thứ ba tên Chư Căn Tịch Tĩnh ở tại quốc độ phương Tây của Phật Huệ Tích. Người thứ tư tên Nguyện Huệ ở tại quốc độ phương Bắc của Phật Na La Diên.”
Đức Thế Tôn dùng sức thần thông hiện Phật độ của Phổ Quang Thường Đa Công Đức Hải Vương Như Lai cho trong đại hội này thấy đức Phật ấy và chúng Bồ tát cùng những công đức trang nghiêm ở thế giới ấy, từ trước chưa từng thấy cũng chưa từng nghe, tất cả sự trang nghiêm ấy chẳng thể nghĩ bàn, vô lượng trăm ngàn ức na do tha châu báu xen lẫn trang nghiêm. Trong một kiếp nói công đức ấy cũng chẳng hết. Đại chúng đây đều thấy rõ như xem trái am ma lặc trong bàn tay. Bồ tát cõi ấy thân cao bốn vạn hai ngàn do tuần. Thân của Phật cao tám vạn bốn ngàn do tuần, ánh sáng chiếu khắp như tòa núi vàng diêm phù đàn, thành tựu công đức trang nghiêm rộng lớn ngồi dưới cây Bồ đề, chư Bồ tát cung kính vây quanh, hiện trăm ngàn ức những sự biến hóa qua đến trong các thế giới mười phương thuyết pháp cho các chúng sanh.
Đức Phật bảo chư Bồ tát: “Các Thiện nam tử! Các ông có thấy Phật độ ấy trang nghiêm và chúng Bồ tát chăng?”
Đại chúng đồng thanh bạch Phật rằng: “Vâng, chúng tôi đã thấy. Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi sẽ học hạnh Bồ tát ấy như chỗ tu hành của Văn Thù Sư Lợi, chúng tôi cũng sẽ thành tựu Phật độ trang nghiêm như vậy.”
Đức Thế Tôn vui vẻ mỉm cười, từ diện môn của Phật phóng ra nhiều tia sáng màu chiếu vô lượng vô biên thế giới, chiếu xong tia sáng ấy trở lại quanh Phật ba vòng rồi rót vào đảnh Phật.
Ngài Di Lặc Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Có nhơn duyên gì mà hiện mỉm cười?”
Đức Phật bảo Di Lặc Bồ tát rằng: “Trong đại chúng đây có tám vạn bốn ngàn Bồ tát thấy sự trang nghiêm của Phật độ ấy, dầu đã phát tâm mà nay muốn sẽ thành tựu Phật độ như vậy. Nhưng trong số ấy có mười sáu thiện đại trượng phu đủ chí nguyện thù thắng mà phát đại tâm, họ sẽ thành mãn như đại nguyện của Văn Thù Sư Lợi. Chư Bồ tát khác cũng mau sẽ được Vô thượng Bồ đề, sẽ được Phật độ trang nghiêm như cõi nước của Phật A Di Đà.
Di Lặc nên biết, chư Bồ tát chí nguyện đã thù thắng, chỗ thành tựu cũng lớn. Người chí nguyện thù thắng thì nói tôi thành tựu như Văn Thù Sư Lợi trang nghiêm Phật độ.
Những người chí nguyện kém dầu cũng khởi lòng tin nói lời như vậy. Do ngữ nghiệp phát ra lời ấy có thể bỏ dứt sáu mươi ức trăm ngàn na do tha kiếp sanh tử lưu chuyển, cũng được viên mãn năm Ba la mật.”
Lúc ấy Di Lặc Bồ tát thấy bốn phương nơi quang minh tràng, bốn đại Bồ tát đều ngồi trong lâu các lưu ly quang minh có trăm ngàn ức chư Thiên vây quanh mưa hoa trỗi nhạc hiện đại thần biến chấn động đại địa mà đến cõi này.
Di Lặc Bồ tát liền bạch Phật hỏi sự ấy.
Đức Phật nói: “Này Thiện nam tử! Bốn Bồ tát ấy vì thấy ta nên chư Như Lai ở bốn phương đều khiến đến đây.”
Bốn Bồ tát ấy đến đảnh lễ chân Phật rồi ngồi qua một phía, ánh sáng các Ngài chiếu khắp đại hội này.
Đức Phật bảo các Bồ tát rằng: “Này đại chúng! Bốn thiện đại trượng phu đây chí nguyện xu hướng đều chẳng nghĩ bàn, phải nên tôn trọng thỉnh hỏi pháp yếu ấy. Mà sở nguyện của bốn Bồ tát ấy đối với chư Bồ tát là tối thù thắng.
Nếu có Thiện nam tử thiện nữ nhơn được thấy bốn Bồ tát ấy thì tất định sẽ được Vô thượng Bồ đề bỏ dứt hai mươi ức kiếp sanh tử lưu chuyển, đầy đủ viên mãn năm Ba la mật. Nếu có nữ nhơn nghe tên chư Bồ tát thì mau rời khỏi thân nữ nhơn.”
Đức Phật nhiếp thần lực, cõi ấy bỗng chẳng còn hiện.
Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Tất cả các pháp đều như huyễn. Tại sao? Ví như nhà ảo thuật huyễn biến ẩn hiện. Các pháp sanh diệt cũng như vậy. Mà sanh diệt ấy tức là không sanh diệt. Do không sanh diệt tức là bình đẳng. Bồ tát tu bình đẳng ấy thì có thể chứng được Vô thượng Bồ đề.”
Trí Thượng Bồ tát nói: “Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! Nơi Bồ đề này thế nào chứng được?”
Văn Thù Sư Lợi nói: “Bồ đề này chẳng phải là được cũng chẳng phải là hoại được, chẳng phải an trụ được.”
Trí Thượng Bồ tát nói: “Nhưng Bồ đề này chẳng phải do an trụ mà được, cũng chẳng phải chẳng an trụ mà được. Tại sao? Vì pháp tánh ấy bổn lai vô sanh, chẳng phải đã có, chẳng phải sẽ có, chẳng phải hư hoại được, vì thế nên không được.”
Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi chư Bồ tát rằng: “Thế nào gọi là: Nói pháp môn nhứt tướng?”
Di Lặc Bồ tát nói: “Nếu có người chẳng thấy uẩn giới và xứ, cũng chẳng phải chẳng thấy, không chỗ phân biệt, cũng chẳng thấy hợp tan. Đây gọi là: Nói pháp môn nhứt tướng.”
Sư Tử Dũng Mãnh Lôi Âm Bồ tát nói: “Nếu chẳng phát khởi các thứ phân biệt: này là pháp phàm phu, này là pháp Nhị thừa, này thời chẳng trái pháp tánh, không phân biệt như vậy mà nhập nhứt tướng nghĩa là vô tướng. Đây gọi là: Nói pháp môn nhứt tướng.”
Lạc Kiến Bồ tát nói: “Nếu có người tu chân như hạnh mà cũng chẳng sanh tưởng chân như, nơi thậm thâm này không chỗ phân biệt. Đây gọi là: Nói pháp môn nhứt tướng.”
Vô Ngại Biện Bồ tát nói: “Nếu có thể cứu cánh tận hết nơi các pháp, cũng đem pháp ấy nói cho người. Đây gọi là: Nói pháp môn nhứt tướng.”
Thiện Tư Bồ tát nói: “Nếu dùng tư nghị nhập vào bất tư nghị, bất tư nghị ấy cũng bất khả đắc. Đây gọi là: Nói pháp môn nhứt tướng.”
Diệu Ly Trần Bồ tát nói: “Nếu có ai chẳng nhiễm tất cả tướng, cũng chẳng phải nhiễm chẳng phải chẳng nhiễm, không trái không thuận cũng chẳng mê hoặc, chẳng phải một chẳng phải hai, cũng chẳng phải các thứ, chẳng lấy chẳng bỏ. Đây gọi là: Nói pháp môn nhứt tướng.”
Ta Kiệt La Bồ tát nói: “Nếu có ai nhập vào được pháp thậm thâm khó vào như biển, mà ở nơi pháp ấy cũng chẳng phân biệt, dầu vì người mà nói nhưng không có ý tưởng nói pháp. Đây gọi là: Nói pháp môn nhứt tướng.”
Nguyệt Thượng Bồ tát nói: “Nếu ở nơi tất cả chúng sanh tâm hành bình đẳng dường như trăng tròn không có ý tưởng là chúng sanh. Đây gọi là: Nói pháp môn nhứt tướng.”
Ly Ưu Ám Bồ tát nói: “Thế nào là nhổ mũi tên ưu khổ chúng sanh? Đó là ngã và ngã sở là gốc khổ của họ, nếu có thể an trụ được ngã ngã sở bình đẳng. Đây gọi là: Nói pháp môn nhứt tướng.”
Vô Sở Duyên Bồ tát nói: “Nếu chẳng phan duyên dục giới, sắc giới, Vô sắc giới, pháp Thanh văn, pháp Duyên giác, pháp chư Phật. Đây gọi là: Nói pháp môn nhứt tướng.”
Phổ Kiến Bồ tát nói: “Nếu lúc thuyết pháp nên nói pháp bình đẳng, nghĩa là tánh không bình đẳng cũng không có ý tưởng là không và ý tưởng là bình đẳng. Đây gọi là: Nói pháp môn nhứt tướng.”
Tịnh Tam Luân Bồ tát nói: “Nếu lúc thuyết pháp phải tịnh tam luân, nghĩa là chúng sanh được dạy, ngã bất khả đắc, cũng chẳng phân biệt mình làm Pháp sư, nơi pháp được nói mà không trụ trước. Thuyết pháp như vậy gọi là: Nói pháp môn nhứt tướng.”
Thành Tựu Hạnh Bồ tát nói: “Nếu có ai có thể nói nơi tất cả pháp, tu bình đẳng hạnh, chỗ biết như thiệt chẳng văn phải văn tự thuyết, vì tất cả pháp rời lìa ngôn thuyết vậy. Đây gọi là: Nói pháp môn nhứt tướng.”
Thâm Hạnh Bồ tát nói: “Nếu ai có thể thuyết pháp rõ thấu tất cả pháp thậm thâm, cũng chẳng thấy năng thuyết sở thuyết kia và người được nghe. Đây gọi là: Nói pháp môn nhứt tướng.”
Lúc nói pháp môn nhứt tướng ấy, ba mươi bảy ức Bồ tát được vô sanh pháp nhẫn. Tám vạn bốn ngàn na do tha trăm ngàn chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề. Bảy ngàn Tỳ kheo chẳng thọ các pháp tận hết các lữu lậu tâm được giải thoát. Chín mươi sáu na do tha chư Thiên và Nhơn ở trong các pháp được pháp nhãn tịnh.
Bấy giờ Sư Tử Dũng Mãnh Lôi Âm Bồ tát bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Văn Thù Sư Lợi Bồ tát bao lâu sẽ được Vô thượng Bồ đề? Phật ấy thọ mạng và chúng Bồ tát có bao nhiêu?”
Đức Phật bảo hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát.
Sư Tử Dũng Mãnh Lôi Âm Bồ tát hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát: “Thưa Ngài! Bao giờ Ngài sẽ được Vô thượng Bồ đề.”
Ngài Văn Thù Sư Lợi nói: “Này Thiện nam tử! Chừng nào hư không giới làm sắc thân, tôi mới sẽ được Vô thượng Bồ đề. Nếu ảo nhơn được Bồ đề thì tôi mới sẽ được. Nếu lậu tận A La Hán là Bồ tát thì tôi mới sẽ được. Nếu lúc nào mộng hưởng ảnh và hóa nhơn được Bồ đề tôi mới sẽ được. Nếu mặt nguyệt chiếu làm ngày, mặt nhựt chiếu làm đêm tôi mới sẽ được Vô thượng Bồ đề. Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Lời hỏi của Ngài nên đem hỏi người cầu Bồ đề.”
Sư Tử Dũng Mãnh Bồ tát nói: “Ngài há chẳng cầu Bồ đề ư?”
Văn Thù Sư Lợi Bồ tát nói: “Chẳng có cầu. Tại sao? Vì Văn Thù Sư Lợi tức là Bồ đề, Bồ đề tức là Văn Thù Sư Lợi. Tại sao? Vì Văn Thù Sư Lợi chỉ có danh từ, Bồ đề cũng chỉ có danh từ. Danh từ ấy cũng là ly là vô tác nên là không. Không tánh ấy tức là Bồ đề.”
Đức Phật hỏi Ngài Sư Tử Dũng Mãnh rằng: “Này Thiện nam tử! Ông có nghe thấy các chúng hội Thanh văn và Bồ tát của A Di Đà Như Lai chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Tôi có thấy nghe.
- Này Thiện nam tử! Số ấy là bao nhiêu?
- Bạch đức Thế Tôn! Chẳng phải toán số nghĩ bàn đến được.
- Này Thiện nam tử! Như pháp đo lường của nước Ma Kiệt, một hộc dầu mè, lấy một hột tỉ dụ cho chúng Thanh văn và Bồ tát ở nước Phật A Di Đà. Còn bao nhiêu thì tỉ dụ lúc Văn Thù Sư Lợi được Bồ đề số chúng Bồ tát, lại còn quá số ấy.
Này Thiện nam tử! Như đem Tam Thiên Đại Thiên thế giới vi trần số kiếp so với số kiếp thọ lượng của Phổ Kiến Như Lai, trăm phần ngàn phần trăm ngàn ức phần, nhẫn đến toán số thí dụ chẳng bằng được. Nên biết thọ mạng của Phổ Kiến Như Lai không có toán số cũng không hạn lượng.
Ví như có một người đem Tam Thiên Đại Thiên thế giới nghiền nát ra vi trần, người thứ hai người thứ ba cũng đem Đại Thiên thế giới nghiền nát ra vi trần. Lại có một người mang vi trần ấy đi qua phương Đông quá chừng ấy số vi trần thế giới mới bỏ xuống một vi trần, lại đi quá vi trần số thế giới nữa mới bỏ xuống một vi trần, thứ đệ đi và bỏ như vậy đến hết số vi trần như vậy. Này các Thiện nam tử! Những thế giới mười phương được đi qua ấy có thể biết được số chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Không thể biết.
- Này Thiện nam tử! Tất cả thế giới mà các người ấy đã đi qua, hoặc có dính vi trần hay không đều đem nghiền nát thành vi trần. Có thể toán số biết được số vi trần ấy chăng?
- Bạch đức Thế Tôn! Không thể biết được. Nếu có ai tính lường thì tâm sẽ mê loạn mà chẳng biết được.
- Này Thiện nam tử! Chư Phật Như Lai đều biết rõ hết số vi trần ấy. Giả sử có quá số ấy, Như Lai cũng biết rõ.”
Di Lặc Bồ tát bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Chư Bồ tát vì cầu đại trí huệ như vậy, nên dầu ở địa ngục vô lượng ức kiếp thọ khổ cũng trọn chẳng bỏ rời trí ấy.”
Đức Phật nói: “Đúng như vậy. Đúng như lời Di Lặc nói. Có ai ở trong đại trí huệ ấy mà chẳng sanh lòng thích muốn. Chỉ trừ kẻ hạ liệt và người giải đãi.”
Lúc Phật nói trí ấy, có một vạn người phát tâm Bồ đề.
Đức Phật bảo Sư Tử Dũng Mãnh Lôi Âm Bồ tát rằng: “Này Thiện nam tử! Như tất cả thế giới mười phương mà mười phương ấy đã đi đều làm thành vi trần hết, Văn Thù Sư Lợi sẽ ở trong kiếp vi trần ấy thật hành Bồ tát đạo. Tại sao? Vì đại nguyện của Văn Thù Sư Lợi chẳng thể nghĩ bàn, xu hướng cũng chẳng thể nghĩ bàn, được Bồ đề rồi thọ lượng cũng chẳng thể nghĩ bàn, chúng hội Bồ tát cũng chẳng thể nghĩ bàn.”
Sư Tử Dũng Mãnh Lôi Âm Bồ tát bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Văn Thù Sư Lợi phát xu công hạnh sở tu rất lớn, sở nguyện cũng rất quảng đại mới ở nơi bấy nhiêu vi trần số kiếp mà chẳng sanh mỏi mệt.”
Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát nói: “Đúng vậy. Đúng như lời Ngài nói. Thưa Ngài! Hư không giới có nghĩ rằng đã qua ngày đêm thời tiết tháng năm số kiếp v.v... chăng?
- Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! Không vậy.
- Thưa Ngài Sư Tử Dũng Mãnh! Đúng vậy, nếu có ai tỏ biết tất cả pháp đồng với hư không, trí vi tế ấy không có phân biệt, cũng không quan niệm rằng trải qua ngày đêm thời tiết tháng năm các kiếp số v.v... Tại sao? Vì trí vi tế ấy ở nơi các pháp không có tưởng niệm vậy.
- Này Thiện nam tử! Như hư không giới không có mỏi mệt và ý tưởng nhiệt não. Tại sao? Dầu cho quá hằng sa kiếp, hư không giới cũng không sanh khởi cũng không thiêu diệt, chẳng phải bị phá hoại được. Tại sao? Vì hư không giới vô sở đắc vậy.
Này Thiện nam tử! Nếu Bồ tát rõ biết tất cả pháp vô sở hữu rồi thì cũng không có ý tưởng nhiệt não và mỏi mệt v.v...
Này Thiện nam tử! Danh từ hư không ấy cũng không có thiêu diệt nhiệt não mỏi mệt, cũng chẳng động lay, chẳng sanh chẳng lão, chẳng đến chẳng đi. Danh hiệu Văn Thù Sư Lợi cũng vậy, không có nhiệt não mỏi mệt v.v.. Tại sao? Vì danh tự tánh ly vậy.”
Lúc nói pháp ấy, Tứ Thiên Vương, Thiên Đế Thích, Phạm Thiên Vương và chư Thiên tử đại oai đức đồng thanh xướng rằng: “Các chúng sanh nghe pháp môn ấy được lợi lành lớn, huống là thọ trì đọc tụng. Nên biết họ được thiện căn rất rộng lớn.
Bạch đức Thế Tôn! Nơi pháp môn ấy, chúng tôi thọ trì đọc tụng rộng tuyên lưu bố, vì chúng tôi muốn hộ trì pháp thậm thâm ấy.”
Sư Tử Dũng Mãnh bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nếu có ai được nghe pháp môn ấy, thọ trì đọc tụng suy gẫm và phát tâm công đức trang nghiêm Phật độ như vậy được bao nhiêu phước?”
Đức Phật nói: “Này Thiện nam tử! Đức Như Lai dùng vô ngại nhãn thấy chư Phật và Phật độ của chư Phật, nếu có Bồ tát đem thất bửu đầy những Phật độ ấy để cúng dường mỗi mỗi Như Lai đều cùng tận vị lai tế, khiến Bồ tát này an trụ tịnh giới, với tất cả chúng sanh được tâm bình đẳng. Nếu lại có Bồ tát ở nơi pháp môn công đức trang nghiêm Phật độ này mà thọ trì đọc tụng, lại có thể phát tâm theo sở học của Văn Thù Sư Lợi đi bảy bước. Hai công đức sau này đem so với công đức cúng dường thất bửu trên kia, thì công đức trên trăm phần chẳng bằng một, nhẫn đến thí dụ toán số chẳng đếm được.”
Di Lặc Bồ tát bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Pháp môn này tên là gì, và chúng tôi phải thọ trì thế nào?”
Đức Phật nói: “Pháp môn này tên là Chư Phật Du Hí, cũng tên là Chư Nguyện Cứu Cánh, cũng tên là Văn Thù Sư Lợi Công Đức Trang Nghiêm Phật Độ, cũng tên là Linh Phát Bồ Đề Tâm Bồ Tát Hoan Hỉ, cũng tên là Văn Thù Sư Lợi Thọ Ký, nên thọ trì như vậy.”
Bấy giờ chư Bồ tát từ mười phương đến muốn cúng dường pháp môn ấy nên mưa các thứ hoa và ca ngợi rằng: “Hi hữu Thế Tôn! Hi hữu Thế Tôn! Chúng tôi được nghe pháp môn bất tư nghị Văn Thù Sư Lợi sư tử rống trang nghiêm.”
Chư Bồ tát nói lời ấy rồi đều trở về bổn độ.
Lúc nói pháp này, có hằng sa Bồ tát được bất thối chuyển, vô lượng chúng sanh thiện căn thành thục.
Bấy giờ Văn Thù Sư Lợi liền nhập tam muội tên Bồ tát xuất sanh quang minh phổ chiếu như huyễn. Nhập tam muội rồi làm cho chúng hội này thấy khắp tất cả Như Lai trong vô lượng vô biên Phật độ mười phương. Trước mỗi đức Như Lai đều có Văn Thù Sư Lợi Bồ tát nói Phật độ công đức trang nghiêm của mình. Chúng hội được thấy như vậy rồi, đối với đại nguyện thù thắng của Văn Thù Sư Lợi sanh lòng hi hữu.
Phật nói kinh này rồi, tất cả Bồ tát, chư Tỳ kheo Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc Ưu bà di, Thiên Long Bát bộ, Nhơn và Phi nhơn, tất cả đại chúng nghe lời Phật nói đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.
(PHÁP HỘI VĂN THÙ SƯ LỢI THỌ KÝ – THỨ MƯỜI LĂM HẾT).HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.2/5/2017.
No comments:
Post a Comment