Thursday, May 25, 2017

Luật Giải


Tìm hiểu về giới luật (Sila) trong Phật giáo

Theo quan điểm Phật Giáo, trong tất cả loại hữu tình chúng sanh, con người luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển tâm linh (tu tập); vì thế, mục đích của Phật Giáo là nhắm vào đối tượng con người để hướng dẫn họ có một cuộc sống hoàn toàn chơn thiện mỹ, và trở thành người có nhân cách đạo đức hoàn thiện. Đồng thời, Phật Giáo luôn dạy cho họ phương cách làm thế nào để sửa đổi từ một con người có đức tánh xấu thành một con người có đức tánh tốt, từ đối tượng vô minh trở thành một đối tượng trí thức, từ một con người có tư tưởng tiêu cực-bi quan-thụ động-và xấu xa...trở thành con người có tư tưởng tích cực-lạc quan-năng động-và tốt đẹp.
Đạo đức Phật Giáo là lối sống luôn mang lại an lạc và hạnh phúc cho con người. Nó nêu bật vị trí quan trọng cao tột của con người và chứng minh rằng con người có khả năng đạt được chơn giá trị đạo đức tối thượng (giải thoát) nếu như vị ấy có đủ ý chí vàsự nổ lực tự thân . Đặc biệt, Đạo đức Phật Giáo là lối sống cao thượng dạy con người:
"Tránh làm các điều ác, tu tập các việc lành, giữ tâm ý trong sạch. Đó là lời dạy của chư Phật."
(To eschew all evils, to perform good actions, and to purify one’s mind. That is the teaching of the Buddhas) (1)
Sống đạo đức có nghĩa là sống phù hợp với việc làm thiện qua Thân-Khẩu-Ý (Tam nghiệp), sự tuân thủ giới luật (Sìla) là một trong những phương pháp đạo đức Phật giáo huấn luyện 3 nghiệp của con người loại trừ các phiền não nhiễm ô ở đời, và đạt được sự thanh tịnh về thân-khẩu-ý của chính mình:
" Người luôn thận trọng lời nói, khéo phòng hộ tâm, không phạm điều ác về thân, và giữ các phương pháp tu tập này thanh tịnh; sẽ chứng được đạo của Thánh nhân dạy."
(He who guards his speech, restrains his mind, commits no wrong by his body, and thus keeps these roads of action clean, will achieve the way taught by the wise) (2)
Bằng cách thực hành đúng đắn về giới được đức Phật thiết lập, hàng giả diệt trừ tất cả những phiền não lậu hoặc: Tham-Sân-Si, bẻ gãy những lạc thú trần tục, giải thoát tất cả mọi khổ đau, và đạt đến sự thanh tịnh 3 nghiệp (thân-khẩu-ý) cùng với tâm và tuệ giải thoát. Về phương diện thế gian, bất cứ xã hội hay một tổ chức đoàn thể nào (như: trường học, cơ quan, xí nghiệp, nhà máy...) muốn ổn định trật tự xã hội và hoạt động các công việc của đoàn thể một cách có hiệu qủa cao, xã hội hay đoàn thể đó phải tự ấn định cho riêng nó những quy tắc hay điều luật đối với kỷ luật tập thể. Mặt khác, muốn thực hiện cuộc cách mạng đạo đức xã hội và môi trường sống của con người, điều trước tiên là phải cải tạo tư tưởng đạo đức cá nhân qua phương pháp tu tập và sự thực hành giới. Điều này có nghĩa là nếu con người muốn cải cách lại nền đạo đức xã hội ngày càng trở nên tốt đẹp mà không có sự chuyển hóa đạo đức cá nhân bằng sự thạnh lọc thân-khẩu-ý trở nên thanh tịnh, cuộc cải cách đó chỉ là sự cải tạo hình thức bề ngoài mà thôi.
Theo lời dạy cơ bản của đức Phật, sự tu tập giới là một sự biểu lộ tình thương và lòng từ mẫn vô hạn đối với tất cả chúng sanh. Lòng từ bi của Phật giáo được biểu lộ không chỉ riêng đối với tất cả nhân loại mà còn được biểu hiện qua thái độ Bất Hại (Ahimsà) đối với tất cả loài thú vật và thảo mộc. Với từ ngữ " Bất hại" (Ahimsà) không có nghĩa là "không va chạm". Nó có nghĩa là " không tàn phá" và "không hủy diệt" . Đó là một thái độ truyền thống của đạo Phật được bắt nguồn từ lời dạy của đức Phật cách đây hơn 25 thế kỷ. Thái độ này được biểu hiện qua các nước Phật giáo bằng những phương pháp đặc biệt như là: trồng cây để che bóng mát ở hai bên đường, trồng các loại dược thảo khác nhau để chữa bệnh, xây dựng các bệnh viện dành cho người bệnh cũng như các trạm thú y dành cho thú vật,...dưới triều đại của vua A Dục vào khoảng 300 trước công nguyên (planting trees for shade on two road-sides, planting various kinds of medicinal trees for curing, and building hospitals for the humans as well as clinics for animals, ect..., under the reign of King Asoka - 300 BC) (3)
Đối với Phật giáo, con người thuộc về tự nhiên, vũ trụ được hình thành do các yếu tố nhân và duyên. Do đó, con người được bao gồm trong thiên nhiên và ngược lại. Nếu con người cố ý hủy hoại tự nhiên, điều đó có nghĩa là con người tự phá hủy chính mình. Vì con người và tự nhiên luôn ảnh hưởng qua lại và mối liên hệ lẫn nhau. Để chứng minh ý nghĩa này, nhà sinh thái học người Anh, ông A. MacFadyen đã phát biểu rằng: "Sinh thái học tự nó liên quan đến mối quan hệ qua lại giữa sinh vật sống, thảo mộc, hoặc loài động vật, và môi trường của chúng..." (Ecology concerns itself with the interrelationship of living organism, plants, or animals; and their environment...) (4)
Mặt khác, theo quan điểm Phật Giáo, sự đòi hỏi của con người tiếp xúc với thiên nhiên giống như những chú ong tiếp xúc với hoa; dù hút mật hoa, ong không bao giờ làm tổn hại hương sắc của hoa: "Như ong hút mật hoa , ra đi không làm hại hương và sắc, cũng vậy bậc Thánh đi vào làng" (As the bee collects honey from flowers and departs without doing any harm to their scent, so let a sage dwell in the village) (5) . Đó là nguyên tắc sống đạo đức đối với các hàng đệ tử Phật được biểu lộ bằng sự tuân thủ giới luật (Sìla).
Trước khi thực hành giới luật Phật Giáo, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu và nghiên cứu về giới luật (Sìla) trong Phật Giáo. Đó là đề tài mà người viết muốn giới thiệu đến với quý đọc giả.
I . NGUYÊN TỪ CỦA SÌLA (Etymology of Sìla) :
1. Định nghĩa về "Sìla":
Từ "Sìla" không có nghĩa là những điều luật, quy luật, hay những quy tắc... buộc con người phải tuân thủ như : trong nhà trường, cơ quan, các ban ngành đoàn thể, các tổ chức xã hội, hay ở các tôn giáo khác. Một vài học giả đã giải thích Sìla với ý nghĩa khác qua nhiều phương diện khác nhau như: Về phương diện quy tắc và lòng từ, "Sìla" có nghiã là: sự hướng dẫn về tư cách đạo đức (guide for behavior) (6); hoặc phép tắc để hành xử (rule for action) (7); hay có nghĩa khác là lời dạy, mệnh lệnh, sự ngăn cấm, quy luật,...v..v.. (precept, command, prohibition, dicipline, ect.) (8). Về phương diện đạo đức, "Sìla" có nghĩa là: giới hạnh (Virtue), như tác giả luận sư Buddhaghosa đã định nghĩa:
"Giới hạnh là gì? Đó là những trạng thái bắt đầu bằng sự hiện diện củ Tư tâm sở trong một con người xa lánh việc Sát Sanh (không giết hại chúng sanh), v.v...; hoặc trong con người thực hành viên mãn các học giới "
(What is Virtue? It is the states beginning with volition present in one who abstain from killing living-beings, etc., or in one who fulfils the practice of the duties) (9).
Đặc biệt, về phương diện tu tập, "Sìla" là từ ngữ của Pàli được hiểu theo nhiều nghĩa như: "việc thực hành đạo đức, đức tính tốt, đạo đức Phật giáo, và điều lệ về đạo đức" (moral practice, good character, Buddhist ethics, and code of morality) (10). Trong Từ Điển Sanskrit-Anh, nó được định nghĩa như sau:
"Theo từ ngữ Phật học Sanskrit, Sìla được giải thích là phong cách cư xử theo đạo đức, là một trong 6 hoặc 10 pháp Ba-la-mật; hoặc được giải thích là giới điều về đạo đức. Theo Phật giáo, có 5 giới hay còn gọi là 5 phép tắc cơ bản về phong cách đạo đức"
(According to Sanskrit word of Buddhist "Sìla", it is explained as ‘Moral Conduct’, is one of the six or ten perfection or Pàramitàs ; or ‘Moral Precept’. With Buddhism, there are five fundamental precepts or rules of moral conduct) (11).
Theo quan điểm người viết, mặc dù từ "Sìla" thuộc Pàli và từ "Sìla" thuộc Sanskrit có phần khác nhau một chút về hình thức dấu, chúng có cùng một nghĩa tương đồng và luôn nhấn mạnh về phương cách thực hành và ứng dụng về Sìla trong cuộc sống con người, hầu mang đến cho họ một lối sống hoàn toàn chơn thiện mỹ với niềm vô biên an lạc và hạnh phúc tối thượng. Theo quan điểm Phật giáo, Sìla bao gồm 2 nghĩa: giới điều về đạo đức (theo phương diện đạo đức), và phong cách cư xử về đạo đức (theo phương diện tu tập). Với nghĩa đầu tiên, nó được xuất phát từ lời dạy của đức Phật khuyên con người: tránh ác làm lành, tu tập thân-khẩu-ý thanh tịnh, diệt trừ tất cả những phiền não tham-sân-si đưa đến sự an lạc giải thoát cho chính mình. Với nghĩa thứ hai, không những nó khuyên con người qúy mến nhau, thương yêu nhau, thông cảm cho nhau, đoàn kết và giúp đở nhau; mà còn hướng dẫn con người làm thế nào để tu tập Sìla (Giới) thích nghi với mọi tình huống xã hội hầu mang lại lợi ích, an vui và hạnh phúc thật sự cho mình và người. Đây chính là ý nghĩa Sìla tích cực và năng động trong giới Phật giáo. Ý nghĩa Sìla như thế mới có thể đóng góp vai trò quan trọng của nó về phương diện đạo đức trong cuộc sống con người và cộng đồng xã hội ngày nay.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.26/5/2017.

No comments:

Post a Comment