Monday, June 26, 2023
It is volition that creates karma. Once we agree that: "I have to be careful about my actions", then there is the question: "What actions will have consequences". There are three kinds of actions: bodily, verbal, and mental actions. A general, common understanding holds that bodily actions are important, speech acts less important, and mind actions unimportant. That is very short-sighted. But when one has begun to observe the inner truth, as he has done and become enlightened, it becomes clear that the action of the mind is of the utmost importance, neither of the speech nor of the body. The actions of the body and the mind both have an effect, but the most important is the action of the mind and the mind. Things arise from the mind and they increase in intensity, and then the actions of the mind become words. As words increase in intensity, it becomes the action of the body. The actions of speech and body are nothing but the manifestation of the mind. They are only a measure of the intensity of the mind, so the mind is the most important. As an example, I met someone with whom I had a conflict. I see him, my mind starts to work, full of anger. A bad idea in the head arises, then becomes stronger and it manifests itself in words: "I cursed him, insulted him", resulting in unwholesome words. Then increase the intensity even more and so on, it spawns the action of the body: “I slap his hand, if I have a gun I will shoot him dead too”. It is an unwholesome act. So what are the unwholesome actions of speech and body? They are just actions of the mind, a measure of the intensity of the unwholesome mind. Just like unwholesome actions, so are good deeds. I meet someone unhappy, suffering, my heart began to pity. As compassion becomes more, this wholesome mind manifests in verbal actions: "I say a few words, words that are kind, affectionate, and merciful." And then the good deed of speech increases in intensity, increases further, and it turns into physical action: “I really help that person. I gave him something." A good deed by deed. Actions of the mind are most important Whether wholesome or unwholesome, all actions of speech and of body are manifestations of the mind. This is the realization and enlightenment of the Enlightened One: “Mind is most important. Everything begins in the mind. Everything is created by the mind. Mind precedes all actions.” His Holiness described his own experience when he said, “Mind leads all things. Mind mastering, mind creating. Therefore, the mind is the most important, the most influential. Whatever we experience in life is nothing but the product of our own mind. If, on the basis of an unwholesome, impure, or bad mind, we act in deeds or words, suffering will follow us like a wheel behind a drawn animal. Wherever the car and the animal go, the wheels always follow. Because we were fundamentally wrong, suffering still follows us. Likewise, If, with the basis of pure mind, holy Zen, we act in deeds or words, then all happiness will follow us like a shadow to a figure. Wherever we go, wherever we go, the ball will follow and stay there. This is the law of nature.” The foundation of the mind is the most important. That is where our actions form first, at the level of the mind, then at the level of words, and finally at the level of deeds. The results we get, The result we reap is the result of the action of the mind, the mind, not the action of the speech or the body. For example, I see someone I've had contact with. I got angry, I yelled, then I insulted and insulted: "Dog, pig, donkey ...". In this case, “Dog, pig, donkey…” I mean to insult the person. In another case, when I saw my nephew running after him playing in the dirt, soiling his clothes, I said: "Dog, pig, donkey...". The same words, I have used them with the same act of speech, but from the perspective of the mind the two intentions are one heaven and one different. When I use these words towards the enemy, it is full of malice. When I also use these languages for my grandchildren it is full of goodwill. Nature focuses on the mind, not deeds or words. The result that we receive, the fruit that we reap depends on the mind, not on the words or actions of the body. Another example, a rich man had a lot of money and jewels, etc., and was walking alone through the forest. There is a thief going in the opposite direction, knowing this man has a lot of money and he wants to rob. This rich man didn't want to lose money and said, "No". The robber got angry, pulled out a knife and stabbed the man in the stomach and as a result, he died. In another case, there was a person who had a stomach ulcer and was in great pain. Doctors treat it in many ways but no relief. Finally, the Surgeon said, “Wow! So, I have to surgically cut the ulcer, maybe the pain will go away." Then the person was taken to the operating room, the surgeon took out the knife, poked the patient's stomach, unfortunately, this time the patient died. The Doctor and the robber do the same action on the physical level. Both used knives to stab the same person in the stomach and as a result, that person died. Now, to nature or to God almighty both receive the same result? Oh no! The intention of the mind is really important. The robber's intentions were full of malice, but the Doctor's intentions were full of goodwill. Nature only focuses on the motivation of the mind, the intention of the mind and the result of the action are consistent with that intention, not wrong. What is the basic foundation of the mind? The foundation of the mind is more important. The intention of the mind is more important than the actions of the body and words. Therefore, let us be very careful with our mind and intention. Therefore, we must understand what is mind? How does the mind work? Vipassana meditation will help us. Understand that the whole method is to divide, dissect, disperse, disintegrate this whole body structure. You don't have to do anything but just observe. Nature will begin to divide, dissect, disperse.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE BUDDHIST DHARMA-EYE TEMPLE.GOLDEN ZEN BUDDHIST MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.27/6/2023.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.
Chính sự tác ý tạo nên nghiệp quả.
Một khi ta đồng ý rằng: “Tôi phải cẩn thận về các hành động của tôi”, thì sẽ có câu hỏi: “Hành động nào sẽ gây ra hậu quả”. Có 3 loại hành động: hành động của thân, của khẩu và của ý. Một sự hiểu biết chung chung, thông thường cho rằng hành động của thân rất quan trọng, hành động của khẩu ít quan trọng hơn và hành động của ý thì chẳng có gì quan trọng cả. Điều đó rất là thiển cận. Nhưng khi một người đã bắt đầu quan sát sự thật bên trong, như người này đã làm và trở thành giác ngộ, thì rõ ràng hành động của ý là quan trọng nhất, không phải của khẩu cũng chẳng phải của thân.
Hành động của thân và của ý đều gây ra ảnh hưởng nhưng quan trọng nhất là hành động của tâm, của ý. Mọi việc đều phát sinh từ tâm và chúng gia tăng cường độ, và rồi hành động của tâm trở thành lời nói. Khi lời nói gia tăng cường độ, nó trở thành hành động của thân. Hành động của khẩu và thân không là gì, ngoài sự biểu hiện của tâm ý. Chúng chỉ là thước đo cường độ của tâm ý mà thôi, cho nên, tâm ý là quan trọng nhất.
Một ví dụ, tôi gặp một người mà tôi đã có mâu thuẫn. Tôi thấy anh ta, tâm tôi bắt đầu hoạt động, đầy sự giận dữ. Một ý tưởng xấu trong đầu nảy sinh, rồi trở thành mạnh hơn và nó tự biểu lộ bằng lời nói: “Tôi mắng chửi, xỉ nhục anh ta”, kết quả là những lời nói bất thiện. Rồi gia tăng cường độ hơn nữa và cứ như thế, nó nảy nở hành động của thân: “Tôi tát tay anh ta, nếu tôi có súng tôi sẽ bắn chết anh ta nữa”. Thật là một hành động bất thiện. Vậy những hành động bất thiện của khẩu và thân là gì? Chúng chỉ là hành động của tâm, một thước đo cường độ của tâm bất thiện.
Cũng như những hành động bất thiện, hành động thiện cũng thế. Tôi gặp người nào bất hạnh, khổ sở, tâm tôi bắt đầu thương xót. Khi sự xót thương trở thành nhiều hơn, tâm thiện này biểu lộ bằng hành động của khẩu: “Tôi nói vài lời, những lời nói tử tế, trìu mến và thương xót”. Và rồi hành vi tốt lành của khẩu gia tăng cường độ, gia tăng hơn nữa và nó biến thành hành động của thân: “Tôi thật sự giúp đỡ người đó. Tôi cho anh ta vài thứ”. Một hành động thiện bằng việc làm.
Hành động của ý là quan trọng nhất
Dù thiện hay bất thiện, tất cả các hành vi của khẩu và của thân đều là những biểu hiện của tâm. Đây là sự chứng nghiệm và giác ngộ của Bậc Giác Ngộ: “Tâm quan trọng nhất. Mọi sự đều bắt đầu trong tâm. Mọi sự đều do tâm tạo ra. Tâm đi trước mọi hành vi”. Ngài diễn tả sự chứng nghiệm của chính mình khi Ngài nói: “Tâm dẫn đầu các pháp. Tâm làm chủ, tâm tạo tác.
Bởi vậy, tâm là quan trọng nhất, có ảnh hưởng nhiều nhất. Bất cứ điều gì ta trải qua trong đời, không gì ngoài sản phẩm của chính tâm ta. Nếu dựa trên nền tảng của tâm bất thiện, bất tịnh hay tâm xấu, mà ta có hành động bằng việc làm hay lời nói, thì đau khổ sẽ theo sát ta như bánh xe lăn sau con vật kéo. Bất kỳ xe và con vật chạy đi đâu, bánh xe luôn theo sau. Vì căn bản đã sai nên đau khổ vẫn cứ mãi theo sau ta.
Tương tự như vậy, Nếu với nền tảng của tâm thanh tịnh, thánh Thiền, mà ta có hành động bằng việc làm hay lời nói, thì tất cả hạnh phúc sẽ theo sát ta như bóng với hình. Bất kỳ, ta đi đâu, ở đâu, bóng cũng đi theo và ở nơi đó. Đây là luật tự nhiên”.
Nền tảng của tâm là quan trọng nhất. Đó là nơi mà từ đó hành động của ta được hình thành đầu tiên, tại mức độ tâm ý, rồi đến mức độ của lời nói và sau cùng là mức độ của việc làm. Kết quả mà ta nhận lãnh, quả mà ta gặt hái là kết quả hành động của tâm, của ý, chứ không phải là hành động của khẩu hay của thân.
Một ví dụ, tôi thấy một người mà tôi từng đụng chạm với họ. Tôi nổi giận, tôi quát to, rồi tôi sỉ vả và nhục mạ: “Đồ con chó, đồ con heo, đồ con lừa…”. Trong trường hợp này, “Đồ con chó, đồ con heo, đồ con lừa…” là ý tôi nhục mạ người đó. Một trường hợp khác, khi tôi thấy đứa cháu tôi chạy tới sau khi nó chơi trong sình đất, làm bẩn quần áo, tôi nói: “Đồ con chó, đồ con heo, đồ con lừa…”.
Cũng cùng những lời đó, tôi đã dùng chúng với cùng hành động lời nói, nhưng từ góc độ của tâm thì hai dụng ý khác nhau một trời, một vực. Khi tôi dùng những ngôn từ này với kẻ thù thì nó đầy những ác ý. Khi tôi cũng dùng những ngôn ngữ này cho cháu tôi thì nó đầy những thiện ý. Thiên nhiên chú trọng đến tâm ý, chứ không phải việc làm hoặc lời nói. Kết quả mà ta nhận lãnh, trái mà ta gặt hái tùy thuộc vào tâm ý chứ không phải tùy thuộc vào lời nói hay hành động của thân.
Một ví dụ khác, một người giàu kia có nhiều tiền và trang sức,… và đi một mình qua khu rừng. Có một tên cướp đi ngược chiều, biết được người đàn ông này có rất nhiều tiền và hắn muốn cướp. Người giàu có này không muốn bị mất tiền và nói: “Không”. Tên cướp nổi giận, rút dao ra đâm vào bụng người này và kết quả là ông ta chết. Một trường hợp khác, có một người bị loét bao tử và rất đau đớn. Bác sĩ chữa bằng nhiều cách nhưng không thuyên giảm. Cuối cùng, Bác sĩ giải phẩu nói: “Chà! Như vậy, tôi phải mổ cắt vết loét đi thì có thể ông sẽ hết đau”. Rồi người đó được đưa vào phòng mổ, Bác sĩ giải phẫu lấy con dao ra, thọc vào bụng bệnh nhân, chẳng may, lần này bệnh nhân chết. Người Bác sĩ và tên cướp cùng làm một hành động ở mức độ thân thể. Cả hai cùng dùng dao đâm vào bụng một người và kết quả là người đó chết. Bây giờ, đối với thiên nhiên hoặc với Thượng Đế toàn năng thì cả hai đều nhận lãnh một kết quả ư?
Ồ không! Dụng ý của tâm mới thật là quan trọng. Ý đồ của tên cướp thì đầy những ác ý nhưng ý độ của Vị Bác sĩ thì đầy những thiện tâm. Thiên nhiên chỉ chú trọng đến động cơ của tâm, dụng ý của tâm và quả của hành động thì phù hợp với dụng ý đó, không hề sai chạy. Nền tảng căn bản của tâm là gì? Nền tảng của tâm mới quan trọng hơn. Dụng ý của tâm quan trọng hơn cả hành động của thân và lời nói. Bởi vậy, chúng ta hãy hết sức cẩn trọng về tâm và dụng ý. Vì thế, ta phải hiểu tâm là gì? Tâm hoạt động ra sao? Thiền Vipassana sẽ giúp ta. Hãy hiểu rằng toàn thể phương pháp là chia cắt, mổ xẻ, phân tán, làm tan rã toàn thể cơ cấu thân xác này. Ta không phải làm gì cả mà chỉ quan sát mà thôi. Thiên nhiên sẽ bắt đầu chia cắt, mổ xẻ, phân tán.HET= NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).CHUA PHAP NHAN.( USA ).THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.27/6/2023.
Mettā Pāramī (Merciful Conduct). Another Paramita is loving-kindness. Tomorrow, we will learn this method, love for all sentient beings, compassion for all beings. From childhood, we are taught to love our neighbors. On the surface, we keep saying, “May you be happy. OH! My neighbor friend. I wish you happiness.” But I have a lot of grudge against this neighbor, in my heart I say, “May your family fall to hell. Hey, my neighbor. May your family fall to hell, your house is so evil." There is no use, this is not a Pārami. Inwardly, our unconscious mind is much stronger than the surface layer of our mind. When we just scatter Mettā to others outwardly, it has no effect at all, it does not become a Pārami. When doing this method, During the nine days, we continue to purify the mind and break down the barrier that separates the surface of the mind from the interior. Then tomorrow, the tenth day, we learn how to practice this Mettā. May all beings be happy, may all beings share my happiness, my harmony. Then there will be no negativity left, and we will learn the real Mettā. This parami will be recorded in my merit. Upekkhā Pāramī (Equanimity of mind, equanimity) With all that we experience here is equanimity, equanimity, balance of mind. Whatever sensations you experience, pleasant, unpleasant, neither pleasant, nor unpleasant, remain equanimous. Here we have the wonderful opportunity to practice this Pārami. Usually, when life's ups and downs happen, we can remain calm, but that equanimity is only on the surface. Now, We are experiencing things at the depth of the mind. Feelings are experienced at the deepest level of the mind. And we're practicing keeping the innermost layers of the mind balanced. This practice becomes my Pārami. Dāna Pārami (The conduct of giving) And the next perfection is the quality of giving. It is difficult for the layman to reach the final destination. Why so? The main difficulty is that lay people are not allowed to go out for alms. A monk or nun has to go for alms but a layperson has to work very hard. Lay people must work honestly to earn a living, to support themselves, to feed those still under their protection, and to support others. That is the responsibility of a layperson. When we work and start making money, the ego is easily inflated: “Look! I am a very intelligent person, clever, wise. So that's how I succeeded. Others don't succeed and make that much money." By making a lot of money, people inflate their egos. As long as conceit is there, we are far from the ultimate goal of complete liberation. Now how to stop this conceit? on the one hand one has to earn money, on the other hand earned money gives rise to conceit. This is why the Saints, the Enlightened Ones have advised: "Whatever money you make, understand that you don't just earn it for yourself". Of course, we make money to keep for ourselves and the people who depend on us, but we also make money to help others: “Others must have a share in what I earn.” That way, that conceit becomes less, that ego will no longer be so strong. Coming to a meditation course like this, We practice non-stop for 10 days. Practice eliminating ego and purifying the mind. Then when 10 days are up, we contribute and donate according to our ability, more or less insignificant. People give with a pure heart, without expecting anything in return. Even this Dāna item will become very impure, when we expect something in return. Our love becomes very impure, when we expect it to be reciprocated. Our merit in serving others becomes impure, when we expect to be rewarded. In the same way the Dāna that is donated becomes impure, when one expects something in return. “I have contributed many Dānas there, so there is a special little house for me. Whenever I come, I have to be there with full facilities. When I'm not there, that's fine, let someone else use it, that's okay. But when I come, I have to be there, it has to always be my priority.” All of these are expectations that pay off. Or: “I have given many Dānas. Therefore, on this little house or building, it must be labeled Donated by Goenka, Great Goenka.” All that madness happens because people don't understand what Dhamma is, this is what we've been doing all our life. Practicing for 9, 10 days here, I eliminate my ego and I feel, “Oh! Whatever I donate is for the benefit of others, just as I get many benefits. Because someone donated to me, someone donated these things, I have this wonderful Dhamma, which is very helpful to me." Likewise, may more and more people benefit from this Dhamma. Therefore, philanthropic contributions come from a pure mind, the desire to help others, the desire for others to be free from suffering. This wish is recorded in my Pārami merit. On the contrary, when the ego is built up, this contribution is no longer Pārami. Coming to a meditation course like this one has a wonderful opportunity to develop all these 10 Pārami. I practice Zen, purify my mind, develop all 10 Pārami. People also come here to donate 10 days of service in these courses. Those who come here to serve are practicing the development of those 10 Pārami. They have the wonderful opportunity of serving here to add drop by drop in 10 bottles, large or two small, we grow those 10 Pārami. If one is going to become a Sammā Sambuddha, an omniscient Buddha, the bottle is very large, requiring a lot of time. Complete deliverance comes even the small bottle but all 10 of these bottles must be filled. All these 10 Pārami must be completed and to be like that, We have a great opportunity to come to a course like this. Take advantage of the opportunity you get! Next time you come to a Zen course, keep in mind that: “I will not come to a Zen course for a religious ceremony, but to complete a Pārami. I will make a difference in my life. , a change for the better”. Continue to apply Dhamma to your daily life. All these 10 Pārami will come to help us in our daily life, not just when we reach our final destination. All these 10 Pārami, always help us in daily life. When there are difficulties, we will find that without this Pārami, another Pārami will come to our aid. These are all good Pāramis, a pure mind, must have all these good qualities. And through meditation itself, we are developing these qualities. May all my 10 Pārami be developed and perfected. May I achieve the final goal, may I experience liberation from the bonds, the extravagance, the shackles of all unwholesomeness, so that I may enjoy real peace, real harmony, happiness. really.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE BUDDHIST DHARMA-EYE TEMPLE.GOLDEN ZEN BUDDHIST MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.27/6/2023.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.
Mettā Pāramī (Hạnh từ bi).
Một Ba la mật khác nữa là tâm từ. Ngày mai, ta sẽ học phương pháp này, tình thương cho mọi chúng sanh, từ bi đến muôn loài. Từ thời thơ ấu, chúng ta đã được dạy hãy thương yêu hàng xóm láng giềng. Ở bề ngoài, ta cứ nói: “Chúc cho bạn được hạnh phúc. Ồ! Người bạn láng giềng của tôi. Chúc cho bạn được hạnh phúc”. Nhưng ta có rất nhiều ác cảm với người láng giềng này, trong thâm tâm ta lại nói: “Cầu cho nhà ngươi bị đọa xuống địa ngục. Này, người láng giếng của tôi. Cầu cho nhà người bị đọa xuống địa ngục, nhà ngươi xấu xa quá”. Chẳng có ích lợi gì cả, đây không phải là một Pārami. Trong thâm tâm, tâm vô thức của ta mạnh hơn tầng lớp bề mặt của tâm ta rất nhiều.
Khi ta chỉ rải tâm từ Mettā đến người khác ở bề ngoài không thôi, nó không có hiệu quả gì cả, nó không trở thành một Pārami. Khi thực hành phương pháp này, trong suốt 9 ngày, ta tiếp tục thanh lọc tâm và phá bỏ hàng rào ngăn cách giữa bề mặt của tâm và nội tâm. Rồi ngày mai, ngày thứ 10, ta học cách thực hành Mettā này. Nguyện cho tất cả chúng sanh được hạnh phúc, nguyện cho tất cả chúng sanh cùng san sẻ an vui của tôi, hòa hợp của tôi. Lúc ấy sẽ không còn một mảy may tiêu cực nào, và ta sẽ học được Mettā thực sự. Pārami này sẽ được ghi nhận vào công đức của ta.
Upekkhā Pāramī (Hạnh bình tâm, buông xả)
Với tất cả những gì ta chứng nghiệm được ở đây là sự bình tâm, buông xả, là tâm quân bình. Với bất cứ cảm giác ta chứng nghiệm dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu, cũng chẳng khó chịu, hãy giữ sự bình tâm. Ở đây, ta có được cơ hội tuyệt diệu để thực hành Pārami này. Thông thường, khi những thăng trầm chông gai của cuộc sống xảy ra, ta có thể vẫn bình tâm, nhưng sự bình tâm đó chỉ ở trên bề mặt. Bây giờ, ta đang chứng nghiệm sự việc ở chiều sâu của tâm. Các cảm giác được chứng nghiệm ở mức độ sâu thẳm nhất trong tâm. Và ta đang tập giữ cho tầng lớp sâu thẳm nhất của tâm được quân bình. Sự tập luyện này trở thành Pārami của mình.
Dāna Pārami (Hạnh bố thí, cúng dường)
Và Ba la mật kế tiếp là phẩm hạnh hiến tặng, cúng dường. Thật là khó cho người Cư sĩ đạt đến đích cuối cùng. Tại sao vậy? Khó khăn chính là ở chỗ Cư sĩ không được phép đi ra ngoài khất thực. Một Vị Tăng hay Ni phải đi khất thực nhưng Cư sĩ phải làm rất chăm chỉ. Cư sĩ phải làm việc một cách lương thiện để kiếm sống, để tự nuôi bản thân, nuôi những ai còn dưới sự bảo hộ của mình, và cấp dưỡng cho những người khác. Đó là trách nhiệm của một Cư sĩ. Khi ta làm việc và bắt đầu kiếm ra tiền thì bản ngã dễ bị thổi phồng lên: “Hãy nhìn xem! Tôi là người hết sức thông minh, lanh lợi, khôn ngoan. Vì vậy, tôi thành công đến thế ấy. Những người khác không thành công và kiếm được nhiều tiền như vậy đó”.
Do kiếm ra được nhiều tiền, người ta thổi phồng bản ngã lên. Một khi ngã mạn còn đó, ta hãy còn xa đích cuối cùng là sự giải thoát hoàn toàn. Giờ đây làm sao để không còn ngã mạn này? một mặt người ta phải kiếm tiền, mặt khác đồng tiền kiếm được làm phát sanh ngã mạn. Đây là lý do tại sao các Thánh nhân, các Bậc Giác Ngộ đã khuyên rằng: “Bất cứ số tiền nào ta kiếm được, hãy hiểu rằng ta không chỉ kiếm riêng cho mình”. Dĩ nhiên, ta kiếm tiền để cất giữ riêng cho mình và những người phụ thuộc vào mình, nhưng ta còn kiếm tiền để giúp người khác: “Những người khác phải có phần trong món tiền tôi kiếm được”.
Có thế, sự ngã mạn đó trở nên ít đi, bản ngã ấy sẽ không còn quá mạnh đến như thế. Đến với một khóa Thiền như thế này, ta tu tập không ngừng suốt 10 ngày. Tập tiêu trừ bản ngã và thanh lọc tâm. Rồi khi hết 10 ngày, ta đóng góp, hiến tặng theo khả năng của mình, nhiều hay ít không đáng kể. Người ta hiến tặng bằng tâm trong sạch, không mong đợi được đền đáp. Ngay cả phẩm vật Dāna này sẽ trở nên rất bất tịnh, khi ta mong đợi được đền đáp điều gì. Tình thương của mình sẽ trở nên rất bất tịnh, khi ta mong đợi được đền đáp. Công lao mình phục vụ người khác sẽ trở nên bất tịnh, khi ta mong đợi được đền đáp. Cũng như thế Dāna được hiến tặng sẽ trở nên bất tịnh, khi ta mong đợi được đền đáp. “Tôi đã đóng góp nhiều Dāna ở đó nên có một căn nhà nhỏ đặc biệt dành cho tôi. Bất cứ khi nào tôi tới, tôi phải ở đó với đầy đủ tiện nghi. Khi tôi không có ở đó, cũng được, để người khác dùng, chẳng sao cả. Nhưng khi tới, tôi phải được ở đó, phải luôn luôn ưu tiên cho tôi”.
Tất cả những điều này là sự mong đợi được đền đáp. Hoặc là: “Tôi đã tặng nhiều Dāna. Cho nên, ở trên căn nhà nhỏ hay tòa nhà này phải gắn là Do Goenka hiến tặng, Goenka vĩ đại”. Tất cả những sự điên cuồng như thế xảy ra vì người ta không hiểu Dhamma là gì, đây là điều ta đã làm suốt đời. Tu tập 9, 10 ngày ở đây, ta tiêu trừ bản ngã và ta cảm thấy rằng: “Ồ! Bất cứ cái gì tôi hiến tặng là vì lợi ích cho người khác, cũng như tôi có được nhiều lợi ích. Bởi vì có người hiến tặng cho tôi, có người hiến tặng những thứ này nên tôi mới có được Dhamma huyền diệu này, rất hữu ích cho tôi”.
Tương tự như thế, nguyện cho càng ngày càng nhiều người nhận được lợi ích từ Dhamma này. Cho nên, sự đóng góp thiện nguyện xuất phát từ một tâm thanh tịnh, mong muốn giúp đỡ người khác, muốn người khác thoát ra khỏi khổ đau. Sự mong muốn này được ghi vào công đức Pārami của ta. Trái lại, khi bản ngã được bồi đắp thì sự đóng góp này không còn là Pārami nữa. Đến với một khóa Thiền như thế này, ta có được cơ hội tuyệt vời để phát triển cả 10 Pārami này. Ta hành Thiền, thanh lọc tâm, phát triển cả 10 Pārami. Người ta cũng đến đây để hiến tặng 10 ngày phục vụ trong những khóa Thiền này. Những ai đến đây để phục vụ đang tập phát triển 10 Pārami ấy. Họ có được cơ hội tuyệt diệu khi phục vụ ở đây để thêm từng giọt một trong 10 chai, chai lớn hay hai nhỏ, ta phát triển 10 Pārami ấy. Nếu ta sẽ trở thành một Sammā Sambuddha, một vị Phật toàn giác, cái chai rất là lớn, đòi hỏi nhiều thời gian. Sự giải thoát hoàn toàn cũng đến ngay cả cái chai nhỏ nhưng tất cả 10 chai này phải được đổ đầy. Tất cả 10 Pārami này phải được hoàn chỉnh và để được như thế, ta có được cơ hội tuyệt vời khi đến với khóa học như thế này. Hãy tận dụng cơ hội có được! Lần tới khi đến với khóa Thiền, hãy lưu ý rằng: “Tôi sẽ đến với khóa Thiền không phải đến với nghi lễ, nghi thức tôn giáo mà sẽ đến để hoàn tất các Pārami.Tôi sẽ tạo ra sự đổi thay trong đời mình, một sự đổi thay tốt đẹp hơn”.
Hãy tiếp tục áp dụng Dhamma vào đời sống hằng ngày. Tất cả 10 Pārami này sẽ đến để giúp ta trong đời sống hằng ngày, không phải chỉ giúp vào lúc ta đạt đến đích cuối cùng. Cả 10 Pārami này, lúc nào cũng giúp ta trong đời sống hằng ngày. Khi có khó khăn nào xảy ra, ta sẽ thấy rằng không Pārami này thì Pārami khác sẽ đến giúp ta. Đây là tất cả những Pārami tốt lành, một tâm thanh tịnh, phải có tất cả những phẩm hạnh tốt lành này. Và nhờ chính sự hành Thiền, ta đang phát triển các phẩm hạnh này. Nguyện cho tất cả 10 Pārami của mình được phát triển, viên mãn. Nguyện cho ta đạt được mục tiêu cuối cùng, nguyện cho ta chứng nghiệm được giải thoát khỏi những ràng buộc, những ngông cuồng, xiềng xích của mọi bất thiện, để ta hưởng được an lạc thực sự, hòa hợp thực sự, hạnh phúc thực sự.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).CHUA PHAP NHAN.( USA ).THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.27/6/2023.
What is the 7 Laws Against Smuggling Or What? Monks, I teach the cessation of the stumbling blocks or to those who know, ② to those who see, not to those who do not know, to those who do not see. And, the Male-stilts, what is the extinction of the contraband or let ① people know, ② show people: ③ has reasonable attention and ④ does not like reasonable attention. Not According to Reason, Monks, due to unwise attention, cankers or unborn cankers arise, and cankers that have arisen are increased. According to the Mindfulness of Mind, monks, due to rational attention, the unborn or unborn cankers do not arise, and the already born cankers are eradicated. This Male-stilts 1. There are contraband either due to KNOWING to be eliminated 2. There are contraband or must by PROTECTION be cut off 3. There are contraband or must by USE be cut off 4. There are contraband or must be due to CLIENT to be deducted 5. There are contraband either due to avoidance to be eliminated 6. There are contraband or must be eliminated by EXCEPTION 7. There are gonorrhea or must be eliminated by TRAINING. Section Except Due to Knowledge 1. This Male-stilts, and how is the contraband or must by KNOW to be eliminated? The worldlings rarely listen, monks, here are ordinary people who are not well-heard. Can't see saints who are not well-versed in the Dharma. The Adepts Don't practice Dharma. The Adepts Don't know the things that need attention. They don't know the things that don't need attention. This one, because he does not know things, needs attention, because he does not know things, there is no need to pay attention, so he notices things without attention, and he does not pay attention to things that need attention. Hey monks, and what are the dhammas that do not require attention that he pays attention to? This Male-stilts, that is the French by his attention that the sex gonorrhea has not yet arisen Or sex gonorrhea has been born is increased; Either the unborn canker of existence arises Or the born canker of existence is increased Or the unborn gonorrhea of ignorance arises Or the born gonorrhea of ignorance is increased. Those dhammas are those that do not require attention that he does. And what, bhikkhus, are things that need attention that he does not pay attention to? That is, bhikkhus, whether the dhammas of his mind do not arise, the canker of sensuality that has not yet arisen, Or the canker of sensuality that has arisen, be eradicated, Or the canker of unborn existence not arise, Or the canker of existence that has arisen, is eradicated Or ignorance. Unborn gonorrhea does not arise Or ignorance has arisen gonorrhea is eliminated. Those are the things that need attention that they don't pay attention to. Because he pays attention to the things that should not be noticed, because he does not pay attention to the things to be noticed, the cankers that have not yet arisen arise, and those that have arisen are increased. He does not properly pay attention as follows: "Am I present in the past time, or am I not present in the past time? How did we appear in the past tense? How did I appear in the past? What was I before and how did I come into being in the past? Will I be present in the future time or will I not be in the future time? How will I be in the future? I will be present in the future, what shape will I be? What am I before and how will I be in the future?” Or now he has doubts about himself in the present time: “Am I present or am I not? How am I present? What body shape do you have? Where do these beings come from? And then where will it go?" For such a person who does not have such reasonable attention, one of these six wrong views arises: "I have a self", this wrong view arises for him as it really is, like the truth; "I have no self", this wrong view arises for him as it really is; "Due to myself, I think I know I have a self", this wrong view arises for him as real, as true; "By myself, I perceive myself as having no self," this wrong view arises for him as it really is, as it really is. "Not by myself, I think I have a self", this wrong view arises for him as real, as true; Or this wrong view arises to him: "It is my self that says, feels, enjoys the retribution of good and evil deeds done here and there, that very self of mine is permanent, permanent, eternal, immutable, and will endure forever.” This, bhikkhus, is called the wrong view, the forest view, the wild view, the argumentative view, the disputed view, and the false view. Bhikkhus, bound by the view of fetter, the ordinary person of little hearing is not freed from birth, old age, death, sorrow, lamentation, pain, grief, and despair. I say he is not free from suffering. The holy disciple hears a lot, bhikkhus, and the noble disciple hears a lot: Seeing the sages who are well-versed in the dhamma, the saints, practicing the dharma, the saints, seeing the sages Dharma practice of the Adepts, who know the dharmas that need attention. This one, through the knowledge of dhammas that need attention, through the knowledge of dhammas that are not to be noticed, he does not pay attention to things that are not to be noticed, and he pays attention to things that need attention. And, bhikkhus, what is the dharma that does not need attention and this taste does not pay attention? The Male-stilts, what French by his attention that the sex gonorrhea has not yet arisen, Or the sex gonorrhea has been born is increased; Or unborn gonorrhea… (as above)… Or ignorance gonorrhea has not yet arisen, Or ignorance gonorrhea has arisen growth. Those are the dhammas that should not be noticed and that he should not pay attention to. And what, bhikkhus, are dhammas to be observed and he is attentive? What, bhikkhus, are the dhammas under which the canker of sensuality that has not yet arisen does not arise, Or the canker of sensuality that has arisen is eradicated, Or the canker of unborn existence does not arise, Or the canker of existence that has arisen is eradicated, Or the canker of ignorance that has not arisen does not arise, Or that the canker of ignorance that has arisen is eradicated, Those are the dharmas that need attention and that he pays attention to. Because he does not pay attention to dharmas, there is no need for attention, attention to the dharma should be noticed so that the cankers or unborn do not arise and the gonorrhea or have arisen are eliminated. As Li Zuo means: "This is suffering", as Li-consciousness: "This is the origin of suffering", Such attention: "This is the cessation of suffering", Tathagata observes: "This is me. the way leading to the cessation of suffering". Thanks to his attention like that, three fetters are eradicated: 1. Body ant, 2. Nghi, 3. About prohibition. These dhammas, bhikkhus, are called cankers or must be eliminated by KNOWLEDGE. Section Except Due to PROTECTION And this Male-stilts, what is the contraband or right d. PROTECTION is deducted? Here, there is a bhikkhu who, as rationally aware, lives guardingly with eye protection. Monks, if that bhikkhu lives unguarded with eye protection, defilements or damage and brain heat may arise. If you live on guard with eye protection, the evils or damage and brain heat are gone. He is like a sensible person, Protective living with ear protection… (as above) Protective living with nose protection… (as above) Protective living with tongue protection… (as above) Living rationally with protection against protect the body… (as above) Live as reasonable protection with the protection mind. If, bhikkhus, that bhikkhu lived unguarded with guarding of the mind, such defilements and fervor could arise. If you live with the mind, the gonorrhea or damage and the heat of the brain will no longer exist. These dhammas, bhikkhus, are called contraband or must be eliminated by PROTECTION. Subtracting Due to USE And this Male-stilts, how is the contraband or must by USE be eliminated? Clothing, monks, here a bhikkhu, like rationally aware, uses clothing to prevent cold, prevent heat, and prevent the contact of flies, mosquitoes, wind, and the heat of the sun. , reptiles, only for the purpose of covering up the nakedness. The taste of almsfood is like a rational mind, using alms food Not for fun, Not for passion, Not for decoration, Not for self-beautification, But just for this body to live. For a long time and to be maintained, To prevent this body from getting hurt, To support the holy life, thinking: "Thus, I will destroy old feelings and not allow new sensations to arise, and I will not be guilty of any fault. make mistakes, live in peace." Sieve Calamity He, like rational awareness, uses a sitting sieve, only to prevent cold, prevent heat, prevent the contact of flies, mosquitoes, wind, heat from the sun, reptiles of all kinds, just to relieve except for the danger of the weather, only for the purpose of living a peaceful solitary life. Medicines for Diseases That person is like rational understanding and uses medicines to treat illnesses, just to stop the feelings of suffering that have arisen, to be completely separated from suffering. If, bhikkhus, he does not enjoy life in this way, defilements or defilements and heat in the brain may arise. If he uses such a life, his destructive or harmful defilements and brain heat will no longer exist. These dhammas, monks, are called contraband or must be eliminated by USE. Section Except by CONSIDERATION And, monks, how is the contraband or must be eliminated by KHANGE? The Male-stilts, here, there are Male-stilts as rationally, patiently cold, hot, hungry, thirsty, touched by flies, mosquitoes, wind, heat of the sun, reptiles; Be patient with slanderous speeches. He has patience with bodily sensations, painful, intense, throbbing, aching, unpleasure, displeasure, and numbing sensations. If he is not so patient, bhikkhus, the defilements or damage and heat of the heart may arise. If he is so patient, the gonorrhea or damage and the heat of the brain is no more. These dhammas, bhikkhus, are called contrabands or must be eliminated by KEEPING. Abandonment By Avoidance And, bhikkhus, how is the contraband or must by avoidance to be eradicated? Here, bhikkhus, a bhikkhu, as he wisely observes, avoids a wild elephant, a fierce horse, a wild ox, a fierce dog, a snake, a log, a thorn, a pit, a cliff, muddy pond, puddle. There are seats that are not worthy of sitting, places that should not be visited, evil friends who, if socialized, are suspicious and despised by wise companions; He, as wise, avoids that unworthy seat, that abode where he should not go and his wicked companions. If, bhikkhus, he does not avoid such defilements, the defilements and fervor may arise. If he avoids like this, the gonorrhea or damage and the heat of the brain is no more. These dhammas, bhikkhus, are called contraband or must be eliminated by avoidance. Abandonment Due to the eradication And, monks, how are the gonorrhea or must by eradication be eradicated? The Male-stilts, here, Male-stilts as rationally close There is no acceptance of sexual thoughts that have arisen, given up, eradicated, destroyed, not allowed to exist (thought of that); There is no acceptance of the anger that has arisen, given up, eradicated, annihilated, not allowed to exist (that anger); There is no acceptance of harmful thoughts that have arisen, abandoned, eliminated, annihilated, not allowed to exist (harmful thoughts); Do not accept the evil unwholesome dhammas that always arise, give up, eliminate, cease, cease to exist (these evil unwholesome dharmas). If, bhikkhus, he does not eliminate in this way, the defilements or defilements and the heat of the heart may arise. If he thus eradicates, the gonorrhea or damage and the heat of the brain is no more. These dhammas, bhikkhus, are called contrabands or must be destroyed by eradication. Abandonment By Training And, bhikkhus, how is the contraband or must by TEACHING to be eliminated? The Male-stilts, here, Male-stilts as rationally practice mindfulness of enlightenment, mindfulness of this enlightenment factor is far away, y is away from greed, y is annihilated, towards giving up; such as the practice of the law of enlightenment, the cultivation of the French enlightenment chi ... (as above) The practice of diligent enlightenment The practice of the joy of enlightenment. Practice contempt for peace. Practice mindfulness. Practice discharge awareness chi; discharge this limb enlightenment y far away, y cup of greed, y cessation, towards giving up. This Male-stilts, if he does not practice like that, the contraband or harm and heat of the brain may arise. If he practices like that, the contraband or harmful and the heat of his brain is no longer there. The Male-stilts, those dharmas are called the contraband or must be eliminated by TRAINING. Conclusion This Male-stilts, for Male-stilts 1. The gonorrhea or which must be eliminated by KNOWLEDGE has been eliminated except 2. The contraband or which must be by PROTECTION is eliminated has been PROTECTED paragraph except, 3. Any contraband that must be eliminated by USE has been eliminated, 4. Any contraband that must be eliminated by KHAM LAB has been eliminated, 5. Any contraband must be AVOID has been eliminated. AVOID has been eliminated; 6. The contraband that must be eradicated has been eradicated and has been eradicated; 7. The contraband that must be eliminated by TRAINING has been eliminated by TRUONG section. apart from; This bhikkhu is said to have lived a life of protection with protection against all taints, having eradicated thirst and craving, having been freed from fetters, having rightly contemplated pride, having eradicated suffering. END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE BUDDHIST DHARMA-EYE TEMPLE.( USA ).GOLDEN ZEN BUDDHIST MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.27/6/2023.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.
7 Pháp Đoạn Trừ Lậu Hoặc Là Gì?
Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc ① cho người biết, ② cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho ① người biết, ② cho người thấy: ③ có như lý tác ý và ④ không như lý tác ý.
Không Như Lý Tác Ý
Này các Tỷ-kheo, do không như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng.
Như Lý Tác Ý
Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt.
Này các Tỷ-kheo
1. Có những lậu hoặc phải do TRI KIẾN được đoạn trừ
2. Có những lậu hoặc phải do PHÒNG HỘ được đoạn trừ
3. Có những lậu hoặc phải do THỌ DỤNG được đoạn trừ
4. Có những lậu hoặc phải do KHAM NHẪN được đoạn trừ
5. Có những lậu hoặc phải do NÉ TRÁNH được đoạn trừ
6. Có những lậu hoặc phải do TRỪ DIỆT được đoạn trừ
7. Có những lậu hoặc phải do TU TẬP được đoạn trừ.
Đoạn Trừ Do Tri Kiến
1. Này các Tỷ-kheo, và thế nào là các lậu hoặc phải do TRI KIẾN được đoạn trừ?
Phàm Phu Ít Nghe
Này các Tỷ-kheo, ở đây có kẻ phàm phu ít nghe
Không được thấy các bậc Thánh
Không thuần thục pháp các bậc Thánh
Không tu tập pháp các bậc Thánh
Không được thấy các bậc Chơn nhơn
Không thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn
Không tu tập pháp các bậc Chơn nhơn
Không tuệ tri các pháp cần phải tác ý
Không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý.
Vị này vì không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, vì không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý nên tác ý các pháp không cần phải tác ý và không tác ý các pháp cần phải tác ý.
Này các Tỷ-kheo, và thế nào là các pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý?
Này các Tỷ-kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý mà
Dục lậu chưa sanh được sanh khởi
Hay dục lậu đã sanh được tăng trưởng;
Hay hữu lậu chưa sanh được sanh khởi
Hay hữu lậu đã sanh được tăng trưởng
Hay vô minh lậu chưa sanh được sanh khởi
Hay vô minh lậu đã sanh được tăng trưởng.
Những pháp ấy là những pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý.
Này các Tỷ-kheo, và thế nào là các pháp cần phải tác ý mà vị ấy không tác ý?
Này các Tỷ-kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý mà
Dục lậu chưa sanh không sanh khởi
Hay dục lậu đã sanh được trừ diệt
Hay hữu lậu chưa sanh không sanh khởi
Hay hữu lậu đã sanh được trừ diệt
Hay vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi
Hay vô minh lậu đã sanh được trừ diệt.
Những pháp ấy là những pháp cần phải tác ý mà các vị ấy không tác ý.
Do vị ấy tác ý các pháp không nên tác ý, do vị ấy không tác ý các pháp cần phải tác ý, nên các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng.
Vị ấy không như lý tác ý như sau:
“Ta có mặt trong thời quá khứ, hay ta không có mặt trong thời quá khứ?
Ta có mặt trong thời quá khứ như thế nào?
Ta có mặt trong thời quá khứ hình vóc như thế nào?
Trước kia ta là gì và ta đã có mặt như thế nào trong thời quá khứ?
Ta sẽ có mặt trong thời vị lai hay ta sẽ không có mặt trong thời vị lai?
Ta sẽ có mặt trong thời vị lai như thế nào?
Ta sẽ có mặt trong thời vị lai, hình vóc như thế nào?
Trước kia ta là gì và ta sẽ có mặt như thế nào trong thời vị lai?”
Hay nay vị ấy có nghi ngờ về mình trong thời hiện tại:
“Ta có mặt hay ta không có mặt?
Ta có mặt như thế nào?
Ta có mặt hình vóc như thế nào?
Chúng sanh này từ đâu đến? Và rồi nó sẽ đi đâu?”.
Với người không như lý tác ý như vậy, một trong sáu tà kiến này khởi lên:
“Ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn;
“Ta không có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật như chơn;
“Do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn;
“Do tự mình, ta tưởng tri ta không có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn.
“Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã”, tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn;
Hay tà kiến này khởi lên với người ấy:
“Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác đã làm chỗ này, chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường trú, thường hằng, hằng tồn, không chuyển biến, và sẽ vĩnh viễn tồn tại”.
Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là
Tà kiến,
Kiến trù lâm,
Kiến hoang vu,
Kiến hý luận,
Kiến tranh chấp,
Kiến kiết phược.
Này các Tỷ-kheo, trói buộc bởi kiến kiết sử, kẻ phàm phu ít nghe không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Ta nói kẻ ấy không thoát khỏi khổ đau.
Thánh Đệ Tử Nghe Nhiều
Này các Tỷ-kheo, và vị Thánh đệ tử nghe nhiều:
Được thấy các bậc Thánh
Thuần thục pháp các bậc Thánh
Tu tập pháp các bậc Thánh
Được thấy các bậc Chơn nhơn
Thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn
Tu tập pháp các bậc Chơn nhơn
Tuệ tri các pháp cần phải tác ý
Tuệ tri các pháp không cần phải tác ý.
Vị này, nhờ tuệ tri các pháp cần phải tác ý, nhờ tuệ tri các pháp không cần phải tác ý, nên không tác ý các pháp không cần phải tác ý và tác ý các pháp cần phải tác ý.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp không cần phải tác ý và vị này không tác ý?
Này các Tỷ-kheo, những pháp nào do vị ấy tác ý mà
Dục lậu chưa sanh được sanh khởi,
Hay dục lậu đã sanh được tăng trưởng;
Hay hữu lậu chưa sanh… (như trên)…
Hay vô minh lậu chưa sanh được khởi,
Hay vô minh lậu đã sanh được tăng trưởng.
Ðó là những pháp không nên tác ý và vị ấy không tác ý.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý?
Này các Tỷ-kheo, những pháp nào do vị ấy tác ý mà
Dục lậu chưa sanh không sanh khởi,
Hay dục lậu đã sanh được trừ diệt,
Hay hữu lậu chưa sanh không sanh khởi,
Hay hữu lậu đã sanh được trừ diệt,
Hay vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi,
Hay vô minh lậu đã sanh được trừ diệt,
Đó là những pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý.
Nhờ vị ấy không tác ý các pháp không cần phải tác ý, tác ý các pháp cần phải tác ý nên các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt.
Như Lý Tác Ý
Vị ấy như lý tác ý: “Ðây là khổ”,
Như lý tác ý: “Ðây là khổ tập”,
Như lý tác ý: “Ðây là khổ diệt”,
Như lý tác ý: “Ðây là con đường đưa đến khổ diệt”.
Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt:
1.Thân kiến,
2.Nghi,
3.Giới cấm thủ.
Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do TRI KIẾN được đoạn trừ.
Đoạn Trừ Do PHÒNG HỘ
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải d. PHÒNG HỘ được đoạn trừ?
Ở đây, có Tỷ-kheo như lý giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ mắt. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ mắt, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu sống phòng hộ với sự phòng hộ mắt, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.
Vị ấy như lý giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ tai… (như trên)
Sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ mũi… (như trên)
Sống phòng hộ với sự phòng hộ lưỡi… (như trên)
Sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ thân… (như trên)
Sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ ý. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ ý, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu sống phòng hộ ý, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.
Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do PHÒNG HỘ được đoạn trừ.
Đoạn Trừ Do THỌ DỤNG
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do THỌ DỤNG được đoạn trừ?
Y Phục
Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát, thọ dụng y phục,
chỉ để ngăn ngừa lạnh,
ngăn ngừa nóng,
ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát,
chỉ với mục đích che đậy sự trần truồng.
Món Ăn Khất Thực
Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng món ăn khất thực
Không phải để vui đùa,
Không phải để đam mê,
Không phải để trang sức,
Không phải để tự làm đẹp mình,
Mà chỉ
để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng,
Để thân này khỏi bị thương hại,
Để hỗ trợ phạm hạnh,
nghĩ rằng: “Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn”.
Sàng Tai họa
Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng sàng tọa, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loại bò sát, chỉ để giải trừ nguy hiểm của thời tiết, chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh.
Dược Phẩm Trị Bệnh
Vị ấy như lý giác sát thọ dụng dược phẩm trị bệnh,
chỉ để ngăn chận các cảm giác khổ thống đã sanh,
để được ly khổ hoàn toàn.
Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.
Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do THỌ DỤNG được đoạn trừ.
Đoạn Trừ DO KHAM NHẪN
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do KHAM NHẪN được đoạn trừ?
Này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo như lý giác sát, kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát; kham nhẫn những cách nói mạ lị phỉ báng.
Vị ấy có tánh kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người.
Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.
Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do KHAM NHẪN được đoạn trừ.
Đoạn Trừ Do TRÁNH NÉ
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do TRÁNH NÉ được đoạn trừ?
Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát tránh né voi dữ, tránh né ngựa dữ, tránh né bò dữ, tránh né chó dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước.
Có những chỗ ngồi không xứng đáng ngồi, những trú xứ không nên lai vãng, những bạn bè ác độc mà nếu giao du thì bị các vị đồng phạm hạnh có trí nghi ngờ, khinh thường; vị ấy như lý giác sát tránh né chỗ ngồi không xứng đáng ấy, trú xứ không nên lai vãng ấy và các bạn độc ác ấy.
Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.
Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do TRÁNH NÉ được đoạn trừ.
Đoạn Trừ Do TRỪ DIỆT
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do TRỪ DIỆT được đoạn trừ?
Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát
Không có chấp nhận dục niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (dục niệm ấy);
Không có chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (sân niệm ấy);
Không có chấp nhận hại niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (hại niệm ấy);
Không chấp nhận các ác bất thiện pháp luôn luôn khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (các ác bất thiện pháp ấy).
Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không trừ diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy trừ diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.
Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do TRỪ DIỆT được đoạn diệt.
Đoạn Trừ Do TU TẬP
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do TU TẬP được đoạn trừ?
Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát tu tập niệm giác chi, niệm giác chi này y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; như lý giác sát tu tập trạch pháp giác chi… (như trên)
Tu tập tinh tấn giác chi
Tu tập hỷ giác chi.
Tu tập khinh an giác chi.
Tu tập định giác chi.
Tu tập xả giác chi; xả giác chi này y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa.Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do TU TẬP được đoạn trừ.
Kết luận
Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo
1. Những lậu hoặc nào phải do TRI KIẾN được đoạn trừ đã được TRI KIẾN đoạn trừ
2. Những lậu hoặc nào phải do PHÒNG HỘ được đoạn trừ đã được PHÒNG HỘ đoạn trừ,
3. Những lậu hoặc nào phải do THỌ DỤNG được đoạn trừ đã được THỌ DỤNG đoạn trừ,
4. Những lậu hoặc nào phải do KHAM NHẪN được đoạn trừ đã được KHAM NHẪN đoạn trừ,
5. Những lậu hoặc nào phải do TRÁNH NÉ được đoạn trừ đã được TRÁNH NÉ đoạn trừ,
6. Những lậu hoặc nào phải do TRỪ DIỆT được đoạn trừ đã được TRỪ DIỆT đoạn trừ,
7. Những lậu hoặc nào phải do TU TẬP được đoạn trừ đã được TU TẬP đoạn trừ;
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã sống phòng hộ với sự phòng hộ tất cả lậu hoặc, đã đoạn diệt khát ái, đã thoát ly kiết sử, đã chánh quán kiêu mạn, đã diệt tận khổ đau.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).CHUA PHAP NHAN.( USA ).THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.27/6/2023.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
7 stations = 7 stages of purity leading to the achievement of incompetent before Bat Nirvana What is? White World Honored One, Venerable Punna Mantaniputta is a local Male-stilts who are praised by fellow Male-stilts in the same locality as follows: 1. He himself has minimal sex and teaches about low sex for the Male-stilts; 2. Self-sufficiency and lecture on tri-stilts for the Male-stilts; 3. Self-seclusion and lecture on solitary for the Male-stilts; 4. Do not pollute yourself and preach about non-pollution for the Male-stilts; 5. Self-required, diligent and preached about essential-need, diligent for the Male-stilts; 6. Self-accomplishment of morality and preaching of achievements of morality for the Male-stilts; 7. Accomplish Meditation by yourself and lecture on Meditation achievements to the Male-stilts; 8. Achieve wisdom yourself and talk about intellectual achievements for the Male-stilts;' 9. Achieve liberation yourself and talk about the achievement of liberation for the Male-stilts; ten. Accomplishment of self-liberation of knowledge and talking about achievement of liberation of knowledge for the Male-stilts; (1) The teacher, (2) The announcer, (3) The presenter, (4) The encouraging, (5) The excited, (6) The accomplices happy . Sitting down to one side, Venerable Sariputta said to Venerable Punna Mantaniputta: - Friend, do we live a holy life under the teachings of the Blessed One? "Indeed, sage. – Sage, is living a holy life under the guidance of the World Religion for the purpose of 1. Pure precepts? - Not so, Sage. 2. Pure mind? - Not so, Sage. 3. Pure ants? - Not so, Sage. 4. The pure suspect? - Not so, Sage. 5. The non-religious religion of pure knowledge? - Not so, Sage. 6. Dao tri view pure? - Not so, Sage. 7. Pure knowledge? - Not so, Sage. - The sage, when asked, "Is living the holy life under the guidance of the Blessed One for the sake of (1) purity of morality?", the sage replied, "Not so". When asked (2) Is the mind pure? (3) Pure ant? (4) Suspicion of purity? (5) Non-religious view of pure knowledge? (6) Dao tri view pure? When asked, "Is living the holy life under the guidance of the Blessed One for the sake of (7) pure knowledge?", the sage replied, "It is not." So, sage, for what purpose, live the holy life under the instruction of the Blessed One? - The sage, with the aim of being defenseless before Prajnaparamita, should live a holy life under the guidance of the Blessed One. - sage, is it (1) pure precepts that are defenseless before Prajnaparamita? - It's not like that, sage. (2) The pure mind is defenseless before Parinirvana? - It's not like that, sage. (3) Pure view is defenseless before Prajnaparamita? - Sage, not so. (4) The pure doubt is defenseless before Parinirvana? - It's not like that, sage. (5) The immoral way of pure knowledge is defenseless before Prajnaparamita? - It's not like that, sage. (6) The pure way of knowing and seeing is defenseless before Prajnaparamita? - It's not like that, sage. (7) Pure knowledge is undefeatable before Parinirvana? - It's not like that, sage. Friend, is nothing but these dharmas defenseless before Prajnaparamita? Sage, it is not. - The sage, when asked "is it (1) pure precepts are defenseless before Prajnaparamita?", the sage replied: "Not so. When asked "is (2) the mind pure? (3) Is the view pure? (4) Is the doubt pure? (5) Is the non-religious path of pure knowledge? (6) Is the path of pure knowledge? (7) Is the view pure? (8) Is something other than these dharmas defenseless before Parinirvana?” The sage replied, “It is not.” Sage, how should this meaning be understood? - Friend, if the World-Honored One declares that (1) Pure precepts are defenseless before Prajnaparamita, then He also declares that non-playing before Prajnaparamita is equal to righteous grasping before Parinirvana. sage, if the Blessed One declares (2) the mind is pure... sage, if the Blessed One declares (3) the view is pure... sage, if the Blessed One declares (4) the doubt is pure... sage, if The World-Honored One declares that the Dao is immoral, pure knowledge... sage, if the World Honored One declares (6) the pure Taoist view... sage, if the World Honored One declares (7) the pure knowledge and view to be defenseless before Prajnaparamita, then He also declares no defense before Prajna- the table is equal to the right hand before Prajnaparamita. Friend, and if the World-Honored One declares (8) Anything but these dharmas is invincible to parinirvana, then ordinary people can attain parinirvana, for, sage, ordinary people are beyond all things. that law. Sage, I will give you an example, here some wise people use an example to understand the meaning of words. Sage, like King Pasenadi of Kosala while staying at Savatthi, urgent business arose at Saketa, and seven stations were arranged for the king between Savatthi and Saketa. sage, then King Pasenadi of Kosala, from the inner city gate out of Savatthi, climbed to the first station, and by the first station reached the second station; Abandon the first station, climb to the second bus station, thanks to the second bus station to reach the third bus station; Abandon the second bus station… to reach the fourth bus stop; Abandon the third bus station… to reach the fifth bus stop, Abandon the fourth bus station, climb to the fifth bus station, thanks to the fifth bus stop, reach the sixth bus station; Abandon the fifth station, climb to the sixth bus stop, thanks to the sixth bus stop, reach the seventh bus station; Abandon the sixth bus station, climb up to the seventh bus station, thanks to the seventh bus stop, reach Saketa, at the inner city gate. When the king arrived at the gate of the inner city, the ministers of the court, relatives of the same bloodline asked as follows: "Your Majesty, is it with this station that you go from Savatthi to Saketa at the gate of the inner city?" Sage, how should King Pasenadi of Kosala respond to be called a correct answer? - Friend, King Pasenadi of Kosala must answer like this to answer correctly: "Here, while I was in Savatthi, there is urgent work arose at Saketa, and seven stations have been arranged for me, between Savatthi and Saketa. We left Savatthi from the inner city gate, climbed to the first bus stop, and thanks to the first bus stop, we reached the second bus station; Abandoning the first bus station, we climb to the second bus station; and thanks to the second bus stop, we get to the third bus stop; Abandon the second bus station… to reach the fourth bus stop; Leaving the third bus station… to the fifth bus stop; Abandon the fourth bus station… to reach the sixth bus station; Abandon the fifth bus station, climb to the sixth bus station, thanks to the sixth bus station, reach the seventh bus station; Abandoning the sixth bus station, climbing to the seventh bus station, by means of the seventh bus station, I reached Saketa, at the gate of the inner city." sage, King Pasenadi of Kosala answered like that to answer correctly. Also, this sage, 1. About purity only has the purpose (achieved for) pure mind; 2. Pure mind has only the purpose (to achieve) pure view; 3. The pure ant is only for the purpose (achieved for) the pure doubt; 4. The pure suspect section only has the purpose (to be) of the non-religious path of pure knowledge; 5. The non-religious path of pure knowledge is only for the purpose (achieved) of the pure religious view; 6. Dao tri view of purity only has the purpose (achieved to be) pure tri view; 7. Pure knowledge only has the purpose (achieved for) in front of Bat-nirvana. This, sage, living the holy life under the guidance of the Blessed One is for the purpose of being defenseless before Prajnaparamita. The pure suspect section is only for the purpose (to achieve) the non-religious path of pure knowledge; 5. The non-religious path of pure knowledge is only for the purpose (achieved) of the pure religious view; 6. Dao tri view of purity only has the purpose (achieved to be) pure tri view; 7. Pure knowledge only has the purpose (achieved for) in front of Bat-nirvana. This, sage, living the holy life under the guidance of the Blessed One is for the purpose of being defenseless before Prajnaparamita. The pure suspect section is only for the purpose (to achieve) the non-religious path of pure knowledge; 5. The non-religious path of pure knowledge is only for the purpose (achieved) of the pure religious view; 6. Dao tri view of purity only has the purpose (achieved to be) pure tri view; 7. Pure knowledge only has the purpose (achieved for) in front of Bat-nirvana. This, sage, living the holy life under the guidance of the Blessed One is for the purpose of being defenseless before Prajnaparamita. Pure knowledge is only for the purpose (to achieve) in front of Prajnaparamita. This, sage, living the holy life under the guidance of the Blessed One is for the purpose of being defenseless before Bat-nirvana. Pure knowledge is only for the purpose (to achieve) in front of Prajnaparamita. This, sage, living the holy life under the guidance of the Blessed One is for the purpose of being defenseless before Bat-nirvana.END= NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE BUDDHIST DHARMA-EYE TEMPLE.( USA ).GOLDEN ZEN BUDDHIST MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.27/6/2023.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.
7 trạm xe = 7 giai đoạn thanh tịnh dẫn đến thành tựu vô thủ trước Bát Niết Bàn là gì?
Bạch Thế Tôn, Tôn giả Punna Mantaniputta là Tỷ-kheo địa phương được các Tỷ-kheo đồng phạm hạnh cùng một địa phương tán thán như sau:
1. Tự mình thiểu dục và giảng về thiểu dục cho các Tỷ-kheo;
2. Tự mình tri túc và giảng về tri túc cho các Tỷ-kheo;
3. Tự mình độc cư và giảng về độc cư cho các Tỷ-kheo;
4. Tự mình không ô nhiễm và giảng về không ô nhiễm cho các Tỷ-kheo;
5. Tự mình tinh cần, tinh tấn và giảng về tinh cần, tinh tấn cho các Tỷ-kheo;
6. Tự mình thành tựu giới hạnh và giảng về thành tựu giới hạnh cho các Tỷ-kheo;
7. Tự mình thành tựu Thiền định và giảng về thành tựu Thiền định cho các Tỷ-kheo;
8. Tự mình thành tựu trí tuệ và nói về thành tựu trí tuệ cho các Tỷ-kheo;’
9. Tự mình thành tựu giải thoát và nói về thành tựu giải thoát cho các Tỷ-kheo;
10. Tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và nói về thành tựu giải thoát tri kiến cho các Tỷ-kheo;
(1) Vị giáo giới, (2) Vị khai thị, (3) Vị trình bày, (4) Vị khích lệ, (5) Vị làm cho phấn khởi, (6) Vị làm cho các vị đồng phạm hạnh hoan hỷ.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sariputta thưa với Tôn giả Punna Mantaniputta:
– Hiền giả, có phải chúng ta sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn?
– Thật như vậy, Hiền giả.
– Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích
1. Giới thanh tịnh?
– Không phải vậy, Hiền giả.
2. Tâm thanh tịnh?
– Không phải vậy, Hiền giả.
3. Kiến thanh tịnh?
– Không phải vậy, Hiền giả.
4. Đoạn nghi thanh tịnh?
– Không phải vậy, Hiền giả.
5. Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh?
– Không phải vậy, Hiền giả.
6. Đạo tri kiến thanh tịnh?
– Không phải vậy, Hiền giả.
7. Tri kiến thanh tịnh?
– Không phải vậy, Hiền giả.
– Hiền giả, khi hỏi “có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích
(1) Giới thanh tịnh?”, Hiền giả trả lời “Không phải vậy”. Khi hỏi
(2) Tâm thanh tịnh?
(3) Kiến thanh tịnh?
(4) Đoạn nghi thanh tịnh?
(5) Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh?
(6) Đạo tri kiến thanh tịnh?
Khi hỏi “có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích (7) Tri kiến thanh tịnh?”, Hiền giả trả lời “Không phải vậy”. Như vậy, Hiền giả, với mục đích gì, sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn?
– Hiền giả, với mục đích vô thủ trước Bát-niết-bàn, nên sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn.
– Hiền giả, có phải
(1) Giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
– Hiền giả, không phải vậy.
(2) Tâm thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
– Hiền giả, không phải vậy.
(3) Kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
– Hiền giả, không phải vậy.
(4) Đoạn nghi thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
– Hiền giả, không phải vậy.
(5) Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
– Hiền giả, không phải vậy.
(6) Đạo tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
– Hiền giả, không phải vậy.
(7) Tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
– Hiền giả, không phải vậy.
Hiền giả, có phải cái gì ngoài các pháp này là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
Hiền giả, không phải vậy.
– Hiền giả, khi hỏi “có phải (1) Giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?”, Hiền giả trả lời: “Không phải vậy.
Khi hỏi “có phải (2) Tâm thanh tịnh?
(3) Có phải kiến thanh tịnh?
(4) Có phải đoạn nghi thanh tịnh?
(5) Có phải đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh?
(6) Có phải đạo tri kiến thanh tịnh là?
(7) Có phải tri kiến thanh tịnh?
(8) Có phải cái gì ngoài các pháp này là vô thủ trước Bát-niết-bàn?”, Hiền giả trả lời: “Không phải vậy.”
Hiền giả, vậy ý nghĩa lời nói này cần phải được hiểu như thế nào?
– Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố (1) Giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn thì Ngài cũng tuyên bố vô thủ trước Bát-niết-bàn là đồng đẳng với hữu thủ trước Bát-niết-bàn.
Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố (2) Tâm thanh tịnh…
Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố (3) Kiến thanh tịnh…
Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố (4) Đoạn nghi thanh tịnh…
Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố (5) Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh…
Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố (6) Đạo tri kiến thanh tịnh…
Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố (7) Tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn thì Ngài cũng tuyên bố vô thủ trước Bát-niết-bàn là đồng đẳng với hữu thủ trước Bát-niết-bàn.
Hiền giả, và nếu Thế Tôn tuyên bố (8) Cái gì ngoài các pháp ấy là vô thủ trước Bát-niết-bàn, thì kẻ phàm phu có thể Bát-niết-bàn, vì này Hiền giả, phàm phu là ngoài các pháp ấy.
Hiền giả, tôi sẽ cho Hiền giả một ví dụ, ở đây, một số kẻ có trí, nhờ ví dụ để hiểu ý nghĩa của lời nói.
Hiền giả, như vua Pasenadi xứ Kosala trong khi ở tại Savatthi, có công việc khẩn cấp khởi lên ở Saketa, và bảy trạm xe được sắp đặt cho vua giữa Savatthi và Saketa.
Hiền giả, rồi vua Pasenadi xứ Kosala, từ cửa nội thành ra khỏi Savatthi, leo lên trạm xe thứ nhất, và nhờ trạm thứ nhất đến được trạm xe thứ hai;
Từ bỏ trạm xe thứ nhất, leo lên trạm xe thứ hai, nhờ trạm xe thứ hai đến được trạm xe thứ ba; Từ bỏ trạm xe thứ hai… đến được trạm xe thứ tư; Từ bỏ trạm xe thứ ba… đến được trạm xe thứ năm, Từ bỏ trạm xe thứ tư, leo lên trạm xe thứ năm, nhờ trạm xe thứ năm đến được trạm xe thứ sáu; Từ bỏ trạm thứ năm, leo lên trạm xe thứ sáu, nhờ trạm xe thứ sáu, đến được trạm xe thứ bảy; Từ bỏ trạm xe thứ sáu, leo lên trạm xe thứ bảy, nhờ trạm xe thứ bảy đến được Saketa, tại cửa nội thành.
Khi vua đến tại cửa nội thành, các bộ trưởng cận thần, các thân thích cùng huyết thống hỏi như sau:
“Tâu Ðại vương có phải với trạm xe này, Bệ hạ đi từ Savatthi đến Saketa tại cửa nội thành?” Hiền giả, vua Pasenadi nước Kosala phải trả lời như thế nào mới gọi là trả lời đúng đắn?
– Hiền giả, vua Pasenadi nước Kosala phải trả lời như thế này mới trả lời đúng đắn:
“Ở đây, trong khi ta ở Savatthi, có công việc khẩn cấp khởi lên ở Saketa, và bảy trạm xe được sắp đặt cho ta, giữa Savatthi và Saketa.
Ta từ cửa nội thành ra khỏi Savatthi, leo lên trạm xe thứ nhất, và nhờ trạm xe thứ nhất, ta đến được trạm xe thứ hai; Từ bỏ trạm xe thứ nhất, ta leo lên trạm xe thứ hai; và nhờ trạm xe thứ hai, ta đến được trạm xe thứ ba; Từ bỏ trạm xe thứ hai… đến được trạm xe thứ tư; Từ bỏ trạm xe thứ ba… đến được trạm xe thứ năm; Từ bỏ trạm xe thứ tư… đến được trạm xe thứ sáu; Từ bỏ trạm xe thứ năm, leo lên trạm xe thứ sáu, nhờ trạm xe thứ sáu, đến được trạm xe thứ bảy; Từ bỏ trạm xe thứ sáu, leo lên trạm xe thứ bảy, nhờ trạm xe thứ bảy, Ta đến được Saketa, tại cửa nội thành”. Hiền giả, vua Pasenadi nước Kosala trả lời như vậy mới trả lời một cách đúng đắn.
Cũng vậy, này Hiền giả,
1. Giới thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) tâm thanh tịnh;
2. Tâm thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) kiến thanh tịnh;
3. Kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đoạn nghi thanh tịnh;
4. Đoạn nghi thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh;
5. Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đạo tri kiến thanh tịnh;
6. Đạo tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) tri kiến thanh tịnh;
7. Tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) vô thủ trước Bát-niết-bàn.
Này Hiền giả, sống phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn là với mục đích vô thủ trước Bát-niết-bàn.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ). CHUA PHAP NHAN.( USA ).THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.27/6/2023.
The Hell realm is felt by the evil karma of sentient beings. This realm is the place where the sufferings of sentient beings reach their climax and go on indefinitely. The negative karma created by the mind of hatred, extreme anger is the cause leading to this realm. Hell, it is called Nele in Ho, and Nai Lac in Sanskrit. “Complaints” means people. “Ca” means evil. Evil people born in that place should call that place Nai-lac-ca (there is a place where it is translated as Impossibility, or translated as Suffering Tools, or translated as Suffering Air). Because those evil people in life have committed extremely cruel actions of body, speech, and mind, so they must be born in that place and continue there. That's why it's called Nai-lac-ca. Hell is in the sense that the name is given, which means hell under the earth. In addition, prison means confinement, meaning arrest confines sinners, preventing them from being free. That's why it's called hell. She wrote that: Calling them criminals means that those who are imprisoned by the good prisons of A Bang cannot control their freedom of movement. But this road has many places, either on the ground, or on the ground, or in the air, so the Sanskrit version is not called hell, but called Nai-lac-ca. It also says: Under Hell and Hell, or in a cave in the mountains, or in a field, in the air, or in a temple by the sea. Other continents only have Sea Hell, Poison Hell, no Great Hell. Although there are many types of such hells, but based on the Three Laws Doctrine, there are a total of three regents, one Heat, two Han, and three Bien. 1. ONE IS HEALTH: there are eight, under Thien Bo, which means that there are five hundred due to the mud week under this continent, under five hundred due to the white clay week, Below half a thousand nine thousand by week, there are seven large prisons built inside. Less than half a thousand yojanas is an Intermittent Prison. From the bottom of this continent to the bottom, there is a total of four thousand yojanas. The Uninterrupted Prison is length, width, and height, twenty thousand yojanas each. The seven prisons each have a length of ten thousand yojanas. From the bottom of Thien Bo Chau to the prison of No Intermittent, the top and bottom are big, like a pile of rice. Inside there are eight prisons piled on top of each other. The Ahamma Sutra says: There are eight total hells. Those eight prisons each have sixteen small prisons gathered around. It means prison, each prison has four doors, in addition to each door there are four Du increases (so called because sentient beings in there suffer more and more): 1. The road increases; 2. Exam part increase; 3. Wind blade increased. There are also three types of this increase: a- Knife forbearance; b-Sword of the forest; c-I like forest. These three types are all Tie Lam, so the same store of photography; 4. Paralysis increased. Plus the previous seven prisons, for a total of seventeen. Eight such great prisons and dependent residences total one hundred thirty-six departments. So in the sutra it is said to be one hundred and thirty-six Nai Lac Ca. 1.1. Dang Hoa Prison Also known as Canh Hoai Prison. Either the good prison calls to life, or the wind blows it back to life. Although the two conditions are different, they both bring about the same rebirth, so they are called Dang Hoa Prison. Due to the habit of killing, liking that habit increased, so he had to fall into this prison. One thousand six thousand days and two hundred billion years in this world is equal to one day and night in this prison. Sinners here live to be five hundred years old. 1.2. Hac Thang Prison First used a steel wire to tie it, then cut it with an iron ax. Due to the practice of killing and stealing, he must be sent to this prison. Three thousand two thousand four hundred billion years of the world is equal to one day and night of this prison. Sinners here live a thousand years. 1.3. They Hell Also known as They sew (jail) prison (two mountains below converging to torture sinners). Due to the habit of killing, stealing, and sexual misconduct, he must be sent to this hell. Sixty-four thousand eight hundred million years is equal to one day of this prison. Sinners here live two thousand years. 1.4. Ho Ho Prison is also known as the Prison Reconciliation. Due to the habit of killing, stealing, sexual misconduct, and lying, he must be sent to this hell. Twelve thousand nine thousand six hundred million years of the world is equal to one day and night in this prison. Sinners here live four thousand years old. 1.5. Dai Hou Prison Also known as Dai Ho Hoan Prison. Four mountains, unable to escape, screaming and crying. Due to the habit of killing, stealing, sexual misconduct, false speech, encouraging people to drink alcohol, they must be sent to this prison. Twenty-five thousand nine thousand two hundred billion years of the new world is equal to one day and night in this prison. Sinners here live eight thousand years old. 1.6. Burning Hell Also known as the Inflammatory Hell, heated steel is clamped in, and the inside is hot. Due to the habit of killing, stealing, sexual misconduct, false speech, drinking alcohol, and wrong views, he must fall into this prison. Fifty thousand four hundred years in this world is equal to one day and night in this prison. Sinners here live sixteen thousand years old. 1.7. The Great Burning Hell is also known as the Great Flame Hell. The mountain fire blew in, mutilating the sinner. Because of killing, stealing, sexual misconduct, false speech, giving people alcohol, wrong views, not believing, or breaking the precepts of bhikkhunis, one must fall into this prison. Life is half a lifetime. 1.8. No Interruption Prison Also known as Wu Trach Prison. Once you have been thrown into the fire of suffering, there will be no happy moments forever. If you've been miserable, you can't always be happy, so what else is there to choose? There is not a single moment like the snap of a finger without suffering. Due to the negative karma, he fell into this prison. In Sanskrit it is called Abhi. This bhikkhu means Uninterrupted (uninterrupted) or also known as Infinite Nine. The Sutra of Contemplation of the Buddha's Samadhi says: The Abhi Jail suffers as great a day and a night as fifty small kalpas in the world. In this way, one's life span ends. Those who have enough of the five crimes of the opposite will have to suffer the sins of the five kalpas. Furthermore, any sentient being who commits the four gravely forbidden things: eats nothing of faith, slanders, wrong views, does not know cause and effect, abandons the practice of Prajna, destroys the Buddhas of the ten directions, steals from monks, commits adultery, and immoral. raping virgins, humiliating relatives. That person must be punished for one hundred and four thousand aeons, and is also put into eighteen cauldrons in the East to suffer. The West, the South, North is like that. 2- THE SECOND IS KOREA: There are eight prisons, at the bottom of Thiet Vi mountain, outside of this continent, sinners living and walking in this place have to suffer because of the cold. 2.1 An Phu Da Prison: Because of the cold, the skin was slightly blistered. 2.2. Nelapu-da Jail: This word means the bulge burst. Due to the cold wind blowing, the whole body was blistered and cracked. The two prisons above are named after the sufferings that they have to endure. 2.3. Batrana Prison: Due to the increased suffering of the cold, the lips cannot move, only the tongue can move. That's why I called this out loud. 2.4. Ababa Prison: Due to the extreme cold, the tongue could not move, and the lips made this cry. 2.5. Jaw: Due to the extreme cold, the lips and tongue did not move. Only in the throat is the sound of a slight concussion. The three prisons above are named based on the sound emitted when suffering. 2.6. Jail Ut-ba-ba: This word means Blue Lotus, this flower has small petals. Due to the color of the flesh being torn off like this flower was stripped. 2.7. Ba-head-ma: This word means pink lotus. Due to the flesh being torn apart like this flower blooms. 2.8. Part-Da-Loi Prison: This word means white lotus. Because the bones are broken like this flower blooms. The three prisons above are named after the appearance of each wound suffered. 3. THE THIRD IS BORDER PRIVACY: there are three prisons - one is Son Hell (the prison in the mountains), the other is the Water hell (the prison in the country), the third is the Mineral wild prison (the prison in the middle of the field); receive retribution because those particular kammas are subject to both heat and cold. Chang Thung Luc wrote that: The solitary prison in various places in Jambudvipa has eighty-four thousand buildings. Suffering turns into light. Now summarize the types of newspapers as follows. The most serious and fundamental sin: killing parents, killing Arahants, breaking harmony with the Sangha, forcibly relaxing the nuns, making the Buddha's body bleed, without ever repenting; the five crimes against the top – the top ten karmas, they fall into eight great prisons; If you are guilty of the ten evils, you must be born in the cold hells; If you commit a high-level crime, you will be reborn in a lonely small hell. The sutras say: King Yama has an evil thought, holds everything in prison, suffers himself, and cannot say anything. The former King of Hell was the King of Bhikkhus who fought with Duy Da Thuy Vuong, his army was inferior, so he swore that in the next life, I will be born as the lord of hell to treat these sinners. Eighteen great gods, and hundreds of thousands of troops all had the same oath. Bhikkhu Sa Vuong is now King Yama. The eighteen great gods are now the lords of the eighteen prisons. These hundreds of thousands of people are the bull-headed dungeons of A Bang. The Hell Sutra says: Pluto lived in hell, the palace was 30,000 miles across, made of copper and iron. Every day and night, there was a large copper cauldron, filled with molten copper water. Naturally, there was a good hell in front of him. Lying on the hot iron bed, opened the mouth with the iron hook, poured boiling copper water in, and burned everything from the throat down. The angels must do the same. After accepting the crime, get up to solve the work. Those seventeen lords are: Ca Dien is in charge of Ne Le Prison, Khuat Ton is in charge of Dao Son prison (knife mountain) Phi Tien is in charge of Phi Sa prison (boiling sand) Fire) Thang Vi guard the prison Thang harvest (cauldron of boiling oil) Tie Ca Dien guard the prison Thiet Sang (burnt iron bed) Evil Born looks after the prison Cai Son Than Yin looks after the Han ice (cold) prison Ti Ca guards the Animal prison Dao Dau sees Di Dai prison guards Thiet ma prison (steel mill) Duyet Dau guards Khoi Ha prison (ash river) Xuyen Co guards Thiet Dat prison Danh Than guards Thu Dung prison (maggots) Quan Than guards Duong Dong prison Just like that, each place has an infinite number of hells to make dependents. Each of those prisons has a lord who is a bull. A-Bang has a cruel and unkind disposition, because when he sees sentient beings suffering such evil retributions, he only worries but does not suffer, only fears but does not suffer. Someone asked the ghost A Bang, "Why are sentient beings suffering very pitifully, but you often have a cruel heart without compassion?" Ah-bang replied, "Those who suffer from the following crimes must suffer: being unfilial to their parents, mocking the Buddha, blaspheming saints, cursing relatives, scorning the elder, destroying everything, and speaking evil. , dualism, flattery, envy, division of other people's flesh and blood, anger and killing, lust for lies, wrong destiny, wrong desires and wrong views, laziness to play, creating resentments. Such classes must come here to suffer. Whenever the day came to be liberated, I often kindly advised them. It's so hard in here, I can't stand it. Now you can come out, don't do evil anymore!" Yet those sinners still didn't know suffering at first, making my bones and bones tired, so that life after life, I had to face this kind of sentient being. Therefore, I and the sinners have no more compassion, so I am more cruel to them so that they know suffering, shame, humiliation, and never return. Seeing that those sentient beings are really suffering, but in the end they still refuse to abstain from fear, resolutely refuse to practice good in order to enter Nirvana, they are such inanimate things, do not know how to avoid suffering and need to be happy. must cause them much greater suffering in the world. There's no need to be kind to them!". (Nirvana means immortality and immortality - ND) The Righteous Dharma Mind Sutra tells that: King Yama recited a verse for all sentient beings as follows: Nhu obtained his personal identity and did not practice religion. complete self-consumption Complaints about the suffering of family behavior. Translation: A person who has a human body does not practice the Way Like entering a treasure mountain, empty-handed. Now you have to do it yourself. What's the use of complaining about suffering? General condition, image and the difference in receiving retribution in other hells, the scriptures have said it all, there is no need to cite more cumbersome here. But the good and evil deeds done by ordinary people are like shadows clinging to the body, the dead only lose the body, not lose their karma like lighting a fire to read a book at night, the fire is extinguished but the words are still full, there is fire. then the letter becomes . Karma caused in this life results in results in the next life. Therefore, the scriptures say: if it is said that kamma has no abiding base, it means that kamma stayed in the past, waiting for the time, waiting for the qi, waiting for the retribution, like people taking medicine through time because the medicine wears off, but When the time comes, the power is very good. Although it is past karma, when the time comes, you must receive it, like a child at the beginning of his apprenticeship, Even if all thoughts and thoughts disappear, they will not be able to forget even after a hundred years. Everything else is as the scriptures say. The De Vi Sutra says: The elder De Vi said to the Buddha: "Why do you have to go from the first day of January to the full moon day?" Again asked: "What is called a ban?". Buddha replied: "Four seasons change, yin and yang change, and at the end of the year, they have to review three times to correct six rhythms in a month. The three realms are clear, the five places are clearly written, and the karma of living beings is different because of the five rulers who determine the crime of happiness, high and low karma, and all manner of dignity. The gods like, princes, messengers, sun, moon, ghosts, hells, Yama, hundreds of thousands of them... all take the day of January 1, the day of May, and the day of September to radiate to all four directions to consider the fixed conduct. the good and evil deeds of the Emperor, his subjects, birds flying and animals running, demons, dragons, at that time compared with what the four Heavenly Kings reported on the 8, 15, and 30 of each month so that they matched each other, so that no one would be unjustly or erroneous, check whether sentient beings in the three realms belong to more or less types of blessings. Those who have many blessings to be reborn in the heavens will immediately appoint four towns, the great king of five mandarins, take their own lives to increase their longevity, and bring them down to Yama, instead of the five mandarins, except for sins, fixed on blessings, so they must keep three. that boys school. So three times to check, eight times to consider that is the Eight Kingdoms Day. It is also the day when God Emperor Thich-Father Towns Five Quan, Four Kings, Hell King, Asura, the gods judge, decide on life and death, increase or decrease the amount of sins, have a moral intention, not a moral one. , open, not open, released from prison, not released from prison, trial against the number of days using the Eight Vuong Nhat. What is the Eight Kingdoms? Are the days: spring establishment, spring equinox, summer solstice, summer solstice, winter solstice. It is eight days of heaven and earth gods, yin and yang change, so it is called the Eight Kings of the Sun. In one of the days 8, 14, 23, 29, 30 are all days of heaven and earth to deal with work. The days of high and low tide, squirrel, hope, and repentance are the days when the life is reported. So in those days, you have to fast yourself to examine yourself so that you don't break the ban and be born in a good place yourself. Buddha's words are not wrong, who dare not believe. Occasionally or still in doubt, if it happens, I will know it myself. 30 are the days when heaven and earth deal with work. The days of high and low tide, squirrel, hope, and repentance are the days when the life is reported. So in those days, you have to fast yourself to examine yourself so that you don't break the ban and be born in a good place yourself. Buddha's words are not wrong, who dare not believe. Occasionally or still in doubt, if it happens, I will know it myself. 30 are the days when heaven and earth deal with work. The days of high and low tide, squirrel, hope, and repentance are the days when the life is reported. So in those days, you have to fast yourself to examine yourself so that you don't break the ban and be born in a good place yourself. Buddha's words are not wrong, who dare not believe. Occasionally or still in doubt, if it happens, I will know it myself.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).VIETNAMESE BUDDHIST DHARMA-EYE TEMPLE.GOLDEN ZEN BUDDHIST MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.26/6/2023.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THE WOMEN OF THE SAKYA CLAN CHAN TANH.
Cảnh giới Địa ngục được cảm ra bởi ác nghiệp của chúng sinh. Cõi này là nơi mà nỗi thống khổ của chúng sinh lên đến cùng cực và kéo dài vô tận. Những ác nghiệp được tạo bởi tâm hận thù, sân giận tột độ là nguyên nhân dẫn tới cõi này.
Địa ngục, tiếng Hồ gọi là Nê Lê, tiếng Phạn gọi là Nại-lạc-ca. “Nại-lạc” có nghĩa là người. “Ca” có nghĩa là ác. Người ác sinh ra ở nơi đó nên gọi nơi đó là Nại-lạc-ca (có chỗ dịch là Bất khả lạc, hoặc dịch là Khổ cụ, hoặc dịch là Khổ khí). Do những con người ác đó lúc sinh thời đã gây ra những hành động cực kỳ tàn ác về thân, khẩu, ý cho nên chúng phải sinh vào nơi đó và tiếp tục ở nơi đó. Bởi vậy mới gọi là Nại-lạc-ca. Địa ngục tức là theo nghĩa mà đặt ra tên gọi, có nghĩa là ngục ở dưới đất. Thêm nữa, ngục có nghĩa là giam hãm, ý nói bắt bớ giam hãm tội nhân, không cho chúng được tự do tự tại. Cho nên gọi là địa ngục.
Bà Sa luận viết rằng: Gọi chúng là tội nhân tức là những kẻ bị bọn ngục tốt A Bàng giam giữ không chế không được tự do đi lại. Song đường này có nhiều chốn, hoặc ở dưới đất, hoặc ở trên mặt đất, hoặc ở trong không trung cho nên bản tiếng Phạn không gọi là địa ngục, mà gọi là Nại-lạc-ca. Luận đó còn nói rằng: Dưới địa ngục và Độ địa ngục hoặc ở trong hang trên núi, hoặc ở nơi đồng ruộng, trong không trung hoặc ở trong miếu bên bờ biển. Các châu khác chỉ có Biển địa ngục, Độc địa ngục, không có Đại địa ngục.
Tuy có nhiều kiểu địa ngục như vậy nhưng căn cứ vào Tam pháp độ luận thì tổng cộng có ba nhiếp, một Nhiệt, hai Hàn, ba Biên.
1. MỘT LÀ NHIỆT NGỤC: có tám, ở dưới châu Thiện Bộ, có nghĩa là dưới châu này có năm trăm do tuần đất bùn, dưới nữa có năm trăm do tuần đất sét trắng, dưới nữa cách một vạn chín ngàn do tuần có bảy ngục lớn xây dựng ở trong. Dưới nữa hai vạn do tuần là ngục Vô Gián. Từ dưới châu này tới đáy ngụ Vô gián tổng cộng là bốn vạn do tuần. Ngục Vô Gián chiều dài, chiều rộng, chiều cao, mỗi chiều hai vạn do tuần. Bảy ngục mỗi ngục ngang dọc một vạn do tuần. Từ dưới Thiện Bộ châu tới ngục Vô Gián trên nhọn dưới to, như hình đống thóc. Trong có tám ngục chồng chất lên nhau. Kinh A Hàm nói: Địa ngục tổng số có tám. Tám ngục đó mỗi ngục lại có mười sáu ngục nhỏ quây quần xung quanh.
Ý nói ngục, mỗi ngục có bốn cửa, ngoài mỗi cửa lại có bốn Du tăng (gọi như vậy vì loài hữu tình vào đó nỗi khổ càng tăng thêm): 1. Đường ôi tăng; 2. Thi phần tăng;3. Phong đao tăng. Tăng này còn có ba loại: a- Đao nhẫn lộ; b-Kiếm diệp lâm; c-Thiết thích lâm. Ba loại này đều là Thiết lâm, nên cùng một Tàng nhiếp; 4. Liệt hà tăng. Cộng với bảy ngục trước, cả thảy là mười bảy. Tám ngục lớn như vậy cùng các ngụ phụ thuộc tổng cộng là một trăm ba mươi sáu sở. Cho nên trong kinh có nói là một trăm ba mươi sáu Nại Lạc Ca.
1.1. Đẳng Hoạt ngục
Còn gọi là Canh Hoạt ngục. Hoặc là ngục tốt gọi cho sống lại, hoặc là gió thổi khiến cho sống lại. Hai duyên tuy khác, nhưng đều làm cho sống lại như nhau, cho nên gọi là Đẳng Hoạt ngục. Do quen thói sát hại, thích thói đó tăng lên nên phải đọa vào trong ngục này. Một vạn sáu ngàn ngày hai trăm ức năm ở thế gian thì bằng một ngày đêm của ngục này. Tội nhân ở đây thọ năm trăm tuổi.
1.2. Hắc Thắng ngục
Trước hết dùng dây thép thắt lại, sau lại dùng rìu sắt mà chém. Do tập quán sát sinh trộm cắp nên phải đầy đọa vào ngục này. Ba vạn hai ngàn bốn trăm ức năm của thế gian thì bằng một ngày đêm của ngục này. Tội nhân ở đây sống thọ một ngàn tuổi.
1.3. Chúng Hợp ngục
Còn gọi là Chúng khâu (hạp) ngục (hai núi dưới chập lại để ghè tội nhân). Do quen thói sát sinh, trộm cắp, tà dâm nên phải đầy đọa vào ngục này. Sáu vạn bốn ngàn tám trăm ức năm thì bằng một ngày của ngục này. Tội nhân ở đây sống thọ hai ngàn tuổi.
1.4. Hô Hô ngục còn gọi là Khiếu Hoán ngục
Ngục tối bức bách tội nhân, khiến tội nhân phải vừa chạy vừa la. Do quen thói sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói láo nên phải đầy đọa vào địa ngục này. Mười hai vạn chín ngàn sáu trăm ức năm của thế gian thì bằng một ngày đêm trong ngục này. Tội nhân ở đây thọ bốn ngàn tuổi.
1.5. Đại Hô ngục
Còn gọi là ngục Đại Hô Hoán. Bốn núi lứa, muốn trốn chẳng được, gào khóc la lớn. Do quen thói sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, khuyến khích người ta uống rượu nên phải đầy đọa vào ngục này. Hai lăm vạn chín ngàn hai trăm ức năm của thế gian mới bằng một ngày đêm trong ngục này. Tội nhân ở đây thọ tám ngàn tuổi.
1.6. Thiêu Nhiên ngục
Còn gọi là ngục Viêm nhiệt, thép nung kẹp vào, ở trong bị nóng. Do quen thói sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, uống rượu, tà kiến nên phải đọa vào ngục này. Năm mốt vạn bốn trăm năm ở thế gian thì bằng một ngày đêm ở trong ngục này. Tội nhân ở đây thọ mười sáu ngàn tuổi.
1.7. Đại Thiêu Nhiên ngục
Còn gọi là ngục Đại Viêm Nhiệt. Lửa núi phả vào, xẻo nướng tội nhân. Do sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, cho người uống rượu, tà kiến, chẳng tin, hoặc phá giới của Tỳ kheo ni thì phải đọa vào ngục này. Thọ bằng một nửa kiếp.
1.8. Vô Gián ngục
Còn gọi là ngục Vô Trạch. Một khi đã bị ném vào lửa khổ thì mãi mãi không còn có lúc sướng. Đã khổ miết không lúc nào còn sướng thì còn gì mà lựa chọn nữa. Không có lấy một khoảnh khắc bằng cái búng tay không bị khổ. Do gây nghiệp ngũ nghịch nên bị đọa vào trong ngục này. Tiếng Phạn gọi là A Tỳ. Tỳ này có nghĩa là Vô Gián (không gián đoạn) hay còn gọi là Vô Cửu.
Kinh Quán Phật Tam Muội nói: Ngục A Tỳ bị khổ lớn một ngày một đêm bằng năm mươi tiểu kiếp ở thế gian. Cứ như vậy thọ mạng hết một đại kiếp. Người có đủ tội ngũ nghịch thì phải chịu tội năm kiếp. Hơn nữa, chúng sinh nào phạm bốn điều trọng cấm: ăn không của tín thí, phỉ báng, tà kiến, không biết nhân quả, đoạn học Bát Nhã, hủy mười phương Phật, ăn trộm của sư tăng, dâm dật vô đạo, hãm hiếp tịnh ni, hủy nhục người thân. Người đó phải chịu tội báo một trăm linh bốn ngàn đại kiếp, lại còn bị đưa vào mười tám cái vạc ở phương Đông để chịu khổ. Các phương Tây, Nam, Bắc cũng giống như thế.
2- THỨ HAI LÀ HÀN NGỤC: có tám ngục, ở đáy núi Thiết Vi, bên ngoài châu này, tội nhân ăn ở đi đứng trong này phải chịu nỗi khổ vì rét mướt.
2.1 Ngục An-phù-đà: Vì bị rét cắt thịt da nên da thịt bị phồng rộp nhỏ.
2.2. Ngục Nê-la-phu-đà: Từ này có nghĩa là nốt phồng vỡ ra. Do gió rét thổi nên khắp người bị phồng rộp, nứt nẻ. Hai ngục trên được đặt tên theo những nỗi khổ mà bản thân phải chịu.
2.3. Ngục Ba-tra-na: Do nỗi khổ về giá rét tăng lên, môi không mấp máy được, chỉ có lưỡi là còn động đậy được. Cho nên mới kêu thành tiếng này.
2.4. Ngục A-ba-ba: Do rét tăng thêm ghê gớm, lưỡi không động đậy được, môi mới phát ra tiếng kêu này.
2.5. Ngục Á hầu: Do rét ghê quá, môi lưỡi chẳng động đậy. Chỉ trong họng là có tiếng do hơi bị chấn động. Ba ngục trên đây căn cứ vào âm thanh phát ra khi bị khổ mà đặt tên.
2.6. Ngục Uất-ba-ba: Từ này có nghĩa là Hoa sen xanh, loại hoa này cánh nhỏ. Do màu sắc của thịt bị toạc ra như hoa này bị tướp ra.
2.7. Ngục Ba-đầu-ma: Từ này có nghĩa là hoa sen hồng. Do thịt bị toác ra như hoa này xòe nở.
2.8. Ngục Phần-Đà-Lợi: Từ này có nghĩa là hoa sen trắng. Do xương bị toác ra như hoa này xòe nở. Ba ngục trên đây được đặt tên theo hình tướng từng vết thương phải chịu đựng.
3. THỨ BA LÀ BIÊN NGỤC: có ba ngục - một là Sơn gian ngục (ngục trong núi), hai là Thủy gian ngục (ngục trong nước), ba là Khoáng dã ngục (ngục giữa đồng); phải thụ báo vì các nghiệp đặc biệt đó phải chịu cả nóng lẫn lạnh.
Chang Thung lục viết rằng: Ngục cô độc ở các chốn trong cõi Diêm phù đề, có tám mươi tư ngàn tòa. Khổ báo chuyển thành nhẹ. Nay tóm tắt các loại báo như sau.
Tội cực nặng căn bản đệ nhất: giết cha mẹ, giết A-la-hán, phá hòa hợp Tăng, bức giãn tịnh ni, làm chảy máu thân Phật, không hề sám hối; tội ngũ nghịch cùng thượng – thượng phẩm thập nghiệp thì bị đọa vào tám ngục lớn; tội thượng trung phẩm thập ác thì phải sinh vào các địa ngục hàn băng; tội thượng hạ phẩm thập ác thì thác sinh vào trong tiểu địa ngục cô độc.
Kinh chép rằng: Diêm La vương một niệm ác, nắm mọi việc trong ngục, tự mình chịu khổ, cũng không thể nói gì. Diêm La Vương xưa là Tỳ Sa quốc vương đánh nhau với Duy Đà Thủy vương, binh lực bị kém hơn, nhân đó mới thề rằng: nguyện kiếp sau ta sẽ sinh làm chúa địa ngục trị bọn tội nhân này. Mười tám đại thần, cùng trăm vạn quân đều có cùng lời thề như vậy. Tỳ Sa vương nay là Diêm La vương. Mười tám đại thần nay chính là chúa mười tám ngục. Trăm vạn quần chúng này chính là bọn ngục tối ngưu đầu (quỷ đầu trâu – ND) A Bàng.
Kinh Địa Ngục chép rằng: Diêm Vương ở trong địa ngục cung thành ngang dọc mỗi bề ba vạn dặm, do đồng sắt tạo thành, mỗi ngày đêm ba dạo có vạc đồng lớn, trong đầy nước đồng nóng chảy, tự nhiên trước mặt có đại ngục tốt để Diêm Vương nằm trên giường sắt nóng, lấy móc sắt banh miệng ra, đổ nước đồng sôi vào, từ họng trở xuống thảy đều cháy nát. Các đại thần cũng phải làm như vậy. Chịu tội xong mới trở dậy giải quyết công việc.
Mười bảy chúa ngục đó là:
Ca Diên coi ngục Nê Lê
Khuất Tôn coi ngục Đao Sơn (núi dao)
Phí Tiến coi ngục Phí sa (cát sôi)
Phí Diễn coi ngục Phí thí (phân sôi)
Ca Thế coi ngục Hắc nhĩ
Cái Sai coi ngục Hỏa xa (xe lửa)
Thang Vị coi ngục Thang hoạch (vạc dầu sôi)
Thiết Ca Diên coi ngục Thiết sáng (giường sắt nung)
Ác Sinh coi ngục Cái Sơn
Thân Ngâm coi ngục Hàn băng (băng lạnh)
Tỳ Ca coi ngục Súc sinh
Dao Đầu coi ngục Đao binh
Di Đại coi ngục Thiết ma (cối xay thép)
Duyệt Đầu coi ngục Khôi hà (sông tro)
Xuyên Cốt coi ngục Thiết Sách
Danh Thân coi ngục Thư trùng (giòi bọ)
Quán Thân coi ngục Dương đồng
Cứ như vậy, mỗi chốn đều có vô lượng địa ngục để làm các chỗ phụ thuộc. Mỗi ngục đó lại có một chúa là bọn ngưu đầu. A Bàng tính tình hung ác không chút từ tâm vì thấy chúng sinh chịu những ác báo đó chỉ lo mà không khổ, chỉ sợ mà không đau. Có người hỏi quỷ A Bàng rằng: “Chúng sinh bị khổ rất đáng xót thương mà ngươi thường mang lòng độc ác chẳng chút từ tâm là cớ làm sao?” A Bàng đáp: “Những kẻ bị các tội ác sau đây mà phải chịu khổ: bất hiếu với cha mẹ, nhạo báng Phật, báng bổ thánh hiền, chửi bới người thân, khinh mạn sư trưởng, hủy hoại hết thảy, ác khẩu, lưỡng thiệt, xiểm nịnh ghen ghét, chia rẽ ruột thịt người khác, giận dữ giết hại, tham dục dối trá, tà mệnh tà cầu và tà kiến, lười nhác chơi bời, tạo các oán kết. Những hạng như vậy phải đến đây chịu khổ. Mỗi khi đến ngày được miễn xá giải thoát, tôi thường ân cần khuyên nhủ họ. Trong này khổ lắm, chẳng chịu được đâu. Ngươi nay được ra, đừng gây ác nữa!”. Thế mà bọn tội nhân đó ban đầu vẫn không biết đau khổ khiến tôi phải gân cốt mỏi mệt, để hết kiếp này sang kiếp khác đối diện với loại chúng sinh này. Do đó cho nên tôi với bọn tội nhân không còn một chút từ tâm, bởi vậy tôi càng độc dữ với chúng hơn để chúng biết khổ, biết ngượng, biết sỉ nhục, không trở lại nữa. Thấy các chúng sinh đó thực sự rất khổ, nhưng cuối cùng chúng vẫn chẳng chịu kiêng sợ, kiên quyết chẳng chịu tu thiện để được lên cõi Niết Bàn, chúng là những vật vô tri như vậy, chẳng biết tránh khổ cần sướng cho nên phải gây cho chúng đau khổ ghê gớm gấp bội phần ở trên thế gian. Cần gì phải nảy từ tâm với bọn đó!”. (Niết Bàn có nghĩa là bất sinh bất diệt – ND)
Kinh Chính Pháp Niệm kể rằng: Diêm La vương đọc bài kệ cho chúng sinh như sau:
Nhữ đắc nhân thân bất tu đạo
Như thập bảo sơn không thủ quy
Nhữ kim tự tác hoàn tự thụ
Khiếu hoán khổ gia dục hà vi.
Dịch:
Người được thân người chẳng tu đạo
Như vào núi báu, tay không về
Nay ngươi tự làm phải tự chịu
Kêu ca khổ sở có ích gì.
Tướng trạng, hình cụ cùng sự sai biệt về thụ báo trong các địa ngục khác, kinh luận đã nói đầy đủ, ở đây chẳng cần phải trích ra cho thêm rườm rà. Song các nghiệp thiện ác mà kẻ phàm phu gây ra như hình bóng bám theo cơ thể, người chết thì chỉ mất thân thể, chứ không mất hạnh nghiệp như đốt lửa xem sách ban đêm, lửa tắt nhưng chữ vẫn còn đầy, có lửa thì sau đó chữ lại thành. Nghiệp gây ra đời nay thành quả báo trong đời sau.
Cho nên kinh chép: nếu nói rằng nghiệp không có trụ xứ, có nghĩa là nghiệp đó trụ ở thời quá khứ đợi thời, đợi khí, đợi thụ quả báo như người ta uống thuốc trải qua thời gian vì thuốc tuy tiêu hết, nhưng đến thời cơ thì phát ra lực rất tốt. Tuy là nghiệp quá khứ nhưng thời cơ đến thì phải thụ báo, như đứa trẻ con lúc bắt đầu học việc, dẫu niệm niệm đều diệt, nhưng tới trăm năm cũng chẳng quên được. Các điều khác thì như kinh đã nói.
Kinh Đề Vị chép: Trưởng giả Đề Vị bạch Phật rằng: “Tam trường trai vì sao phải từ mồng một tháng Giêng đến ngày rằm?” Lại hỏi: “Thế nào gọi là cấm?”. Phật đáp: “Bốn mùa thay nhau, âm dương đổi ngôi, hết năm phải ba lần soát xét lại để hiệu chỉnh sáu tiết tấu trong một tháng. Ba cõi rành rành, năm nơi chép rõ, hạnh nghiệp chúng sinh khác nhau do năm quan cai quản xét định tội phúc, hạnh nghiệp cao thấp, phẩm cách muôn đường. Chư thiên Đế Thích, thái tử, sứ giả, nhật nguyệt quỷ thần, địa ngục, diêm la, trăm vạn thần chúng… đều lấy ngày một tháng Giêng, ngày một tháng năm, ngày một tháng chín tỏa đi bốn phía xét định hạnh nghiệp thiện ác của Đế vương, thần dân, chim bay thú chạy, quỷ, rồng, lúc bấy giờ so với những điều mà bốn Thiên Vương tâu lên trong các ngày 8, 15, 30 hàng tháng sao cho thật khớp với nhau, để cho thiên hạ không ai bị oan uổng, sai sót, rà soát xem chúng sinh ba cõi thuộc các loại phúc tội nhiều ít như thế nào. Kẻ nào nhiều phúc được sinh lên cõi Trời thì lập tức sắc cho bốn trấn, đại vương năm quan, tự mệnh tăng cho tuổi thọ, đưa xuống Diêm La vương thay quyền năm quan trừ tội danh, định phúc lộc cho nên phải giữ ba trường trai đó. Cho nên ba lần rà, tám lần xét đó là Bát vương nhật. Cũng là ngày Thiên Đế Thích phụ trấn Ngũ quan, Tứ vương, Địa ngục vương, A-tu-la, chư Thiên xét xử cân nhắc, quyết định sinh tử, tăng giảm tội phúc nhiều ít, có đạo ý, không đạo ý, khai giải, không khai giải, xuất giam, không xuất giam, xét xử đọ số ngày đều dùng Bát vương nhật. Bát vương nhật là những gì? Là các ngày: lập xuân, xuân phân, lập hạ, hạ chí, lập đông, đông chí. Đó là tám ngày trời đất chư thần, âm dương thay đổi cho nên gọi là Bát vương nhật. Trong một trong các ngày 8, 14, 23, 29, 30 đều là những ngày trời đất giải quyết công việc. Các ngày thượng huyền, hạ huyền, sóc, vọng, hối đều là các ngày ghi mạng báo lên. Cho nên trong những ngày đó phải tự mình ăn chay để tự xét mình khiến chẳng phạm cấm, tự mình được sinh ở nơi tốt. Lời Phật không sai, ai dám chẳng tin. Thảng hoặc còn nghi, sau nếu xảy ra tự mình sẽ biết. HET= NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).CHUA PHAP NHAN.( USA ).THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.26/6/2023.
Subscribe to:
Comments (Atom)