Sunday, October 22, 2017

 GIẢNG GIẢI - Kệ kiến tánh (2)

Chư Phật giáo hóa chúng sanh, ví như bà dạy cháu, tùy cơ mà ẩn hiện.
Ngài nói chư Phật giáo hóa chúng sanh như bà dạy cháu. Một hôm tôi ngồi bên thất, thấy có một chú chừng bốn chục tuổi dẫn một đứa bé khoảng bảy tám tuổi, đứa bé đòi vô cái lùm rậm, có lẽ nó muốn hái hoa. Chú bèn nói: đừng vô, ông kẹ đó con. Thằng bé sợ không dám vô. Như vậy ông kẹ không có nhưng muốn dọa thằng bé nên nói ông kẹ. Cũng thế bà già dạy cháu cũng phải nói những chuyện vu vơ để răn cháu. Như mẹ cháu đi chợ hoặc đi làm ngoài đồng, cháu khóc bà dỗ thì phải xí gạt: má con sắp về, sẽ cho con rất nhiều bánh, nín đi. Nói thế nhưng thật sự bà chưa thấy má cháu về, nhưng vì muốn cháu nín khóc bà phải nói gạt. Cũng thế chúng sanh đang phiền não khổ đau, Phật dạy ráng tu để nhập Niết-bàn hay về Cực Lạc, nơi đó an vui vô cùng; nơi đó sống hoài không chết. Đúng với hai điều tham muốn của người thế gian là tham vui sướng và tham sống lâu. Thế nên gặp nhau mọi người chúc tụng sống bá niên giai lão, còn vua chúa thì chúc “vạn tuế vạn vạn tuế” để đáp ứng những điều tham muốn cho nhau. Đó là chúng sanh đang khổ, Phật dạy tu để hết khổ được vui. Hằng ngày nhìn thấy người đang sống mạnh khỏe bỗng ngã bệnh chết, để lại bao nhiêu người thương nhớ khóc than. Hằng ngày trên báo đều có tin chia buồn hoặc báo tang, cái chết kề ở bên ai cũng sợ, nên Phật dạy tu để chứng Niết-bàn thanh tịnh, không còn sanh tử khổ đau. Nghe như thế chúng sanh ham tu để được an vui và bất tử. Đó là đức Phật dùng phương tiện để giáo hóa chúng sanh, như bà già đem bánh dỗ con nít.
Tuy nhiên chúng ta đừng hiểu lầm rằng, Phật xí gạt mình tu rồi cuối cùng không được gì hết, giống như bà già nói gạt để dỗ cháu nín chớ không có sự thật. Đó là một lối nói thí dụ, thực tế thì tu là bỏ tất cả để được tất cả, chớ không phải không được gì hết, được tất cả là vì chân không mà diệu hữu, thể nó là không tịch mà tùy duyên ứng hiện lợi lạc quần sanh. Khi tu hành đạt được an vui cho mình rồi thấy chúng sanh còn mê lầm, chúng ta bèn đi vào trong sanh tử để giáo hóa họ. Nhưng đi vào sanh tử mà như đi dạo vườn hoa thì đâu có khổ. Chúng sanh mê lầm nên ở trong cảnh khổ thì kêu trời đất than khổ, Bồ-tát giác ngộ đi trong sanh tử làm lợi ích cho chúng sanh không sợ không chán. Vì đánh thức cho chúng sanh tỉnh cơn mê mà Bồ-tát sẵn sàng đi trong cảnh khổ sanh tử, chớ không vội vào Niết-bàn để hưởng vui một mình. Đó là Bồ-tát ở trong đạo tràng thủy nguyệt làm Phật sự không hoa. Như vậy thì thể nhập được Tự tánh thanh tịnh là có muôn ngàn diệu dụng tùy duyên giáo hóa chúng sanh. Đó là được tất cả, chớ không phải tu rồi cuối cùng chẳng được gì.
Phương tiện có nhiều thứ. Cho nên nuôi cơm là thương con trẻ, nước uống là ngừa nó khát. Gượng gọi tên là Phật, là Tổ, là Thiền tông, là chỉ thú, là hư không Pháp thân, là Thật tướng vô tướng. Thật tướng vô tướng, là vượt lên tên gọi và hình tượng, thể vốn vô sanh, nhưng vì gượng nêu tên để chỉ bày cho người sau. Vì vậy nói: Pháp thân lồ lộ, Thật tướng rành rành, tròn đồng thái hư, không thiếu không dư, bao gồm cả trời đất, suốt thấu cả núi sông, đối diện ngay trước mặt, chân thật rỗng rang mênh mông, viên dung cả pháp giới, trong lặng như như, không tướng không tên, không lời không nói, chẳng sanh chẳng diệt, không đến không đi, ứng vật hiện hình như trăng trong nước. Tùy duyên ứng ra hình chất, thì mượn sắc mà thành hình; nương theo loại mà hóa thân, thì quán âm thanh nói rộng giáo pháp. Nói năng bày tỏ nơi lá bối, là chân ngôn mà chẳng phải chân ngôn; tướng hiển hiện nơi hoa sen, nếu có tướng thì đâu từng có tướng. Xưng Phật xưng Tổ, trị kẻ dưới mà tạm mượn tên; rất diệu rất huyền, tối thượng vô tướng; thường lạc ngã tịnh, tột lý mà chứng biết; Pháp thân vô vi, vượt lên trên Phật Tổ; tên Phật hiệu Tổ cũng là giả danh; Pháp tánh chân không, trọn không một vật. Người học tham Thiền thấu đến tột cùng nên nói đã thấu đến chỗ ruộng đất cố hương, đã được chỗ an thân lập mạng, chỗ thường lạc ngã tịnh, chỗ sanh tử chẳng dính dáng. Ruộng đất cố hương là chỗ rỗng thênh bát ngát. Đến ruộng đất ấy, thì một chữ Phật cũng là vật ở bên ngoài căn trần.
Đoạn này Ngài nói một mạch những từ ngữ để chúng ta hiểu. Vì phương tiện của Phật Tổ giống như phương tiện của bà già dạy cháu. Phật Tổ vì chúng sanh mê nên lập danh từ Phật, lập danh từ Tổ, lập danh từ Thiền, lập ra chỉ thú... Còn Thể chân thật là Pháp thân, là Thật tướng vô tướng, nó vượt ra ngoài tên gọi hình tướng, nó không sanh diệt, nhưng gượng đặt tên, vẽ ra hình tượng, để dẫn dắt những người mê giống như bà già tìm phương tiện để dỗ đứa cháu nín khóc. Thật ra thì Pháp thân luôn luôn hiện tiền, không lúc nào thiếu vắng nơi mỗi chúng ta. Như ở trước tôi nói cái hay thấy không có tướng mạo, vậy có chụp hình được cái hay thấy không? Cái hay thấy bình hoa, chúng ta chụp hình bình hoa chớ không thể chụp hình cái hay thấy được bình hoa. Vì cái có hình tướng thì người ta chụp được bóng của nó, còn cái không tướng mạo thì không có bóng, không có bóng nhưng mà có thấy. Cho nên hỏi cái hay thấy của thầy ra sao thì không tả được, hỏi bình hoa ra sao thì diễn tả được. Như vậy chúng ta thấy người thấy vật thì diễn tả được người vật, mà không diễn tả được cái hay thấy. Không diễn tả được nhưng không phải không có. Nếu không làm sao thấy được người được vật? Tuy nhiên, có người hiểu lầm nếu không diễn tả được thì nói gạt sao. Như tôi nói rằng: “Tôi có Phật tánh.” Có người hỏi: “Phật tánh ra sao chỉ tôi coi?” Phật tánh không có tướng mạo làm sao chỉ? Do đó dù có nói thật đối với người không tin, không nhận ra họ cũng cho là nói đùa. Không phải không diễn tả chỉ bày được mà không có. Cái chân thật luôn luôn hiện tiền mà không chỉ ra được. Song, tôi nói đông nói tây, chợt có người nhận ra, như vậy người đó được chỉ chưa? Trong nhà Thiền nói người đó là người mắt sáng, mắt sáng là tâm sáng chớ không phải con mắt thịt sáng. Còn chúng ta, Thể chân thật hiện hữu trước mắt mà không nhận ra là tâm tối. Tâm tối nên không nhận ra cái hiện tiền, còn mắt thì nhìn thấy cảnh vật như đường xá, cây cối, nhà cửa v.v... Người nhận ra Thể chân thật của mình họ tự biết chớ không diễn tả cho ai biết được. Cho nên danh từ Phật Tổ cũng là tạm đặt chớ không có thật. Lại nói nó rất diệu, rất huyền, tối thượng, vô tướng, thường, lạc, ngã, tịnh v.v... là để cho người nghe thỏa mãn từ ngữ, thỏa mãn lòng khao khát, chớ thật ra dùng ngôn ngữ không nói đến chỗ tột cùng. Vì vậy ở đoạn này nói người tham Thiền thấu đến chỗ tột cùng, là trở về chỗ ruộng đất cố hương. Cố hương là quê hương cũ của mình phải không? Là nơi chôn nhau cắt rốn của mọi người, nơi đó có nhà cửa, có lũy tre, có đủ thứ, người ngộ đạo trở về cố hương đó phải không? - Người thấu chỗ tột cùng trở về cố hương là trở về Thể chân không, nhưng chân không mà diệu hữu, nên bao nhiêu hình tướng tạm bợ của thế gian đều lưu xuất từ đó. Đó là về cố hương của người ngộ đạo, nên Ngài nói ruộng đất cố hương là chỗ rỗng thênh bát ngát, đến ruộng đất ấy thì một chữ Phật cũng là Phật ở ngoài căn trần. Như vậy cố hương là chỗ không còn đối đãi Phật và chúng sanh. Vì Phật và chúng sanh là cái đối đãi ở bên ngoài của căn trần.
Như vậy, Phật còn không đắm trước, huống nữa là Chân như Phật tánh, Bồ-đề Niết-bàn, chỗ nào có được? Thấu tột, thấu tột rành rành không một vật, thì không phàm Thánh, không thứ lớp, không danh tướng, không thềm bực, không số kiếp, không giờ khắc, không tôn ti, không xưa không nay, không được không mất, không một không hai, không phải không quấy, không tịnh không loạn, không sanh không tử, không Phật không chúng sanh, không bờ mé không làm ra, không tu không chứng; không thường không trụ và chẳng không thường trụ, vốn không Niết-bàn, chẳng phải chẳng không Niết-bàn, vốn không thành Phật và chẳng không thành Phật; cũng không tỏ rõ trong cái tỏ rõ, cũng không trong lặng trong cái trong lặng, cũng không cái thể trong lặng, cũng không cái dụng trong lặng; cũng không thế ấy nói cái trong lặng, cũng không thế ấy thọ cái trong lặng; ba cái không đều không, chỉ một cái trong lặng tròn đầy, mà một cũng chẳng một, nguồn trở lại nguồn.
*
Như vậy, Phật còn không đắm trước, huống nữa là Chân như Phật tánh, Bồ-đề Niết-bàn, chỗ nào có được?
Ngài nói Chân như, Phật tánh, Bồ-đề, Niết-bàn là những từ ngữ tạm đặt, còn chỗ chân thật thì không từ ngữ nào nói đến được, chỉ tự mình sống, tự mình an trú, chớ không có ngôn ngữ nào diễn đạt được chỗ đó. Vì từ ngữ lập ra là căn cứ trên ngôn thuyết mà ngôn thuyết là do vọng tưởng khởi, mà vọng tưởng thì không thật làm sao diễn đạt được cái thật?
Thấu tột, thấu tột rành rành không một vật, thì không phàm Thánh, không thứ lớp, không danh tướng, không thềm bực, không số kiếp, không giờ khắc, không tôn ti, không xưa không nay, không được không mất, không một không hai, không phải không quấy, không tịnh không loạn, không sanh không tử, không Phật không chúng sanh, không bờ mé không làm ra, không tu không chứng; không thường không trụ và chẳng không thường trụ, vốn không Niết-bàn, chẳng phải chẳng không Niết-bàn, vốn không thành Phật và chẳng không thành Phật; cũng không tỏ rõ trong cái tỏ rõ, cũng  không  trong lặng trong cái trong lặng, cũng không cái thể trong lặng, cũng không cái dụng trong lặng; cũng không thế ấy nói cái trong lặng, cũng không thế ấy thọ cái trong lặng; ba cái không đều không, chỉ một cái trong lặng tròn đầy, mà một cũng chẳng một, nguồn trở lại nguồn.
Đoạn này tóm lại có ba cái không. Một là không phủ định, như không phàm không Thánh, không danh tướng v.v... Hai là không vừa phủ định lại vừa khẳng định, như không thường trụ và chẳng không thường trụ, chẳng không thường trụ tức là có, như vậy vừa phủ định lại vừa khẳng định chớ không phải phủ định suông. Ba là vừa không vừa có, nghĩa là cái không nằm sẵn trong cái có, như cũng không tỏ rõ trong cái tỏ rõ, cũng không trong lặng trong cái trong lặng... Bởi vì tất cả pháp không riêng rẽ, không tách rời nhau, cho nên cái phủ định lại ở trong cái khẳng định, dù nói có nói không, rốt cuộc cũng chỉ ở trong vòng đối đãi. Thật sự đầy đủ ý nghĩa là vừa tịch tĩnh vừa có diệu dụng, không phải tịch tĩnh rồi thầm lặng luôn. Thế nên thành Phật, thể nhập Pháp thân không hình tướng, nhưng có đầy đủ diệu dụng để giáo hóa chúng sanh. Như vậy trong cái không hình tướng lại có hình tướng tùy duyên thị hiện, không thể lấy cái gì để đo lường, nên nói không được, mà cảm thọ cũng không được. Vì nói là còn đối đãi, thọ là còn cảm giác, có cảm giác là có hình tướng, mà thể trong sáng không hình tướng, làm sao có cảm giác, có đối đãi?
Nên biết trong không vốn chẳng hoa,
Vì kẻ mê, quyền hiện Thích-ca.
Đem sắc thanh cầu trọn chẳng thấy,
Xưa nay chân thật tự nơi ta.
Âm:
Tu tri không lý bản vô hoa,
Quyền vị mê lưu hiện Thích-ca.
Dĩ sắc thanh cầu chung bất kiến,
Nguyên lai chân Phật bản phi tha.
Nên biết trong không vốn không hoa, vì kẻ mê, quyền hiện Thích-ca.
Bài kệ này nói về Pháp thân, “trong không vốn không hoa” là chỉ Pháp thân thanh tịnh vốn không có sắc tướng. Nhưng đức Phật Thích-ca thị hiện ở Ấn Độ tu hành thành Phật, đó chỉ là một Hóa thân của chư Phật, không phải thật. Hóa thân đó từ Pháp thân hiện ra giống như hoa đốm từ hư không hiện ra vậy. Cho nên nói trong không vốn chẳng hoa. Trong không chỉ cho thể Pháp thân thanh tịnh vốn không có sắc tướng, bây giờ hiện ra sắc tướng đó là vì chúng sanh mê muội, quyền hiện ra có đức Phật Thích-ca Mâu-ni ra đời giáo hóa. Đó là hiện tượng Báo thân, Hóa thân chớ không phải Pháp thân, vì Pháp thân thì không tướng mạo, thanh tịnh không sanh diệt. Cho nên:
Đem sắc thanh cầu trọn chẳng thấy, xưa nay chân thật trọn nơi ta.
Nếu chúng ta đem sắc tướng và âm thanh mà tìm cầu thì không bao giờ thấy Pháp thân. Vì Pháp thân xưa nay vốn có sẵn nơi mỗi người chúng ta. Nếu tìm kiếm là tìm kiếm cái ngoài mình, do đó càng tìm là càng không thấy. Kinh Kim Cang có bài kệ:
Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai.
Nghĩa là nếu dùng sắc tướng, dùng âm thanh cầu Phật, thì người đó hành đạo tà, không thể nào thấy Phật. Như vậy, Phật ở sẵn nơi mình, nếu chúng ta chịu quay đầu lại, không chạy theo sáu trần ở bên ngoài thì nhận ra được Pháp thân Phật đầy đủ.
Vốn tự nhiên thành chẳng tạc điêu,
Chống trời chỏi đất mặc tiêu diêu.
Xưa nay Chánh giác không một vật,
Toàn thân chẳng dính mảy tơ hào.        
Âm:
Bản tự viên thành bất giả điêu,
Trú thiên trú địa nhậm tiêu diêu.
Chánh giác bản lai vô nhất vật,
Thông thân bất quải nhất ty hào.
Vốn tự viên thành chẳng tạc điêu, chống trời chỏi đất mặc tiêu diêu.
Pháp thân vốn sẵn có, tạo hình điêu khắc chẳng thể hiện được Pháp thân, nó sẵn có bao trùm khắp trời đất một cách tự tại, nên đây nói “chống trời chỏi đất mặc tiêu diêu”.
Xưa nay Chánh giác không một vật, toàn thân chẳng dính mảy tơ hào.
Từ xưa đến giờ những vị ngộ đạo đều nhận ra rằng Tánh giác không có một vật, vì không một vật nên không dính một mảy tơ. Tổ Huệ Năng cũng nói “xưa nay không một vật, chỗ nào dính bụi bặm”. Vậy ai nhận ra Pháp thân thì không kẹt trên hình thức sự tướng, nếu chưa nhận thì chúng ta dễ mắc kẹt, tưởng Phật thế này, thế nọ, làm lệch lạc ý nghĩa của Pháp thân.
Giơ hoa niêm cú gạt người thôi,
Muôn pháp không hoa chẳng kéo lôi.
Tông, giáo cùng quên đều chẳng đắm,
Nguồn linh tự tại mặc thảnh thơi.
Âm:
Niêm hoa niêm cú cộng tha man,
Vạn pháp không hoa tổng bất can.
Tông, giáo lưỡng vong câu bất nịch,
Linh nguyên tự tại nhậm thanh nhàn.
Giơ hoa niêm cú gạt người thôi, muôn pháp không hoa chẳng kéo lôi.
Ngài nói rằng hình ảnh Phật Thích-ca cầm cành hoa sen đưa lên, ngài Ca-diếp mỉm cười là lối gạt người chớ không thật. Tại sao? Vì tánh Phật không phải là hoa sen, tánh Phật không phải là cái mỉm cười. Đó chỉ là hình thức bên ngoài, tánh Phật ở Tự tâm, mình nhận ra, chớ không phải là hình tướng. Khi muốn diễn tả cái mà mình đã lãnh hội được thì mượn hình tướng bên ngoài. Đó là lối đánh lừa chớ không phải thật. Vì muôn pháp ở thế gian này nó không có thật, giống như hoa đốm trong hư không, không dính dáng gì với mình, đừng để nó gạt, đừng để nó lôi kéo, đừng để nó can dự vào mình.
Tông, giáo cùng quên đều chẳng đắm, nguồn linh tự tại mặc thảnh thơi.
Tông là thiền, giáo là kinh, cả hai thiền và giáo đều quên. Người tu nếu không kẹt ở thiền và giáo thì tự tại thảnh thơi vô cùng. Còn chấp đây là thiền, kia là giáo là bệnh, chớ chưa đạt đến chỗ cuối cùng. Chỗ cuối cùng không còn thiền không còn giáo, mà là một nguồn trong sáng an nhàn tự tại.
Theo rỗng tiếp vang đều chẳng thật,
Không hoa mắt bệnh tùy vọng sanh.
Cội nguồn diệu thể không chỗ trụ,
Chân như tự tại mặc tung hoành.
Âm:
Thừa hư tiếp hưởng giai phi thật,
Bệnh nhãn không hoa trục vọng sanh.
Diệu thể bản nguyên vô sở trụ,
Chân như tự tại nhậm tung hoành.
Theo rỗng tiếp vang đều chẳng thật, không hoa mắt bệnh tùy vọng sanh.
Ngài nói rằng chúng ta đuổi theo những tướng hư ảo, những tiếng vang của âm thanh, những cái đó đều không thật, giống như hoa đốm do bệnh mắt mà vọng sanh ra. Cũng vậy tất cả tướng thế gian đều hư giả, chúng ta mê nên chạy theo thấy nghe mà phân biệt, chớ khi ngộ rồi thì những cái đó không còn giá trị nữa.
Cội nguồn diệu thể không chỗ trụ, chân như tự tại mặc tung hoành.
Cội nguồn diệu thể chỉ cho Pháp thân, Pháp thân không có chỗ trụ nên không kẹt không mắc, không có gì ràng buộc nên mặc tình dọc ngang, không có gì làm chướng ngại cội nguồn diệu thể được.
Trên đảnh Tỳ-lô vui quá chừ,
Trong ánh tịch quang không vật dư.
Tức sắc tức không thật rành rõ,
Chẳng tâm chẳng Phật tự như như.
Âm:
Tỳ-lô đảnh thượng lạc vô dư,
Thường tịch quang trung nhất vật vô.
Tức sắc tức không chân liễu liễu,
Phi tâm phi Phật tự như như.
Trên đảnh Tỳ-lô vui quá chừ, trong ánh tịch quang không vật dư.
Tỳ-lô nói đủ là Tỳ-lô-giá-na chỉ cho Pháp thân, Ngài nói ai đạt đến chỗ tột cùng của Pháp thân thì rất là vui vẻ thích thú. Tại sao thích thú? Vì trong ánh tịch quang không có một vật, nên không có tướng sanh không có tướng diệt. Không sanh không diệt thì không còn khổ đau.
Tức sắc tức không thật rành rõ, chẳng tâm chẳng Phật tự như như.
Thường thường trong lúc mê thì chúng ta thấy đây là sắc kia là không, không ở ngoài sắc, sắc ở ngoài không, nhưng khi ngộ rồi thì sắc không chẳng hai. Như hoa đốm và hư không nói là một hay là hai? Nói một không được mà nói hai cũng không được, vì rời hư không chúng ta không thấy có hoa đốm, vì vậy mà không phải một cũng không phải hai. Hoa đốm là cái không thật, khi mắt bệnh mới thấy, còn hư không thì thường nhiên. Cũng vậy do mê chúng ta chạy theo sắc, khi giác ngộ rồi thì biết rành rõ thể sắc tức là không, lúc đó không nói tâm nói Phật gì cả. Tại sao vậy? Vì chúng ta còn mê nên Tổ mới nói: tức tâm tức Phật, như vậy thì có tâm có Phật; tâm ngộ gọi là Phật, tâm mê gọi là chúng sanh. Có tâm có Phật là còn mê chưa ngộ nên thấy có tâm riêng Phật riêng. Khi tâm là Phật thì đâu còn tâm đâu còn Phật hai thứ. Đến chỗ đó không còn chấp tâm, không còn chấp Phật, sống một cách tự tại như như.
Chư Tôn ứng hóa thảy vọng duyên,
Pháp thân thanh tịnh rộng vô biên.
Ngàn sông có nước, ngàn sông nguyệt,
Muôn dặm không mây muôn dặm thiên.
Âm:
Ứng hóa chư Tôn đẳng vọng duyên,
Pháp thân thanh tịnh quảng vô biên.
Thiên giang hữu thủy, thiên giang nguyệt,
Vạn lý vô vân vạn lý thiên.
Chư Tôn ứng hóa thảy vọng duyên, Pháp thân thanh tịnh rộng vô biên.
Nghĩa là chư Phật ứng thân hay hóa thân thảy đều vì chúng sanh có duyên với các ngài, nên các ngài ứng hiện giáo hóa. Nhưng đó là cái duyên hư dối chớ không phải chân thật. Còn Pháp thân thì trong lặng sáng suốt không giới hạn. Như vậy dù cho thân Phật Thích-ca có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp cũng là cái thân tạm bợ có giới hạn tùy duyên giáo hóa chúng sanh, chớ không phải thân thật, thân thật là Pháp thân thênh thang không có giới hạn. Cho nên chúng ta mang thân giả tạm thì dù đẹp cũng không tự cao, dù xấu cũng không mặc cảm. Nếu thấy nó giả dối thì đẹp xấu cũng đều là giả dối, có chi quan trọng, chỉ trở về với cái thân chân thật mới là cứu kính, là chỗ mà chúng ta hướng đến.
Ngàn sông có nước, ngàn sông nguyệt. Muôn dặm không mây muôn dặm thiên.
Trên hư không có một mặt trăng, ở dưới đất có ngàn dòng sông thì có ngàn bóng trăng hiện trong nước. Và, trong bầu hư không muôn dặm không có mây thì thấy bầu trời dài muôn dặm. Như vậy mặt trăng thật thì không hai, mà bóng mặt trăng hiện trong nước thì vô số. Cũng vậy, Pháp thân thì không hai mà Ứng Hóa thân thì vô số. Và, bầu trời là dụ cho Pháp thân. Nếu không mê Pháp thân thì Pháp thân thênh thang vô tận, cũng như nếu bầu trời không mây thì bầu trời thênh thang không giới hạn. Như chúng ta nhìn lên hư không nếu có mây dày thì thấy chừng năm mười cây số là tới mây chặn rồi, nếu không mây thì thấy một bầu trời trong veo không có ngằn mé. Cũng vậy khi tâm ta không còn vọng tưởng thì nó trùm khắp không thiếu vắng chỗ nào. Đó là những bài kệ nói về Sắc thân. Sau đây là những bài kệ xem để phá sắc tướng Tam giáo.
Ngày xưa ở Trung Hoa cũng như Việt Nam Tam giáo là ba nền tảng đạo đức chánh. Nhưng người bên Khổng giáo thì không chấp nhận tinh thần Phật giáo. Người bên Lão giáo thì không chấp nhận Khổng giáo. Tam giáo có sự chia rẽ chống đối nhau là vì mỗi Giáo có một lý thuyết và hướng nhắm riêng, do đó mà không hòa hợp. Đến đời Tống, bên Trung Hoa các Thiền sư chủ trương Tam giáo đồng nguyên. Ở Việt Nam đời Trần các ngài cũng chủ trương Tam giáo đồng nguyên, tức là ba giáo đồng một nguồn gốc. Các ngài chủ trương như thế là để dẹp những cái thấy sai lầm của mỗi bên. Sau đây là bài kệ của ngài nói lên ý nghĩa siêu vượt những kiến chấp tầm thường của người thiển cận.
Pháp kệ: Xem phá sắc tướng của Tam giáo
Chẳng Nho chẳng Phật cũng chẳng Tiên,
Vò lại một viên rỗng lặng tròn.
Chùy nhọn thân hùng thông một điểm,
Kiếm sắc huơi rơi rõ tam huyền. (Phật, Nho, Tiên)
Trong mơ hòn bọt chia ranh giới,
Giữa luồng điện chớp bày Thánh Hiền.
Muôn pháp ngàn tông đều là huyễn,
Một thoi nát sạch Tổ sư Thiền.
Thân đồng cõi hư không,
Bày pháp bằng hư không.
Khi chứng được hư không,
Không pháp không phi pháp.
Âm:
Pháp kệ: Lãm phá Tam giáo sắc tướng
Phi Nho phi Phật diệc phi Tiên,
Niết tựu nhất đoàn không tịch viên.
Chùy dĩnh hùng thân thông nhất điểm,
Kiếm mang huy lạc liễu tam huyền.
Phù âu mộng lý phân cương giới,
Thiểm điển quang trung liệt Thánh Hiền.
Vạn pháp thiên tông đô thị huyễn,
Nhất kình phá tận Tổ sư Thiền.
Thân đồng hư không giới,
Thị đẳng hư không pháp.
Chứng đắc hư không thời,
Vô thị vô phi pháp.
Chẳng Nho chẳng Phật cũng chẳng Tiên, vò lại một viên rỗng lặng tròn.
Người theo Nho thì cho Nho là chân lý, người tu Phật thì cho Phật là chân lý, người tu theo đạo Lão thì cho Tiên là chân lý. Nhưng với cái nhìn của Thiền, thì ngài Chân Nguyên cho rằng Phật Nho Tiên chỉ là giả danh, giả tướng, chớ Thể chân thật không hai. Chân lý thì không hai không ba, nhưng nếu ai cũng nói đạo mình là chân lý thì chân lý thành ra hai ba. Vì vậy ở đây nói chẳng Nho chẳng Phật chẳng Tiên gì cả, đem ba cái đó hòa hợp lại thành một viên rỗng lặng, không còn ba tướng khác nhau.
Chùy nhọn thân hùng thông một điểm, kiếm sắc huơi rơi rõ tam huyền.
Tam huyền ở đây không phải là tam huyền của tông Lâm Tế, mà tam huyền chỉ cho Phật Nho Tiên. Ngài Chân Nguyên nói dùng chùy nhọn đem hết sức mạnh của mình dùi cho nó thông thành một điểm duy nhất không có hai không có ba. Rồi dùng kiếm bén hươi lên cho rụng hết những cái một hai ba riêng rẽ, chừng đó mới thấy chỗ mầu nhiệm của Phật Nho Tiên không có khác, lý tam huyền chỉ là một nguồn.
Trong mơ hòn bọt chia ranh giới, giữa luồng điện chớp bày Thánh Hiền.
Trong mơ tức là trong lúc ngủ mê nằm mộng thì những cái mình thấy, chẳng hạn như một hòn bọt thấy như là một ngọn núi, đó là thấy cái này riêng rẽ với cái kia, cái kia khác với cái nọ. Đó là cái thấy của mơ của mộng. Trên tướng giả tạm phân chia cái này khác với cái kia, như chia đây là Nho, kia là Phật, nọ là Tiên, thấy có Hiền có Thánh khác nhau, đó là tướng phân chia giả tạm không thật. Khi giác ngộ rồi thì không còn phân chia ranh giới, vì Thể chân thật không có gì riêng khác.
Muôn pháp ngàn tông đều là huyễn, một thoi nát sạch Tổ sư Thiền.
Chia ra muôn pháp ngàn tông, nhưng đều là huyễn hóa, các vị Tổ sư Thiền thoi một cái là tan nát sạch trơn mọi kiến chấp phân chia. Như vậy các bậc Tổ sư Thiền oai quá phải không? Vì với cái nhìn của Tổ sư thì những sự phân chia ranh giới là hư ảo tạm bợ, cho nên chỉ cần một tiếng hét, một cái đánh của các ngài là ngộ, ngộ rồi thì tất cả sự phân chia do mê lầm chấp trước đều tan nát. Tóm lại, qua bài kệ này ý ngài Chân Nguyên muốn dạy rằng, vì mê lầm chấp trước nên chia ra Nho, Lão, Phật riêng biệt, chớ trên chỗ cứu kính thì nó không hai. Do đó Ngài nói thêm bài kệ:
Thân đồng cõi hư không, bày pháp bằng hư không.
Ngài nói nếu chúng ta ngộ được Pháp thân rồi thì thân năm uẩn chúng ta đồng với hư không, vì thân năm uẩn và Pháp thân không hai, và các pháp hiện bày rỗng suốt không ngăn ngại. Cho nên:
Khi chứng được hư không, không pháp không phi pháp.
Nghĩa là khi chứng được Pháp thân rồi thì không pháp mà cũng có pháp. Vậy thì tất cả pháp có không đều không còn đối đãi.
Hỏi: Thế nào là trên trời dưới đất, trong cõi nhân gian, quần sanh muôn loài, hết lòng cung kính, tôn xưng chư Phật, gọi là Giác Hoàng?
Đáp: Phật là bậc thầy trong ba cõi, cha lành nơi bốn loài, đức to vòi vọi, hùng tôn bát ngát, quả chứng ba vô số kiếp, ân thấm cả chín loài, ba thân tròn hiển, mười hiệu cùng bày, đến Thánh thì làm vua trong muôn Thánh, làm Phật thì sáu thông tự tại, chín loài tối tăm đều được thấm nhuần, ba cõi đều tôn quí, đại bi đại nguyện, đại lực đại hạnh, khắp tiếp cả trời người, sang hèn đều dẫn dắt, ứng hóa trên trời, cõi người, cứu độ cõi này phương khác, quần sanh đều lợi lạc, tất cả đều nương về, vì vậy tôn Phật là “Giác Hoàng”.
Đây nêu lên câu hỏi tại sao từ cõi người cõi trời cho đến tất cả quần sanh đều cung kính tôn xưng chư Phật là Giác Hoàng? Giác Hoàng là vua giác hay cũng gọi là Giác vương.
Đáp rằng Phật là bậc thầy của ba cõi là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, cha lành của bốn loài, bốn loài là thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hóa sanh. Đức độ Ngài rộng mênh mông, cao vòi vọi như núi, sức mạnh của Ngài bát ngát không thể diễn tả được, Ngài tu ba vô số kiếp mới chứng quả, khi chứng quả rồi ân đức của Ngài nhuần thấm trong chín loài. Chín loài: noãn, thai, thấp, hóa sanh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu tưởng phi vô tưởng. Ba thân hiển bày đầy đủ. Mười hiệu là: Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn. Nếu ở trong hàng Thánh thì Ngài là bậc trên hết, Ngài đã được sáu thần thông, chín loài tối tăm đều được thấm nhuần ơn của Ngài. Như vậy sở dĩ hết thảy quần sanh đều tôn chư Phật là vua giác là vì công đức của các ngài vô lượng, vô biên. Tuy nhiên có một câu mà ngày xưa học tôi cũng nghi: nói rằng “quả chứng ba vô số kiếp”, tức là Phật tu trải qua ba vô số kiếp mới chứng quả. Vô số kiếp thì không tính được tại sao nói ba? Đã vô số mà còn nói ba thì lấy đâu làm giới hạn để nói là ba vô số? Vô số kiếp đã không thể tính, vậy lấy đâu làm chặng vô số kiếp thứ nhất, vô số kiếp thứ hai và vô số kiếp thứ ba? Không có chặng mà nói ba vô số kiếp làm sao hiểu? - Nói vô số kiếp chúng ta đừng lầm tưởng vô số là thời gian dài đằng đẵng không thể tính đếm, mà vô số là số thời gian không cố định. Ví dụ có người tu mười năm họ tỉnh, có người tu cả đời không tỉnh. Như trong kinh nói: đức Phật Thích-ca và Bồ-tát Di-lặc đồng thời phát tâm tu, mà Phật Thích-ca đã thành Phật, còn Bồ-tát Di-lặc thì bao nhiêu kiếp nữa mới thành Phật. Như vậy căn cứ vào cái gì để tính số? - Căn cứ vào hạnh tu của các ngài mà tính, mà làm chuẩn, chớ không phải tính năm tháng tu. Nếu căn cứ trên năm tháng tu thì không thể nào tính được. Căn cứ trên công hạnh tu thì trong kinh nói: người tu từ Sơ phát tâm cho đến Tam hiền là bậc thứ nhất hay vô số kiếp thứ nhất. Nhưng trong giai đoạn này người thì tu nhanh, người thì tu chậm làm sao định được thời gian? Như người đi học năm năm hết cấp một, bốn năm nữa hết cấp hai v.v... có thể tính được. Còn người tu siêng thì nhanh, lười biếng thì chậm, mà chậm thì cứ tu mãi cho nên không biết bao nhiêu mà tính, do đó gọi là vô số. Như từ Sơ địa tới Bát địa là bậc thứ hai hay vô số kiếp thứ hai, từ Bát địa đến Đẳng giác diệu giác thành Phật là bậc thứ ba hay vô số kiếp thứ ba. Nói ba vô số kiếp là các ngài căn cứ trên công hạnh tu vượt qua ba bậc gọi là qua vô số kiếp thứ nhất, vô số kiếp thứ hai, vô số kiếp thứ ba, chớ không phải căn cứ trên thời gian. Căn cứ trên thời gian tu thì không ai giống ai, người tu nhanh, người tu chậm, người tu vừa vừa, cho nên không nói số kiếp nhất định. Chúng ta thử xét lại, đức Phật Thích-ca và Bồ-tát Di-lặc đồng thời phát tâm tu, mà Phật Thích-ca thì đã thành Phật nhập Niết-bàn, còn Bồ-tát Di-lặc thì đang làm Bồ-tát nhất sanh bổ xứ ở cung trời Đao-lợi. Cũng vậy, trong số Tăng Ni tu ở đây cùng tu một lượt mà năm bảy năm sau người làm Thiền sư, người làm Pháp sư, cũng có người ngồi tu dài dài. Nói như thế để chúng ta hiểu trình độ tu rất sai biệt, đừng nghĩ rằng cùng phát tâm tu, thời gian tu và kết quả của mỗi người như nhau.
Bởi vì sao? Vì nhân tu rộng lớn nên trăm ngàn công đức đã trang nghiêm, quả chứng chí tôn thì ở trên cả trăm ức hóa thân. Đại nguyện của chư Phật, khi ra đời thường thị hiện làm vua. Làm Phật thì ba cõi đều tôn kính, làm vua thì muôn nước đều qui phục, là thảy do công phu tu hành từ nhiều kiếp, và nhân duyên phước tuệ, lo cứu giúp cho mọi người.
Đoạn này nói thêm cho rõ công đức của chư Phật quá cao siêu như vậy nên mới tôn xưng là Giác Hoàng. Nhưng tới đoạn sau thì an ủi vua Lê Hy Tông.
Lại hội lý rằng:
Giác là rất to, rất rộng, Pháp tánh tròn sáng, chánh giác Bồ-đề. Hoàng là rất tôn, rất quí, ngôi vị độc tôn hết mức, là bậc đế vương trang trọng. Trong các kinh vẫn thấy Phật Phật hiện làm vua, việc xưa cũng truyền nghe vua vua thành Phật. Nên biết, chư Phật số cát sông Hằng, mỗi vị cũng thường thị hiện làm thân đế vương. Và nên biết, ở cung vua mà ứng ra đời trong cửa Phật, thì nước Việt lại thấy triều Lê, niên hiệu Chính Hòa, đức Giác Hoàng trí Phật thiên nhiên, biển tuệ tròn sáng, trang trọng ngự giữa đài hoa mà hiển dương Phật pháp. Cây bồ-đề lớn cao, bóng che mát cả mười phương, hoa ưu-bát nở ra, sáng rực đến muôn đời. Quần sanh đều được độ, khắp nơi thấm ơn sâu, đời tôn xưng là chân Phật Hoàng.
Hội lý là giải lý hay giải thích thêm. Đoạn này tán thán công đức của vua Lê Hy Tông. Triều đại nhà Hậu Lê là thời trọng Nho khinh Phật, song có hai ông vua tin Phật rất sâu, trợ duyên tốt cho Tăng Ni tu hành, chùa chiền được phát triển nhiều hơn, Tăng Ni tu đông hơn, đó là vua Lê Hy Tông và Lê Dụ Tông. Vua Lê Hy Tông, ban đầu cũng không tin Phật, đuổi hết Tăng Ni về núi tu hành, không cho ở lại kinh đô để mở mang Phật pháp. Sau nhờ Thiền sư Tông Diễn, viết sớ dâng Vua, trình bày hết những cái hay cái quí của đạo Phật. Vua nghe xong, thức tỉnh thành tâm sám hối tội hủy báng Phật pháp. Từ đó về sau Vua hết lòng tin và ủng hộ Phật pháp. Do Vua sùng kính Phật pháp nên ngài Chân Nguyên được Vua trợ duyên rất nhiều trong việc xây lại chùa Quỳnh Lâm, trong lúc xây chùa, Vua cấp cho ba chục ngàn dân tới làm công quả. Do đó ngài Chân Nguyên nói “ở cung vua mà ứng ra đời trong cửa Phật, thì nước Việt lại thấy triều Lê, niên hiệu Chính Hòa” (1680-1705). Niên hiệu Chính Hòa là niên hiệu của vua Lê Hy Tông, công đức của Vua rất xứng đáng được tôn xưng là Giác Hoàng.
Rỗng toang Phật tánh tợ hư không,
Thị hiện thân vua thể cũng đồng.
Quyền thật sáng ngời gồm mọi lý,
Mở mang Phật pháp độ quần mông.
Âm:
Hoát nhiên Phật tánh đẳng hư không,
Thị hiện vương thân thể diệc đồng.
Quyền thật tinh quang bao chúng lý,
Hiển khai Phật pháp độ quần mông.
Ngài nói thêm bài kệ để tán thán Giác Hoàng.
Rỗng toang Phật tánh tợ hư không, thị hiện thân vua thể cũng đồng.
Đứng về mặt Pháp thân thì Phật tánh rỗng toang tợ hư không. Nhưng thị hiện hay ứng hóa ra hoặc là tu sĩ hay vua giáo hóa dân... đó là cái tướng của dụng, song thể vẫn đồng.
Quyền thật sáng ngời gồm mọi lý, mở mang Phật pháp độ quần mông.
“Quyền” là hiện làm vua, “thật” là chỉ Pháp thân, nghĩa là thị hiện làm vua hay sống với Pháp thân thì vẫn sáng ngời đầy đủ lý đó. Hiện ra để làm gì? Thị hiện làm vua để mở mang Phật pháp độ những kẻ mê muội. Sau đây Ngài dẫn sách Trung Quốc.
Trước kia, vua Đường Thuận Tông hỏi Đại sư Phật Quang:
Phật từ phương nào đến?
Diệt trở về nơi đâu?
Đã nói thường trụ thế,
Nay Phật ở chỗ nào?
Âm:
Phật tòng hà phương lai?
Diệt hướng hà phương khứ?
Ký ngôn thường trụ thế,
Phật kim tại hà khứ?
Đại sư Phật Quang đáp:
Phật từ vô vi đến,
Diệt trở về vô vi.
Pháp thân đồng hư không,
Thường ở chỗ không tâm.
Có niệm về vô niệm,
Có trụ về vô trụ.
Đến vì chúng sanh đến,
Đi vì chúng sanh đi.
Biển Chân như thanh tịnh,
Tròn lặng thể thường trụ.
Người trí khéo tư duy,
Lại chớ sanh nghi ngờ.
Âm:
Phật tòng vô vi lai,
Diệt hướng vô vi khứ.
Phật thân đẳng hư không,
Thường tại vô tâm xứ.
Hữu niệm qui vô niệm,
Hữu trụ qui vô trụ.
Lai vị chúng sanh lai,
Khứ vị chúng sanh khứ.
Thanh tịnh Chân như hải,
Trạm viên thể thường trụ.
Trí giả thiện tư duy,
Cánh vật sanh nghi lự.
Trước kia vua Đường Thuận Tông hỏi Đại sư Phật Quang:
Phật từ phương nào đến, diệt trở về nơi đâu? Đã nói thường trụ thế, nay Phật ở chỗ nào?
Câu hỏi nêu lên là: Phật từ đâu đến, sau khi nhập diệt đi về đâu? Và nói Phật thường trụ ở đời, nhưng nay Phật ở đâu? Đó là câu hỏi của vua Đường Thuận Tông.
Đại sư Phật Quang đáp:
Phật từ vô vi đến, diệt trở về vô vi.
Phật đến từ vô vi mà diệt cũng trở về vô vi. Tại sao vậy? Vì vô vi là cái thể bất sanh bất diệt, Ngài thị hiện ra đời là Hóa thân hay Ứng thân, mà Hóa thân hay Ứng thân cũng từ Pháp thân hiện ra, cho nên nói đến từ vô vi. Ngài hóa thân tùy duyên độ chúng sanh, khi duyên hết, Hóa thân diệt thì trở về Pháp thân, đó là trở về vô vi. Như vậy sanh ra từ Pháp thân, diệt cũng trở về Pháp thân cho nên câu sau nói:
Pháp thân đồng hư không, thường ở chỗ không tâm.
Ở trên hỏi đã nói thường trụ, nay Phật ở chỗ nào? Ở đây trả lời Phật thường ở chỗ không tâm. Vậy không tâm là ở chỗ nào? Chúng ta có tâm hay không tâm? Nếu tâm dấy niệm chạy theo trần cảnh thì có tâm, nếu lặng những vọng niệm đó là không tâm. Câu trả lời quá xác thật. Tuy nhiên quí vị có khả năng thấy Phật không? Chịu khó không tâm là thấy, nếu có tâm thì chỉ thấy chúng sanh. Vì tâm chạy theo trần cảnh là tâm mê của chúng sanh; tâm chúng sanh là tâm hơn thua, phải quấy, tốt xấu v.v... Những thứ tâm chúng sanh lặng, chúng ta vẫn tri vẫn giác ngay đó là tâm Phật. Do đó hỏi: Phật thường trụ ở đời, vậy ở chỗ nào, đáp: thường ở chỗ không tâm là chỉ thẳng không còn giấu giếm gì nữa.
Có niệm về vô niệm, có trụ về vô trụ.
Ở chỗ không tâm đó nếu có niệm thì đưa về vô niệm, có trụ thì phải đưa về vô trụ, đó là chỗ Phật ở. Những câu kế Ngài giải thích thêm:
Đến vì chúng sanh đến, đi vì chúng sanh đi.
Chúng sanh mê, Phật thương muốn độ họ mà thị hiện ra đời, khi duyên mãn, Phật vì chúng sanh thị hiện nhập Niết-bàn. Vì những gì cần dạy cho chúng sanh Ngài đã giảng dạy hết rồi, nếu ở đời thêm thời gian nữa thì chúng ta sẽ ỷ lại, mà không chịu nỗ lực tư duy những lời Phật dạy để ứng dụng tu. Như vậy Phật đến hay đi cũng vì chúng sanh cả, chúng sanh mê thì Ngài đem chánh pháp dạy cho tỉnh giác, hết duyên thì Ngài ra đi.
Biển Chân như thanh tịnh, tròn lặng thể thường trụ.
Nghĩa là Ngài trở về thể Chân như thanh tịnh thênh thang như biển cả, luôn luôn lặng lẽ tròn đầy không sanh không diệt.
Người trí khéo tư duy, lại chớ sanh nghi ngờ.
Người trí khéo nhận định suy xét, không nên sanh lòng nghi ngờ. Như vậy chúng ta thấy ngài Phật Quang đáp rất chí lý không còn giấu giếm gì cả. Bây giờ giả sử có ai hỏi Phật thường trụ ở thế gian vậy Phật ở chỗ nào, quí vị chỉ được không? Chỉ tâm không chạy theo cảnh đó là chỗ Phật thường trụ.
Vua lại hỏi:
Phật từ vương cung sanh,
Diệt về Song lâm diệt.
Trụ thế bốn chín năm,
Lại bảo không pháp nói?
Núi sông và biển cả,
Trời đất với nhật nguyệt,
Thời đến đều tiêu tan.
Ai rằng không sanh diệt?
Nghi tình còn như trên,
Người trí khéo phân biệt.
Âm:
Phật tùng vương cung sanh,
Diệt hướng song lâm diệt.
Trụ thế tứ thập cửu,
Hựu ngôn vô pháp thuyết.
Sơn hà cập đại hải,
Thiên địa cập nhật nguyệt.
Thời chí giai qui tận,
Thùy vân bất sanh diệt?
Nghi tình du nhược tư,
Trí giả thiện phân biệt.
Vua lại hỏi:
Phật từ vương cung sanh, diệt về Song lâm diệt. Trụ thế bốn chín năm, lại bảo không pháp nói?
Vua nêu lên câu hỏi: Khi Phật còn là Thái tử sanh ở cung vua, đi tu thành Phật, nhập diệt ở rừng Sa-la, trụ thế bốn mươi chín năm, thuyết pháp độ sanh, sao lại bảo không nói pháp? Đó là ý thứ nhất.
Núi sông và biển cả, trời đất với nhật nguyệt, thời đến đều tiêu tan, ai rằng không sanh diệt? Nghi tình còn như trên, người trí khéo phân biệt.
Ý thứ hai Vua hỏi núi sông, biển cả, mặt trời, mặt trăng v.v... hết duyên cũng tan hoại, tại sao nói có cái không sanh diệt?
Đại sư Phật Quang đáp:
Thể Phật vốn vô vi,
Tình mê vọng phân biệt.
Pháp thân đồng hư không,
Chưa từng có sanh diệt.
Có duyên Phật ra đời,
Hết duyên Phật nhập diệt.
Nơi nơi độ chúng sanh, 
Giống như trăng trong nước.
Chẳng thường cũng chẳng đoạn,
Chẳng sanh cũng chẳng diệt.
Sanh cũng chưa từng sanh,
Diệt cũng chưa từng diệt.
Tỏ ngộ chỗ không tâm,
Tự nhiên không pháp nói.
Âm:
Phật thể bản vô vi,
Mê tình vọng phân biệt.
Pháp thân đẳng hư không,
Vị tằng hữu sanh diệt.
Hữu duyên Phật xuất thế,
Vô duyên Phật nhập diệt.
Xứ xứ hóa chúng sanh,
Du như thủy trung nguyệt.
Phi thường diệc phi đoạn,
Phi sanh diệc phi diệt.
Sanh diệc vị tằng sanh,
Diệt diệc vị tằng diệt.
Liễu ngộ vô tâm xứ,
Tự nhiên vô pháp thuyết.
Vua nghe Sư giảng hoát nhiên ngộ đạo, tôn trọng Thiền tông.
*
Đại sư Phật Quang đáp:
Thể Phật vốn vô vi, tình mê vọng phân biệt, Pháp thân đồng hư không, chưa từng có sanh diệt.
Ngài nói thể Phật tức là Pháp thân vốn không sanh diệt, do tình mê nên vọng thấy có sanh diệt, và Pháp thân ấy đồng với hư không nên không bao giờ có sanh diệt. Sở dĩ thấy Phật sanh ở cung vua Tịnh Phạn, nhập diệt ở Sa-la song thọ là do mê mà vọng thấy cái giả tướng, chớ Pháp thân thì đồng với hư không, không có tướng sanh  diệt.
Có duyên Phật ra đời, hết duyên Phật nhập diệt, nơi nơi độ chúng sanh, giống như trăng trong nước.
Đức Phật ứng hóa thân để độ khắp chúng sanh, hết duyên Phật nhập Niết-bàn, Ứng Hóa thân giống như bóng mặt trăng trong nước. Vậy bóng trăng trong nước là hư ảo, chỉ có mặt trăng trên trời mới là thật. Cũng vậy Phật ra đời ở vương cung, nhập diệt ở rừng Sa-la là Hóa thân Phật, còn trở về thể bất sanh bất diệt là Pháp thân nên nói thể Phật là vô vi.
Chẳng thường cũng chẳng đoạn, chẳng sanh cũng chẳng diệt, sanh cũng chưa từng sanh, diệt cũng chưa từng diệt. Tỏ ngộ chỗ không tâm, tự nhiên không pháp nói.
Pháp tánh không phải thường cũng không phải đoạn, chưa từng sanh diệt, và khi tâm không còn dấy động thì tỏ ngộ Pháp tánh. Bởi Pháp tánh không tướng mạo, không đối đãi, không dùng ngôn ngữ nói đến được nên tự nhiên không pháp nói, cho nên Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm mà chưa từng nói một lời. Không nói một lời là không nói pháp nào? Pháp Tứ đế hay Thập nhị nhân duyên? - Đứng về mặt Pháp tánh thì không nói một lời, vì Pháp tánh thì không còn đối đãi, mà không đối đãi thì nói cái gì? Chúng ta thử nói một câu không kẹt hai bên coi? Nói được không? - Vì còn đối đãi hai bên nên còn nói năng, đến chỗ dứt đối đãi thì không còn ngôn ngữ nói năng, do đó kinh Lăng-già đức Phật nói trong bốn mươi chín năm ta chưa từng nói một câu. Vì trở về Pháp tánh thì không còn ngôn ngữ đối đãi, không còn ngôn ngữ đối đãi nên tuyên bố không nói một câu. Song, khi ở Lộc Uyển Ngài giảng pháp Tứ đế, đây là Khổ đế, đây là Diệt đế v.v... Khổ đế là sanh tử, Diệt đế là Niết-bàn vô sanh, là pháp còn đối đãi, nên nói Ngài có nói pháp. Lúc nói tới chỗ hết đối đãi Ngài tuyên bố ta không nói một lời. Hiểu như vậy chúng ta mới thấy giáo lý của đức Phật uyên thâm sâu kín vô cùng. Bốn mươi chín năm nói pháp là nói pháp đối đãi, đến chỗ dứt đối đãi là chỗ không còn một câu để nói. Đó là đi từ đối đãi đến chỗ tuyệt đối, chớ không phải Phật từ chối việc nói pháp của mình, hay như nhiều người hiểu rằng ban đầu đức Phật nói pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Lục độ vạn hạnh... sau Ngài tuyên bố ta không nói một lời, Ngài nói như thế để người sau đừng chấp cứng vào lời dạy của Ngài. Hiểu Ngài nói pháp bốn mươi chín năm là thật thì chưa đạt đến chỗ cứu kính, chỗ cứu kính là từ đối đãi đến tuyệt đối, đối đãi thì còn ngôn thuyết, tuyệt đối thì không còn ngôn thuyết. Do đó các Thiền sư cũng nói chỗ tuyệt đối là chỗ không lời, chỗ không lời là chỗ hết đối đãi. Ni sư Diệu Nhân cũng nói “uổng khẩu vô ngôn”.
Vua nghe giảng, thấu suốt được chỗ đó nên ngộ đạo và tôn trọng Thiền tông. Vua nghe giảng thì ngộ còn chúng ta nghe có ngộ không? Vì đọc qua câu hỏi và lời đáp chúng ta không nhận ra nên không ngộ, còn Vua thấu suốt được lời đáp của Ngài nên Vua ngộ và tôn trọng Thiền tông.
Sau đây Ngài dẫn kinh:
Kinh nói: “Tâm ta như nước, Di-đà như trăng, nước trong thì trăng hiện, chẳng cần người khác nói.” Trăng dụ Pháp thân, bóng dụ Hóa thân, trong và đục dụ nhiễm và tịnh.
Ở đây nói kinh mà tôi không nhớ kinh nào, chỉ nhớ một câu “trì thành nguyệt hiện”. Trì là cái ao, cái ao đào xong có nước lóng trong thì thấy mặt trăng hiện. Đoạn này giải thích về Tịnh độ của Tự tâm, Phật Di-đà chỉ cho Pháp thân, tâm người ví như nước, nước tâm trong thì thấy Phật Di-đà hiện, như mặt trăng hiện trong ao nước trong. Còn nước tâm đục thì Phật Di-đà không hiện. Như vậy hồ tâm trong thì mặt trăng Di-đà hiện, hồ tâm đục thì mặt trăng Di-đà không hiện, cho nên chúng tôi đặt tên cái hồ ở trước chánh điện Trúc Lâm là hồ Tĩnh Tâm. Tĩnh là lặng, lặng thì mới trong, trong thì thấy bóng trăng hiện. Như vậy qua cái nhìn của các Thiền sư không có chống đối pháp môn nào, Tịnh độ cũng được, Thiền cũng được, vì tất cả đều qui về Tự tâm, chủ yếu là nước tâm chúng ta phải trong, nên nói “nước trong thì trăng hiện không cần người khác nói”. Ngài nói thêm: Mặt trăng dụ cho Pháp thân, bóng mặt trăng dụ cho Hóa thân, tùy nước trong hay đục mà trăng hiện hay không hiện, tùy theo tâm nhiễm hay tịnh mà hóa thân là chúng sanh hoặc Bồ-tát. Như kinh Di-đà nói niệm danh hiệu Phật từ một ngày cho đến bảy ngày, nhất tâm bất loạn thì khi lâm chung thấy đức Phật A-di-đà và chư Thánh chúng đến đón. Tâm không loạn là tâm tịnh, mà tâm tịnh thì Phật hiện. Thiền Tứ niệm xứ, đức Phật nói ai trụ tâm nơi pháp quán từ một ngày cho đến bảy ngày mà không dời chỗ trụ, thì người đó chứng từ Sơ quả đến Tứ quả. Tu Tứ niệm xứ là quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã. Giả sử như chúng ta quán pháp vô ngã từ một ngày cho tới bảy ngày không có một tạp niệm, tâm thanh tịnh thì Phật hiện tiền. Còn chúng ta tu theo pháp Thiền này thì sao? Nếu tâm không dấy niệm, lặng trong sáng suốt thì Phật hiện. Vậy mà nhiều người than, đời mạt pháp Phật nhập Niết-bàn hơn hai ngàn năm, khó thấy Phật quá! Phật ở gần một bên, tại chúng ta để tâm chạy theo cảnh nên không nhận ra, rồi khởi niệm đi tìm Phật ở núi này núi nọ, thật là xa, cho dù có tìm Phật ở Ấn Độ cũng không gặp. Tâm mình yên lặng trong sáng là Phật hiện tiền, không phải nhọc nhằn tìm đâu cả. Như vậy tu mà ngộ được lý đạo sâu xa rồi thì công phu rất là nhẹ nhàng và không còn nghi ngờ gì nữa. Nếu không ngộ thì than rằng Phật niết-bàn hơn hai ngàn năm rồi, làm sao tìm cho ra, mà tìm Phật không thấy thì làm sao tu?
Nước trong trăng hiện, trăng cũng chẳng đến. Nước đục trăng ẩn, trăng cũng chẳng đi. Chỉ do nước có trong đục, chẳng phải bảo trăng có đến đi. Trong pháp cũng như vậy, tâm sạch thì thấy Phật, chẳng phải là Phật đến, tâm nhơ thì chẳng thấy, chẳng phải là Phật đi. Bởi do chúng sanh có nhơ sạch, chẳng phải bảo chư Phật có ẩn hiện.
Đoạn này giải thích thêm: nước trong thì mặt trăng hiện, nước đục thì mặt trăng ẩn, mặt trăng không có đến đi. Cũng vậy tâm thanh tịnh thì Phật hiện, tâm nhiễm nhơ thì Phật ẩn khuất, Phật không đến không đi. Chúng ta thấy mặt trăng trên trời có đến với nước hay có rời nước không? - Không đến mà cũng không rời, chỉ tại nước trong thì trăng hiện, nước đục thì trăng khuất mà thôi. Cũng vậy, Pháp thân Phật không đến cũng không đi, chúng ta tu tâm trong lặng thì Phật hiện tiền, tâm ngầu đục thì Pháp thân Phật ẩn. Tưởng chừng như Phật có đến có đi, nhưng thật sự thì Phật không đến không đi bao giờ. Cũng thế, chúng ta ngồi thiền để dừng tâm chạy nhảy lăng xăng, tâm lăng xăng đó lặng rồi thì ông Phật của chúng ta hiện tiền. Vậy ông Phật hiện ra sao? Ngồi tòa sen hay tòa sư tử? Nếu thấy Phật hiện ngồi tòa sen chúng ta có chấp nhận không? Chỗ này phải hiểu cho kỹ kẻo lầm. Khi ngồi thiền tâm thanh tịnh thấy Phật đến xoa đầu thọ ký hoặc tán thán công đức tu hành, tự cho là mình đã chứng quả, nhưng ít lâu phát điên, người ngoài không biết cho rằng tu thiền điên. Tại sao thấy Phật lại phát điên? Khi ngồi tu tâm đạt đến chỗ lặng lẽ thì Thể chân thật hiện tiền, đó là Phật hiện. Phật tại tâm mình hiện thì không có tướng mạo, nhưng vì chúng ta chạy theo tướng Phật hư dối ở ngoài do tâm mình phóng hiện ra; tướng hư dối mà cho là thật nên lầm, điên đảo cuồng loạn rồi phát điên.
Trong sử Thiền Ấn Hoa có ghi câu chuyện: Tổ Ưu-ba-cúc-đa hàng phục được Ma vương bèn trao Tam qui cho nó. Sau khi thọ Tam qui xong, Tổ bảo Ma vương:
- Xưa ngươi thường thấy đức Như Lai giờ đây hiện thử cho ta xem.
Ma vương thưa:
- Hiện việc xưa không khó, chỉ xin Tôn giả trông thấy đừng lễ.
Tổ khả hứa. Ma vương vào rừng ẩn mất, chốc lát bỗng thấy Phật từ mé rừng đi ra oai nghi nghiêm chỉnh, theo sau là đoàn Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, Tổ vừa trông thấy cúi mình đảnh lễ. Ma vương hoảng kinh biến mất.
Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy ma hiện Phật, mà Tổ còn lầm tưởng Phật thật, quì xuống lạy. Chúng ta là phàm phu thường mơ ước được thấy Phật, ma biết được nên nó hiện hình Phật. Chúng ta thấy mừng quá lễ lạy, nhân cơ hội ấy nó nhập vào khiến chúng ta phát cuồng phát điên. Nên nhớ, Phật là tâm thanh tịnh sáng suốt ở mỗi người chớ không phải Phật ở bên ngoài.
Trong Thiền sử Trung Hoa có ghi câu chuyện: ngài Văn Hỷ đi đến núi Ngũ Đài để tìm Bồ-tát Văn-thù, Ngài không gặp Bồ-tát Văn-thù chỉ gặp một ông già dắt trâu đi, mời Ngài vào chùa uống trà. Qua câu chuyện đối đáp, trời tối Ngài xin nghỉ lại đêm không được, ông già cho một đồng tử đưa Ngài xuống núi. Ngài hỏi đồng tử mới biết đó là chùa Bát-nhã trong hang Kim Cang, ông già gặp vừa rồi là Bồ-tát Văn-thù. Ngài buồn bã vì không thể nào gặp lại được. Lúc đó đồng tử và chùa cũng đều ẩn mất, chỉ thấy Bồ-tát Văn-thù cỡi sư tử vàng qua lại ở trên mây, Ngài đảnh lễ rồi đi về. 
Sau, Ngài đến Thiền sư Ngưỡng Sơn học đạo, được sung chức Điển tọa. Ngài nấu cháo thường thấy Bồ-tát Văn-thù hiện trên nồi cháo, Ngài lấy cây dầm quậy cháo đập, nói:
- Văn-thù tự Văn-thù, Văn Hỷ tự Văn Hỷ.
Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy tinh thần Thiền là trở về với Phật chính mình, không lệ thuộc vào Phật, Bồ-tát bên ngoài. Trong nhà Phật có câu “Phật cao một thước, ma cao một trượng”, sống trong cõi Dục này ma ở gần chúng ta rất nhiều, cho nên chúng ta nghĩ gì, mơ ước điều gì, ma biết hết và nó hiện đúng như ý mình mong cầu. Nếu chúng ta không biết thì bị nó lừa, tu một thời gian kết quả điên khùng là tại chỗ đó. Nếu chúng ta biết tất cả đều là giả tướng, thì không chấp nhận những tướng bên ngoài từ tâm phóng hiện ra, không chấp nhận thì không lầm, không bị hại. Giả sử chúng ta ngồi thiền gặp Phật thật hiện ra, chúng ta không chấp nhận Phật cũng không rầy, vì biết mình có cái nhìn đúng. Nếu chúng ta gặp Phật không lễ sợ có lỗi, Phật thuyết pháp không nghe sợ có tội, sẽ bị lừa bị hại. Thỉnh thoảng có ít người tu ban đêm ngồi thiền nghe bên tai có tiếng nói pháp, hoặc bên tai nghe có tiếng nói xì xào, muốn hết tiếng không biết làm sao, đến nhờ tôi chỉ cách để giải trừ. Những trường hợp như thế phần nhiều là do quỉ thần đánh lừa chúng ta. Ban đầu nó đem một hai câu kinh Phật ra nói, chúng ta nghe thích quá, tin theo cho là lời Phật Thánh nói pháp. Khi tin sâu rồi nó xúi chúng ta nói làm bậy bạ, lúc đó ý chí nhu nhược, trí tuệ lu mờ, nó bảo điều chi là nghe theo làm theo, không cưỡng lại được. Đó là cái lầm của người tu không biết rõ những chứng thiền bệnh. Trong nhà Thiền có câu “phùng Phật sát Phật, phùng ma sát ma” (gặp Phật giết Phật, gặp ma giết ma). Nói nghe như vô lễ tàn nhẫn lắm, nhưng đó là điều tất yếu phải làm để trong khi tu chúng ta tránh được sự lầm lẫn tai hại. Nên nhớ ai tu mà ham Phật, Bồ-tát đến xoa đầu thọ ký thì người đó dễ bị điên cuồng.
Lý rốt ráo tột cùng, cực tắc tuyệt diệu thì Pháp thân vốn rỗng lặng, tròn đồng thái hư, không đi không đến, không nơi không chốn, tùy cơ mà cảm đến, ứng hiện tự tại, nên gượng gọi là Như Lai.
Đoạn này Ngài nói thêm để chúng ta hiểu rõ cái lý tột cùng không đến không đi của Pháp thân và danh từ Như Lai cũng gượng gọi chớ không có thật.
Chánh giác không nơi đến,
Đi cũng không chỗ nào.
Thân thanh tịnh diệu sắc,
Do thần lực hiển hiện.
Phật thân rỗng lặng trùm pháp giới,
Rõ ràng trước mắt quần sanh loại.
Tùy cơ cảm đến khắp mọi nơi,
Tự do ứng hiện đều vô ngại.
Âm:
Chánh giác vô lai xứ,
Khứ diệc vô sở tùng.
Thanh tịnh diệu sắc thân,
Thần lực cố hiển hiện.
Phật thân không tịch biến pháp giới,
Đường đường đối nhãn quần sanh loại.
Tùy cơ phó cảm mỵ bất chu,
Tự như ứng hiện lực vô ngại.
Đến đây Ngài nói thêm bài kệ để chúng ta rõ nghĩa lý không đến đi của Pháp thân.
Chánh giác không nơi đến, đi cũng không chỗ nào. Thân thanh tịnh diệu sắc, do thần lực hiển hiện.
Chánh giác là chỉ cho Pháp thân không đến đi, không có nơi chốn và cái thân đẹp đẽ có ba mươi hai tướng tốt của Phật cũng do thần lực hiển hiện.
Phật thân rỗng lặng trùm pháp giới, rõ ràng trước mắt quần sanh loại.
Pháp thân Phật rỗng lặng trùm khắp pháp giới, luôn luôn hiện ở trước mắt chúng ta. Như vậy thân có ba mươi hai tướng tốt của Phật Thích-ca ở Ấn Độ là Ứng thân hay Hóa thân, còn Pháp thân Phật ai cũng sẵn có, nó rỗng lặng trùm khắp pháp giới và ở ngay trước mắt chúng ta, không hề xa cách.
Tùy cơ cảm đến khắp mọi nơi, tự do ứng hiện đều vô ngại.
Nghĩa là Pháp thân không có tướng mạo, nhưng tùy duyên mà có cảm ứng. Tùy duyên cảm ứng như thế nào? Giả sử chúng ta tu thể nhập được Pháp thân thanh tịnh, nhưng không phải an trú mãi trong Pháp thân thanh tịnh, mà tùy chúng sanh nào có duyên với chúng ta sanh nơi nào thì chúng ta đến đó để độ họ. Như chúng tôi thường nói, lâu nay Phật tử ủng hộ tịnh tài tịnh vật để chúng tôi cất chùa và lo cho Tăng Ni tu học, Phật tử làm việc ấy với tâm nguyện mong rằng đời đời được gặp chánh pháp, gặp quí thầy giáo hóa cho tu học, vì hiện tại Phật tử là cư sĩ gia duyên ràng buộc nên tu không được bao nhiêu. Tâm nguyện như thế là Phật tử đã muốn gieo duyên sâu với Tam Bảo, nhưng nếu chúng tôi tu giác ngộ thể nhập Pháp thân thanh tịnh, cảm thấy an lạc thảnh thơi quá, không trở lại thế gian giáo hóa những người có duyên với mình, như vậy, nếu nói theo thế gian thì chúng tôi không muốn trả nợ, mặc tình Phật tử muốn tu như thế nào thì tu, mình không để ý tới, đó là vô trách nhiệm. Cho nên người tu tự giác rồi phải giác tha, không nên ích kỷ, tu liễu ngộ rồi không hưởng an lạc một mình, phải tùy duyên ứng hiện độ chúng sanh có duyên với mình, đó cũng là một hình thức trả nợ cơm áo cho Phật tử. Hơn nữa, khi tu đã giác ngộ, dù chúng ta có ứng thân độ chúng sanh chúng ta vẫn tỉnh chớ không mê, do tỉnh cho nên thấy việc ứng thân để độ chúng sanh là hư dối, không thật. Vì chúng sanh mê nên thọ thân giả dối cho là thật, còn người tỉnh đi vào trong cảnh giả biết là giả, mang thân giả làm việc lợi ích cho chúng sanh, dù có gặp cảnh thuận nghịch vui buồn cũng biết là giả dối, không động tâm, đó mới là tùy duyên cảm ứng. Nếu gặp cảnh thuận thì vui, gặp cảnh nghịch thì buồn khổ thở than, đó là theo nghiệp chiêu cảm.
Tùy duyên cảm ứng thì gặp cảnh thuận nghịch gì cũng vui, vì nó không thật, không thật cho nên không lo buồn sợ hãi. Do đó các Bồ-tát đi khắp thế gian để làm lợi ích cho chúng sanh mà vẫn luôn ở trong Niết-bàn tự tại, vì đâu có gì bận tâm. Hạnh của Bồ-tát là như vậy, không hẳn Bồ-tát là phải có thần thông, có quyền lực phi thường, mà Bồ-tát vẫn ở tại thế gian và sanh hoạt như mọi người. Tuy nhiên, người thế gian gặp cảnh khổ thì than khóc, Bồ-tát gặp cảnh khổ thì cười. Người thế gian gặp duyên tốt họ hãnh diện cho là vinh dự rồi sanh ngạo mạn, Bồ-tát gặp duyên tốt duyên xấu gì cũng thế thôi. Bồ-tát thật thì hành động như vậy, còn khác đi là thứ giả, dù có xưng là Bồ-tát cũng chỉ là giả mà thôi. Cho nên trên đường tu nếu chúng ta khéo ứng dụng thực hành thì đâu đâu cũng là Bồ-đề là Niết-bàn, nếu không khéo thì đâu đâu cũng là cõi khổ đau.
Kinh nói: “Thân pháp giới thanh tịnh vốn không có ra vào, sức bản nguyện đại bi thị hiện như hoa trong không.”
Đoạn này giải thích về Pháp thân thanh tịnh của Phật không ra không vào, nhưng vì do sức bản nguyện đại bi mà có ra có vào, sự ra vào đó giống như hoa đốm trong hư không. Thường chúng ta chỉ biết Phật là Phật Thích-ca ở Ấn Độ, có lịch sử, sanh ra trong cung vua Tịnh Phạn và nhập Niết-bàn ở rừng Sa-la, Phật đó là Phật hóa thân, hay báo thân có sanh có diệt. Phật pháp thân thì không sanh không diệt, tại sao Phật hóa thân lại có sanh diệt? Như Phật Thích-ca khi còn làm Thái tử phát tâm đi tu nguyện giải thoát sanh tử cho mình và cho tất cả chúng sanh. Giải thoát sanh tử là nhập Niết-bàn, mà nhập Niết-bàn tức là tử. Như vậy nói thành Phật giải thoát sanh tử tại sao đến tám mươi tuổi Ngài vẫn tử như mọi người. Đoạn này ngài Chân Nguyên giải thích Phật có ba thân: thân có sanh có tử là Hóa thân hay Báo thân, thân không sanh tử là Pháp thân. Khi chứng quả Phật các ngài sống với Pháp thân không sanh tử, còn thân tứ đại hiện có hình tướng là Hóa thân, thân này có sanh thì phải có tử. Vì nó là Hóa thân nên dụ như hoa đốm trong hư không, chợt hiện chợt mất không thật. Còn Pháp thân thì như hư không thênh thang không sanh diệt. Vì vậy mà nói Phật chứng được Pháp thân thì không còn sanh tử. Chúng ta tu giả sử kiếp này ngộ được Pháp thân, song thân tứ đại của chúng ta một ngày nào đó hết duyên nó cũng tan hoại. Nhưng có nhiều người quan niệm rằng không tu khi già cũng chết, cố gắng tu hành khổ cực tới già cũng chết, như vậy đâu có ai hơn ai. Đó là lý lẽ mà người không muốn tu nêu lên để bào chữa. Phải thấy rõ người tu và không tu có khác, người tu biết thân này giả tạm, nhận ra nơi mình có Pháp thân chân thật không sanh tử thì thân giả tạm có hư hoại cũng không buồn không tiếc. Còn người thế gian không biết tu, thấy thân giả tạm này là thật cho nên khi thân này hoại tìm thân khác, theo nghiệp đi mãi trong luân hồi thọ quả báo. Đó là chỗ khác nhau của người tu và không tu. Chúng ta phải hiểu cho thấu đáo để khỏi lầm lẫn như ở trên.
Bởi thị hiện có ra vào là ở cơ duyên, cơ duyên ứng thì hiện ra trong cung vua Tịnh Phạn, cơ duyên hết thì ở dưới gốc Sa-la(1)vào Niết-bàn.
Hóa thân thì ứng theo duyên mà thị hiện, sở dĩ Thái tử sanh vào cung vua là vì nơi đó có duyên với Ngài, thị hiện tu hành, thành đạo giáo hóa chúng sanh, cơ duyên viên mãn thị hiện vào Niết-bàn. Ứng theo duyên mà Hóa thân thị hiện chớ không phải Pháp thân. Đoạn kế là ví dụ:
Do vì nước trong sạch vô tâm mà không hình tượng nào chẳng hiện. Hình tượng chẳng phải là ta vốn có, đây là hoa đốm trong không thuộc vật bên ngoài. Tướng chẳng phải là thân Phật, há Như Lai có ra vào?
Đoạn này nói do nước trong cho nên hình tượng hiện. Ví dụ như có một hồ nước thật trong, mọi vật có hình tướng như núi rừng, cây cối, mặt trăng v.v... đều hiện bóng dưới hồ. Như vậy trong hồ thật có những thứ đó hay không? Chỉ do hồ nước trong nên các thứ đó mới hiện. Cũng vậy nếu hồ tâm của chúng ta trong lặng thì tất cả hình tượng đều hiện rõ ràng. Hình tượng không phải là cái sẵn có mà nó là cái bóng hư ảo giả tạm, giống như hoa đốm trong hư không, nó là cái ở bên ngoài, hồ tâm mới thật là ta. Nếu hồ tâm chúng ta không trong lặng thì bao nhiêu nghiệp chướng lôi dẫn chúng ta lăn lộn trong sanh tử. Nếu hồ tâm trong lặng thì mọi hình tượng hiện trong đó chỉ là tướng huyễn hóa không thật, không làm xao động cái hồ. Tất cả tướng không phải là Pháp thân Phật, mà Pháp thân Phật là Như Lai thì không có ra vào, vì Như Lai không hình tướng. Như vậy chúng ta tu thành Phật rồi chúng ta có chết không? Nếu không chết thì hơn đức Phật rồi. Chúng ta cũng chết nhưng chết thân tứ đại hư dối, còn Pháp thân thanh tịnh bất sanh bất diệt thì đâu có mất. Vì Pháp thân không hình tướng nên không sanh diệt, Sắc thân có hình tướng có sanh ắt phải diệt. Vậy mục đích của người tu là hướng về Pháp thân hay hướng về Sắc thân? - Hầu hết chúng ta đều muốn sống với Pháp thân bất sanh bất diệt. Như vậy đối với Pháp thân thì Sắc thân quí chừng bao nhiêu phần trăm? Pháp thân bất sanh bất diệt nó không có tuổi, còn Sắc thân tứ đại sống chỉ mấy mươi tuổi thì tan hoại, nó tạm bợ nên không phải là cái thân quí. Chúng ta không nên vì nó mà tạo nghiệp, rồi theo nghiệp chịu khổ liên miên trong sanh tử luân hồi. Cho nên người hiểu đạo nhận ra Pháp thân, đây gọi là Kiến tánh, thì những người này đối với thân tứ đại không cho là quí trọng, không còn cưng yêu nó nữa, mà thấy nó là phương tiện để tu và làm lợi ích cho chúng sanh. Thấy như vậy là thấy đạo. Nếu thấy thân là quí trọng, muốn cho nó mặc đẹp ăn sang, thụ hưởng tất cả mọi thứ tiện nghi sung sướng hiện có trên thế gian này là người không hiểu đạo. Như vậy người hiểu đạo và không hiểu đạo khác nhau ở chỗ đó. Hiểu đạo thì quay về sống với Pháp thân, thấy Sắc thân chỉ là phương tiện tạm bợ để tu và làm lợi ích cho chúng sanh, không hiểu đạo thì cưng dưỡng Sắc thân mà quên Pháp thân.
Đó gọi là thân Phật vô vi, đầy khắp cả pháp giới, thanh tịnh tròn sáng, trong lặng thường trụ. Chân Phật thì vô tướng, vốn không có lý Niết-bàn. Quyền Phật thì giả hiện, huyễn có việc ứng hóa.
“Đó gọi là thân Phật vô vi.” Vô vi là không có tướng sanh diệt. Thân Phật vô vi là Pháp thân Phật không có tướng sanh diệt.
Đầy khắp cả pháp giới, thanh tịnh tròn sáng, trong lặng thường trụ.
Pháp thân Phật của mỗi người thanh tịnh tròn sáng trong lặng trùm cả pháp giới không sanh không diệt nên thường trụ.
Chân Phật thì vô tướng, vốn không có lý Niết-bàn.
Phật thật thì không có tướng, cho nên không có cái lý nhập Niết-bàn. Nhập Niết-bàn không phải là Phật thật. Nói như thế, có thể quí vị hiểu thân mình là tướng có thật, cân nặng năm sáu chục ký, đi lại, nói năng, làm việc đủ thứ, như vậy là thật. Còn nói Pháp thân không hình tướng thì đâu có cái gì? Không hình tướng thì như hư không, vậy tại sao coi thường thân thật có hình tướng đi đứng hoạt động mà quí trọng Pháp thân không hình tướng rỗng không? Chỗ này có rất nhiều người hiểu lầm. Nghe nói Pháp thân Phật vô vi vô tướng... tưởng nó rỗng không như hư không, nếu như hư không thì vô tri không có giá trị. Tôi xin hỏi quí vị nơi chúng ta mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, nếu đứng về mặt thấy, biết, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, cái biết đó có hình tướng không? Cái biết nghe không phải lỗ tai, cái biết sắc không phải con mắt v.v... Cái biết đó không hình tướng mà nó chỉ huy toàn thân này, vì nếu không có nó thì thân này không hoạt động được. Hiểu kỹ chỗ này rồi chúng ta mới thấy rằng Pháp thân không hình tướng không phải là rỗng không vô nghĩa, mà nó có diệu dụng vô cùng. Hiểu rồi chúng ta mới thấy giá trị chân thật của sự tu hành là hướng đến Pháp thân bất sanh bất diệt. Chúng tôi tạm mượn những hình tướng thế gian để quí vị thấy giá trị mạnh yếu của sự vật, để sáng tỏ giá trị thật của Sắc thân và Pháp thân. Chúng ta thường thấy đất, đá, sỏi... những thứ đó thì cứng, còn nước thì mềm nhưng nước xoi mòn được đất, đá, sỏi... Như vậy, nước tuy mềm nhưng nó mạnh hơn đất đá. Nước có tướng chúng ta sờ mó và vốc nước thành bụm được, mà nó xoi mòn được đất đá cứng hơn nó. Còn gió thì sao? Gió không có tướng mạo, nhưng gió thổi thì nước dâng lên, đất rung rinh bốc bụi. Như vậy thì gió mạnh hơn nước. Chúng ta xét kỹ những sự vật có hình tướng thô chừng nào thì yếu chừng nấy, những cái tế lại mạnh hơn. Như hiện giờ có những loại bom nổ một tiếng làm rung rinh cả trời đất, nó do những hạt nguyên tử rất nhỏ hợp thành. Nếu chúng ta đem đất đá dồn lại bằng quả bom nguyên tử thì tiếng nổ không bằng và gây tác hại cũng không bằng quả bom nguyên tử. Như vậy mới thấy những vật vi tế chừng nào nó lại có năng lực mạnh chừng nấy. Cũng vậy, tâm chúng ta vô vi không hình tướng, nhưng nó lại là cái chân thật điều khiển cả con người chúng ta, thế mà chúng ta lại quên, chỉ lo chạy theo những hình tướng giả dối cho là thật và khi nó bại hoại thì đau khổ. Thử hỏi mọi người chúng ta buồn khổ khi thân này sắp tan hoại, hay buồn khổ khi chúng ta quên thân quay về sống với Tâm thể chân thật? Có lúc nào chúng ta tự than trách: sao mấy hôm rồi tôi cứ để tâm chạy đông chạy tây, hay chỉ than: thân này đau đủ thứ chẳng biết có qua khỏi không? Cái Tâm chân thật là quí mà bị bỏ quên để chạy theo những thứ giả dối bên ngoài, lý đáng phải buồn nhiều lắm! Cái thân hư dối tạm bợ mất đi lý đáng phải vui mừng. Giống như người giàu, có hột xoàn, có vàng bị mất cắp thì buồn, ngược lại có vài ba cục sỏi, cục đất bị mất thì đâu có buồn tiếc. Nói như thế để thấy chúng ta mê muội chỉ biết quí cái thân hư giả tạm bợ, mà xem thường cái Tâm chân thật quí báu của mình, do đó mà bị trầm luân sanh tử. Vì vậy ngài Chân Nguyên nhắc chúng ta không nên lo lắng sự tan hoại của Sắc thân, mà quên mất Pháp thân chân thật sẵn có nơi mình. Ngài cố giải thích cho chúng ta nhận ra rằng Pháp thân chân thật vốn thường trụ rỗng lặng, không dấu vết, mà diệu dụng vô cùng. Chúng ta không nên lo lắng cho cái thân này quá lắm, mà hãy khéo trở về sống với Pháp thân chân thật của mình. Muốn thế, hồ tâm chúng ta phải lóng lặng hết những bợn nhơ tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến... chúng ta mới sống được với Pháp thân chân thật của mình. Vậy, chúng ta có chịu gạn lọc những bợn nhơ đó bỏ đi, hay để dành rồi chịu nhơ chịu khổ suốt kiếp? Chúng ta phải dùng trí tuệ quán xét coi cái nào là bợn nhơ của tâm thì loại bỏ, để hồ tâm chúng ta được trong sạch, hồ tâm trong sạch thì Pháp thân hiện tiền. Như vậy chúng ta có can đảm tự hứa với lòng là học Phật pháp trong vòng một năm sẽ lọc bỏ hết những bợn nhơ tham sân si... không? - Dạ không dám hứa. Tại sao biết những thứ đó là dở là tai hại mà không dám hứa bỏ? Đó là một điều khó khăn mà người tu Phật thường vấp phải. Chúng ta học Phật pháp thật nhiều mà lâu lâu tập khí phàm phu cũng hiện ra là tại sao? Tại hiểu mà không hành, hoặc hành mà không chuyên. Cho nên trong nhà Thiền có câu “hạnh giải tương ưng danh vi viết Tổ” nghĩa là hiểu và hành giống nhau thì gọi là Tổ. Còn chúng ta hiểu và hành không giống nhau nên gọi là phàm phu. Nên nhớ tu không phải là chuyện huyền hoặc trên trời trên mây, mà là chuyện thực tế nơi mình, chỉ chịu khó lọc bỏ bợn nhơ nơi tâm thì Pháp thân hiện tiền, cũng như hồ nước trong thì bóng trăng hiện. Tất cả kiểm lại xem trong tâm chúng ta có những niệm tham sân si... không? Chúng ta có quyền đuổi nó ra hay không? Có đủ thẩm quyền đuổi nó ra tại sao không đuổi? Điều đó thật là khó hiểu! Chúng ta biết mình có những điều dở, mình bỏ những điều dở đó thì ai cũng khen, thế mà không chịu bỏ, thật là mâu thuẫn, thật là lạ lùng! Chúng ta thường có cái bệnh nói một đàng làm một nẻo, lạy Phật thì xin cho con đời này hết phiền não, nhưng biết tham sân si là phiền não, là độc hại mà không chịu bỏ! Chủ yếu của việc tu hành là phải sáng suốt gan dạ và dứt khoát, nếu không thì tu cả đời vẫn y nguyên chẳng tiến bộ gì cả.
Nghĩa Niết-bàn tức là Pháp tánh của chư Phật, chẳng sanh chẳng diệt, nên nói Niết-bàn không đi không đến, gọi là Pháp thân Như Lai thường trụ, trong suốt rỗng lặng, không dấu vết, không tạo tác, không uống ăn, không tóc da.
Ngài Chân Nguyên nói trắng ra hết, không giấu giếm gì cả. Nói Niết-bàn là Pháp tánh của chư Phật, Niết-bàn không đến đi gọi là Pháp thân Như Lai thường trụ không dấu vết, không tạo tác, không ăn uống, không tóc da v.v... Nghe nói không ăn uống, không tóc da, có người sẽ nghĩ rằng tu chứng được Pháp thân chắc buồn lắm, chắc hết ăn hết mặc. Vì Sắc thân có hình tướng thì ăn ngon mặc đẹp, còn Pháp thân không hình tướng, không tóc da, không miệng lưỡi lấy gì ăn mặc? Vậy theo quan niệm thế gian chứng được Pháp thân thì buồn lắm. Nhưng chúng ta phải xét lại, tất cả những thứ chúng ta đang thụ hưởng là thật hay tạm bợ? Như ăn ngon, lúc mới ăn thì có cảm giác thơm ngon, nhưng khi trả nó ra thì thúi rùm ai cũng muốn lánh xa, như vậy có ngon thật, có giá trị thật không? Thân này cũng thế, bây giờ còn trẻ thì tóc xanh da mướt, đến khi già nua thì tóc bạc da nhăn, đâu còn đẹp đẽ gì! Như vậy, cái thân có tóc có da hiện giờ của chúng ta hưởng thụ đủ mọi thứ sung sướng là tạm bợ không thật, nếu chúng ta sống được với Pháp thân mà ở đây ngài Chân Nguyên nói không ăn uống, không tóc da, nhưng trùm khắp và ứng hiện diệu dụng không lường thì quí giá vô cùng mà chúng ta lại quên.
Thân Như Lai tức là Pháp thân, rỗng lặng, linh thông, chân không tự tại, chẳng phải từ máu thịt, xương tủy làm thành. Nên biết, Phật tánh tròn đồng thái hư, không thiếu không dư, chân không diệu hữu, không sanh không diệt, không đi không đến, chẳng phải quá khứ, hiện tại, vị lai, ba đời đều bình đẳng, một thể rỗng rang, suốt tột xưa nay, vẫn hằng như vậy. Vì thế gọi đó là thường trụ chẳng đổi.
Thân Như Lai là thể thanh tịnh không tướng mạo, nên không phải do máu thịt xương tủy làm thành, không do vật chất làm thành nên rỗng lặng linh thông, chân không tự tại. Ngài nói thế, mới nghe qua chúng ta thấy quá lạ lùng, nhưng lại là sự thật. Tôi dẫn chuyện thực tế cho dễ hiểu, khi tâm chúng ta dấy niệm lăng xăng thì lúc đó cảm thấy căng đầu khó chịu, vậy lúc đó khổ hay vui? Còn những khi tâm thanh tịnh trong sáng, không có một niệm dấy động thì thảnh thơi nhẹ nhàng, lúc đó vui hay khổ? - Khi tâm thanh tịnh thì rỗng rang nhẹ nhàng, khi tâm rối rắm thì căng đầu khó chịu, đó là hai hiện tượng trái ngược nhau của Pháp thân và Hóa thân. Pháp thân thì do tâm thanh tịnh, thể nhập với cái thể trong sáng, cho nên thảnh thơi an lạc. Còn Hóa thân thì do nghiệp tạo thành, mà niệm lăng xăng là gốc tạo nghiệp của Hóa thân hay thân sanh diệt. Cho nên nhìn nội tâm mình thì biết rõ lúc nào khổ lúc nào an lạc, rất thực tế chớ không phải chuyện tưởng tượng xa xôi. Vậy thì niệm khởi lăng xăng là cái nhân tạo nghiệp để thọ thân đi trong sanh tử khổ đau. Tất cả niệm lăng xăng lóng lặng, chỉ còn cái biết thanh tịnh trong sáng hiện tiền, đó là cái nhân thể hiện Niết-bàn an lạc. Chúng ta nhìn cái nhân thì biết ngay cái quả, hay nhìn cái quả biết ngay cái nhân. Cho nên nhìn gương mặt người nào vui tươi thoải mái thì chúng ta biết đó là cái quả của cái nhân thanh tịnh an lạc ở nội tâm. Vì vậy nên nói khi chứng được Pháp thân thì được an lạc tự tại không còn đau khổ nữa.
Đến đây Ngài nói Thể chân thật đó là chân không mà diệu hữu, chân không là chân thật rỗng lặng, diệu hữu là có những diệu dụng nhiệm mầu, hay nói khác đi cái thể rỗng lặng mà tùy duyên ứng hiện ra tất cả, thể rỗng lặng thì không có những niệm sanh diệt gọi là chân không, diệu dụng nhiệm mầu ứng hiện tất cả gọi là diệu hữu. Cái thể đó không kẹt trong vòng đối đãi, ba đời bình đẳng, suốt tột xưa nay, hằng như vậy, nên nói là thường trụ chẳng đổi, Người đạt đến chỗ này mới thật sự giải thoát.
Chân thân của Như Lai vốn không sắc tướng, tùy thuận chúng sanh mà thị hiện sắc tướng. Pháp thân Như Lai vốn không có Niết-bàn, tùy thuận chúng sanh mà thị hiện Niết-bàn. Việc ứng duyên đã xong thì bỏ thân hoa đốm trong không, như con ve lột xác, như con rắn lột da, quay về căn mệnh, trở lại cội nguồn, lặng lẽ không tiếng tăm, mé chân thật trong trẻo tròn đầy, rành rành soi khắp, đối ngay trước mắt, ẩn hiện cùng bày, sắc không chẳng hai.
Ngài nói chân thân Phật vốn không có sắc tướng, mà Phật thị hiện sắc tướng để làm lợi ích cho chúng sanh, Pháp thân Phật thì không có Niết-bàn mà Phật thị hiện tám mươi tuổi nhập Niết-bàn. Đoạn này ngài Chân Nguyên đưa ra hai hình ảnh hơi khó hiểu. Nói rằng: Việc ứng duyên đã xong thì bỏ thân hoa đốm trong hư không, như con ve lột xác, như con rắn lột da. Nghĩa là việc ứng duyên của đức Phật đã xong, Ngài xả bỏ Ứng Hóa thân nhập Niết-bàn, tức là trở về với cái Thể chân thật. Giống như các lượn sóng lặng xuống trở thành một với mặt biển thênh thang, ở đây Ngài ví dụ như con ve lột xác, như con rắn lột da nghe hơi khó hiểu. Vì con ve lột xác thì nó đổi qua hình tướng khác, con rắn lột da này rồi có da kia, vẫn còn mang sắc tướng tạm bợ, chớ không trở về Thể chân thật. Chỗ này có thể nói Phật bỏ Ứng thân như bỏ những lượn sóng trên mặt biển để trở về mặt biển thênh thang yên lặng, sóng lặng thì mặt biển yên, mặt biển yên thì không hai, mà sóng nổi dậy thì nhiều. Sóng dụ cho Ứng Hóa thân, mặt biển dụ cho Pháp thân, nếu nói như con ve con rắn thì hơi kẹt. Bỏ Ứng thân thì trở về căn mệnh tức là cội nguồn của sự sống, tức là nguồn gốc chân thật của chính mình. Tới chỗ này thì ẩn hiện không hai, sắc không không hai, vượt tất cả sự đối đãi.
Do vì quần sanh ở mười phương thế giới, trên trời dưới đất, hình loại đều khác, ngôn ngữ chẳng đồng mà Như Lai đại bi dùng thần lực hóa thân, tùy loại thị hiện, tùy hình tướng, tùy ngôn ngữ, tùy âm thanh của chúng, mở rộng phương tiện để thuyết pháp giáo hóa, khiến cho họ sáng tỏ Bản tánh, mỗi loài đều được giải thoát.
Đoạn này nói rằng sở dĩ đức Phật thị hiện ra đời, đi tu thành Phật, thuyết pháp độ sanh là vì lòng đại bi Ngài hóa hiện, tùy loài chúng sanh mà độ, chủ yếu để họ nhận ra Bản tâm Bản tánh của mình. Ý này trong kinh Pháp Hoa cũng có nói: Chư Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên là khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Đó là mục đích chung của tất cả chư Phật.
Thật là thân Như Lai thì trong suốt rỗng lặng. Nên nói, chẳng thấy có không tức thấy chân thân Phật. Đối với chân thân Phật thì trọn chẳng thể được. Chỉ cái tin tức ấy, ba đời chư Phật nói chẳng kịp, nhiều đời Tổ sư truyền chẳng đến. Đã nói chẳng kịp, lại truyền chẳng đến, thì Thích-ca, Di-lặc cũng là tên suông. Thích-ca, Di-lặc đã là tên suông, gọi cái gì là chủ? Gọi cái gì là khách? Gọi cái gì là tông? Gọi cái gì là chỉ? Gọi cái gì là sanh tử? Gọi cái gì là Niết-bàn? Gọi cái gì là xưa? Gọi cái gì là nay? Đã không sanh lại không diệt, trước không xưa, sau không nay, sạch trọi trơn, bày trơ trơ, trong trẻo rỗng lặng, tròn đồng với thái hư, thân vốn là Phật, vẫn hằng như vậy.
Thân Như Lai thì trong suốt rỗng lặng, nên nói chẳng thấy có không thì chân thân Phật hiện tiền. Chúng ta tu nếu không khởi niệm chấp có chấp không, chấp phải chấp quấy, chấp hơn chấp thua thì ông Phật thật nơi mình hiện ra. Nếu chúng ta nhìn người khởi niệm phân biệt hơn thua, phải quấy, có không thì Phật thật nơi mình ẩn mất, chừng nào lặng hết những niệm phân biệt đó thì Phật hiện. Tu Thiền là gì? Là lặng tâm phân biệt đối đãi để Phật chân thật nơi mình hiện. Đó là gốc của sự tu. Đoạn này nói nghe hơi khó hiểu. Nói rằng:
Nên nói, chẳng thấy có không tức thấy chân thân Phật.
Nói như vậy thì cái nhà chúng ta thấy có, khoảng hư không trống chúng ta thấy không. Bây giờ chúng ta không muốn thấy có thấy không nhắm mắt lại là thấy chân thân Phật phải không? - Thấy tối mịt chớ không thấy chân thân Phật đâu! Đây nói chẳng thấy có không là chẳng chấp có chẳng chấp không, chấp cái này là thật có chấp cái kia là thật không; chấp có chấp không là đại diện cho tất cả cái chấp hai bên. Khi xưa Huệ Minh nói với Lục Tổ là ông đến để cầu pháp chớ không phải cầu y bát. Lục Tổ hỏi: “Không nghĩ thiện không nghĩ ác, cái gì là Bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?” Ngay đó Huệ Minh ngộ. Không nghĩ thiện không nghĩ ác là không khởi niệm thấy có thấy không chớ gì? Ngay đó Bản lai diện mục hay chân thân Phật của Thượng tọa Minh hiện tiền. Dễ như trở bàn tay! Song, nếu tìm kiếm thì khó trăm phần, trèo non lội biển tìm cũng không ra. Dễ thì dễ như trở bàn tay, chỉ đừng mắc kẹt hai bên có không, thiện ác thì chân thân Phật hiện sờ sờ. Vậy chúng ta có chịu buông cái chấp có chấp không không? Vì không chịu buông nên than tu khó quá! Chuyện này là chuyện trong khả năng của mình, mình làm được. Thử hỏi chấp có chấp không nghĩ thiện nghĩ ác là ai chấp ai nghĩ? - Mình chấp mình nghĩ. Bây giờ mình có quyền dừng, không chấp không nghĩ nữa, tại sao không chịu làm lại than khó? Xét kỹ coi Phật dạy làm việc này có vượt ngoài sức mình không? Cái gì ngoài sức mình, mình vói không tới mới khó, việc làm trong khả năng trong quyền hạn của mình thì đâu có khó. Thế nên nói tu thành Phật dễ như trở bàn tay. Phật dạy làm như thế là thành Phật mà không chịu làm, vậy mà đòi thành Phật!
Tất cả những thú vui của thiên hạ đều nằm trong đối đãi hơn thua được mất, nó rất hấp dẫn làm cho con người thích thú say mê. Như người thích bóng đá là theo dõi đội nào ăn đội nào thua, say mê đến quên ăn bỏ ngủ. Nếu không thích hơn thua là ăn ngủ bình thường, vì đó chỉ là trò chơi, ăn hay thua rồi cũng vậy thôi đâu có gì quan trọng. Tại đặt hơn thua là quan trọng nên mới khổ, người thua đã khổ, mà người hơn cũng khổ, còn người theo dõi hơn thua cũng khổ lây. Ở đời có lắm người tự trói mình vào những chuyện hơn thua vô lý. Như đi đường gặp hai người đánh lộn, đứng lại xem coi ai hơn ai thua, chắc chắn là một người hơn một người thua, người thua đã khổ, người hơn có sướng gì? Đánh lộn thì kẻ u đầu người sứt trán, có ai tránh khỏi họa khổ. Thế mà hơn thua làm cho người trong cuộc và người ngoài cuộc đều thích thú. Phật dạy chúng ta xả bỏ hơn thua thì được an ổn thảnh thơi. Như vậy chỉ cần bỏ hai niệm hơn thua đối đãi thì chân thân Phật hiện tiền. Thế mà chúng ta không chịu bỏ, không dính bên này cũng kẹt bên kia, nên làm phàm phu mãi, lỗi đó tại ai? Tại mình biết mà không chịu bỏ. Việc mình làm được mà không chịu làm là do mình. Do đó tôi bắt mỗi đêm phải sám hối cho hết lỗi.
Ở đây ngài Chân Nguyên nói Phật Thích-ca, Phật Di-lặc chỉ là giả danh của thân ứng hóa, còn Pháp thân thì tự nó không có tên. Pháp thân chư Phật với Pháp thân của chúng sanh thì đồng một thể trong sáng hằng giác tri, chỉ khác là chúng sanh mê thì quên, giác thì nhớ là Phật. Còn tên Phật Thích-ca hay Phật Di-lặc là tên khác của cái thể. Cái thể không khác thì ai chủ, ai khách, cái gì là sanh tử cái gì là Niết-bàn? Nó không bị thời gian chi phối thì đâu có trước sau xưa nay.
Thân Phật như vậy, thân ta cũng như vậy, ngay khi độ chúng sanh mà dứt trừ tưởng độ, xoay lại tâm vô vi hướng đến đường Niết-bàn, bốn đại vốn không, năm uẩn chẳng phải có, một tánh tròn sáng, còn mãi với trời đất, Bản tánh trong lặng, ngang bằng với Phật, rốt ráo viên dung, đồng vào một thể.
Phật có cái Thể chân thật, chúng ta cũng có cái Thể chân thật, Phật thành Phật là Ngài ngộ được cái Thể chân thật nơi Ngài, chúng ta thì chưa ngộ. Nếu chúng ta ngộ được Thể chân thật nơi chúng ta thì sẽ ngang bằng với Phật, không khác không hơn không kém. Phật là bậc Vô thượng giác; Vô thượng là không trên, nhưng ai ngộ tới đó thì cũng bằng Ngài, chớ không phải Ngài là tối thượng. Vì vậy mà ở đây nói rất rõ, ai cũng có Thể tánh rốt ráo ngang bằng với Phật, không ai kém, chỉ có biết trở về và không trở về mà thôi.
Pháp tánh Như Lai không một vật,
Ứng độ quần sanh việc cả trăm.
Nếu ngộ chân không, luôn đối mặt,
Như Lai thường trụ ở Linh Sơn.
Âm:
Pháp tánh Như Lai vô nhất vật,
Ứng độ quần sanh hữu bách ban.
Nhược ngộ chân không hằng địch diện,
Như lai thường trụ tại Linh Sơn.
Pháp tánh Như Lai không một vật, ứng độ quần sanh việc cả trăm.
Pháp tánh Như lai không tướng mạo nên nói không có một vật. Tuy không một vật mà khi ứng hiện để độ sanh thì hiện cả trăm thứ. Không một vật là chân không, ứng hiện cả trăm ngàn thứ là diệu hữu, chớ chẳng phải không một vật là không ngơ.
Nếu ngộ chân không, luôn đối mặt, Như Lai thường trụ ở Linh Sơn.
Nếu người nào ngộ được xưa nay không một vật (chân không) thì Pháp tánh luôn luôn hiện tiền, hay nói cách khác là Như Lai thường ở tại hội Linh Sơn không bao giờ nhập diệt, không bao giờ thiếu vắng.
Khiến người người xuất gia theo Phật, lý nên chọn bạn tìm thầy, nếu không thầy bạn, lấy gì tiếp dẫn? Xem kinh mà mê mờ lý thì luống tự nhọc nhằn, đếm chữ tìm hàng thì chẳng rõ tông chỉ. Chẳng rõ tông chỉ thì chẳng cùng tột văn lý, chẳng cùng tột văn lý thì đâu thể giải thoát!
Ngài nói người xuất gia học đạo nên chọn bạn tìm thầy, nếu tu mà không có thầy sáng bạn lành thì ai hướng dẫn nhắc nhở mình tu, đó là điều rất quan trọng. Chúng ta đi tu là bỏ hết những cái vui thế gian để tìm đạo tu hành hay nói cách khác là đi tìm chân lý. Muốn tìm chân lý thì phải có thầy sáng bạn lành, nghĩa là vị thầy phải sáng đạo mới hướng dẫn dạy bảo chúng ta tu, ở đây ngài Chân Nguyên gọi là tiếp dẫn. Như vậy người tu mà không thầy hướng dẫn, tự xem kinh thì không hiểu lý kinh, cứ mò mẫm trên văn tự chữ nghĩa thì không bao giờ rõ tông chỉ thấu suốt lý đạo, không đạt lý đạo thì làm sao giải thoát? Đây là điều thiết yếu vô cùng, cho nên chúng ta phải chọn bậc thầy sáng để hướng dẫn mình tu đúng chánh pháp, phải chọn bạn lành để trợ duyên tốt cho đường tu mình được thăng tiến. Khi tu chúng ta đọc kinh để ứng dụng lời Phật dạy tu hành, nếu không hiểu lại không có thầy giản trạch cho thông, thì làm sao thấu suốt được nghĩa lý sâu xa của Phật pháp? Như tôi ngày xưa đọc kinh Kim Cang, đến đoạn ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật làm sao an trụ tâm, làm sao hàng phục tâm, Phật dạy muốn hàng phục tâm thì phải độ tất cả chúng sanh từ loài hữu sắc vô sắc, hữu tưởng vô tưởng, cho đến phi hữu tưởng phi vô tưởng vào Vô dư y Niết-bàn, tôi lắc đầu tự than Phật bảo độ chừng năm bảy chục người thì khả dĩ làm được, còn bảo độ hết tất cả các loài trên vào Vô dư y Niết-bàn, thì không biết chừng nào mình độ được, chừng nào mới hàng phục được tâm. Vì nếu như loài hữu sắc thì chẳng phải hạn cuộc nơi con người mà cả con bò, con chó, con heo, con trâu v.v... như vậy chừng nào độ hết? Nếu không độ hết thì chưa hàng phục tâm, mà không hàng phục tâm thì coi như chưa tu. Vậy làm sao tu theo lời Phật dạy trong kinh? Như thế kinh Đại thừa chỉ để trên trang thờ, không thể ứng dụng được. Khi chuyển qua tu thiền, tôi mới thông đoạn kinh này. Tâm chúng ta có hàng trăm ý nghĩ tốt xấu lẫn lộn, thế nên mỗi một ý nghĩ dấy lên là một chúng sanh, nghĩ về người hay vật đó là chúng sanh hữu sắc, nghĩ về những thứ không hình tướng như điện hoặc hư không đó là chúng sanh vô sắc. Nghĩ đến con người có tưởng là chúng sanh có tưởng, nghĩ buông hết vọng tưởng, rồi buông hết những tâm tưởng đó là chúng sanh vô tưởng. Những ý nghĩ của chúng ta dấy lên không ngoài hữu sắc vô sắc, hữu tưởng vô tưởng v.v... Phật dạy chúng ta muốn hàng phục tâm là độ tất cả chúng sanh vào Vô dư y Niết-bàn, mà không thấy có chúng sanh được diệt độ. Nghĩa là tâm chúng ta dấy lên những ý niệm ta biết nó là vọng niệm, thì nó lặng mất không còn tăm dạng đó là đưa chúng sanh vào Vô dư y Niết-bàn và hàng phục được tâm. Như vậy, Phật dạy quá rõ ràng không có gì lạ hết, chỉ cần chúng ta hiểu được lý kinh thì biết ứng dụng tu. Nếu không hiểu lý kinh, chỉ hiểu theo chữ nghĩa thì làm sao tu? Không tu được thì làm sao giác ngộ giải thoát? Sau đây Ngài dẫn thêm mấy bài kệ để cho chúng ta rõ thêm ý này:
Học đạo không tông chỉ,
Thấy nhiều chẳng bằng mù.
Tìm sáng chẳng biết báu,
Luống nhọc tròng mắt mình.
Âm:
Học đạo vô tông chỉ,
Đa kiến bất như manh.
Tầm quang bất thức bảo,
Đồ lao tự nhãn tình.
Học đạo không tông chỉ, thấy nhiều chẳng bằng mù.
Nghĩa là người học đạo nếu không nắm được tông chỉ, tức là không nắm được đường lối cội nguồn của đạo, thì dù cho có đọc nhiều sách, nhiều kinh cũng không bằng người mù, tức là người ít học mà họ nắm được tông chỉ của kinh.
Tìm sáng chẳng biết báu, luống nhọc tròng mắt mình.
Tìm ánh sáng của ngọc mà không biết cái quí báu của nó, luống nhọc nhằn tròng mắt mà thôi. Ví dụ chúng ta nghe nói ngọc có ánh sáng, chúng ta thấy chỗ nào có ánh sáng là tìm, nhưng nhìn vào ánh đèn sáng chúng ta tìm được ngọc không? Luống nhọc mắt mà không thấy ngọc. Như vậy muốn tìm ngọc phải biết hình dáng chỗ nơi của ngọc, thì mới tìm được ngọc chớ không phải chỉ biết có ánh sáng là tìm được. Cũng thế người học đạo phải nắm được tông chỉ của đạo thì tu mới có kết quả, nếu không thì luống phí công phu mà không có kết quả gì.
Cửa không chẳng chịu ra,
Quá ngu chui cửa sổ.
Giấy cũ trăm năm dùi,
Bao giờ được ra khỏi.
Âm:
Không môn bất khẳng xuất,
Đầu song dã thái si.
Bách niên tán cổ chỉ,
Hà nhật xuất đầu thì?
Bài kệ này nguyên là của Thiền sư Thần Tán. Ngài là đệ tử cầu pháp của Tổ Bá Trượng Hoài Hải. Nhờ Tổ Bá Trượng khai thị Ngài ngộ lý Thiền. Sau Bổn sư của Ngài già không ai săn sóc, Ngài trở về chùa cũ hầu hạ thầy. Một hôm Bổn sư tắm sai Ngài kỳ đất, Ngài bèn vỗ vào lưng của thầy nói:
- Điện Phật đẹp mà Phật chẳng Thánh.
Vị Bổn sư xoay đầu ngó lại. Ngài nói tiếp:
- Phật tuy chẳng Thánh vẫn hay phóng quang.
Lại một hôm, Bổn sư ngồi trong cửa sổ xem kinh, vì tuổi già sợ cảm nên lấy giấy dán kín cửa sổ cho khỏi gió, có con ong chui đầu vào tấm giấy tìm lối ra, Ngài trông thấy thế liền nói:
- Thế giới thênh thang mà chẳng chịu ra, vùi đầu vào giấy cũ biết năm nào ra được?
Ngài liền nói bài kệ:
Cửa không chẳng chịu ra, quá ngu chui cửa sổ.
Ý muốn nói Thể chân không rỗng rang mà không chịu hội nhập, cứ vùi đầu vào cửa sổ tức vùi đầu vào giấy để xem kinh.
Giấy cũ trăm năm dùi, ngày nào được ra khỏi.
Vị thầy đang xem kinh, mà kinh thì viết trên giấy, Ngài lợi dụng con ong chui vào giấy nói bài kệ trên. Vị Bổn sư nghe qua để kinh xuống hỏi:
- Ngươi đi hành cước gặp người nào, ta trước sau nghe ngươi nói lời dị thường?
Ngài thưa:
- Con nhờ ơn Hòa thượng Bá Trượng chỉ dạy được chỗ thôi dứt, nay muốn đáp lại đức từ bi (tức là muốn đáp ơn thầy).
Bổn sư bèn nhóm chúng, thỉnh Ngài nói pháp. Ngài lên tòa nêu cao tông phong của Bá Trượng:
- Linh quang riêng chiếu vượt khỏi căn trần, bày hiện chân thường chẳng câu nệ văn tự. Tâm tánh không nhiễm vốn tự viên thành, chỉ lìa vọng duyên tức như như Phật.
Bổn sư nghe câu này liền cảm ngộ. Như vậy là ngài Thần Tán đã đền ơn vị Bổn sư của mình.
Qua bài kệ và câu chuyện ngài Thần Tán, chúng ta thấy rằng nếu không nhận ra được yếu chỉ của đạo, dù có đọc hết kinh sách vẫn không đi tới đâu, ví như con ong chui đầu vào giấy mà không bay qua được khỏi cửa sổ để ra ngoài với bầu trời thênh thang rộng lớn.
Người nay học đạo chẳng rõ chân,
Chỉ bởi từ lâu nhận thức thần.
Vô lượng kiếp rồi gốc sanh tử,
Kẻ si gọi đó bản lai nhân.
Âm:
Học đạo chi nhân bất thức chân,
Chỉ vị tùng tiền nhận thức thần.
Vô lượng kiếp lai sanh tử chủng,
Si nhân hoán tác bản lai nhân.
Bài kệ này của Thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm.
Người nay học đạo chẳng rõ chân, chỉ bởi từ lâu nhận thức thần.
Nghĩa là người thời nay học đạo mà không thấu suốt được lẽ chân thật là do nhận lầm thần thức sanh diệt, cái đó người thế gian cho là linh hồn là bản ngã. Do nhận lầm như vậy nên:
Vô lượng kiếp rồi gốc sanh tử, kẻ si gọi đó bản lai nhân.
Do nhận lầm thức thần cho là Bản thể xưa nay của mình, nên phải chịu luân hồi sanh tử trong vô lượng kiếp.
Do đó người tu phải nhận ra cái chân thật của chính mình là cốt yếu.
Có pháp có tâm còn vọng thức,
Không cầu không được chứng Chân như.
Chân vọng hai đầu đều phá sạch,
Một luồng sáng lạnh rực thái hư.
Âm:
Hữu pháp hữu tâm tồn vọng thức,
Vô cầu vô đắc chứng Chân như.
Chân vọng lưỡng đầu câu đả phá,
Nhất đạo hàn quang thước thái hư.
Có pháp có tâm còn vọng thức, không cầu không được chứng Chân như.
Có pháp có tâm nghĩa là còn thấy hai bên, phân biệt đây là tâm kia là pháp là còn sống với vọng thức, không cầu không được nhưng chứng được Chân như, vì Thể thanh tịnh sẵn nơi mọi người, đâu phải từ bên ngoài đến mà cầu mà được. Không cầu không được, chỉ cần sống với Tâm thể thanh tịnh là chứng Chân như.
Chân vọng hai đầu đều phá sạch, một luồng sáng lạnh rực thái hư.
Buông cả chân và vọng thì chỉ còn một Thể thanh tịnh sáng suốt trùm khắp bầu trời. Nghĩa là khi mê niệm khởi là vọng tưởng, khi chúng ta tỉnh giác vọng tưởng lặng đó là Chân tâm. Nhưng nếu còn nói vọng nói chân thì cũng còn kẹt hai bên, kẹt hai bên thì không đạt đến chỗ chân thật. Cho nên người tu phải dứt sạch hai bên thì mới đến được chỗ tột cùng chân thật.
Cho nên kinh Bát-nhã nói: “Không trí cũng không đắc; do vì không chỗ được.” Nếu trí vô phân biệt thì làm hại cái thấy có thấy không. Trí vô phân biệt thì trọn chẳng thể được. Tại sao không thể dùng trí đoạn trí? Chẳng thể dùng kiếm lại chặt kiếm.
Hội rằng:
Kiếm tự hại kiếm, kiếm kiếm hại nhau, tức kiếm cũng chẳng thể được. Trí tự hại trí, trí trí hại nhau, tức trí cũng chẳng thể được. Mẹ con đều mất, cũng lại như thế.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.23/10/2017.

No comments:

Post a Comment