Sunday, June 23, 2024
Suffering Due to the Five Aggregates. The terrifying sufferings of birth, old age, sickness, death, sadness, lamentation, pain, sadness, and grief arise because of the five aggregates of clinging. As long as these five aggregates of clinging still exist, these terrible sufferings will remain. Therefore, the five aggregates of clinging are themselves suffering. In short, due to the physical body (rūpa), physical and mental sufferings based on physical form arise. Because of the knowing mind (nāma), physical and mental sufferings based on it arise. Therefore, Name and Form form the five aggregates of clinging, suffering. In other words, the unbearable pains of body and mind are internal sufferings called dukkha-dukkha (suffering-suffering) in the Pali Canon. These are sufferings that everyone is afraid of. Thus, feeling suffering (dukkha vedanā), or feeling clinging to the aggregate, is the true Truth of Suffering. Pleasurable feelings in the body and mind are only pleasant and pleasurable while they exist, but when they disappear, they are replaced by discomfort and dissatisfaction, which of course is suffering. This type of suffering called Vipariṇāma dukkha occurs due to change, transition from one pleasant state or condition to another, worse condition. For the Saints, pleasurable feelings are like a demon, making people fall in love with its beauty and turn into madness. For you, pleasant feelings are also fearful aggregates of clinging and constitute the true Truth of Suffering. At the same time, pleasant feelings are also impermanent and require constant effort to create conditions to maintain that state. This is of course troublesome and therefore for the wise it is real suffering. As for equanimity (upekkhā vedanā), and the remaining Aggregates — Perception, Actions, Consciousness, and Form are also always in a temporary state and constantly flowing, so for the Saints they are also real. scary. Although we have to rely on the impermanent Aggregates of Grasping to live and wait for death, it is as dangerous as living in a house that shows signs of collapse at any time. The transitory nature of the Aggregates requires constant effort to facilitate the maintenance of their status quo. Saṅkhāra Dukkha, the suffering caused by having to do endless conditioning work, is also terrifying. Therefore, for the Noble Ones, not only pleasant or unpleasant feelings but also the remaining aggregates of clinging are the Truth of Suffering. Since all the five aggregates of clinging are considered by the Noble Ones as truly terrible suffering, in concluding the definition of the Truth of Suffering, the World-Honored One said, “In short, the five aggregates of clinging, or in other words: Name and Form, which can cause attachments such as I, mine, or permanent, pleasure, and self are just Suffering”.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).GOLDEN ZEN BUDDHIST MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.23/6/2024.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.
KHỔ DO NĂM THỦ UẨN.
Những nỗi khổ đáng sợ của sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não phát sanh là do năm thủ uẩn. Bao lâu năm thủ uẩn này còn hiện hữu, những nỗi khổ đáng sợ ấy sẽ vẫn còn. Do đó, năm thủ uẩn tự thân chúng là khổ. Tóm lại, do có sắc thân (rūpa), những khổ thân và khổ tâm dựa trên sắc phát sanh. Do có tâm biết (nāma), những khổ thân và khổ tâm dựa trên đó, phát sanh. Bởi thế, Danh và Sắc tạo thành năm thủ uẩn là Khổ.
Nói cách khác, những nỗi đau đớn không thể chịu đựng được của thân và tâm là những nỗi khổ nội tại Kinh điển Pāli gọi là dukkha-dukkha (khổ-khổ). Đây là những thống khổ mà mọi người đều sợ chúng. Như vậy, thọ khổ (dukkha vedanā), hay thọ thủ uẩn là Khổ Đế đích thực.
Những cảm thọ lạc trong thân và tâm chỉ khả ý, khả lạc khi chúng tồn tại, nhưng khi chúng biến diệt, chúng được thay thế bằng sự khó chịu, sự không thoả mãn mà điều này dĩ nhiên là Khổ. Loại khổ được gọi là Hoại Khổ (vipariṇāma dukkha) này xảy ra do sự thay đổi, chuyển đổi từ một trạng thái hay điều kiện dễ chịu sang một điều kiện khác tồi tệ hơn. Đối với các bậc Thánh, những cảm thọ lạc giống như yêu nữ, làm cho người ta say mê với nhan sắc của nó và biến thành điên loạn. Đối với các vị, những cảm thọ lạc cũng là những thủ uẩn đáng sợ và tạo thành Khổ Đế thực sự. Đồng thời, những cảm thọ lạc cũng vô thường và đòi hỏi phải nỗ lực tạo điều kiện liên tục để duy trì hiện trạng ấy. Điều này dĩ nhiên là phiền phức và do đó đối với bậc trí nó là cái khổ thực sự.
Đối với thọ xả (upekkhā vedanā), và các Thủ Uẩn còn lại — Tưởng, Hành, Thức, và Sắc cũng luôn luôn nằm trong trạng thái tạm bợ và trôi chảy không ngừng, do đó đối với các bậc Thánh chúng cũng thực sự đáng sợ. Mặc dù phải dựa vào các Thủ Uẩn vô thường để sống và chờ chết nhưng nó thật nguy hiểm giống như đang sống trong căn nhà có những dấu hiệu đổ sụp bất cứ lúc nào vậy.
Bản chất tạm bợ của các Thủ Uẩn đòi hỏi phải nỗ lực không ngừng để tạo điều kiện cho sự duy trì hiện trạng của chúng. Hành Khổ (Saṅkhāra Dukkha), cái khổ do phải làm công việc tạo điều kiện không ngừng, này cũng đáng sợ. Do đó, đối với các Bậc Thánh, không chỉ những thọ lạc hay thọ bất lạc mà các thủ uẩn còn lại cũng là Khổ Đế.
Vì tất cả năm thủ uẩn đều được các Bậc Thánh xem như cái khổ thực sự khủng khiếp, nên khi kết luận sự định nghĩa về Khổ Đế, Đức Thế Tôn đã nói, “Tóm lại, năm thủ uẩn, hay gọi cách khác: Danh và Sắc, vốn có thể gây ra những chấp thủ như Tôi, của tôi, hay thường, lạc, ngã chỉ là Khổ”.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ). THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.23/6/2024.
MISEXPLANATION OF ASCEPTIONS There is an erroneous interpretation of asceticism that some teachers give that contradicts the teachings of the Buddha. According to these teachers, the enthusiasm and tireless diligence required for meditation can also be considered asceticism. This concept is completely opposite to the exhortations of the Buddha, who always advised his disciples to be proactive and strive continuously to achieve concentration and wisdom, even if it means sacrificing their lives. “Even though there's only skin and bones left. Even if my flesh and blood dry up, I will still keep trying until I reach the Path and Fruition.” This must have been the decisive decision that led Buddha to pursue his goal to the end. Active, unabated efforts in meditation to achieve concentration and wisdom should not be misunderstood as a form of self-mortification. Meditation aside, even keeping the precepts which entails enduring some physical discomfort can no longer be considered ascetic practice. Young men and novice monks who vow to keep the eight or ten precepts suffer a pang of hunger when they do not eat in the afternoon. But this fasting is done to fulfill the precepts, it does not mean mortification. For some people, the precept of not killing is a sacrifice; they suffer certain disadvantages as a consequence of keeping this precept, but since it constitutes a wholesome karma of keeping the precepts, it should not be conceived of as a form of self-mortification or asceticism. In the Mahādhamma Samādāna Sutta, the Buddha explains that such acts of sacrifice in the present will certainly produce beneficial results in the future. The Buddha said: “In this life, there are people who avoid killing, (this action) causes them to experience suffering and sadness. Because they accept the right view (not killing), they suffer physical and mental suffering. These people, by voluntarily experiencing suffering to keep their precepts pure in the present, after their death will reach the higher realms of the gods. These ten good karma are called good practices. They are painful now but create beneficial results in the next life." Thus, any practice that increases Morality, Concentration and Wisdom is not a useless practice, it is not asceticism, but it is actually a beneficial practice and in accordance with the Middle Way, it must definitely be recommended. follow. It should also be clearly noted here that only those practices that do not develop morality, concentration, and wisdom but only lead to physical suffering constitute ascetic practices, self-mortification. MISUNDERSTANDING ABOUT CONTEMPORARY SEEING Some people hold the view that contemplation of pleasurable feelings constitutes indulgence in sensual pleasures (first extreme) while contemplation of painful feelings constitutes self-mortification or asceticism (second extreme). two). Therefore, they advocate that one should avoid both contemplations and concentrate only on equanimity. This is certainly an absurd misunderstanding, not supported by any scriptural authority. In the Mahā Satipatthāna Sutta, the Buddha clearly stated that feeling pleasure, feeling pain,and equanimity are both objects of contemplation. This statement is also repeated in many other suttas. Therefore it must be clearly established that any object classified as the Five Aggregates is a legitimate object for meditation. A lay Zen master is said to have taught, “While meditating, it is okay to use any posture if the practitioner begins to feel tired, achy, numb, or have hot and uncomfortable sensations. In the limbs, the practitioner must immediately change posture. If the practitioner persists in meditating despite these feelings of discomfort or fatigue, the practitioner is truly involved in ascetic practice.” This statement clearly concerns the well-being of the meditator, but it must be said that it is an unfounded and inexperienced statement. While practicing meditation or Vipassana Meditation, the factor of patience or moderation (khantī Saṃvara) always plays an important role. It must be said that it is a very important factor for the successful practice of meditation and insight. One-pointedness of mind can only be achieved by patiently enduring some physical discomfort and discomfort. The experience of serious meditators shows that constantly changing positions is not conducive to the development of concentration. Therefore, the feeling of physical discomfort must arise with patience. Practicing such abstinence is not asceticism, because the purpose is not simply to torment oneself, but to increase morality, concentration and wisdom, in accordance with the Buddha's wishes. The World-Honored One wishes everyone, if possible, to make a further unceasing effort to achieve the noble Path and Arahantship by a continuous sitting, uninterrupted by change. change posture. In the Mahā Gosinga Sutta (Great Sutta of the Horned Forest), the World-Honored One said: “The monk meditates after making a firm determination: “I will not abandon this cross-legged sitting position until my mind skillfully liberated from defilements, without attachment." Such a monk can brighten the Gosinga forest, and is considered a treasure for the forest dwellers.' Thus, the statement that contemplation of suffering is a form of self-torture condemns practitioners who practice according to the Buddha's teachings. That would also mean rejecting his teachings, and discouraging the efforts of yogis, who can only achieve concentration and wisdom through patiently enduring the pain of not changing their posture. bring. Note: (“Monks, in this teaching, a Bhikkhu, after observing wisely, patiently endures cold, heat, hunger, thirst, and the attacks of insects and reptiles. , of the wind and the heat of the sun, of accusations and slander. He endures the feelings of the body, the feelings of pain, sharpness, pain, pain, unpleasantness, and even fear. even can be life-threatening. The benefits of patiently enduring cold, heat, hunger, thirst, attacks from insects, reptiles, wind and solar heat, words accusation,defamation…this is the non-appearance of the defilements, afflictions, sufferings, and zeal that if not patiently endured will certainly appear.” It should be noted that in this "Sutra of All Asravelties" the World-Honored One advises us to endure severe pain even at the cost of sacrificing our lives. The commentary on the Sutta relates the story of Elder Lomasa Nāga, who persevered in meditation even when covered in snowflakes while he was meditating outdoors, on the night of the full moon in January. Only by contemplating the extreme cold of the Lokantariks region, he overcame the cold that surrounded him, without giving up his dignity. Such examples of patience while meditating are found in many stories mentioned in the Sutras. Therefore, relatively mild forms of pain such as numbness in the limbs, hot feeling when meditating, etc. must be endured patiently and should not change posture. If possible, maintain perseverance even at the cost of your life, for that will increase patience and moderation (khantī saṃvara), as well as concentration and wisdom. However, if the pain and unpleasant sensations reach an unbearable level, the practitioner can change his posture but must do so very slowly and gently so as not to disturb his mindfulness, concentration and concentration. wisdom.) In short, practices that do not involve the growth of Precepts, Concentration and Wisdom but only practice to experience pure suffering are definitely forms of self-mortification or asceticism. On the contrary, fervent efforts, even though they may feel painful and painful, if practiced for the development of Morality, Concentration, and Wisdom, will not be asceticism. That practice must clearly be considered the Middle Way or the Noble Eightfold Path, given by the Buddha. The World-Honored One himself, after avoiding these two extreme practices, that is, indulging in sensual pleasures, considered too indulgent, and self-mortification, considered too severe, attained Buddhahood and Enlightenment. thanks to following the Middle Way.If possible, maintain perseverance even at the cost of your life, for that will increase patience and moderation (khantī saṃvara), as well as concentration and wisdom. However, if the pain and unpleasant sensations reach an unbearable level, the practitioner can change his posture but must do so very slowly and gently so as not to disturb his mindfulness, concentration and concentration. wisdom.) In short, practices that do not involve the growth of Precepts, Concentration and Wisdom but only practice to experience pure suffering are definitely forms of self-mortification or asceticism. On the contrary, fervent efforts, even though they may feel painful and painful, if practiced for the development of Morality, Concentration, and Wisdom, will not be asceticism. That practice must clearly be considered the Middle Way or the Noble Eightfold Path, given by the Buddha. The World-Honored One himself, after avoiding these two extreme practices, that is, indulging in sensual pleasures, considered too indulgent, and self-mortification, considered too severe, attained Buddhahood and Enlightenment. thanks to following the Middle Way.If possible, maintain perseverance even at the cost of your life, for that will increase patience and moderation (khantī saṃvara), as well as concentration and wisdom. However, if the pain and unpleasant sensations reach an unbearable level, the practitioner can change his posture but must do so very slowly and gently so as not to disturb his mindfulness, concentration and concentration. wisdom.) In short, practices that do not involve the growth of Precepts, Concentration and Wisdom but only practice to experience pure suffering are definitely forms of self-mortification or asceticism. On the contrary, fervent efforts, even though they may feel painful and painful, if practiced for the development of Morality, Concentration, and Wisdom, will not be asceticism. That practice must clearly be considered the Middle Way or the Noble Eightfold Path, given by the Buddha. The World-Honored One himself, after avoiding these two extreme practices, that is, indulging in sensual pleasures, considered too indulgent, and self-mortification, considered too severe, attained Buddhahood and Enlightenment. thanks to following the Middle Way.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ). GOLDEN ZEN BUDDHIST MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.23/6/2024.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.
SỰ GIẢI THÍCH SAI LẦM VỀ KHỔ HẠNH
Có một sự giải thích sai lầm về những pháp khổ hạnh mà một số vị thầy đưa ra trái ngược với lời dạy của Đức Phật.
Theo các vị thầy này, thì nhiệt tâm, tinh cần không mệt mỏi đòi hỏi phải có cho việc hành thiền cũng được kể là khổ hạnh. Quan niệm này hoàn toàn đối nghịch với lời cổ vũ của Đức Phật, người luôn luôn khuyên hàng đệ tử phải tích cực, phấn đấu không ngừng để đạt đến định và tuệ, cho dù có phải hy sinh thân mạng.
“Dù chỉ còn da và xương. Dù máu thịt có khô cạn, ta vẫn sẽ không ngừng nỗ lực cho đến khi nào đạt được Đạo Quả.” Đây hẳn phải là sự quyết định dứt khoát đã dẫn dắt Đức Phật theo đuổi mục tiêu đến cùng.
Những nỗ lực tích cực, không suy giảm trong việc hành thiền nhằm thành tựu định và tuệ không nên hiểu lầmlà một hình thức tự hành xác. Để qua một bên chuyện hành thiền, ngay cả việc giữ giới vốn đòi hỏi phải chịu một sự không thoải mái về thân nào đó cũng không thể được xem là hành khổ hạnh nữa. Những thanh niên và sa-di trẻ nguyện giữ bát giới hay thập giới phải chịu một sự giằn vặt của cơn đói khi không ăn vào buổi chiều. Nhưng việc nhịn ăn này được thực hiện để thành tựu giới, chứ nó không có nghĩa là hành xác.
Đối với một số người, giới không sát sanh là một sự hy sinh đối với họ; họ phải chịu một vài bất lợi nào đó như hệ quả của việc giữ giới này, nhưng vì nó tạo thành một thiện nghiệp thuộc về giữ giới, nên không nên quan niệm nó như một hình thức tự hành xác hay khổ hạnh. Trong Mahādhamma Samādāna Sutta (Đại Kinh Pháp Hành), Đức Phật giải thích rằng những hành động hy sinh trong hiện tại như vậy chắc chắn sẽ tạo ra những quả lợi ích trong tương lai. Đức Phật nói: “Trong đời này, có người tránh sát sanh, (việc làm này) khiến cho bản thân họ phải cảm thọ khổ và ưu. Do chấp nhận chánh kiến (không sát sanh) nên họ phải chịu khổ thân và khổ tâm. Những người này, do tự nguyện cảm thọ khổ để giữ giới trong sạch trong hiện tại, sau khi mệnh chung sẽ đạt đến những cảnh giới cao hơn của các vị chư thiên. Mười thiện nghiệp này gọi là những pháp hành thiện, hiện tại khổ song tạo ra những quả lợi ích trong đời sau.”
Như vậy, bất cứ pháp hành nào làm tăng trưởng Giới, Định và Tuệ thì không phải là pháp hành vô ích, không phải là khổ hạnh, mà thực sự đó là pháp hành lợi ích và hợp với Trung Đạo, chắc chắn phải nên hành theo. Cũng nên ghi nhớ rõ ở đây là chỉ những pháp hành nào không phát triển giới, định, và tuệ mà chỉ dẫn đến khổ thân mới tạo thành pháp khổ hạnh, tự hành xác mình.
SỰ HIỂU SAI VỀ QUÁN THỌ
Có số người chấp quan điểm cho rằng quán thọ lạc tạo thành sự đam mê trong các dục lạc (cực đoan thứ nhất) trong khi quán thọ khổ tạo thành sự tự hành xác hay khổ hạnh (cực đoan thứ hai). Vì vậy, họ chủ trương rằng người ta nên tránh cả hai pháp quán trên và chỉ tập trung trên quán thọ xả. Đây chắc chắn là một sự hiểu lầm phi lý, không được hỗ trợ bởi một thẩm quyền kinh điển nào cả.
Trong Kinh Đại Niệm Xứ (Mahā Satipatthāna Sutta) Đức Phật đã tuyên bố rõ rằng thọ lạc, thọ khổ, và thọ xả đều là đối tượng cho sự quán. Lời tuyên bố này cũng được lập lại ở nhiều bài kinh khác. Vì vậy phải xác định rõ rằng bất kỳ đối tượng nào được xếp vào loại Năm Thủ Uẩn đều là đối tượng hợp pháp cho thiền quán.
Người ta kể là một vị thiền sư cư sĩ nọ dạy “Trong khi hành thiền, sử dụng bất kỳ oai nghi nào cũng được, nếu hành giả bắt đầu cảm thấy mệt, đau, tê, hay có những cảm giác nóng và khó chịu nơi chân tay, hành giả phải thay đổi oai nghi liền. Nếu hành giả cứ kiên quyết hành thiền bất chấp những cảm giác khó chịu hay mệt mỏi ấy, hành giả thực sự đã vướng vào pháp hành khổ hạnh.”
Lời tuyên bố này rõ ràng có quan tâm đến sự an lạc của người hành thiền, tuy nhiên phải nói rằng đó là một lời tuyên bố vô căn cứ và thiếu kinh nghiệm. Trong khi hành thiền định hay Thiền Minh Sát, yếu tố kiên nhẫn hay tiết chế (khantī Saṃvara)luôn đóng một vai trò quan trọng. Phải nói đó là một yếu tố rất quan trọng cho việc thực hành thành công thiền định và minh sát. Sự nhất tâm chỉ có thể được thành tựu nhờ kiên nhẫn chịu đựng một vài sự khó chịu, và không thoải mái của thân nào đó. Kinh nghiệm của những người hành thiền nghiêm túc cho thấy rằng thay đổi oai nghi liên tục sẽ không có lợi cho sự phát triển định tâm. Do đó, cảm giác không thoải mái của thân bắt buộc phải sanh cùng với sự kham nhẫn. Thực hành tiết chế như vậy không phải là khổ hạnh, vì mục đích không đơn thuần là làm khổ mình, mà là để tăng trưởng giới, định và tuệ, phù hợp với ước nguyện của Đức Phật.
Đức Thế Tôn mong mỏi mọi người, nếu có thể được, hãy thực hiện một nỗ lực không ngừng nghỉ hơn nữa để thành tựu Đạo Quả A-la-hán cao thượng bằng một thời ngồi liên tục, không bị gián đoạn bởi sự thay đổi oai nghi. Trong Mahā Gosinga Sutta (Đại Kinh Rừng Sừng Bò), Đức Thế Tôn nói rằng: “Vị Tỳ-kheo hành thiền sau khi hạ quyết tâm vững chắc: “Ta sẽ không bỏ thế ngồi kiết-già này cho đến khi tâm của ta được khéo giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”. Vị Tỷ-kheo như vậy có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga, và được xem như một báu vật cho trú xứ ở rừng.’
Như vậy, lời tuyên bố cho rằng kham nhẫn quán thọ khổ là một hình thức tự hành hạ mình kể như đã lên án những hành giả đang thực hành theo sự chỉ dạy của Đức Phật. Điều đó cũng có nghĩa bác bỏ cả những lời dạy của Ngài, và ngăn cản sự nỗ lực của các thiền sinh, những người vốn chỉ có thể thành tựu định và tuệ nhờ kham nhẫn chịu đựng sự đau đớn do không thay đổi oai nghi đem lại.
Ghi chú: (“Này các Tỳ-kheo, trong giáo pháp này, vị Tỳ-kheo sau khi như lý giác sát, kham nhẫn chịu đựng lạnh, nóng, đói, khát, sự tấn công của các loài côn trùng, bò sát, của gió và sức nóng mặt trời, những lời buộc tội, phỉ báng. Vị ấy kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, đáng sợ hãi thậm chí có thể gây nguy hiểm đến mạng sống. Những quả lợi ích của sự kham nhẫn chịu đựng lạnh, nóng, đói, khát, sự tấn công của các loài côn trùng, bò sát, của gió và sức nóng mặt trời, những lời buộc tội, phỉ báng…này là sự không xuất hiện cuả các lậu hoặc, phiền não, khổ đau, và nhiệt não mà nếu không kham nhẫn chịu đựng chắc chắn sẽ xuất hiện”.
Cần lưu ý rằng trong bài “Kinh Tất Cả Lậu Hoặc” này Đức Thế Tôn khuyên chúng ta phải biết chịu đựng sự đau đớn nghiêm trọng ngay cả với giá phải hy sinh thân mạng. Chú giải bài Kinh liên hệ câu chuyện của Trưởng Lão Lomasa Nāga, người đã kiên trì việc hành thiền ngay cả khi bị những bông tuyết bao phủ lúc ngài đang ngồi hành thiền ngoài trời, vào đêm trăng tròn tháng Giêng. Chỉ bằng cách quán cái lạnh cực độ của vùng Lokantariks, ngài đã vượt qua được cái lạnh đang vây quanh ngài, không từ bỏ oai nghi. Những tấm gương kham nhẫn trong khi hành thiền như vậy có rất nhiều trong những mẫu chuyện đề cập ở Kinh Điển.
Vì vậy những hình thức đau đớn tương đối nhẹ như tê cứng chân tay, cảm giác nóng bức khi hành thiền,…phải được kham nhẫn chịu đựng, không nên thay đổi oai nghi. Nếu có thể được, hãy giữ sự kiên trì dù có phải hy sinh thân mạng, vì điều đó sẽ làm tăng trưởng sự kham nhẫn tiết chế (khantī saṃvara), cũng như định và tuệ.
Tuy nhiên, nếu những cơn đau và cảm giác khó chịu đạt đến mức độ lớn không thể chịu đựng được nữa, hành giả có thể thay đổi oai nghi nhưng phải thực hiện rất chậm và nhẹ nhàng đừng để đánh động chánh niệm, định và tuệ.)
Tóm lại, những pháp hành không liên quan đến sự tăng trưởng Giới, Định và Tuệ mà chỉ hành để thọ khổ đơn thuần, dứt khoát là những hình thức tự hành xác mình hay khổ hạnh. Ngược lại, những nỗ lực nhiệt thành, dù có phải cảm thọ khổ ưu, nhưng nếu thực hành vì sự phát triển Giới, Định, và Tuệ, sẽ không phải là khổ hạnh. Việc thực hành đó rõ ràng phải được xem như Trung Đạo hay Bát Thánh Đạo, do Đức Thế Tôn đưa ra.
Chính Đức Thế Tôn, sau khi tránh hai pháp hành cực đoan này, đó là đắm chìm trong các dục lạc, được xem là quá dễ duôi và ép xác khổ hạnh được xem là quá nghiêm khắc, đã đắc thành Phật Quả và Giác Ngộ nhờ hành theo Trung Đạo.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.23/6/2024.
Asceticism is a form of self-mortification. The fifth week he sat under the shade of the goatherd's banyan tree (Ajjapāla), while there he considered giving up his ascetic practices: "I have escaped the painful ascetic practices body and mental suffering. To escape from that unprofitable ascetic practice is truly a blessing. How joyful it is to be liberated and Enlightened.” Mara (Māra), who closely followed every thought and action of the Buddha and was always alert to accuse the Buddha when he saw any mistake, immediately said to the Buddha: "Apart from ascetic practices, there is no Is there any other way to purify living beings? The monk Gautama has left the pure path. While still polluted, do you mistakenly think that you are pure? The Buddha replied: “All ascetic practices used with the concept of achieving the Immortal state are useless, do not bring much benefit, they are just like cars running sluggishly. on the ground, and as useless as pushing a pole on a sandy shore. Because I am completely convinced that they are not beneficial, I have given up all such forms of self-mortification.” The commentary also mentions that these ascetic practices such as not eating enough and not wearing enough clothes are self-torture. Extreme asceticism is a form of self-mortification that needs to be carefully noted here so that when we discuss it in the Dhammacakka Sutta we will understand it better. CONSIDERING THE FIRST SERMON After spending seven days in seven different places, the Buddha returned to the goatherd's banyan tree on the fiftieth day. Sitting under that tree, he pondered, “Who should I teach the Dharma to first? Who will quickly understand this Dharma?” Then this arose in him: “There is Āḷāra Kāḷāma who is learned, skillful and intelligent. He has long been a man with little dust of afflictions in his mind's eye. What if we teach the Dharma to Āḷāra Kāḷāma first? Surely he will quickly understand the dharma.” It is very important that the Buddha tried to find out who would be the first to understand his teachings quickly. Opening new meditation centers that have devotees with full faith, full enthusiasm, diligence, mindfulness and intelligence is paramount. Only devotees who possess these qualities can quickly attain wisdom and become shining examples for others to follow. Meditators who lack faith, enthusiasm, diligence, mindfulness and intelligence or those whose body and mind are weak due to old age can hardly be a source of inspiration for others. When we first started teaching the Four Foundations of Mindfulness Vipassana Meditation, we were fortunate to start with three people (actually my relatives) who were endowed with unusual (mental) faculties. . They attained the knowledge of birth and death (Udayabbaya Ñāṇa) within just three days of practice and were extremely happy with seeing the light and the signs accompanied by feelings of joy and happiness.It is the achievement of these rapid results that is responsible for the widespread acceptance and dissemination of the Mahāsī technique of Vipassana Meditation. The Buddha thought of teaching his first sermon to someone who would quickly grasp it, but when he considered Āḷāra Kāḷāma, a deva said to him, “World-Honored One, Āḷāra Kāḷāma has passed away seven days ago.” At that time wisdom arose for the Buddha, (and he) saw that Āḷāra Kāḷāma had passed away seven days ago and thanks to his attainment of meditation he was reborn in the Brahma realm of Nothingness (Akincaññāyatana Brahma…The Formless Brahma Realm).END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).GOLDEN ZEN BUDDHIST MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.23/6/2024.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.
KHỔ HẠNH LÀ MỘT HÌNH THỨC TỰ HÀNH XÁC.
Tuần lễ thứ năm ngài ngồi dưới bóng cây đa (Ajjapāla) của người chăn dê, trong khi ở đó ngài suy xét đến sự từ bỏ những pháp hành khổ hạnh của ngài: “Ta đã thoát khỏi những pháp hành khổ hạnh làm đau đớn thân xác và lao khổ tâm trí. Thoát được cái pháp hành khổ hạnh không lợi ích ấy thật là một điều may mắn. Thật hoan hỷ biết bao khi được giải thoát và Giác Ngộ.”
Ma-Vương (Māra), người theo sát từng ý nghĩ và hành động của Đức Phật luôn cảnh giác để buộc tội Đức Phật khi thấy bất kỳ sai sót nào, liền nói với Đức Phật: “Ngoài những pháp hành khổ hạnh, không còn con đường nào khác để thanh tịnh các chúng sanh; Sa-môn Cồ Đàm đã rời xa con đường thanh tịnh. Trong khi vẫn còn ô nhiễm, ông lầm tưởng rằng mình đã được thanh tịnh sao.”
Đức Phật trả lời: “Tất cả những pháp hành khổ hạnh được sử dụng với quan niệm thành tựu trạng thái Bất Tử đều vô ích, không đem lại lợi ích gì nhiều, nó chỉ giống như những chiếc xe chạy ì à, ì ạch trên đất, và vô ích như đẩy sào trên bờ cát. Do hoàn toàn tin rằng chúng không đem lại lợi ích, nên ta đã từ bỏ mọi hình thức tự hành xác ấy.”
Chú giải cũng đề cập rằng những pháp hành khổ hạnh như ăn không đủ, mặc không đủ này là sự tự hành hạ mình. Khổ hạnh cực đoan là một hình thức tự hành xác cần phải được lưu ý cẩn thận ở đây để khi chúng ta bàn về nó trong bài Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakka Sutta) chúng ta sẽ hiểu tốt hơn.
SUY XÉT ĐẾN VIỆC THUYẾT BÀI PHÁP ĐẦU TIÊN
Sau khi đã trải qua bảy ngày ở bảy nơi khác nhau, Đức Phật quay trở lại chỗ cây đa của người chăn dê vào ngày thứ năm mươi. Ngồi dưới gốc cây ấy ngài suy xét “Ta nên giảng dạy pháp đến ai trước? Ai sẽ nhanh chóng hiểu được Pháp này?” Rồi điều này khởi lên nơi ngài: “Có Āḷāra Kāḷāma là bậc đa văn, thiện xảo và thông minh. Từ lâu ông ta đã là người có ít bụi phiền não trong con mắt trí tuệ. Nếu ta dạy Pháp đến Āḷāra Kāḷāma trước thì sao? Chắc chắn ông ta sẽ nhanh chóng hiểu được pháp.”
Việc Đức Phật cố gắng để tìm xem ai là người đầu tiên sẽ hiểu được lời dạy của ngài một cách nhanh chóng rất quan trọng. Mở những trung tâm thiền mới mà có được những người mộ đạo với đầy đủ đức tin, đầy đủ lòng nhiệt thành, sự cần cù, chánh niệm và thông minh là điều tối quan trọng. Chỉ những người mộ đạo có những đức tính này mới có thể thành tựu trí tuệ thể nhập một cách nhanh chóng và trở thành những tấm gương sáng cho người khác theo. Những thiền sinh thiếu đức tin, thiếu lòng nhiệt thành, cần cù, chánh niệm và thông minh hay những người mà thân và tâm yếu đuối do tuổi già khó có thể là nguồn cảm hứng cho người khác được.
Lần đầu tiên khi chúng tôi bắt đầu dạy Thiền Minh Sát Tứ Niệm Xứ, chúng tôi may mắn được khởi sự với ba người (thực ra đó là những người bà con của tôi), được phú cho các căn (tinh thần) khác thường. Họ đắc được trí biết sự sanh và diệt (Udayabbaya Ñāṇa-Sanh Diệt Trí) chỉ trong vòng ba ngày thực hành và vô cùng vui mừng với việc thấy ánh sáng cũng như những tướng có thọ hỷ và lạc đi kèm. Chính việc đạt được những kết quả nhanh chóng này là nguyên nhân cho sự chấp nhận và phổ biến rộng rãi kỹ thuật Thiền Minh Sát theo Mahāsī.
Đức Phật nghĩ đến việc dạy bài pháp đầu tiên của ngài cho ai nhanh chóng tiếp thu được nó là như vậy, nhưng khi ngài suy xét đến Āḷāra Kāḷāma, một vị chư thiên đã nói với ngài, “Bạch Thế Tôn, Āḷāra Kāḷāma đã qua đời bảy ngày trước.” Lúc đó trí khởi lên cho Đức Phật, (và ngài) thấy rằng Āḷāra Kāḷāma đã qua đời bảy ngày trước và nhờ chứng thiền ông đã sanh về cõi Phạm Thiên Vô Sở Hữu Xứ (Akincaññāyatana Brahma…Cõi Phạm Thiên Vô Sắc).HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ). THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.23/6/2024.
THE MIDDLE WAY – PRACTICE AND BENEFITS. The World-Honored One continued: "Monks, avoiding these two extremes, the Tathagata has attained the wisdom of entering the Middle Way, creating eyes, creating wisdom, leading to peace, superior wisdom, enlightenment, Nirvana.” With these words, the World-Honored One let the Group of Five Bhikkhus know that after abandoning the two extreme practices, he found the Middle Way, and by that path he himself attained enlightenment, having He had eyes, he had wisdom, he had peace... For thirteen years, from sixteen to twenty-nine years old, he indulged in sensual pleasures, an extremely easy path. At the age of twenty-nine, he gave up that easy lifestyle by becoming a monk and leaving worldly life. After that, for six years he practiced extreme forms of asceticism through self-mortification. After six years of rigorous practice, he did not gain any superior knowledge, nor did he gain any benefit from that practice, and realized that he was on the wrong path. Therefore, he abandoned ascetic practices and returned to eating normally to strengthen his physical strength for meditation through the breathing exercises he had practiced before. His return to eating and drinking was a carefully considered action with the aim of giving him enough strength to practice the breathing meditation exercises that are part of the Middle Way. When food is consumed with moderation, and with mindfulness, it cannot be considered as sensual enjoyment, nor asceticism, because there is no suffering due to refusal of food. Therefore it is definitely the Middle Path, having nothing to do with the two extreme practices. Once he had recovered his health by eating and drinking normally again, the Buddha went into practice and attained the four stages of meditation. The concentration of these meditators is the precursor to the Noble Paths (pubba bhāga magga), or the foundation for the development of Vipassana Meditation and thus constitutes Right Concentration, one of the steps of the Middle Way or the Noble Eightfold Path. . Based on the foundation of Right Concentration, the World-Honored One developed insight and Right View with a completely focused mind. In this way he personally discovered the Four Noble Paths or Noble Eightfold Path, not through strict asceticism nor through the enjoyment of sensual pleasures, but by the Middle Way. Therefore, he declared: "Monks, by avoiding these two extreme practices, the Tathagata will gain the wisdom to enter the Middle Way." Through the above statement he wanted to say that he possessed the wisdom to enter the Middle Way which is neither too easy nor too strict, thanks to abandoning two erroneous practices, namely kāmasukhallika (enjoyment of sensual pleasures) considered is too indulgent, and attakilamatha (self-torture) is considered too ascetic. The two extreme paths, Are erroneous practices, They should be avoided. The Middle Way is the Right Path. HOW TO AVOID THE TWO EXTREMES Regarding the five sense objects — sight, sound, smell, taste and touch, if those objects do not interfere with keeping the precepts or if they help the practice of Dharma, then one can enjoy receive. You need to eat normally,Wearing normal clothes helps facilitate Dharma practice, thus avoiding extreme asceticism or physical self-torture. Necessities such as food, clothing, medicine, and shelter (cups, cups) must be used along with visualization or meditation practice, or vipassana meditation. That is, every time you come into contact with the five sense objects, you need to note them as objects of vipassana meditation. By applying a visualization or noting these sense objects as objects of insight, eating, dressing, etc. will not develop into enjoying them with a mind of pleasure, thereby avoiding the other extreme, which is is indulging in sensual pleasures. Therefore, the World-Honored One said, "By avoiding these two extremes, the Tathagata has the wisdom to enter the Middle Way." ANTIDIOT TO DIFFICULTY DIGESTIVE FOOD Applying visualization or vipassana meditation means developing mindfulness, concentration and wisdom, which are steps in the Noble Eightfold Path. It is like taking an antidote after eating food that is not suitable and difficult to digest. After a serious illness, during the convalescence period, you need to be careful about your diet. You must know to avoid inappropriate foods that can harm your health. If you cannot resist the temptation to eat that food, you must take antidote immediately to counteract the harmful effects of the food you have eaten. In this way, you can satisfy your desire to eat what you like, and at the same time avoid the negative consequences of eating. Similarly, by contemplating the objects we are using or noting them as objects of meditation, we prevent their use from developing into sensual enjoyment. Every time one sees, hears, touches, or perceives, if the meditator notes and clearly understands the nature of impermanence, suffering, and non-self in all phenomena of birth and death, then greed and anger towards seeing, hearing, etc. It cannot develop in them. When receiving the four essential items, such as food, clothes, medicine and shelter (cups, cups, etc.), if the meditator continuously notes them, no afflictions can arise. for these items. Thus we can make use of the necessary items for a comfortable life, while still avoiding the development of craving for them through the practice of visualization and Vipassana Meditation. In this way, the two extremes are avoided, because practicing visualization and Vipassana meditation at the time of taking food, etc. means practicing the Middle Path. With the practice of following the Middle Way by continuously noting all objects that appear at the six sense doors, thereby knowing their true nature, the eye of wisdom will be born, the eye of wisdom will open leading to the attainment of Nirvana. Those are the benefits that come from following the Middle Way. The Buddha continued to explain: "The Middle Way, absorbed by the Tathagata, creates eyes (acts into eyes), creates wisdom (works into wisdom)." END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ). GOLDEN ZEN BUDDHIST MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.23/6/2024.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.
TRUNG ĐẠO – SỰ THỰC HÀNH VÀ LỢI ÍCH.
Đức Thế Tôn tiếp tục: “Này các Tỳ-kheo, tránh hai cực đoan này, Như Lai đã đắc được trí thể nhập về Trung Đạo, tạo thành mắt, tạo thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”
Với những lời này, Đức Thế Tôn đã để cho Nhóm Năm Vị Tỳ Kheo biết rằng sau khi từ bỏ hai pháp hành cực đoan, ngài đã tìm thấy Trung Đaọ, và bằng con đường đó ngài đã tự mình đạt đến giác ngộ, có được nhãn, có được trí, có được sự an tịnh…
Trong suốt mười ba năm, từ mười sáu cho đến năm hai mươi chín tuổi, ngài đắm chìm trong các dục lạc, một con đường cực kỳ dễ duôi. Năm hai mươi chín tuổi, ngài từ bỏ lối sống dễ duôi ấy bằng cách xuất gia, xa lìa đời sống thế tục. Sau đó, trong sáu năm ngài thực hành những hình thức khổ hạnh cực đoan qua việc tự hành xác mình. Sau sáu năm luyện tập khắc khổ, ngài không có được chút tri kiến thù thắng nào, cũng không có được sự lợi ích nào từ việc tu tập ấy và nhận ra rằng mình đã đi sai đường.
Do đó, ngài từ bỏ những pháp hành khổ hạnh và ăn uống bình thường trở lại để củng cố thể lực cho việc chứng thiền qua những bài tập hơi thở mà ngài đã hành trước đây. Việc ăn uống trở lại của ngài là một hành động đã được suy xét kỹ với mục đích giúp cho ngài có đủ sức khoẻ thể thực hành những bài tập thiền hơi thở, vốn là một phần của Trung Đạo. Khi thức ăn được thọ dụng có tiết độ, và trong chánh niệm, nó không thể được xem như sự hưởng thụ dục lạc, cũng không phải là khổ hạnh, vì không có cái khổ do khước từ thức ăn. Vì vậy nó dứt khoát là Con Đường Trung Đạo, không liên hệ gì đến hai pháp hành cực đoan.
Khi đã phục hồi sức khoẻ nhờ ăn uống bình thường trở lại, Đức Thế Tôn đi vào thực hành và đắc bốn bậc thiền. Định của những bậc thiền này là dấu hiệu báo trước cho các Thánh Đạo (pubba bhāga magga), hay nền móng cho sự phát triển Thiền Minh Sát và như vậy tạo thành Chánh Định, một trong những bước của Trung Đạo hay Bát Thánh Đạo. Dựa trên nền móng Chánh Định, Đức Thế Tôn phát triển minh sát và Chánh Kiến với tâm tập trung toàn triệt. Bằng cách này ngài đã tự thân khám phá Bốn Thánh Đạo hay Bát Thánh Đạo, không qua khổ hạnh khắt khe cũng không qua sự thọ hưởng các dục lạc, mà bằng con đường Trung Đạo. Do đó ngài tuyên bố: “Này các Tỳ-kheo, tránh hai pháp hành cực đoan này, Như Lai có được trí thể nhập về Trung Đạo.” Qua lời tuyên bố trên ngài muốn nói rằng ngài có được trí thể nhập Trung Đạo vốn không quá dễ duôi và cũng không quá khắt khe, nhờ từ bỏ hai pháp hành sai lạc, đó là kāmasukhallika (hưởng thụ các dục lạc) được xem là quá dễ duôi, và attakilamatha (tự hành hạ thân xác) được xem là quá khổ hạnh.
Hai con đường cực đoan,
Là pháp hành sai lạc,
Chúng cần phải được tránh.
Trung Đạo là Chánh Đạo.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRÁNH HAI CỰC ĐOAN
Về năm dục trần — sắc, thanh, hương, vị và xúc, nếu những đối tượng ấy không xâm phạm vào việc giữ giới hay nếu chúng giúp ích cho việc thực hành Pháp, thì có thể hưởng thụ được. Ăn cần phải ăn bình thường, mặc cần phải mặc bình thường giúp cho việc thực hành pháp được dễ dàng, như vậy tránh được cực đoan khổ hạnh hay tự hành hạ thân xác.
Những nhu cầu cần thiết như thức ăn, y phục, thuốc trị bệnh, và nơi trú ngụ (cốc, liêu) phải được sử dụng kèm với sự quán tưởng hoặc thực hành thiền định, hay thiền minh sát. Tức là, mỗi lần xúc chạm với năm dục trần, cần phải ghi nhận chúng như những đối tượng của thiền minh sát. Nhờ áp dụng một sự quán tưởng hay ghi nhận những dục trần này như những đối tượng của minh sát, việc ăn, mặc…sẽ không phát triển thành sự hưởng thụ chúng với tâm thích thú, nhờ đó tránh được cực đoan khác, đó là đắm mê trong các dục lạc. Bởi thế, Đức Thế Tôn nói rằng “Nhờ tránh hai cực đoan này, Như Lai có được trí thể nhập Trung Đạo.”
THUỐC GIẢI ĐỘC CHO THỨC ĂN KHÓ TIÊU HOÁ
Áp dụng sự quán tưởng hay hành thiền minh sát có nghĩa là phát triển niệm, định và tuệ, vốn là những bước trong Bát Thánh Đạo. Nó cũng giống như uống thuốc giải độc sau khi ăn trúng thức ăn không thích hợp và khó tiêu hoá vậy. Sau một cơn bạo bệnh, thời kỳ dưỡng bệnh cần phải thận trọng về chế độ ăn uống kiêng khem của mình. Bạn phải biết tránh những loại thức ăn không thích hợp, có thể làm tổn hại đến sức khoẻ. Nếu bạn không thể kháng lại sự cám dỗ khiến phải ăn loại thức ăn ấy, bạn phải uống thuốc tiêu liền để làm mất tác dụng cái hậu quả tai hại của thức ăn bạn đã ăn. Theo cách này, bạn có thể thoả mãn ước muốn của mình để ăn những gì bạn thích, và đồng thời tránh được những hậu quả xấu của việc ăn ấy.
Tương tự, nhờ quán những vật dụng mà chúng ta đang dùng hay ghi nhận nó như những đối tượng của thiền, chúng ta đã ngăn được việc thọ dụng chúng phát triển thành sự hưởng dục.
Mỗi lần thấy, nghe, xúc chạm, nhận thức, nếu người hành thiền ghi nhận và hiểu rõ bản chất vô thường, khổ và vô ngã trong mọi hiện tượng sanh và diệt, thì tham và sân đối với việc thấy, nghe, …ấy không thể phát triển nơi họ. Khi thọ dụng bốn món vật dụng cần yếu, như thức ăn, y phục, thuốc trị bệnh và chỗ ở (cốc, liêu…) cũng vậy, nếu người hành thiền cứ liên tục ghi nhận chúng, không phiền não nào có thể sanh đối với những vật dụng này.
Như vậy chúng ta có thể tận dụng những vật dụng cần yếu cho cuộc sống được thoải mái, mà vẫn tránh được sự phát triển của tâm ham thích đối với chúng qua việc thực hành sự quán tưởng và Thiền Minh Sát. Theo cách này, hai cực đoan đã được tránh, vì thực hành quán tưởng và thiền Minh Sát vào lúc thọ dụng thức ăn,… có nghĩa là thực hành Con Đường Trung Đạo.
Với sự thực hành theo Trung Đạo bằng cách liên tục ghi nhận mọi đối tượng xuất hiện tại sáu cửa giác quan, nhờ đó biết được bản chất thực của chúng này, tuệ nhãn sẽ sanh, con mắt của trí tuệ sẽ mở ra dẫn đến sự chứng đắc Niết-bàn. Đó là những lợi ích xuất phát từ việc hành theo Trung Đạo. Đức Phật tiếp tục giải thích: “Trung Đạo do Như Lai thể nhập tạo ra mắt (tác thành mắt), tạo ra trí (tác thành trí).” HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.23/6/2024.
Friday, June 21, 2024
“Practicing and Developing the Attitude of Non-Clinging, Non-Attachment to Anything in This World” Is Practicing What? How? Or just practice by chanting slogans: “let go, let go”, “don't cling, don't cling”, “don't be greedy, don't be greedy”, “don't be angry, don't be angry”… “There will be a time , when death comes to take us away, forcing us to let go of everything. So we need to practice letting go and become proficient, otherwise we won't be able to let go when that moment comes. Letting go of everything, eliminating craving, boredom and rebirth is the work that a wise person must do before death. But what needs to be done and how to do it? - Pay attention to birth and death anytime, anywhere." – Accountant Vien Phuc Sumangala. Practice following the eight noble paths to give up all attachments. – That is PRACTICE OF THE FOUR POINTS OF MEMORY TO LET GO OF DESIRES. @: The general theory is not wrong, but it is not clear or specific about the practice in every moment of precious life. To learn theory in order to practice, you must remember the practice instructions by heart, not the explanations. Instructions are completely different from Explanations. It is not possible to let go, renounce, not cling, separate from greed, and eliminate desire only by means of Wisdom (wisdom gained by listening to the Dharma, reading scriptures) or by Tu Tue (wisdom gained by thinking and studying). You need to clearly know each step of practice and follow it to gain Wisdom. This is the core issue that many practitioners get confused about, unable to distinguish between general theory and practical guidance. There is still a huge gap between theory and practice for the majority of meditators. Even when they appear to be practicing, in reality they are only mechanically imagining the practice. They are just trying their best to shout slogans, but they think they are practicing letting go, separating from greed, and eliminating desire. Maintain uninterrupted mindfulness, observe mental and physical phenomena to see them arising and passing away continuously -> impermanence -> suffering -> boredom -> do not cling to anything in this world. Bach, usually when I detect a rough reaction of the mind (manifested through changes in breathing rhythm or muscle tension), I will continue to monitor the tension in that muscle until the time comes. when this phenomenon no longer exists. By doing so, you will not be carried away by the mind's reactions. That's right, pay attention to the CHANGES - BIRTH AND DESTRUCTION of the five aggregates, especially the changes - birth and death of images, words, and feelings related to the reaction of the mind, NOT PAYING ATTENTION TO THE CONTENT OF THE REFLECTION. RESPONSE OF THE MIND - ONLY FOCUSING ON THE BIRTH AND DESTRUCTION (IMPERMANENT, Suffering, Selflessness) of ALL PHENOMENON, you will be bored, free from greed, eliminate desires and no longer cling to anything in the world. That is correct practice, that is Tu Tue - Wisdom gained by practice, by practicing the Dharma correctly - leading to liberation, no longer just an empty theory, no longer shouting slogans of letting go and renunciation. Heavenly Master Sakka told me: "- World-Honored One, in short, to what extent does a Bhikkhu cherish liberation and achieve the ultimate goal?the salvation of peace from all sufferings, the salvation of holy life, the salvation of perfection, the supreme being between gods and humans? When I heard that, Mahā Moggallāna, I said to Sakka: "Here, Lord, the Bhikkhu heard the following: "It is not worthy, if there is partiality towards all dharmas." Dear God, if a monk hears the following: "It is not worthy to have partiality towards all dharmas". He knows all dharmas clearly. Having clearly known all dharmas, he knows all dharmas ultimately. By thoroughly knowing all dharmas, if there is any feeling, pleasant feeling, painful feeling, or neither painful nor pleasant feeling, he lives contemplating the nature of impermanence, lives contemplating the nature of detachment, lives contemplating the nature of cessation, Live contemplating the nature of renunciation in those feelings. BY LIVING CONtemplating the nature of impermanence, living contemplating the nature of separation from greed, living contemplating the nature of cessation, living contemplating the nature of renunciation in those feelings, he does not accept anything in life. Because he has no attachments, he has no afflictions. Because he has no afflictions, he attains Nirvana. He understands: "Birth has ended, the holy life has been achieved, what needed to be done has been done, there is no more coming back to this life." Dear God, in short, to such a degree, a Bhikkhu desires complete liberation, ultimate achievement, ultimate peace, from the yoke of suffering, the ultimate goal of holy life, the ultimate goal of perfection. victory between Gods and Humans. Thus, Moggallāna, I know I have just spoken briefly about the love that liberates the Lord Sakka.” The World-Honored One preached like that. Venerable Mahā Moggallāna was happy and believed in the Buddha's teachings.I know I just spoke briefly about the love that liberates God Sakka." The World-Honored One preached like that. Venerable Mahā Moggallāna was happy and believed in the Buddha's teachings.I know I just spoke briefly about the love that liberates God Sakka." The World-Honored One preached like that. Venerable Mahā Moggallāna was happy and believed in the Buddha's teachings.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).GOLDEN ZEN BUDDHIST MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.22/6/2024.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.
“Tu Tập Và Phát Triển Thái Độ Không Bám Níu, Không Chấp Trước Vào Bất Cứ Cái Gì Trên Đời Này” Là Tu Tập Cái Gì? Như Thế Nào?
Hay chỉ biết tu tập bằng cách hô khẩu hiệu: “buông bỏ, buông bỏ”, “không bám níu, không bám níu”, “không tham, không tham”, “không sân, không sân”…
“Sẽ có thời khắc, khi thần chết đến đem ta đi, buộc ta phải buông bỏ tất cả mọi thứ. Vì vậy ta cần thực tập buông bỏ, trở nên thành thạo, nếu không sẽ không thể buông khi thời khắc đó đến. Buông bỏ tất cả, triệt ly tham ái, nhàm chán tái sinh là công việc cần phải làm trước khi chết của người có trí. Nhưng cần phải làm gì và làm như thế nào? – Hãy chú tâm vào sinh, diệt mọi lúc mọi nơi”. – TK Viên Phúc Sumangala.
Tu tập theo tám thánh đạo để từ bỏ các sinh y.
– Đó là TU TẬP TỨ NIỆM XỨ ĐỂ BUÔNG BỎ THAM ÁI.
@: Lý thuyết chung chung không có sai, nhưng chưa rõ, chưa cụ thể được việc thực hành trong từng giây phút của cuộc sống quí hiếm. Học lý thuyết để mà thực hành, phải nhớ thuộc lòng lời hướng dẫn thực hành chứ không phải là nhớ thuộc lời giải thích. Lời hướng dẫn thực hành Instructions thì hoàn toàn khác với lời giảng giải, giải thích Explanations.
Không thể buông bỏ, xả ly, không bám níu, ly tham, diệt dục chỉ bằng Văn Tuệ (tuệ có được do nghe pháp, đọc kinh điển) hay bằng Tư Tuệ (tuệ có được do suy tư, nghiên cứu). Cần biết rõ từng bước thực hành và làm theo để có được Tu Tuệ.
Đây là vấn đề cốt lõi mà rất nhiều hành giả bị lẫn lộn, không phân biệt được đâu là lý thuyết chung, đâu là hướng dẫn thực hành. Giữa lý thuyết và thực hành vẫn còn là khoảng cách quá xa đối với số đông thiền sinh, kể cả khi họ có vẻ đang thực hành, nhưng thực ra họ vẫn chỉ máy móc tưởng tri việc thực hành mà thôi. Họ chỉ mới đang ra sức hô khẩu hiệu, nhưng lại tưởng là đang thực hành buông bỏ, ly tham, diệt dục.
Duy trì không gián đoạn chánh niệm, quan sát các hiện tượng tâm, vật lý để thấy nó sanh diệt liên tục -> vô thường -> khổ -> nhàm chán -> không bám níu vào bất cứ thứ gì trên đời này.
Bạch sư, thường thì khi phát hiện có sự phản ứng thô tháo của tâm (biểu hiện thông qua sự thay đổi nhịp của hơi thở hoặc các căng thẳng ở cơ), con sẽ tiếp tục theo dõi các căng thẳng ở cơ đó cho đến khi không còn hiện tượng này nữa. Làm như vậy con không bị cuốn theo sự phản ứng của tâm.
Đúng rồi, hãy chú tâm theo dõi các BIẾN ĐỔI – SINH DIỆT của ngũ uẩn, nhất là biến đổi – sinh diệt của các hình ảnh, lời nói, cảm thọ liên quan tới phản ứng của tâm chứ KHÔNG ĐỂ Ý ĐẾN NỘI DUNG PHẢN ỨNG CỦA TÂM – CHỈ CHÚ TÂM VÀO SINH DIỆT (TỨC VÔ THƯỜNG KHỔ VÔ NGÃ) CỦA MỌI HIỆN TƯỢNG thì sẽ nhàm chán, ly tham, diệt dục không còn bám níu vào bất cứ điều gì trên đời. Đó là thực hành đúng, đó là Tu Tuệ – Tuệ có được do tu tập, do thực hành đúng Chánh pháp – dẫn đến giải thoát, không còn là lý thuyết suông, không còn là hô khẩu hiệu buông bỏ, xả ly nữa.
Thiên chủ Sakka bạch với Ta:
“– Bạch Thế Tôn, nói một cách tóm tắt, đến mức độ nào, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người?
Khi nghe nói vậy, này Mahā Moggallāna, Ta nói với Thiên chủ Sakka:
“– Ở đây, này Thiên chủ, Tỷ-kheo được nghe như sau: “Thật không xứng đáng, nếu có thiên vị đối với tất cả pháp”.
Này Thiên chủ, nếu Tỷ-kheo được nghe như sau: “Thật không xứng đáng nếu có thiên vị đối với tất cả pháp”.
Vị ấy biết rõ tất cả pháp. Sau khi biết rõ tất cả pháp, vị ấy biết một cách rốt ráo tất cả pháp.
Do biết một cách rốt ráo tất cả pháp, nếu có một cảm thọ nào, lạc thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ, vị ấy sống quán tánh vô thường, sống quán tánh ly tham, sống quán tánh đoạn diệt, sống quán tánh xả ly trong các cảm thọ ấy.
VỊ ẤY NHỜ SỐNG QUÁN TÁNH VÔ THƯỜNG, SỐNG QUÁN TÁNH LY THAM, SỐNG QUÁN TÁNH ĐOẠN DIỆT, SỐNG QUÁN TÁNH XẢ LY TRONG CÁC CẢM THỌ ẤY NÊN KHÔNG CHẤP TRƯỚC MỘT VẬT GÌ Ở ĐỜI.
Do không chấp trước nên không phiền não, do không phiền não, vị ấy chứng đạt Niết-bàn.
Vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa”.
Này Thiên chủ, một cách tóm tắt, đến mức độ như vậy, một Tỷ-kheo ái tận giải thoát, cứu cánh thành tựu, cứu cánh an ổn, khỏi các khổ ách, cứu cánh phạm hạnh, cứu cánh viên mãn, bậc tối thắng giữa chư Thiên và loài Người”.
Như vậy, này Moggallāna, Ta biết Ta vừa nói một cách tóm tắt về ái tận giải thoát cho Thiên chủ Sakka.”
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Mahā Moggallāna hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).THIEN VIEN KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.22/6/2024.
Letting Go and Liberation. When we have truly awakened to everything in this world, it means there has been letting go. There is nothing that makes us hate, nor anything that attracts us. Everything is the same. It is an important step that takes us from awakening to letting go (viraga). Passion is raga, from which the English word 'rage' comes: it does not necessarily mean anger as in anger, but rage means 'in the place of action'. Boredom means the cessation of inner disturbances that prevent the mind from letting go. When we come into contact with mundane objects, we neither hate nor desire them. The mind is neither pushed back nor pulled from the middle position, becoming larger. We have enough spiritual capacity to move forward irreversibly on the spiritual path, because what happens in daily life no longer causes us to react strongly. We understand very clearly that all existence contains suffering: the body will perish, the mind will try to know, try to understand, try to control - all are characteristics of conflict and reaction. Inner conflicts hinder our spiritual progress, while reactions lead to actions, because we feel, then judge. Having recognized this as the origin of suffering, but without fear, the mind now tries to find something better. The world, filled with uncertainties, is seen as an ever-changing phenomenon. Since all things are caused by conditions and we cannot depend on them (because conditions are fragile and always changing), it is clear that we now need to look for things that are not caused by conditions. Our body is conditioned by desire, by the desire to exist; should be born, nourished with food and drink, until the day of death. The mind depends on the physical environment, otherwise no mental activity will arise. All are not considered good, sustainable, or desirable. Of course, the mind does not yet know what independent states are, not caused by conditions, but the mind is clear enough to know that it can turn away from normal concerns and worries. Normally, the mind is always busy with whatever arises within, all arising is an opportunity for the mind to function. All dependent birth has the three characteristics of impermanence, suffering and non-self. Because the body and mind depend on conditions, there is no real essence, showing us that the idea of a real self is just an illusion. From there the mind realizes that there must be a stopping point, a point of no rebirth, to seek a state of complete, absolute peace where there is no more birth, no more death. Intuitively, the mind knows it needs to move forward. The characteristics of this step are clearly described in the Visuddhimagga (Path of Purification) by means of a metaphor. If we want to go from one bank of the river, which is this worldly life, to the other bank, which is Nirvana, we can do it through the achievements of practice. We tie the material rope to the branch of the ego, then hold the rope, and following the push of the practice, we rush across the river, to a place we can see from this side. We bow down,towards the other side of the river, let go of the material rope and tree branches to fall on this side of the riverbank. At that time we can let go of all attachment to all things, mainly the body and mind. The feeling of having someone in the body that we consider 'me' has disappeared. When we have completely let go, we can lie down on the riverbank. Of course, at first, I was a bit wobbly and unable to stand. We must stand firmly first. This is a metaphor for the moment of enlightenment (magga) when the 'radical transformation' occurs. 'Change of lineage' means that the person has changed from the worldly (puthujjana) to the rank of ariyas, saints, those who have attained enlightenment and liberation based on the teachings of the Buddha. The first moment when that happens is called 'rebirth' (sotappatti). The moment of enlightenment is the only moment of meditation, in which nothing happens, nothing arises, and therefore nothing perishes. The moment of attainment, with one-pointed mind, contains no real wisdom. The next two mental attainments that bring liberation (vimutti) are 'realizations' (phala) and are the signs of our practice. We can reap the fruit of our practice through this experience. No return means having experienced the absolute, having cut off all conditions, and no longer having a discriminatory mind. It is a return to being, to the foundation of existence, which is the absolute primordial source; from which 'existence' is born because of craving. That practitioner steps forward, craving has decreased, so the absolute remains one of the elements of that person's consciousness. The result is the moment when the concept of 'self' has dissolved; An overwhelming feeling of relief, as if we had just let go of a heavy burden. Feeling of lightness plus understanding of what happened; That is, the mind has let go of all that we have known, whether they are good, good, praiseworthy or otherwise, and all feelings of the existence of self have disappeared. The imprint of experiencing the 'path and fruition' is so vast, the mind now seems to be able to disappear into it, like the rest after a long, arduous journey through many lives and many lives. suffering. The ability to temporarily let go of our connections with conditioned things has brought us to our final destination. That's just the beginning, there are three more stages, but this first stage is especially important. It deeply affects our psychology. Now the mind can turn to contemplate its purity, its wisdom, as well as all the unwholesome and defilements that are still present, so that it can see the path before it more clearly. The Buddha talked about ten fetters, binding us to the conditioned dharma. The first three fetters have been destroyed at this point. The most important thing is to eliminate the view of the self as an entity, with personality, with differences. The person who has attained the 'stu-da-complete' has reached this first step to join the unsurpassed, although he has not yet maintained his inner self as always being 'selfless', but he never believes that he is a stable entity. ,has form. Although the wrong view of self has been eliminated, it is only a concept, not a clear experience, which can be considered a 'kindergarten' of enlightenment. The second fetter that is eliminated is belief in rituals. It doesn't mean we can't perform rituals, but their importance and effectiveness are broken. Something completely different brought liberation and liberation, which was the letting go of attachment and anger, which means being completely independent of feelings. Having seen the futility of seeking satisfaction in any combination, our previous greed must give way to equanimity. As a result, we have the ability to completely let go of the illusion of self, along with all desires for ourselves. No ritual can do that. The third fetter to be eliminated is doubt (vicikiccha). Doubt and belief in rituals and ceremonies are completely eliminated. The wrong view of self is also eliminated, but the feeling of complete absence of self is still not achieved. Doubt no longer hinders our practice, because we have realized that the Buddha's teachings are true. There's nothing left to doubt anymore. From his own experience, the practitioner knows that the mind can stay in samsara (samsara) or attain nirvana (nibbana), that sentient beings can attain liberation and enlightenment. According to tradition, it is believed that one who has attained sotapanna must go through at most seven human lives before fully attaining enlightenment; however one can also attain it in just one lifetime. That person will forever be a disciple of Buddha; and can never break any of the five precepts. Although the important step in spiritual liberation has been achieved, greed and anger are still not resolved. The wrong view of self, which is the source of greed and anger, has been transformed, so these obstacles are no longer as heavy as before, but the practitioner still needs to go through two more attainments before they can completely eliminate them. . Just based on what has been described above, we can see that all the defilements in the world are caused by conflicting and disturbing emotional states. However, even if they cause trouble, it is not worth blaming ourselves or others. They are just the natural harshness of human life. Only when we can move from the minds of living beings to higher levels of consciousness can we get rid of these problems once and for all. Once, when the Buddha was sitting under a tree, a traveler passed by, admired the Buddha's shining form, and asked him: "Are bees a God?" Buddha replied: "No". The other person asked again: "Are bees people?" Buddha replied: "No". The other person said in surprise: "It's not God, it's not human, so who is Ong?" Buddha replied: "I am Buddha, the Enlightened One, not God or man." Buddha began life as a living being, like all of us. But when he attained the level of the enlightened ones,characteristic of figurative transcendence, to the point that relationships with humans gradually change. The realized Sotapanna has entered the world of enlightened beings. No longer attached – no likes or dislikes – means we can live peacefully in the world. The difficulties we often encounter when we separate spiritual life from worldly activities no longer exist. When there is no longer any discrimination in the mind, the hidden energies are revealed, and we can then use them to repel all desires. Some cravings may arise again in a person who attains sotapanna, but the basic cravings such as pride, self-satisfaction, and self-fulfillment have been eliminated. Letting go of desire here implicitly means letting go of the concept of self, which means formless, formless, and empty (anatta). That does not mean stopping all thoughts or stopping all activities in life. The attained Sotapanna also looked, acted, and spoke as before. Only his concept and perspective are completely changed. It's not just a matter of sometimes remembering and sometimes not remembering impermanence, but it has become an inner transformation. The human world needs to be transformed because all the sentient beings there live with illusions, causing them to suffer. This inner transformation gives rise to profound compassion for sentient beings lost in the cycle of birth and death (samsara) with no way out. The feeling of the moment of attainment can be recreated at any time, thus becoming a part of the practitioner's inner self, bringing him absolute peace. Enlightenment occurs only once at each different stage of enlightenment. Persistence in practice is necessary to take the practitioner to the next step, becoming a 'once-returner' (sakadagami). The 'once-returner' does not eliminate any further obstacles; Greed and anger are only reduced, but not completely eliminated. The 'once-returner' needs to have another attainment, which is also easy to do after having made the first leap to the other shore. Because a sotapanna is still suffering, when he knows that there is a place where there is no suffering, he has more strength to go further. Therefore, the realized Sotapanna knows that it is necessary to direct the mind away from worldly things, because they cause affliction. That direction is a determining factor for the mind. Only the Arhat, who has accomplished everything, is no longer influenced by the world. His mind is no longer agitated. Anyone who is still on the path to liberation and enlightenment needs to find a quiet, secluded place to meditate at times. The practitioner needs to revive in his mind the moments of attainment through meditation, directing his mind away from mental activities, with the realization that doing so will bring peace and freedom. Our mind always longs to stop, so the more often we can do it, the easier it is to reappear. When the mind stops all wandering, we need to let go again to free ourselves from existence. At that time, we will realize that we have arrived right where we have always been, the only difference is that before we considered appearance to be important, valuable, and worth maintaining.For most people, this is of course not normal. Practitioners need to practice continuously and repeatedly to completely transform their minds to get to that place. If we feel disgusted with existence, that is just another side of the coin of craving. What we need to keep in mind is that only the state of liberation is the absence of suffering, which can help us go beyond existence. Only we know what point we have reached on the path of practice. If we rely on the map, we can only succeed if we know which corner we are standing on. The same goes for spiritual development when we want to follow the Buddha's guidance. Practitioners must completely let go to attain enlightenment. Although only an Arhat can completely get rid of the idea of 'self', with each enlightenment, this idea gradually diminishes. However, the practitioner's concepts have completely changed. Normal people would think: 'This is me. I want to attain enlightenment.” Such notions no longer exist. Although the person who has achieved the first and second attainments does not yet have the feeling of complete 'selflessness', he has realized that nothing anywhere has any real meaning anymore. 'Liberation from appearances' is the goal that people who take impermanence (anicca) as the subject of meditation want to achieve. He sees nothing of a permanent nature anywhere. 'Freedom from desires' is the object of one who uses dukkha as the subject of meditation, understanding that dukkha cannot arise in the absence of desire. The "liberation of nothingness" is the door opened to the person who takes non-self (anatta) as the main theme, and realizes there is no 'self' in all objects. At this point, there are still seven fetters that need to be eliminated. The next level of attainment is for the person who attains 'no return' (anagami), he will no longer be reborn in the human world to reach nirvana. The non-returner is free from greed and anger. Although it is a giant leap on the path to liberation, there are still five more hindrances remaining. The non-returner sees reality as it exists, no longer deceived by appearances to distinguish between male, female, beautiful or ugly, etc. All these external appearances have deceived us for so long, and have always caused us suffering. Dukkha (Suffering) is not only pain, suffering, and resentment, but also includes dissatisfaction and dissatisfaction, emotions that we are all too familiar with. We can compare the experience of the non-returner to the foam of the ocean waves we mentioned before. It emerged just because it existed, but now it no longer thinks of itself as a separate bubble; It sank deep into the bottom of life without any resistance. It no longer wants to be like a great, wise, individual sponge. The re-establishment of the third fruition enables the practitioner to completely remain in a state of freedom, without any combination of conditions. It is a solid barrier to effectively resist suffering (dukkha), even though the remaining five fetters still exist. The most important obstacle that we must destroy is ignorance, which has been described as follows:“As fragrance clings to flowers, the idea of self still clings to the Non-returner.” When contemplating what has happened, the Non-returner will realize this ignorance. When we have memorable experiences in life, we often reflect back afterward to understand them better. The impact of attainment also causes us to do it. We reflect on our experiences and consider which obstacles have been eliminated and which defilements still exist; We also recall the experience of liberation. This contemplation needs to be done after the enlightenment of the path and fruition, otherwise it is difficult to be sure of any defilements that have not been eliminated. In the once-returner, anger is still present in the form of resentment, and greed in the form of liking, but in the non-returner, these feelings are no longer present. The seductions of the world no longer move him, and the difficult situations and obstacles, which the Buddha himself also faced, do not affect him. One of the remaining five fetters is excitement. Because the concept of 'self' has not been completely eliminated, there is still the urge to go somewhere, do something to get more results, something that all sentient beings are all too familiar with. Restlessness is present in a subtle way. There are two more obstacles that must be resolved: the desire to be reborn, either in the celestial realm or the saintly realm, in the form realm or in the formless realm. Because there is still the element of clinging to 'self', delusion arises that 'I' can exist more happily in one of those pure, beautiful realms where there is no suffering. The fifth fetter is arrogance (mana), which does not mean that the person is proud, but that the person still thinks about self. Observation will help the practitioner see that these obstacles are still present. Although the realization of nirvana eliminates all notions of self at that moment, it still appears, showing us clearly how deeply ingrained the notion of self is in living beings, even after three times of attaining enlightenment. it is not yet completely destroyed. The last five hindrances can only be eliminated when the practitioner attains Arahantship. To become an Arhat, the practitioner must have the opportunity to attain the fourth enlightenment. Contemplation is no longer necessary, because all defilements have disappeared, there is no more resistance, rejection or running after anything. That can happen because he has completely eliminated the feeling of having to be 'someone'. The Non-returner must find a way to eliminate the remaining five hindrances, then when he has destroyed them to the end, he can enter the final stage of enlightenment. Each stage of enlightenment, although similar, will become deeper and broader, for example when we have to take increasingly difficult exams in college, in order to finally be able to understand more deeply. your subject. That profound impression is imprinted on the mind, so much so that the enlightened mind can never return to the ordinary mind. Even though an Arhat can continue to live a normal life, he always remembers that everything is run by the five aggregates, and there is nothing 'I' or 'mine' involved. It's all about this body and mind.The refrain that is repeated over and over again, when someone speaks of liberation with the Buddha, is: “Birth has ceased, lived a holy life, done everything possible, there is nothing left to return from.” ”, is the traditional method of determining the state of enlightenment and liberation. CONSULTING Zen Student (Dr.): Dear Nun, it is difficult for me to put my trust in the state of mind (which) operates on its own to concentration and liberation. I feel completely scared when I experience the feeling of destruction, disintegrate. AYYA KHEMA (AK): When we have not yet become an Arhat, we still have a self. Ego makes us think that this is 'my' mind. The mind, like the person who thinks they are the master mind, wants peace. That is a completely legitimate wish. The mind knows very well that it needs to stop thinking so that it can achieve that goal. If it is something contrary to nature, the mind will not find peace and tranquility, on the contrary it will lead to anxiety and anger. When you feel the destruction of everything, but your mind does not feel peaceful and comfortable, of course you feel afraid. Our ego will say: “I don't want to be destroyed, I want to be happy; That's why I practice." But another thought immediately followed: “I want to be happy, but my feet hurt like this, I will fall to pieces. I don't like that at all!” There are two ways to deal with this problem. One is that the mind can enter states of meditation, fear will not arise, and the mind can attain enlightenment more gently. The other way is to face the fear, to see that the fear is justified. That is the point to get rid of the remaining attachments to self, to see that all actions are dangerous, that sentient beings cannot find happiness in any existence. TS: Dear Nun, should we choose the ego's reaction to fear as the subject of meditation? AK: We have no choice but to pay attention to that feeling, because of its power. Dear Nun, there are almost always sea foams rising from the bottom of existence. Why should that be? Your question goes back to the first causes, one of the four things that the Buddha did not answer. They are called “the four inconceivables.” Aren't these questions meant to enlighten you, Venerable Nun? AK: That's right. There are four inconceivable things, namely, the influence of a Buddha, of the attained samadhi, the origin of the universe (or humanity) and the complications of karma. These questions do not help practitioners in their practice. The Buddha said that answering such questions only confuses sentient beings. There is no original cause; all move in a circle. In my opinion, it seems like we are all anxious to escape suffering (dukkha), but when dukkha disappears, no one is present to celebrate its absence. Yes; but I have been purified. What is ego, Venerable Nun? The number one enemy of living beings. There are no other enemies; We all contain this enemy within. At the same time, we also contain purity and goodness.We cannot separate the self from anything we do or think, because all our desires are saturated with self, like a sponge full of water, making it impossible to distinguish between them. is water, not a sponge. TS: The nun talked about compassion along with enlightenment and liberation. Is preaching a form of compassion? AK: Of course. Without compassion, the sermon cannot reach anyone. The Buddha preached every day, even when he was sick, for forty-five years, due to his immense compassion for suffering beings. He wanted to show people how to end suffering (dukkha), to teach them the path to liberation. The Four Noble Truths are a fundamental part of the Buddha's teachings. They arise naturally in the mind at the moment of enlightenment. A Buddha can immediately understand the four noble truths without a teacher, but for those who follow the Buddha's path, the four noble truths are realized because they have become part of the continuously communicating mind-body. through sermons. This event can be compared to when the sun rises, the light shines brightly, the darkness is pushed back, the sunshine is full, the cold is dispelled. We can see everything clearly because the darkness has dissipated, feel secure, warm, and peaceful because the cold is no longer there. The same goes for the four noble truths; they arise in the mind immediately because the third noble truth of nibbana is the sun that radiates light to our mind, bringing warmth to our heart. The person who has achieved liberation is the one who has entered the Noble Eightfold Path.The same goes for the four noble truths; they arise in the mind immediately because the third noble truth of nibbana is the sun that radiates light to our mind, bringing warmth to our heart. The person who has achieved liberation is the one who has entered the Noble Eightfold Path.The same goes for the four noble truths; they arise in the mind immediately because the third noble truth of nibbana is the sun that radiates light to our mind, bringing warmth to our heart. The person who has achieved liberation is the one who has entered the Noble Eightfold Path.END=NAM MO SHAKYAMUNI BUDDHA.( 3 TIMES ).GOLDEN ZEN BUDDHIST MONASTERY=VIETNAMESE BUDDHIST NUN=THICH CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.22/6/2024.VIETNAMESE TRANSLATE ENGLISH BY=THICH CHAN TANH.
Buông Xả Và Giải thoát.
Khi ta đã thực sự tỉnh ngộ với tất cả mọi thứ trên thế gian nầy, có nghĩa là đã có sự buông xả. Không còn gì khiến ta ghét bỏ, cũng như không có gì quyến rũ được ta. Tất cả đều như như. Đó là một bước quan trọng đưa ta đi từ sự tỉnh ngộ đến buông xả (viraga). Đam mê là raga, mà từ đó Anh ngữ có chữ ‘rage’: không hẳn có nghĩa là sân hận như trong chữ anger, nhưng rage có nghĩa như là ‘ở nơi hành động’. Nhàm chán có nghĩa là sự chấm dứt của những xao động nội tâm khiến tâm không thể buông xả. Tiếp xúc với các cảnh trần, ta không ghét bỏ cũng không khởi lòng ham muốn. Tâm không bị đẩy lui hay kéo tới khỏi vị trí trung đạo, trở nên rộng lớn hơn. Chúng ta có đủ năng lực tâm linh để tiến tới không thối chuyển trên con đường tâm linh, vì những gì xảy ra trong cuộc sống hằng ngày không còn khiến ta phản ứng mạnh mẽ.
Chúng ta hiểu rất rõ rằng tất cả mọi hiện hữu đều hàm chứa khổ đau: thân sẽ hoại, tâm thì cố biết, cố hiểu, cố chế ngự – tất cả là những đặc tính của sự xung đột, phản ứng. Xung đột nội tâm gây trở ngại cho tiến trình tâm linh của ta, còn phản ứng dẫn đến các hành động, vì chúng ta cảm nhận, rồi phán xét. Đã nhận biết đây là nguồn gốc của khổ, nhưng không sợ hãi, tâm giờ cố gắng tìm kiếm một cái gì đó tốt đẹp hơn.
Thế giới, chứa đựng toàn những bất trắc, được xem như là một hiện tượng luôn biến chuyển. Vì tất cả vạn pháp đều do duyên sanh nên ta không thể phụ thuộc vào (vì các duyên thì mong manh, luôn biến đổi), nên rõ ràng là giờ chúng ta cần phải tìm kiếm những gì không do duyên hợp. Thân ta duyên hợp theo ái dục, theo ước muốn được hiện hữu; nên được sinh ra, được nuôi dưỡng bằng đồ ăn, thức uống, cho đến ngày chết. Tâm duyên theo cảnh trần, nếu không sẽ không có tâm hành nào được khởi sinh. Tất cả đều không được coi là tốt đẹp, bền vững, hay đáng ước ao. Dĩ nhiên, tâm chưa biết được gì là những trạng thái độc lập, không do duyên sanh, nhưng tâm đủ sáng suốt để biết rằng nó đã có thể quay lưng với những bận tâm, lo lắng bình thường. Thường thì tâm luôn bận rộn với bất cứ những gì dấy khởi bên trong, tất cả mọi dấy khởi đều là cơ hội để tâm hành vận chuyển.
Tất cả mọi duyên sanh đều có ba đặc tính của vô thường, khổ và vô ngã. Do thân và tâm tùy thuộc vào duyên, không có bản thể thực thụ, cho ta thấy rằng ý nghĩ về một cái ngã thực thụ chỉ là ảo giác. Từ đó tâm nhận thức được rằng phải có một điểm dừng, điểm của sự không tái sinh, để tìm kiếm một trạng thái hoàn toàn, tuyệt đối bình yên nơi không còn sinh, không còn diệt.
Bằng trực giác, tâm tự biết cần phải bước tới. Đặc tính của cái bước nầy đã được diễn tả rõ ràng trong Visuddhimagga (Con đường Thanh Tịnh hoá) bằng một ẩn dụ. Nếu ta muốn đi từ một bờ sông, là cuộc sống thế tục nầy, đến bờ bên kia, là Niết bàn, ta có thể thực hiện được nhờ những thành tựu của việc thực tập. Ta cột sợi dây vật chất vào cành cây của ngã, rồi nắm lấy sợi dây, và theo sức đẩy của thực hành, ta vượt phóng qua sông, đến nơi ta có thể nhìn thấy từ bờ bên nầy. Chúng ta cúi người, hướng về phía bên kia bờ, buông thả sợi dây vật chất và cành cây của ngã xuống bên nầy bến sông. Lúc đó ta có thể buông bỏ mọi bám víu đối với vạn pháp, chính yếu là thân và tâm. Cảm giác có một ai đó trong cái thân mà ta coi là ‘cái tôi’ đã biến mất. Khi đã hoàn toàn buông xả, ta có thể ngã nằm xuống bên bờ sông. Dĩ nhiên lúc đầu, ta hơi lảo đảo, chưa đứng vững được. Ta phải đứng vững chân trước. Đây là một ẩn dụ cho phút giây đạt đạo (magga) khi việc ‘chuyển đổi cấp bực’ xảy ra. ‘Chuyển cấp bực’ (change of lineage) có nghĩa là người đó đã thay đổi từ thế tục (puthujjana) lên cấp bực của ariyas, các bậc thánh, những người đã đạt được giác ngộ giải thoát dựa trên giáo lý củaĐức Phật.
Giây phút đầu tiên khi điều đó xảy ra được gọi là ‘tái lai’ (sotappatti). Giây phút đạt đạo là giây phút thiền chứng duy nhất, mà không có gì xảy ra, không có gì dấy khởi, do đó không có gì hoại diệt. Giây phút chứng quả, với tâm nhất điểm, không chứa đựng trí tuệ thực sự. Hai tâm chứng kế tiếp đem lại giải thoát (vimutti) là ‘quả chứng’ (phala) và là dấu hiệu của sự tu chứng của ta. Chúng ta có thể hái quả của công phu tu tập của mình qua chứng nghiệm nầy. Bất tái lai có nghĩa là đã chứng nghiệm được cái tuyệt đối, đã bặt các duyên, không còn tâm phân biệt. Đó là sự trở về với bản thể, với nền tảng của sự hiện hữu, đó là nguồn gốc nguyên thủy tuyệt đối (unconditioned primordial source); mà từ đó sinh ra ‘hữu’ vì tâm tham ái. Hành giả đó bước tới trước, ái đã giảm, nên sự tuyệt đối vẫn là một trong những yếu tố của tâm thức người đó.
Chứng quả là giây phút khi mà khái niệm về ‘ngã’ đã rã tan; một cảm giác nhẹ nhõm tràn dâng, như thể ta vừa bỏ được một gánh nặng xuống. Cảm giác nhẹ nhàng cộng với sự hiểu biết về những gì đã xảy ra; đó là tâm thức đã buông bỏ được tất cả những gì tađã biết, dầu cho chúng tốt đẹp, thiện lành, đáng tán thán hay ngược lại, và tất cả những cảm giác về sự hiện hữu của ngã đều biến mất.
Dấu ấn của việc chứng nghiệm ‘đạo và quả’ thật bao la, tâm bây giờ dường như có thể tan biến vào đó, giống như sự dừng nghỉ sau một cuộc hành trình dài dăng dẳng, khó nhọc qua bao nhiêu kiếp sống với nhiều khổ đau. Khả năng buông bỏ tạm thời những liên hệ của ta với các pháp hữu vi đã đưa ta đến chỗ dừng chân cuối cùng. Đó chỉ là bước khởi đầu, còn ba giai đoạn nữa, nhưng giai đoạn đầu tiên nầy đặc biệt quan trọng. Nó ảnh hưởng sâu xa đến tâm lý của ta. Giờ tâm có thể quay vào quán tưởng về sự thanh tịnh, về tuệ giác của nó, cũng như tất cả những bất thiện, uế nhiễm vẫn còn hiện hữu, để có thể nhìn thấy con đường đạo trước mắt rõ ràng hơn.
Đức Phật đã nói về mười kiết sử, trói buộc ta vào trong pháp hữu vi. Ba kiết sử đầu tiên đã được đoạn diệt ở thời điểm nầy. Điều quan trọng nhất là diệt được kiến chấp vào ngã như là một thực thể, có cá tính, có khác biệt. Người chứng ‘tu-đà-hoàn’ đã đến được bước đầu tiên nầy để gia nhập với hàng vô thượng, tuy chưa giữ được nội tâm luôn ‘vô ngã’, nhưng không bao giờ còn tin rằng mình là một thực thể vững bền, có hình tướng. Dầu tà kiến về ngã đã được đoạn trừ, nhưng đó chỉ là quan niệm, chưa phải là một chứng nghiệm rõ ràng, có thể coi như ‘lớp mẫu giáo’ của giác ngộ.
Kiết sử thứ hai được đoạn trừ là lòng tin vào các lễ nghi. Không có nghĩa là ta không thể hành các nghi lể, nhưng sự quan trọng và hiệu quả của chúng bị tan vỡ. Một cái gìđó hoàn toàn khác đã mang đến sự giải thoát, tháo gỡ, đó là sự buông bỏ của tham luyến, của sân hận, có nghĩa là hoàn toàn không duyên theo các cảm thọ. Đã thấy được sự vô ích của việc tìm kiếm thỏa mãn trong bất cứ duyên hợp nào, lòng tham đắm trước đây của ta phải nhường bước cho tâm xả. Kết quả là ta có khả năng để buông bỏ hoàn toàn ảo giác về ngã, cùng với mọi ước muốn cho riêng mình. Không có nghi lễ nào có thể làm được như thế.
Kiết sử thứ ba được đoạn trừ là lòng nghi hoặc (vicikiccha). Lòng nghi hoặc và lòng tin vào các nghi lễ, tế tụng hoàn toàn bị xoá bỏ. Tà kiến về ngã cũng bị xóa bỏ, nhưng cảm giác hoàn toàn không có ngã thì vẫn chưa đạt được. Lòng nghi hoặc không còn trở ngại việc tu tập của ta, vì ta đã nhận thức được rằng lời dạy của Đức Phật thật chân chính. Không còn gì để hoài nghi nữa. Từ chứng nghiệm của bản thân, hành giả biết rằng tâm có thể ở trong luân hồi sinh tử (samsara) hay đạt niết bàn (nibbana), rằng chúng sanh có thể đạt được giải thoát giác ngộ. Theo truyền thống, người ta cho rằng vị đã chứng được tu-đà-hoàn phải trải qua nhiều nhất là bảy kiếp người trước khi hoàn toàn chứng đắc giác ngộ; tuy nhiên người ta cũng có thể chứng đắc chỉ trong một kiếp người. Vị đó sẽ mãi mãi là đệ tử Phật; và không bao giờ có thể phạm một trong năm giới.
Dầu bước quan trọng trong việc giải thoát tâm linh đã đạt được, tham và sân vẫn chưa được giải quyết. Tà kiến về ngã, là nguồn gốc của tham sân đã được chuyển đổi, nên các chướng ngại nầy không còn nặng nề như trước nữa, nhưng hành giả còn cần phải trải qua hai chứng đắc nữa trước khi có thể loại trừ chúng hoàn toàn. Chỉ dựa trên những điều được diễn tả ở trên, ta cũng thấy rằng tất cả những uế nhiễm ở thế gianđều do các trạng thái tình cảm xung đột, phiền não gây ra. Tuy nhiên dầu chúng có gây phiền não cũng không đáng để ta tự trách mình hay đổ lỗi cho người. Chúng chỉ là những nghiệt ngã tự nhiên của kiếp con người. Chỉ khi nào ta có thể chuyển đổi từ tâm chúng sanh, đến những tầng cao hơn của tâm thức, khi ấy ta mới có thể dứt trừ được những vấn đề nầy một lần, cho tất cả.
Một lần, khi Đức Phật đang ngồi dưới một gốc cây, một kẻ lữ hành đi ngang qua, chiêm ngưỡng hình tướng sáng ngời của Đức Phật, rồi hỏi Ngài: “Ong có phải là một vị Trời không?” Đức Phật đáp: “Không”. Người kia lại hỏi: “Ong phải là người không?” Đức Phật trả lời: “Không”. Người kia ngạc nhiên nói: “Không phải Trời, cũng không phải Người, vậy Ong là ai?” Đức Phật trả lời: “Ta là Phật, Đấng giác ngộ, chứ không phải là Trời hay người”.
Đức Phật bắt đầu cuộc sống như một chúng sanh, như tất cả chúng ta. Nhưng khi Ngài đã chứng đắc đến bậc của những vị đã giác ngộ, đặc tính siêu việt tượng hình, cho đến nỗi những tương quan với con người cũng dần thay đổi. Vị chứng tu-đà-hoàn đã bước chân vào thế giới của những bậc giác ngộ.
Không còn đắm nhiễm –không ưa thích hay ghét bỏ- có nghĩa là ta có thể sống an nhiên trong thế gian. Những khó khăn mà ta thường gặp phải là khi ta tách biệt đời sống tâm linh ra khỏi những sinh hoạt thế tục đã không còn nữa. Khi không còn sự phân biệt trong tâm, thì các năng lượng tiềm ẩn được bộc phát, và lúc đó ta có thể xử dụng chúng để đẩy lùi mọi ái dục. Một số ái dục có thể lại phát sinh nơi vị chứng tu-đà-hoàn, nhưng các ái dục căn bản như là tự kiêu, tự mãn, tự đắc đã bị loại trừ. Buông xả ái dục ở đây ngầm chỉ sự buông xả ý niệm về tự ngã, có nghĩa là không có hình thể, vô tướng, và không (anatta).
Điều đó không có nghĩa là bặt mọi nghĩ suy, ngưng mọi sinh hoạt trong cuộc sống. Vị chứng tu-đà-hoàn cũng nhìn, cũng hành động, cũng nói năng như trước đó. Chỉ có quan niệm, cách nhìn của vị ấy thì hoàn toàn thay đổi. Không chỉ là việc lúc nhớ, lúc không về tính vô thường, mà điều đó đã thành một sự chuyển đổi ở nội tâm. Cõi người cần được chuyển đổi vì tất cả chúng sanh nơi đó sống với ảo tưởng, khiến họ phải khổ đau. Sự chuyển hóa nội tâm nầy phát khởi lòng bi mẫn sâu xa cho những chúng sanh bị lạc lỏng trong vòng sanh tử (samsara) không có lối ra.
Cảm giác về giây phút chứng quả có thể được tái tạo bất cứ lúc nào, vì thế sẽ trở thành một phần của nội tâm hành giả, đem đến cho vị ấy sự bình an tuyệt đối. Sự chứng đạo chỉ xảy ra một lần ở mỗi giai đoạn giác ngộ khác nhau. Sự kiên trì tu tập rất cần thiết để đưa hành giả đến bước kế tiếp, trở thành một vị ‘nhất lai’ (sakadagami).
Vị ‘nhất lai’không loại trừ được thêm chướng ngại nào nữa; tham và sân chỉ giảm, chứ chưa hoàn toàn bị loại trừ. Vị ‘nhất lai’ cần phải có thêm một quả chứng nữa, là điều cũng dễ thực hiện sau khi đã có được bước nhảy vọt đầu tiên sang bờ bên kia. Vì vị tu-đà-hoàn vẫn còn khổ, nên khi biết rằng có một nơi không có khổ thì vị ấy có thêm sức mạnh để tiến xa hơn. Do đó vị chứng tu-đà-hoàn biết rằng cần phải hướng tâm ra khỏi những việc thế gian, vì chúng gây phiền não. Hướng đi đó là một yếu tố quyết định cho tâm.
Chỉ có bậc A-la-hán, người đã hoàn thành mọi việc, không còn bị ảnh hưởng của thế gian. Tâm của vị ấy không còn bị xao động nữa. Bất cứ ai đang còn đi trên con đường đến giải thoát giác ngộ cần có những lúc tìm đến nơi yên tĩnh, vắng lặng để chuyên tu. Hành giả cần làm sống lại trong tâm những giây phút chứng quả bằng thiền quán, hướng tâm ra khỏi những tâm hành, với nhận thức rằng làm được vậy sẽ mang lại bình an, tự tại. Tâm thức ta luôn mong mỏi được dừng lại, vì thế ta càng thường xuyên thực hiện được điều đó, thì nó càng dễ tái hiện. Khi tâm dứt bặt mọi lăng xăng, ta cần buông xả lần nữa để tự giải mình khỏi sự hiện hữu. Lúc đó ta sẽ nhận thức được rằng ta đãđến đúng ngay chỗ ta vẫn hằng có mặt, chỉ khác là trước đây ta coi hình tướng là quan trọng, giá trị, đáng được duy trì.
Đối với đa số, điều nầy dĩ nhiên là không được bình thường. Hành giả cần thực hành miên mật, lập đi lập lại luôn để có thể khiến tâm chuyển đổi hoàn toàn, để đến được nơi đó. Nếu ta cảm thấy chán ghét sự hiện hữu, thì đó cũng chỉ là một mặt khác của đồng tiền tham ái. Điều ta cần ghi tâm khắc cốt là chỉ có trạng thái giải thoát là không có khổ, như thế mới có thể giúp ta vượt ra khỏi hiện hữu.
Chỉ có ta mới tự biết mình đã đến được điểm nào trên con đường tu tập. Nếu nương theo bản đồ, thì ta chỉ có thể thành công, nếu ta biết được mình đang đứng ở góc đường nào. Cũng thế đối với sự phát triển tâm linh khi ta muốn đi theo sự hướng dẫn của Đức Phật.
Hành giả phải hoàn toàn buông xả mới có thể chứng đạo. Dầu chỉ có bực A-la-hán mới hoàn toàn dứt bỏ được ý niệm về ‘ngã’, nhưng với mỗi lần chứng đạo, ý niệm nầy dần dần bớt đi. Tuy nhiên các quan niệm của hành giả thì đã hoàn toàn thay đổi. Người bình thường sẽ nghĩ: ‘Đây là tôi. Tôi muốn được chứng đắc”. Những quan niệm như thế không còn nữa. Người đã đạt được quả chứng thứ nhất và thứ nhì tuy chưa có được cảm giác hoàn toàn ‘vô ngã’, nhưng vị ấy đã nhận thức được rằng không có gì ở đâu có ý nghĩa thực sự nữa.
Sự ‘giải thoát khỏi các hình tướng’ là mục tiêu mà người lấy vô thường (anicca) làm đề mục thiền quán, muốn đạt đến. Người ấy không thấy gì có tính cách thường hằng ở bất cứ đâu. Sự ‘giải thoát khỏi các ham muốn’ là đối tượng của người dùng dukkha làm đề mục thiền quán, vì hiểu rằng dukkha không thể phát sinh khi không có lòng ham muốn. Sự “giải thoát về cái không’ là cánh cửa mở ra cho người lấy vô ngã (anatta) làm đề mục chính, và nhận thấy không có ‘ngã’ trong mọi vật thể.
Ở thời điểm nầy, vẫn còn bảy kiết sữ cần phải loại trừ. Bậc quả chứng kế tiếp dành cho vị chứng ‘bất lai’ (anagami), vị ấy sẽ không còn tái sinh trở lại cõi người để đạt đến niết bàn. Vị bất lai không còn tham sân, dầu đó là một bước nhảy vọt trên đường đi đến giải thoát, nhưng vẫn còn lại năm chướng ngại nữa. Vị bất lai nhìn thực tại như chúng hiện hữu, không còn bị dối gạt bởi vẻ bề ngoài để phân biệt nam, nữ, đẹp xấu, vân vân. Tất cả những hình tướng bề ngoài nầy đã lừa gạt ta bao lâu nay, và luôn gây tạo khổ cho ta. Dukkha (Khổ) không chỉ là đau đớn, khổ sầu, oán than, mà còn bao gồm sự bất như ý, không thỏa mãn, những tình cảm mà tất cả chúng ta đều quá quen thuộc. Chúng ta có thể so sánh sự chứng nghiệm của vị bất lai với bọt sóng biển ta đã nhắc đến trước đây. Nó nổi lên chỉ vì nó hiện hữu, nhưng giờ nó không còn nghĩ đến mình như một bong bóng cá biệt; nó lại chìm sâu dưới đáy nhân sinh mà không hề phản kháng. Nó không còn muốn mình như một bọt biển vĩ đại, khôn ngoan, cá biệt.
Sự tái lập của quả chứng thứ ba khiến hành giả có thể hoàn toàn trụ ở trạng thái tự do, không do duyên hợp. Đó là một bức chắn kiên cố để chống đở khổ (dukkha) một cách hữu hiệu, dầu rằng năm kiết sử còn lại vẫn hiện hữu. Chướng ngại quan trọng nhất mà ta phải đoạn diệt là vô minh, là chướng ngại đã được diễn tả như sau: “Như hương bám vào hoa, ý niệm về ngã vẫn còn bám theo vị Bất lai”.
Khi quán sát những gì đã xảy ra, vị Bất lai sẽ nhận biết được sự vô minh nầy. Khi có những kinh nghiệm đáng nhớ trong cuộc sống, ta cũng thường ngẫm lại sau đó để hiểu chúng rõ hơn. Tác động của việc chứng quả cũng khiến ta phải làm điều đó. Ta nghiền ngẫm lại chứng nghiệm của mình, xét xem các chướng ngại nào đã được đoạn trừ, các uế nhiễm nào vẫn còn tồn tại; ta cũng hồi tưởng lại kinh nghiệm giải thoát. Sự quán sát nầy cần được thực hiện sau các chứng nghiệm đạo quả, nếu không ta khó thể chắc nhiễm ô nào còn chưa được đoạn trừ. Ở vị chứng quả nhất lai, sân vẫn còn có mặt dưới hình thức của sự bực bội, và tham dưới hình thức của sự ưa chuộng, nhưng vị chứng bất lai thì không còn những cảm thọ nầy nữa. Những quyến rũ của thế gian không còn xao động được vị ấy nữa, và những hoàn cảnh khó khăn, trở ngại, mà chính Đức Phật cũng từng đối mặt, cũng không ảnh hưởng vị ấy.
Một trong năm kiết sử còn lại là trạo cữ. Vì ý niệm về ‘ngã’ chưa hoàn toàn đoạn diệt, vẫn còn nỗi thôi thúc phải đi đâu đó, làm gì đó để được kết quả hơn, là những điều mà tất cả chúng sanh đều quá quen thuộc. Trạo cữ có mặt một cách vi tế. Còn hai chướng ngại nữa phải giải quyết là: ý muốn được tái sinh, hoặc ở cõi chư thiên hoặc cõi thánh, là cõi sắc giới hay ở cõi vô sắc. Vì vẫn còn yếu tố bám víu vào ‘ngã’, vọng tưởng khởi sinh rằng ‘tôi’ có thể hiện hữu một cách sung sướng hơn ở một trong những cõi thanh tịnh, đẹp đẽ đó nơi không có khổ đau.
Kiết sử thứ năm là mạn (mana), không có nghĩa là người đó tự kiêu, nhưng người đó vẫn còn nghĩ tưởng đến ngã sở. Sự quán sát sẽ giúp hành giả thấy là các chướng ngại nầy vẫn còn có mặt. Dầu việc chứng ngộ niết bàn đoạn trừ mọi ý niệm về ngã ngay lúc đó, nhưng nó vẫn còn xuất hiện, cho ta thấy rõ ý niệm về ngã đã ăn sâu thế nào trong chúng sanh, ngay sau ba lần chứng đạt đạo quả, nó vẫn chưa hoàn toàn tiêu diệt.
Năm chướng ngại cuối cùng chỉ bị đoạn trừ khi hành giả chứng được quả vị A-la-hán. Để trở thành một vị A-la-hán, hành giả phải có cơ hội để chứng đạo quả thứ tư. Việc quán sát không còn cần thiết nữa, vì mọi uế nhiễm đã biến mất, không còn sự chốngđối, chối bỏ hay chạy đuổi theo điều gì. Điều đó có thể xảy ra vì vị ấy đã hoàn toàn diệt bỏ được cảm giác phải là ‘một ai đó”.
Vị Bất lai phải tìm cách đoạn trừ năm chướng ngại còn lại, rồi khi đã tiêu diệt chúng đến chỗ tận cùng, thì vị ấy có thể đi vào giai đoạn chứng đạo cuối cùng. Mỗi giai đoạn chứng đạo, dầu tương tự nhau, sẽ trở nên sâu xa hơn, rộng lớn hơn, ví như khi ta phải dự những cuộc thi ngày càng khó hơn ở trường đại học, để cuối cùng có thể hiểu được sâu xa hơn môn học của mình. Ân tượng sâu sắc ấy đã in vào tâm thức, đến nỗi tâm giác ngộ không bao giờ có thể trở lại tâm phàm phu. Dầu rằng một vị A-la-hán có thể tiếp tục sống cuộc sống bình thường, vị ấy lúc nào cũng nhớ rằng tất cả dều do năm uẩn vận hành, chứ không có gì là ‘tôi’ hay ‘cái của tôi’ liên quan đến thân tâm nầy cả. Điệp khúc vẫn được lập đi lập lại, khi có ai nói đến sự giải thoát với Đức Phật, đó là: “Sinh đã diệt, đã sống cuộc sống thánh thiện, đã làm mọi điều có thể làm, không còn gìđể trở lại nữa”, là phương thức truyền thồng để xác định trạng thái giải thoát giác ngộ.
THAM VẤN
Thiền Sinh (TS): Thưa Ni Sư, con thật khó đặt niềm tin theo trạng thái tâm (mà nó) tự vận hành đến định và giải thoát, Con cảm thấy hoàn toàn sợ hãi khi chứng nghiệm cảm giác hủy diệt, tan rã.
AYYA KHEMA (AK): Khi chưa thành bậc A-la-hán, chúng ta vẫn còn có ngã. Ngã khiến ta có ý nghĩ rằng đây là tâm ‘của tôi’. Tâm cũng như người nghĩ rằng họ là chủ tâm, đều muốn sự an bình. Đó là một ước muốn hoàn toàn chính đáng. Tâm biết rất rõ nó cần phải ngừng suy nghĩ lăng xăng để có thể đạt được mục đích đó. Nếu đó là việc làm trái với tự nhiên, thì tâm sẽ không tìm được sự bình an, thanh tịnh, trái lại nó sẽ dẫn đến lo âu, sân giận.
Khi em cảm nhận được sự hoại diệt của mọi vật, nhưng tâm không cảm thấy an ổn, dễ chịu thì dĩ nhiên là em cảm thấy sợ hãi. Cái ngã của ta sẽ nói: “Tôi không muốn bị hoại diệt, tôi muốn được hạnh phúc; đó là lý do tại sao tôi tu tập”. Nhưng một ý nghĩ khác lập tức theo sau: “Tôi muốn được hạnh phúc, nhưng chân tôi đau như thế nầy, tôi sẽ bị tan rã ra từng mảnh. Tôi không thích như thế chút nào!” Có hai cách để đối phó với vấn đề nầy. Một là tâm có thể đi vào các trạng thái thiền định, sợ hãi sẽ không phát sinh, và tâm có thể ngộ đạo một cách nhẹ nhàng hơn. Cách khác là đối mặt với sự sợ hãi, để thấy rằng nỗi sợ hãi đó là chính đáng. Đó là điểê’để dứt bỏ những bám víu vào ngã còn lại, để thấy rằng mọi hành đều nguy hiểm, rằng chúng sanh không thể tìm thấy hạnh phúc trong bất cứ hiện hữu nào.
TS: Thưa Ni Sư, như thế ta có nên chọn phản ứng của ngã đối với sự sợ hãi làm đề tài thiền quán không?
AK: Ta không còn có lựa chọn nào khác hơn là chú tâm vào cảm thọ đó, vì sức mạnh của nó.
Thưa Ni Sư, gần như lúc nào cũng có những bọt biển nổi lên khỏi đáy của hiện hữu. Tại sao phải như thế?
Câu hỏi của em trở về với những nguyên nhân đầu tiên, một trong bốn điều mà Đức Phật không trả lời. Chúng được gọi là “bốn điều không thể nghĩ bàn”.
Những câu hỏi nầy không phải là để khai trí sao, thưa Ni Sư?
AK: Đúng vậy. Có bốn điều không thể nghĩ bàn, đó là, ảnh hưởng của một vị Phật, của vị đã chứng định, nguồn gốc của vũ trụ (hay nhân loại) và những phức tạp của nghiệp. Những câu hỏi nầy không giúp gì cho hành giả trong việc tu tập. Đức Phật đã nói trả lời những câu hỏi như thế chỉ làm chúng sanh thêm rối trí. Không có nguyên nhân khởi thủy; tất cả đều chuyển động trong một vòng tròn.
Theo con, có vẻ như chúng ta ai cũng nôn nóng muốn thoát khổ (dukkha), nhưng khi dukkha hoại diệt thì không có ai hiện hữu để chào mừng sự vắng mặt của nó.
Đúng thế; nhưng ta đã được thanh tịnh.
Ngã là gì, thưa Ni Sư?
Kẻ thù số một của chúng sanh. Không có kẻ thù nào khác; tất cả chúng ta đều chứa kẻ thù nầy bên trong. Đồng thời chúng ta cũng chứa sự thanh tịnh, điều tốt đẹp. Chúng ta không thể tách rời ngã ra khỏi bất cứ điều gì chúng ta làm, hay suy nghĩ, vì tất cả mọi ước muốn của ta đều thấm đẫm tự ngã, giống như một miếng mốp đầy nước, khiến ta không thể phân biệt đâu là nước, đâu chính là miếng mốp.
TS: Ni sư đã nói về lòng bi mẫn cùng với giác ngộ, giải thoát. Thuyết pháp có phải là một hình thức của bi không?
AK: Dĩ nhiên. Không có lòng bi mẫn, bài thuyết pháp không đến được với ai. Đức Phật thuyết pháp mỗi ngày, ngay cả khi Ngài bị bệnh, trong bốn mươi lăm năm, do lòng từ bi bao la của Ngài đối với chúng sanh đau khổ. Ngài muốn chỉ cho mọi người biết cách để chấm dứt khổ đau (dukkha), để dạy họ con đường đi đến giải thoát. Tứ diệu đế là phần căn bản của giáo lý Đức Phật. Chúng phát khởi tự nhiên trong tâm ở giây phút ngộ đạo. Một vị Phật có thể hiểu ngay bốn thánh đế mà không cần có vị thầy nào, nhưng đối với những người đi theo con đường của Đức Phật, tứ diệu đế được nhận thức vì chúng đã trở thành một phần của tâm thể liên tục thông qua các bài pháp. Sự kiện nầy có thể so sánh với khi mặt trời mọc lên, ánh sáng tỏa chan hoà, bóng tối bịđẩy lùi, nắng ấm tràn đầy, sự lạnh lẽo bị xua tan. Chúng ta có thể nhìn thấy mọi vật rõ ràng vì bóng tối đã tan, cảm thấy an lòng, ấm áp, yên ổn vì sự lạnh lẽo đã không còn nữa. Đối với tứ thánh đế cũng thế; chúng phát sinh trong tâm ngay lập tức vì diệu đế thứ ba của nibbana là mặt trời tỏa ánh sáng xuống tâm trí ta, đem lại ấm áp trong trái tim ta. Người đã đạt được giải thoát là người đã thể nhập vào Bát chánh đạo.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.AUSTRALIA,SYDNEY.22/6/2024.
Subscribe to:
Comments (Atom)