Monday, February 27, 2017

THƠ THIỀN SƯ
NHẤT SƠN NHẤT NINH
TỤNG TRANH CHĂN TRÂU

 Nhất Sơn Nhất Ninh (1247-1317) là một vị thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế. Sau khi nhà Tống bị Mông Cổ lật đổ, sư được Nguyên Thành Tông cử đến Nhật Bản để nối lại mối quan hệ - vốn bị gián đoạn từ khiMông Cổ cố gắng xâm lấn nhiều lần. Sư vừa đặt chân lên đất Nhật (1299) liền bị nghi là gián điệpbị bắt giam. Sau khi được tha, sư được cử trụ trì chùa Kiến Trường, rồi chùa Viên Giác. Năm 1312Thiên hoàng Hậu Đề Hồ cử sư làm Phương trượngchùa Nam Thiền tại Kinh ĐôSư truyền giao thiền phápmôn đồrất đông. Sư nổi danh không chỉ là một Thiền sư mà còn là một nghệ sĩ xuất trần, một hoạ sĩ tinh thông thư pháp.

 Đức Khổng Tử từng nói trong Luận Ngữ: “Tam thập nhi lậpTứ thập nhi bất hoặcNgũ thập nhi tri thiên mệnhLục thập nhi nhĩ thuậnThất thậpnhi tòng tâm dục bất du củ.” (Hồi mười lăm tuổi ta để hết tâm trí vào việc học. Đến ba mươi tuổi, ta vững chí mà tiến lên đường đạo đức. Được bốn mươi tuổi tâm trí ta sáng suốt hiểu rõ việc phải trái, sự lý, chẳng còn nghi hoặc. Năm mươi tuổi ta biết mạng trời. Đến sáu mươi tuổi, bất cứ lời nói nào lọt vào tai thì ta hiểu ngay, chẳng cần phải suy nghĩ lâu dài. Được bảy mươi tuổi, trong tâm ta dù có muốn sự chi cũng chẳng hề trái phép.)

 Người đời sau cho rằng mười bài thơ tụng của thiền sư Nhất Sơn Nhất Ninh về bộ tranh “thập mục ngưu đồ” của thiền sư Phổ Minh là: “Lịch trình của mười giai đoạn từ phàm vào thánh, là cơ bản tinh thần của câu nói của đức Khổng Tử ngày xưa vì nếu so sánh ra thời đôi bên có sự phù hợp và bao trùm, chẳng qua một bên là thành Phật, một bên là thành thánh mà thôi”. 

 Soạn giả sau khi ghi bản dịch âm mười bài thơ này đã dịch thành mười bài thơ “lục bát”.
*

chantrau042
1. TẦM NGƯU

Bản vô hình tích khả cầu tầm
Vân thụ thương thương yên thảo thâm
Cước hạ tuy nhiên kỳ lộ biệt
Nham tiền khô mộc tự long ngâm.

1. TÌM TRÂU

Vốn không vết tích để tìm
Khói mây xanh biếc cỏ thêm xanh rờn
Dưới chân nẻo rẽ dọc ngang
Cây khô trước núi ngâm vang tiếng rồng.

chantrau044

2. KIẾN TÍCH

Thảo khòa lý tẩu lộ hà đa?
Chỉ thử đề sầm mạc thị ma?
Cước lực cùng biên trùng tiến bộ,
Ngang ngang đầu giác yếu phùng ngã.

2. THẤY DẤU

Cỏ sao nhiều lối xa gần?
Phải chăng đây chính dấu chân hiện tiền?
Đường cùng sức mỏi tiến thêm
Nghênh ngang sừng mũi lộ liền rõ ra.






3. KIẾN NGƯU

Phong noãn u cầm chi thượng thinh,
Vũ dư nguyên thảo sắc vưu thanh,
Giả hồi dĩ đổ cừ đầu giác
Đới thị hào đoan tả bất thành.

3. THẤY TRÂU

Trên cành gió ấm chim kêu
Thảo nguyên mưa mãi, cỏ nhiều, xanh tươi
Đầu sừng gặp nó đây rồi
Mảy lông, họ Đới vẽ thời khó sao.

 


4. ĐẮC NGƯU

Tỵ khổng liêu thiên duệ chuyển cừ
Tùng kim cuồng dật tính tu trừ.
Tuyết sơn hương thảo hòa yên tế,
Thả yếu khu lai hướng thử cư.

4. ĐƯỢC TRÂU

Mũi vươn trời, kéo được liền
Nay nên trừ hết tính điên thói cuồng
Cỏ thơm núi tuyết nhoà sương
Nhắm sao đuổi nó về nương chốn này.



5. MỤC NGƯU

Tùy thời thủy thảo hoạt cừ thân,
Thuần tịnh hà tằng nhiễm nhất trần.
Miêu giá tự nhiên hồn bất phạm,
Thu lai phóng khứ khước tự do.

5. CHĂN TRÂU

Tùy thời nước cỏ nuôi thân
Sạch trơn há nhiễm bụi trần chút nao
Phạm đâu lúa mạ hoa màu
Bắt về, thả lại trước sau thỏa lòng.



6. KỴ NGƯU HỒI GIA

Luy ngưu dĩ thuần khước hồi gia,
Thụ hạ sài môn khải mộ hà.
Phóng giáo câu câu lan lý ngọa,
Tĩnh khan tân nguyệt quải thiềm nha.

6. CƯỠI TRÂU VỀ NHÀ

Trâu gày thuần bước về nhà
Dưới cây cửa mở chiều pha ráng trời
Trong chuồng nằm thở nghỉ ngơi
Lặng nhìn trăng mới treo nơi hiên ngoài.



7. VONG NGƯU TỒN NHÂN

Thoa lạp tùng thử bất nhập sơn,
Tiên thằng phao khước nhất thân nhàn.
Cánh vô hộc tốc lao khiên duệ,
Doanh đắc âu ca thúy ái gian.

7. QUÊN TRÂU CÒN NGƯỜI

Gom áo nón, không vào non
Roi dây vứt bỏ nhàn luôn thân rồi
Há đâu lo sợ kéo lôi
Ngợi ca thoả chí khoảng trời biếc xanh.





8. NHÂN NGƯU CỘNG VONG

Nhất niệm không thời vạn cảnh không,
Trùng trùng quan cách khoát nhiên thông.
Đông Tây Nam Bắc liễu vô tích,
Chỉ thử hư huyền hợp chính tông.

8. NGƯỜI TRÂU ĐỀU QUÊN

Một niệm không, vạn cảnh không
Ải quan muôn lớp tự thông mọi đường
Không còn vết tích bốn phương
Chỉ huyền hoặc đó hợp cùng chính tông.

 


9. PHẢN BẢN HOÀN NGUYÊN

Ký nhiên vô tác hữu hà công?
Nhãn kiến như manh thính tợ lung.
Giản thủy trạm như lam sắc bích,
Sơn hoa khai tợ cẩm cơ hồng.

9. TRỞ VỀ CỘI NGUỒN

Chẳng làm nên, có công chi?
Thấy nghe như thể khác gì điếc đui
Trong veo nước suối xanh tươi
Nở bừng hoa núi tựa nơi gấm hồng.



 


10. NHẬP TRIỀN THÙY THỦ

Hoán khước bì mao chuyển bộ lai,
Y hy điểu chủy dữ ngư tai.
Thông thân cố thị hồn nê thủy,
Ngã thử tông môn yếu đại khai.

10. THÕNG TAY VÀO CHỢ

Đổi thay da thịt vào đời
Mỏ chim mang cá đôi nơi mịt mùng
Khắp thân vốn đẫm nước bùn
Cho gia tộc mở rộng luôn cửa Thiền.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).NIEM PHAT DUONG KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.28/2/2017.

No comments:

Post a Comment