Tu Bạt Đà La là đệ tử sau cùng của Đức Phật.
Đức Thế Tôn, bậc vĩ nhân của nhân loại ứng thân độ đời suốt 80 năm chưa từng lười mỏi. Như cơn lốc thổi dồn tất các thứ lá lại một chỗ. Đức Phật giáo hóa tất cả từ tri thức, ngu si, vương giả, bần cùng, cho đến kẻ thiện người ác. Ngài đem chánh pháp giáo hóa tất cả.
Phật dẫn thị giả A Nan hành hóa đến thôn Câu Xá Bà Đề. Đức Phật bảo A Nan thông báo cho các Tỳ- kheo tập hợp đầy đủ trong thôn. Khi chư Tỳ-kheo tụ hội đầy đủ, Đức Phật dạy:
Này các vị Tỳ-kheo! Hôm nay các thầy đến đây đầy đủ gặp nhau như thế này là tốt. Ta nay muốn nói với các thầy một việc.Từ khi ta chứng nhập Chánh Đẳng Chánh Giác, dạy bảo tất cả đệ tử giáo hóa đại chúng, lấy tâm từ bi hỷ xả đối với tất cả chúng sanh. Ta đã nói pháp độ vô số chúng, không từ nan khổ cực nào. Những giáo pháp cần giảng Ta đã giảng hết, Ta không có một bí mật nào giấu diếm các thầy.
Ứng thân của Ta trải qua 80 năm, nay đã già yếu. Thân tứ đại mục nát này sắp sửa hoại diệt. Đó là thuận theo luật vô thường mà thôi. Sau ba tháng nữa, tại thành Câu Thi Na, giữa hai cây sa-la Ta sẽ nhập niết-bàn tịch diệt, được vô thượng an ổn. Ta mãi mãi sẽ nhớ đến các ông, cùng giáo hóa tất cả những chúng sanh tín ngưỡng Ta ở đời vị lai.
Chư đệ tử nghe Phật nói sắp sửa nhập niết-bàn, các ngài tưởng chừng như mặt trăng, mặt trời không còn chiếu sáng trên trần gian .
Sáu điệu vang động khắp trời đất. Đức Phật lại nói tiếp:
– Các ông chớ thương tâm, trời đất vạn vật có sanh thời có tử. Đó là định luật vô thường không di không dịch. Chẳng ai có thể thoát khỏi định luật này. Nếu như ứng thân của Ta trụ mãi ở thế gian thì trái với phép tắc tự nhiên của trời đất. Ta thị hiện nói rõ chơn lý của vũ trụ, đương nhiên chẳng thể trái với pháp tánh. Các thầy nếu có thể y nơi giáo pháp của Ta truyền dạy mà tu hành thì Như Lai mãi mãi tồn tại trong tâm các thầy. Pháp thân huệ mạng của Ta trùm khắp tất cả chỗ, cùng tồn tại suốt đến vị lai.
– Các ông cần phải kiên định tin tưởng, y pháp phụng hành, tinh tấn tu học thánh đạo, trụ tâm bất loạn, sẽ được giải thoát phiền não, mới là đệ tử chơn chánh của Ta.
Đức Phật nói rồi lại đi tiếp đến thành Ba Bà, Vườn Xà Đầu. Trên đường đi gặp người thợ rèn Thuần Đà thỉnh cúng dường. Đức Phật tiếp nhận sự cúng dường của ông và từ bi vì ông ta giải đáp bốn loại sa- môn chẳng đồng. Thuần Đà rất cảm động. Thế Tôn nói bốn loại sa-môn là:
1.Sa-môn thành đạo là sa-môn thù thắng.
2.Sa-môn khéo nói đạo nghĩa.
3.Sa-môn nương đạo sinh sống.
4. Sa-môn làm ô uế đạo.
2.Sa-môn khéo nói đạo nghĩa.
3.Sa-môn nương đạo sinh sống.
4. Sa-môn làm ô uế đạo.
Cùng mang hình thức sa-môn nhưng có chơn có ngụy, có thiện có ác. Chẳng thể thấy một vài sa-môn bất thiện mà phỉ báng luôn cả tập thể tăng ni. Tợ như trong ruộng lúa tốt có mọc cỏ tạp, biết loại bỏ cỏ tạp thì được cây lúa. Cũng vậy, nên xa lánh những sa-môn bất thiện mà phải gần gũi thân cận thiện tri thức. Chẳng cần phải phê bình sa-môn tốt xấu thiện ác .
Sau đó Đức Phật ở thôn Am-bà-la, thị hiện bệnh tật nhưng Đức Phật vẫn không lưu lại một chỗ mà vẫn tiếp tục hành hóa.
Kim thân của Đức Phật xuất hiện hào quang chiếu khắp chẳng thể nghĩ lường. So với lúc bình thường, lúc này Ngài thật viên mãn, thật trang nghiêm, tợ như ánh sáng của mặt trăng, mặt trời.
Tôn giả A Nan thấy vậy chắp tay bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, từ xưa đến nay con theo hầu Ngài, hôm nay là ngày đầu tiên được thấy ánh sáng từ trên dung mạo Thế Tôn chẳng thể nghĩ lường, chưa bao giờ được thấy. Ánh sáng vô lượng vô biên biến khắp tam thiên đại thiên thế giới, thấu đến tất cả chỗ tối tăm.
Phật đáp lại: “Đúng thế! Sắc hào quang của Như Lai trong đời chỉ hiện hai lần, đó là lúc Như Lai mới thành đạo quả và khi sắp nhập niết-bàn.” A Nan nghe rồi rất cảm động, lại nghĩ đến sự ra đi mãi mãi của Thế Tôn, lòng buồn đau khôn tả.
Đức Phật nói rõ lý do rồi lại chầm chậm ra đi. Mọi người cũng bước sau lưng Ngài, vừa đi vừa ôm mặt khóc nức nở. Mọi người chứng kiến cảnh tượng bậc thầy vĩ đại vừa già, vừa bệnh không cầm lòng được, khóc rống lên như đứa trẻ thơ khát sữa mẹ.
Thế Tôn vẫn tiếp tục đi mặc dù Ngài rất mỏi mệt. A Nan buồn khóc đi theo sau một lúc mới hỏi:
Thế Tôn vẫn tiếp tục đi mặc dù Ngài rất mỏi mệt. A Nan buồn khóc đi theo sau một lúc mới hỏi:
– Bạch Thế Tôn! Ngài nhập niết-bàn chúng con phải làm những việc gì để an táng Ngài?
Đức Phật trầm tư một hồi rồi nói: “Tự Ta có thể dùng tam muội chơn hỏa trà tỳ thân xác của Ta. Các ông thu nhập xá-lợi chia cho các nước lân bang lập tháp để cho những người mộ đạo tín ngưỡng thờ ”
Như Lai chẳng phải là người ham muốn xây tháp thờ xá-lợi của mình mà Ngài vì chúng sanh, muốn cho họ được lợi ích an vui, nên chỉ dạy việc xây tháp cúng dường lễ bái để tạo phước đức.
Khi sắp đến rừng Sa-la ở thành Câu Thi Na, Phật mới bảo A Nan hãy thay Phật trải sàng tòa ở hai gốc cây Sa-la, đầu quay về hướng Bắc, mặt về hướng Tây. Ngài nói:
– Giáo pháp của Ta cuối cùng có thể sẽ rộng truyền phương Bắc, ở đời vị lai sẽ thịnh hành ở phương Tây. Trong đêm nay Ta sẽ nhập niết-bàn.
A Nan và mọi người nghe rồi khóc lóc thảm thiết. A Nan lúc này thân thể run lên, tâm tư buồn khổ, khóc than nghẹn ngào. Lúc đó A Nậu Lâu Đà an ủi A Nan rằng: “Đừng nên quá sầu khổ như vậy. Đã đến giờ Đức Như Lai nhập bàn, bây giờ còn có Phật sáng mai thời đã không. Ông hãy thưa hỏi Như Lai bốn điều”.A Nan lại hỏi Phật bốn điều:
1. Khi Phật còn trụ thế, chúng con nương Ngài làm thầy. Nay Thế Tôn nhập niết-bàn, chúng con nương ai làm thầy?
2. Khi Phật còn trụ thế, chúng con nương Ngài mà an trụ.Nay Thế Tôn nhập niết-bàn, chúng con nương gì mà an trụ?
3. Khi Phật còn trụ thế, những kẻ ác được Ngài điểu phục. Nay Thế Tôn nhập niết-bàn chúng con làm thế nào để điểu phục họ?
4. Khi Phật còn trụ thế, những Phật dạy mọi người đều tin hiểu. Nay Thế Tôn nhập niết-bàn, kiết tập kinh điển làm sao để mọi người tin tường ?
2. Khi Phật còn trụ thế, chúng con nương Ngài mà an trụ.Nay Thế Tôn nhập niết-bàn, chúng con nương gì mà an trụ?
3. Khi Phật còn trụ thế, những kẻ ác được Ngài điểu phục. Nay Thế Tôn nhập niết-bàn chúng con làm thế nào để điểu phục họ?
4. Khi Phật còn trụ thế, những Phật dạy mọi người đều tin hiểu. Nay Thế Tôn nhập niết-bàn, kiết tập kinh điển làm sao để mọi người tin tường ?
Đức Phật bảo A Nan: Lành thay! Lành thay! Bốn điều ông vừa hỏi là lời hỏi tối hậu có ích lớn cho tất cả thếgian. Các ông lắng nghe, khéo suy nghĩ ghi nhớ.
1. Ông hỏi sau khi Ta niết-bàn nương ai làm thầy? Nên nương giới luật làm thầy.
2. Ông hỏi sau khi Ta niết-bàn nương đâu mà an trụ? Nên nương tứ niệm xứ mà an trụ .
3. Ông hỏi sau khi Ta niết-bàn, gì điều phục người ác? Nên lấy giáo pháp chánh quán mà chỉ dạy. Nếu không được thì cách ly họ khỏi tăng đoàn.
4. Ông hỏi sau khi Ta niết-bàn, kinh điển làm sao để người tin?Đầu các kinh, nên để câu “Như thị ngã văn”.
2. Ông hỏi sau khi Ta niết-bàn nương đâu mà an trụ? Nên nương tứ niệm xứ mà an trụ .
3. Ông hỏi sau khi Ta niết-bàn, gì điều phục người ác? Nên lấy giáo pháp chánh quán mà chỉ dạy. Nếu không được thì cách ly họ khỏi tăng đoàn.
4. Ông hỏi sau khi Ta niết-bàn, kinh điển làm sao để người tin?Đầu các kinh, nên để câu “Như thị ngã văn”.
Các ông nên thường nghĩ đến chỗ sanh của Như Lai, chỗ ngộ của Như Lai, chỗ thuyết pháp của Như Lai, chỗ niết-bàn của Như Lai. Có nghĩa là thân phải hành từ ,miệng nói từ, ý nghĩ từ, hiện tại chẳng nên buồn thương, than khóc. Hãy đến giữa hai cây sa-la trải sàng tòa để Như Lai được sớm nghỉ ngơi.
Đức Phật nói rồi khiến mọi người càng buồn đau hơn, khóc lớn hơn.
Đức Phật đến dưới hai cây sa-la, mọi người nghe Phật nhập niết-bàn, từ muôn phương đều câu hội về thành Câu Thi Na đảnh lễ Đức Phật lần cuối cùng. Lúc này có một ngoại đạo tên là
Tu Bạt Đà La đã hơn một trăm tuổi, nhưng vẫn còn cường tráng. Ở trong chúng ngoại đạo, ông là một trong những người học rộng nhớ nhiều và có đạo đức, chỉ tiếc rằng chưa nghe được pháp Phật, do đó chưa khai ngộ.
Đức Phật đến dưới hai cây sa-la, mọi người nghe Phật nhập niết-bàn, từ muôn phương đều câu hội về thành Câu Thi Na đảnh lễ Đức Phật lần cuối cùng. Lúc này có một ngoại đạo tên là
Tu Bạt Đà La đã hơn một trăm tuổi, nhưng vẫn còn cường tráng. Ở trong chúng ngoại đạo, ông là một trong những người học rộng nhớ nhiều và có đạo đức, chỉ tiếc rằng chưa nghe được pháp Phật, do đó chưa khai ngộ.
Cách đây mấy hôm, ông nghe Đức Phật sắp nhập niết-bàn, nghĩ rằng đèn lớn trí tuệ của thế gian sắp tắt, thuyền pháp của nhân loại sắp chìm. Ông liền tìm đến yết kiến Phật xin Ngài chỉ giáo để trừ nghi hoặc trong tâm.
Tu Bạt Đà La đến rừng sa-la tìm Đức Phật xin quy y. A Nan thấy ông đi đến, sợ làm Phật mệt nên ngăn cản: “Thỉnh ông chẳng nên quấy rầy Thế Tôn, Ngài đang rất mệt. Trong đêm nay thôi, Ngài sẽ nhập niết-bàn.”
Tu Bạt Đà La năn nỉ A Nan: “Chính vì đêm nay Phật sẽ nhập niết-bàn. Do đó tôi mới gấp gáp đến đây thỉnh Ngài khai thị,để sớm trừ được nghi hoặc trong tâm .”
Tôn giả A Nan 3 lần từ chối, Tu Bạt Đà La 3 lần cầu thỉnh.

Đức Phật từ bi chẳng bỏ chúng sanh, nghe ông muốn đến cầu đạo, liền bảo A Nan:”A Nan chớ ngăn cản. Hãy để cho ông ta vào. Ông ta chính là đệ tử sau cùng của Như Lai, vì chỉ có Ta mới có khả năng giải nghi hoặc cho ông. Hãy để cho ông ta diện kiến đi!”
Tôn giả A Nan bèn dẫn ông đến trước Đức Phật. Gặp Phật, ông vui mừng hỏi rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Trên thế gian có các Sa Môn, Bà La Môn, lục sư ngoại đạo nói người biết tự kỷ là bậc nhất thiết Lại nói Ngài là ngoại đạo. Tôn giáo của Ngài là tà tông tà giáo, là chỗ hành của tự kỷ, không phải là đại đạo giải thoát .
Người ta nói giáo lý của Ngài là một con đường quanh co lộn xộn, khó mà hỗ tương nhau. Chánh tà, cứu cánh làm sao phân biệt được? Nếu chẳng phải cứu cánh thì lấy gì làm tiêu chuẩn? Vậy chúng con phải nương chỗ nào để được giải thoát?”
Đức Phật hoan hỷ mỉm cười hồi đáp:
Đức Phật hoan hỷ mỉm cười hồi đáp:
– Tu Bạt Đà La! Ông khéo biết hỏi Như Lai, Ta sẽ vì ông mà giải thích:
– Trên thế gian, không luận pháp môn nào. Nếu như người chẳng biết các hạnh vô thường, các pháp vô ngã, bàn tịch diệt đó là tam pháp ăn, thì ông chẳng thể nhận thức các pháp căn bản; và nếu như ông chẳng tu học chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, đó là tám chánh đạo, thì ông chẳng phải là người chơn chánh tu hành cho nên chẳng được giải thoát tự thân.
– Trên thế gian, không luận pháp môn nào. Nếu như người chẳng biết các hạnh vô thường, các pháp vô ngã, bàn tịch diệt đó là tam pháp ăn, thì ông chẳng thể nhận thức các pháp căn bản; và nếu như ông chẳng tu học chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, đó là tám chánh đạo, thì ông chẳng phải là người chơn chánh tu hành cho nên chẳng được giải thoát tự thân.
Tu Bạt Đà La, trên thế gian giáo pháp của ai có tam pháp ấn và bát chánh đạo thì duy nhất chỉ trong pháp của Phật giáo mới có bát chánh đạo. Chỉ có trong giáo pháp của Như Lai mới có sa-môn chân chánh giải thoát. Chỉ có Như Lai mới là người nhất thiết Tu Bạt Đà La, ông hãy quan sát giáo pháp của ngoại đạo chẳng có tam pháp ấn, không có bát chánh đạo để tu theo, đương nhiên là những người tu đạo này không thể giải thoát. Vậy mà các ông ấy nói có thể giải thoát, chẳng qua chỉ là vọng ngữ .
Tu Bạt Đà La! Từ khi Ta thành đạo cho đến nay thì trên thế gian mới có sa-môn chân chánh tu hành. Sau khi ta niết-bàn, chánh pháp lưu ở nhân gian, những người tín nhận tu theo sẽ được giải thoát giác ngộ. Chân lý của Ta chính là cội nguồn của tất cả trí tuệ.
Tu Bạt Đà La nghe pháp âm của Đức Phật hiểu được chân lý cao tột mà trước nay chưa từng được nghe, trong tâm muôn phần cảm phục, liền chứng được đạo quả A La Hán, cúi đầu đảnh lễ. Nguyện làm đệ tử cuối cùng của Đức Phật. Ngài dù mỏi mệt vẫn độ sanh, mọi người thấy vậy đều cảm động.
Đức Phật nằm kiết tường dưới hai gốc sa la. Chư đệ tử vây quanh bốn bề mọi người đều úp mặt khóc nức nở.
Khi ấy, rừng cây ngừng gió, chim thú im bặt, không một tiếng kêu, dòng suối chảy rì rầm, trăm hoa héo khô báo hiệu màu tang tóc. Cảnh vật trên thế gian tịch mặc, điêu tàn.
Khi ấy, rừng cây ngừng gió, chim thú im bặt, không một tiếng kêu, dòng suối chảy rì rầm, trăm hoa héo khô báo hiệu màu tang tóc. Cảnh vật trên thế gian tịch mặc, điêu tàn.
Đức Phật trong tâm như dòng nước ngừng chảy bình thường không dao động, an lạc lặng yên hướng về các đệ tử ân cần dặn dò những lời sau cuối.
Khi ấy, A Nan Luật đệ nhất thiên nhãn đứng lên lễ Phật rồi quỳ nói lớn: “Thưa toàn thể Đại chúng! Ai có thắc mắc nên bày tỏ để được Phật giáo huấn.”
Tất cả đều im lặng. Ngài A Nan Luật nói tiếp: “Như thế, không ai còn gì thắc mắc, chúng con đối với chân lý bốn thánh đế, mười hai nhân duyên, giả sử như mặt trăng có thể nóng, mặt trời có thể lạnh nhưng giáo pháp của Đức Thế Tôn là một chân lý không bao giờ thay đổi. Hết thảy Đại chúng hãy hướng về Thế Tôn chắp tay quỳ gối phát nguyện “Y giáo phụng hành”.
Bấy giờ, đúng lúc nửa đêm, ánh trăng tỏa rạng. Đức Phật đầu quay về hướng Bắc, chân xuôi về hướng Nam, nằm nghiêng phía tay phải, mặt quay vể phía Tây, lưng xoay về hướng Đông, Phật từ từ nhập vào niết-bàn. Bấy giờ Ngài đúng 80 tuổi. Mọi người ngậm ngùi đưa tiễn người cha vĩ đại nhất của nhân loại, người thầy bậc nhất của tất cả Sa Môn. Ngài hành đạo suốt 49 năm, đặt chân khắp hang cùng ngõ hẻm một cách tận tụy .HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.24/12/2016.

No comments:
Post a Comment