Đề Bà Đạt Đa.
Không có bóng tối nào hiện ra khi ánh sáng đến, không có tội ác nào không được cái thiện lành soi chiếu. Đức từ phụ của chúng ta ở trong tăng đoàn rất nhiều lần bị ám hại, Ngài vẫn an nhiên tự tại nhẫn chịu tất cả, vì biết đó là nghiệp báo đã tạo ở quá khứ không thể tránh khỏi.
Trên thế gian mãi mãi tồn tại sự tranh đấu giữa tà ma và chánh pháp. Chánh pháp càng hưng long thì sự bức hại của tà ma càng gia tăng. Đối với Đức Phật, ma nạn không phải là vấn đề đáng lo ngại, mà lo ngại là người xuất gia thiếu tu hành.
Một tu sĩ nếu tin nhận chánh pháp, đối đầu với tà ma ngoại đạo, vì chẳng khéo thì những thế lực xấu mới phá hại được. Còn ngược lại thì không thể làm gì được đối với những người tu hành chơn chánh. Nếu thực tu thì mới thành tựu được Phật quả vinh quang.
Trong hàng đệ tử của Đức Phật có rất nhiều vị trước khi xuất gia thuộc dòng Bà La Môn. Một hôm, Đức Phật hỏi các thầy ấy rằng: “ Các ông trước kia thuộc giai cấp Bà La môn, hiện tại đối với chánh pháp của Ta có tín tâm kiên cố. Từ khi theo Ta xuất gia học đạo đến nay, những người đồng môn trước kia có khiển trách các ông không?”
Mọi người thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Dạ có. Mọi người khiển trách chúng con là những người khờ dại, đi từ trên cao xuống dưới thấp, từ chỗ sang cả xuống chỗ thấp hèn, họ thương hại chúng con. Vì họ nói những người tu đạo Bà La Môn là đệ nhất tối cao, họ được sanh ra từ miệng Phạm Thiên, những người thuộc chủng tánh khác đều là hạ Bọn họ coi con là người bỏ chủng tánh thanh tịnh tôn quý để gia nhập vào giáo đoàn Phật giáo .”
Tuy Phật hỏi vậy, chứ Ngài sớm biết rõ việc này, Ngài mỉm cười giải thích:
– Này các vị!Xã hội đương thời phân biệt giai cấp chủng tộc không đồng nhau. Sát-đế-lợi, Bà La Môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la…, các giai cấp này được định trên nghiệp lực đã tạo, mỗi giai cấp đều có sự cai và phân loại công việc riêng. Sự hình thành giai cấp xã hội lúc này lấy giai cấp hạ liệt phục vụ giai cấp tôn quý.
Đó là một quan niệm sai lầm, không luận giai cấp nào đều có hai mặt thiện và ác. Ở trong giai cấp Sát- đế-lợi những người tạo nghiệp sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối;thì ở trong giai cấp Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà-la… cũng làm rất nhiều việc ác và vô số hành vi bất thiện.
– Tất cả phải chịu quả báo bất thiện ở tương lai. Giai cấp Bà-la-môn chấp rằng: Dù họ có tạo ác vẫn không bị định luật nhân quả chi phối. Hiện tại giai cấp Bà-la-môn lấy vợ, sanh con cùng tất cả mọi người không có gì chẳng đồng mà họ nói họ là con của trời Phạm Thiên, từ miệng Phạm Thiên sanh đó hoàn toàn là vọng ngữ, không bao giờ có chuyện như thế xảy ra.
Trong Phật Pháp của chúng ta, không luận là chủng tánh nào, hễ cạo tóc xuất gia, thay đổi pháp phục, chuyên tâm tu đạo đều có thể thành tựu thánh quả, là đệ nhất tối tôn.
Đức Phật chủ trương bốn giai cấp đều bình đẳng, điều này giống như vạn đạo hào quang soi chiếu nhân thiên cùng ma quỷ, khiến cho hết thảy được mát mẻ an vui. Chính chủ trương này làm tăng thêm sự thù ghét của những kẻ ác, cũng thế mà lòng quyết tâm muốn hãm hại Phật tăng thêm, chờ đợi cơ hội để báo thù Ngài, đoạt lấy tăng đoàn và thống lãnh giáo đoàn. Cầm đầu những người muốn đoạt lấy tăng đoàn là Đề Bà Đạt Đa .
Đề-bà-đạt-đa là con người có dã tâm lớn, là người chẳng biết an bổn phận của mình. Ông ta là một trong bảy vị vương tử xuất gia đầu tiên. Mỗi khi thấy Thế Tôn từ ái với những vương tử kia thì ông cảm thấy Phật bỏ rơi và lạnh nhạt với ông. Những lúc như vậy trong tâm ông tràn đầy bất bình, sân hận và lòng thù ghét Thế Tôn lại càng tăng trưởng.
Ông ta không hề nghĩ rằng trong tâm mình hoàn toàn bất tịnh, đố kỵ. Còn Đức Phật với tâm bình đẳng không phân biệt thân sơ, Đức Phật hoàn toàn hiểu rõ tâm tánh của ông ta. Đôi khi sợ ông tạo nghiệp thọ nhận quả báo xấu, Ngài lại bảo ông hoàn tục để tránh sự lộn xộn trong tăng đoàn và lãnh thọ ác nghiệp sau này. Tuy Phật nói vậy mà ông ta không một mảy may tiếp nhận lời khuyến cáo của Phật.
Một hôm, ông cầu xin Đức Phật dạy thần thông cho mình. Đức Phật cự tuyệt lời thỉnh cầu này vì người có tính cách ham cầu danh văn lợi dưỡng, không chịu tu dưỡng đức hạnh mà đòi có thần thông, chuyện đó chẳng thể chỉ dạy được. Đế Bà Đạt Đa trong tâm chẳng phục lại tìm đến thỉnh cầu tôn giả Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên cùng các vị đại A La Hán trong tăng đoàn dạy thần thông cho mình. Các vị này đều từ chối lời thỉnh cầu và bảo ông ta quán sát các đạo lý Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã.
Đề Bà Đạt Đa nhân việc này lấy làm ấm ức trong lòng, khởi tâm hiểm ác lập mưu đợi cơ hội để báo thù Phật cùng chư vị A La Hán. Ông ta nghĩ không báo thù, không thổi gió nổi mưa thì chẳng cam lòng.
Trải qua một thời gian, cuối cùng ông ta cũng có thần thông bèn tìm đến A Nan dạy cho A Nan học thần thông nhưng A Nan không chịu học. Ông bèn dùng thần thông dụ thái tử A Xà Thế, con vua Tần Bà Sa La. Thấy Đề Bà Đạt Đa có thần thông quảng đại nên A Xà Thế phát tâm quy y theo .
Vì tâm niệm Đề Bà Đạt Đa bất chánh muốn học thần thông để trục lợi cho mình và hại kẻ khác nên được chút ít cho là đủ. Chỉ một thời gian lại hoàn toàn thối thất vì đã khổ tâm học thần thông. Chỉ là A Xà Thế từ ban đầu đã quá thần tượng Đề Bà Đạt Đa, xem ông là một người phi thường nên rất cung kính, tôn trọng.
Ở thành Vương Xá, Đề Bà Đạt Đa được A Xà Thế lập một tăng viện uy nghi tráng lệ cúng dường. Mỗi ngày thái tử đem năm trăm xe ngựa chở đầy phẩm vật dâng cúng cho Đề Bà Đạt Đa. Một số đệ tử của Phật còn tâm ham cầu lợi dưỡng rời bỏ tăng đoàn gia nhập theo Đề Bà Đạt Đa.
Ông ta còn kêu gọi, chiêu mộ thêm tăng chúng bằng cách tìm kiếm dụ dỗ những người ham tài vật. Vì vậy, số chúng của Đề Bà Đạt Đa càng ngày càng tăng. Thậm chí có một số đệ tử của Đức Phật ban đêm thầm trốn đến chỗ của ông ta. Thấy thế, ông ta đến chỗ đông người chê cười Đức Phật. Một số người chẳng biết dã tâm của ông, càng không biết ông ta chỉ dùng những lời hoa ngôn xảo ngữ để lừa bịp mọi người. Chỉ có Đức Phật mới biết âm mưu của ông. Ngài gặp những người khen ngợi Đề Bà Đạt Đa nói rằng:
– Bố thí cho kẻ ngu si ham cầu tài lợi, chính là tựmình gieo trồng chủng tử xấu. Người tham sân còn giẫy trong tâm, chẳng tu hành thanh tịnh, mỗi ngày chỉ nghĩ đến việc thâu nạp nhiều đệ tử, muốn thống lãnh mọi người, lấy tâm tham cầu danh văn dưỡng, tưởng mình đã chứng đắc niết-bàn thanh tịnh, nhưng chẳng thể đạt được. Do đó, các ông chẳng cần đến chỗ Đề Bà Đạt Đa cúng dường. Như vậy chỉ làm cho lòng tham của ông ta càng ngày càng tăng trưởng, tâm ông ta luôn dao động, không tu hành chơn chánh và đặc biệt là chưa chứng đạo quả. Nếu giúp ông ta, các người sẽ cùng ông ta tiến thẳng vào địa ngục .
Tuy Phật đã cảnh báo với mọi người, nhưng những người ý chí bạc nhược, thấy Đề Bà Đạt Đa vật chất dồi dào, lại có thần thông, nên phân vân chẳng biết bên nào đúng, và chẳng thể xả bỏ nhược điểm yếu hèn của nhân tình nên vẫn theo Đề Bà Đạt Đa. Vì vậy, thế lực của ông ta ngày càng mạnh. Tuy nhiên vẫn không thể nào vượt qua được oai đức và sự vô úy của Đức Phật.
Đề Bà Đạt Đa nay đương cơ là lãnh tụ một nhóm tu sĩ nên chẳng thể ra tay sát hại Đức Phật bèn thuê một số người ác làm hại Phật. Khi Đức Phật thiền định trong núi Kỳ Xà Quật thì nhóm du đảng này vào ám sát Ngài. Với oai đức từ bi của Phật, đã làm cho bọn du đảng bị chinh phục, quá cảm động xin quy y với Phật.
Đề Bà Đạt Đa sau khi phái người đi hành thích Đức Phật thất bại, chư đệ tử của Thế Tôn rất lo lắng cho sự an nguy của Ngài nên luôn đi theo bảo vệ một cách nghiêm cẩn. Họ cầm gậy gộc đi theo sát Ngài. Rồi một đêm Đức Phật ra ngoài chư tỳ-kheo cũng theo bảo vệ. Đi được một đoạn, Ngài nghe âm thanh ồn ào phía sau liền quay đầu hỏi các sa-môn là chuyện gì? Sau khi nghe rõ đầu đuôi, Ngài mỉm cười bảo các tỳ-kheo rằng:
– Sanh mạng của Như Lai chẳng thể dùng sức người có thể phòng hộ được. Ta chẳng thường nói với các ông rằng tu đạo cho tốt thì công đức của sự tu hành đó có thể phòng hộ cho mình. Đó chính là sự phòng hộ tốt nhất, gậy gộc gươm đao chẳng thể giải quyết được tranh đấu, các ông hãy mở lòng để hiểu rằng ứng thân của Như Lai một khi rời bỏ thế gian thì liền nhập niết-bàn, còn pháp thân của Như Lai thì mãi mãi tồn tại ở thế gian này.
Chư tỳ-kheo nghe Phật khai thị vô cùng cảm động, hổ thẹn giải tán. Những người có sự tu tập siêng năng cần mẫn khi nghe Phật nói pháp thì muôn phần bội phục được lợi ích an vui. Những người thiếu tu tập nghĩ rằng Phật rất là yếu sẽ không tự phòng hộ cho mình được, trong tâm sợ Phật bị hại; cũng giống như ai đánh mình thấy đau lòng vô cùng.
Rồi một hôm, Đức Phật cùng A Nan từ núi Kỳ Xà Quật trở về tịnh xá, Đề Bà Đạt Đa mai phục chờ Phật đi đến xô đá từ trên núi cao xuống để làm hại Phật. Đức Phật vẫn từ từ thong thả tiến bước, còn A Nan dưới chân núi nghe đá lăn hoảng sợ chạy tránh sang một bên. Một tảng đá lớn lăn xuống bên thân Phật làm chân Phật chảy máu, A Nan lo sợ còn Đức Phật thì an tường nói:
– Này A Nan, dùng bạo lực âm mưu làm hại Như Lai, việc đó chẳng thể được, ông không cần lo sợ. Mỗi người tạo nghiệp đương nhiên phải nhận lãnh hậu quả. Cảnh giới của ta không có nguy hiểm nào có thể chạm đến. Nhưng Đề Bà Đạt Đa thì khác, ông ta sẽ vào địa ngục không lâu nữa.
A Nan nghe nói nên hết lo sợ, khuôn mặt bớt căng thẳng, mỉm cười. Đức Phật cũng mỉm cười lấy tay xoa đầu A Nan. Xong hai thầy trò lặng lẽ tiếp tục đi.
Lại một hôm khác, Đức Phật cùng thị giả A Nan đi trên đường bỗng thấy Đề Bà Đạt Đa cùng đệ tử tiến đến. Đức Phật liền quay sang hướng khác, A Nan thấy vậy chẳng vui liền hỏi Phật:
– Bạch Thế Tôn! Ngài vì sao phải nhường đường cho Đề Bà Đạt Đa? Ông ta là đệ tử của Ngài. Chẳng lẽ Ngài sợ ông ta?
Đức Phật biết trong tâm A Nan còn đầy bất bình bèn an ổn hồi đáp :
A Nan! Như Lai không phải sợ ông tachỉ là chẳng muốn cùng ông ta tương phùng, hà tất phải gặp mặt một kẻ ngusi.Ông ta hiện tại tâm tưởng toàn đầy tà kiến đồng nhưcon chó dữ, chúng ta chẳng nên xúc phạm ông ta, nếu không tất cả những sân si điên đảo sẽ tăng tột cùng .
Tuy Phật nói vậy, nhưng tâm A Nan chẳng phục. Chỉ là hiện thời chưa có pháp để trị ông anh ruột hèn hạ của mình.
Đề Bà Đạt Đa muốn làm hại Phật nên không chừa một thủ đoạn nào. Ông ta biết thái tử A Xà Thế rất tín tâm với mình. Chỉ vì cha thái tử là vua Tần Bà Sa La thì lại tín phụng Đức Thế Tôn. Ông ta muốn đánh đổ Thế Tôn thì phải triệt hạ vua Tần Bà Sa La.
Đề Bà Đạt Đa muốn làm hại Phật nên không chừa một thủ đoạn nào. Ông ta biết thái tử A Xà Thế rất tín tâm với mình. Chỉ vì cha thái tử là vua Tần Bà Sa La thì lại tín phụng Đức Thế Tôn. Ông ta muốn đánh đổ Thế Tôn thì phải triệt hạ vua Tần Bà Sa La.
Do vẫn chưa hại được Phật, Đề Bà Đạt Đa suy nghĩ phải mượn thế lực chính trị. Bèn xúi A Xà Thế hạ ngục vua cha để lên ngôi hoàng đế. Sau khi lên ngôi hoàng đế A Xà Thế niệm ân Đề Bà Đạt Đa đã bày cho mưu kế, nên phong Đề Bà Đạt Đa làm quốc sư.
Vua Tần Bà Sa La bị thái tử nhốt ngục và không cung cấp đồ ăn thức uống, vua chịu muôn ngàn thống khổ của ngục tù đói khát. Vua ứng dụng phương pháp mà Thế Tôn đã dạy, đem những chân lý này tu tập tự mình an ổn. Ông lại hy vọng A Xà Thế thực hiện lời hứa với mình là đến chỗ Đức Thế Tôn tìm một vị sa-môn để khôi phục tự do cho vua.
Lúc này Đề Bà Đạt Đa tìm vương tử A Xà Thế nói: Người dân rất tin yêu và kính phục phụ vương của bệ hạ.
Nếu như trả lại tự do cho vua Tần Bà Sa La, có nghĩa là khôi phục lại thế lực của một quốc vương. Bệ hạ nhất định sẽ thất bại trong tay phụ vương của bệ hạ.
Nếu như trả lại tự do cho vua Tần Bà Sa La, có nghĩa là khôi phục lại thế lực của một quốc vương. Bệ hạ nhất định sẽ thất bại trong tay phụ vương của bệ hạ.
Nếu muốn lãnh đạo đất nước, chúng ta nhất định phải giết ông ta và Đức Phật cùng một lúc. Sanh mạng phụ vương Tần Bà Sa La của bệ hạ do ngài phụ trách, không cần ta phải giúp đỡ. Sanh mạng của Phật Đà sẽ do ta tìm cách gia hại không cần ông giúp đỡ.
A Xà Thế không hề tỏ ra lo lắng đáp ứng liền. Điều này làm vui lòng Đề Bà Đạt Đa. Ông ta lấy con voi cuồng ở trong cung phục rượu cho thật say nghĩ rằng nó sẽ chà nát thân Đức Phật. Khi Đức Phật từ xa đi lại con voi say điên cuồng chạy đến như muốn giết Phật. Nhưng khi đến gần thì nó bị oai đức và lòng từ bi vô biên của Đức Phật cảm hóa. Nó đứng khựng rồi lại quỳ mọp dưới chân Đức Phật.
Đề Bà Đạt Đa kêu gọi toàn bộ lực lượng giúp ông hại Đức Phật nhưng vẫn không thành công. Mọi hành vi thấp hèn chiêu cảm quả báo xấu nên tức thì đất nứt ra nuốt ông ta vào lòng đất, đọa vào địa ngục thọ khổ báo triền miên.

Sau khi Đề Bà Đạt Đa chết một cách thê thảm thì A Xà Thế bắt đầu dần dần cảm thấy hối hận. Vua A Xà Thế lúc này cũng bị nghiệp báo hiện tiền, trên thân mắc bệnh rất nặng, tâm vô cùng bất an, sầu khổ, hối hận. Sau được danh y Tỳ Bà trị lành thân bệnh. Khuyên ông ta nên đến vườn Lê bái kiến Đức Phật đang nói Pháp: “Bệ hạ hãy đến đó mà cầu sám hối.”
Vừa đến vườn Lê, A Xà Thế thấy mọi sự im lặng lạ thường, trong lòng sinh lo sợ, lại do dự chẳng dám tiến vào. Chính lúc này trong không trung phát ra âm thanh:
A Xà Thế! Ta là Tần Bà Sa La, cha của con đây. Con hãy mau đến chỗ Phật Đà khẩn thiết cầu sám hối đi. Ta nay bảo cho con biết là đèn pháp sắp tắt rồi, thuyền pháp sắp chìm, cây pháp sắp sửa bị đốn ngã, hoa pháp cũng sắp tàn tạ, hôm nay coi như chỉ còn chút hy vọng vì Đức Thế Tôn sắp sửa nhập niết-bàn. A Xà Thế, con đã phạm ngũ nghịch tội, chẳng bao lâu nữa sẽ đọa vào địa ngục, ta rất thương vì con là đứa con duy nhất của ta. Con hãy mau đến cầu Thế Tôn cứu giúp, trừ Đức Đại Giác ra, đời đời kiếp kiếp không ai cứu độ được con .
A Xà Thế khi nghe tiếng của cha một mực vẫn thương yêu mình, không thể đứng yên, đau đớn vô cùng, ngã qụy xuống đất. Một lúc sau tỉnh dậy, nhanh chân tiến bước vào trong, đến trước Đức Phật chấp hai tay quỳ xuống khóc lóc thưa: “Bạch Thế Tôn! Thỉnh Ngài soi xét tâm con. Để con được sáng suốt.”
Đức Phật từ bi nhìn xuống đáp: “Đại vương, ông đã đến! Ta đã đợi ông rất lâu.” A Xà Thế hai chân quỳ xuống xấu hổ cúi đầu thưa:
Đức Thế Tôn từ bi chứng minh! Con là kẻ ác nhân, vậy mà Ngài vẫn dùng lời từ ái đối với con, con thật cảm kích. Lòng từ của Ngài quá rộng lớn, chan rải khắp tất cả. Đến hôm nay con mới được gặp chánh đạo. Con đã tự tay giết mất người cha vô tội của con. Con từ đó đến nay hối hận thì đã quá muộn, trong lòng luôn bất an sầu khổ. Cúi xin Phật Đà từ bi cứu giúp .
Đức Phật dạy: “Trên thế gian này hai loại người được an lạc hạnh phúc. Một là người tu thiện không tạo tội. Hai là người đã lỡ tạo tội mà biết sám hối. Hiện tại cơ duyên của đức vua đã thuần thục, biết lỗi mình tạo thì tốt rồi. Làm người ai lại không phạm lỗi? Biết lỗi và cải hối là một người tốt .”
– Pháp môn của Ta rộng lớn vô biên, ông thời thời khắc khắc phải tự tâm sám hối, tội nghiệp không có bản thể chắc thật, có thể sám hối. Nếu nhất tâm sám hối sẽ khiến cho tâm thanh tịnh, tội nghiệp có thể được tiêu trừ. Rõ được tâm và tội là không, là huyễn chẳng thật. Đó là chơn thật sám hối.
Đại vương! Ngài hãy lấy lòng nhân đức để trị dân, lấy đức độ để cảm hóa nhân dân, làm hạnh chân chính, chẳng nên làm những việc phi pháp. Hãy để cho danh tiếng Ngài là một người lành thiện, đức độ, thương dân như con, lưu truyền hậu thế. Nhất định mọi người sẽ tôn kính cảm phục. Những gì của quá khứ hãy để cho nó qua đi, hiện tại phải tự mình làm mới lại từ đầu để trở thành một người chơn chánh tu đạo. Biết hành thiện tâm sẽ được an ổn .
– Nếu muốn tiến xa hơn thì phải tu pháp vô vi, chứng quả vô vi, lúc đó là được giải thoát.
A Xà Thế nghe Phật Đà khai thị, như được sinh ra một lần nữa, tín tâm tràn đầy, ông ta rất hoan hỷ, tất cả sầu khổ như mây bay, như chim trời một lúc bay mất. Vị hoàng đế trẻ cảm kích quỳ trước Thế Tôn khóc to như một đứa trẻ thơ nhớ mẹ. A Xà Thế liền phát tâm quy y và được Đức Phật cứu độ .HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.24/12/2016.

No comments:
Post a Comment