Ba vị tỳ-kheo A Na Luật-Bạt Đề-Kim Tỳ La.
Đức Thế Tôn sau khi thành đạo, Ngài du hóa khắp hang cùng ngõ hẻm độ vô số đệ tử. Với tâm bình đẳng, Đức Phật đã xuất gia cho mọi thành phần trong xã hội, vốn không đồng căn cơ. Chính điều này làm cho đời sống tăng đoàn trở nên phức tạp. Một đoàn thể mấy ngàn người chung sống, mỗi người một tập khí, mỗi người một ý nghĩ thì sự phức tạp là điều tất nhiên.
Lúc này, trong tăng đoàn còn rất nhiều người tâm phàm chưa dứt sạch, cũng đồng nghĩa là đạo quả chưa thành nên chấp chặt vào sự hiểu biết của mình làm cho đoàn thể thường xảy ra nhiều ý kiến nên tranh cãi .
Một hôm, Phật thuyết pháp ở Câu Đàm Di, các tỳ- kheo tại đây vì bất đồng ý kiến, chẳng ai chịu nhường ai, bên nào cũng cho mình là đúng, gây xung đột dữ dội, xem chừng như muốn đánh nhau. Thế Tôn biết chuyện tập hợp đại chúng bảo rằng:
– Các ông hãy ngừng tranh cãi, càng tranh cãi thì mâu thuẫn càng lớn khó giải tỏa. Chỉ có nhẫn nhịn mới có thể dừng tranh cãi.Ta hy vọng các ông biết tự tôn trọng đức hạnh của mình, chớ đánh mất tư cách và phẩm chất của một người xuất gia.
Đức Phật nói rồi liền bảo mọi người giải tán. Tuy Thế Tôn đã khổ tâm đắng miệng dạy bảo, nhưng vì còn là phàm phu, tập khí nhiều đời sâu dày nên chẳng thể một sớm một chiều mà thay đổi được tính tình của các vị. Cho nên việc cãi vã vẫn liên tục xảy ra trong tăng đoàn .
Phật đối với những tỳ- kheo thiếu thiện căn này vì muốn họ được an lạc lợi ích nên đã cặn kẽ giảng dạy giáo pháp. Nhưng họ mù tối không biết nương ánh sáng Phật Pháp tu hành nên càng lúc càng lún sâu vào con đường tội lỗi. Còn những người có thiện căn khi nghe Thế Tôn khai thị dạy răn, cảm động hồi tâm hối lỗi, tinh tấn tu hành được lợi ích an vui.
Ngày hôm đó, sau khi can gián đệ tử không thành. Thế Tôn thất vọng thong thả đi vào thôn xóm tùy duyên đem chánh pháp phổ độ nhân sinh, tuyên dương chân lý từ bi và bình đẳng.
Ngài một mình đi đến rừng Ba Lợi của Sa La. Đây là khu rừng già rậm rạp mát mẻ. Trong đó có ba vị đệ tử an ổn tu hành. Ba tỳ-kheo A Na Luật, Bạt Đề, Kim Tỳ La lặng lẽ tinh tấn hòa kính nhau. Các vị vốn là anh em chú bác, trước cũng đã rất thương yêu đùm bọc nhau.
Sau khi xuất gia tình cảm này càng sâu đậm hơn, bởi lẽ nay đã là huynh đệ đồng một Đức Từ Phụ. Các vị nguyện suốt đời nối gót Thế Tôn, nương nơi giáo pháp của Tôn Sư tuyên dạy, cố gắng tu hành nghiêm chỉnh để sớm được giải thoát giác ngộ. Ba người ước định với nhau, cứ mỗi sáng sớm, sẽ cùng vào thôn xóm khất thực, nếu ai trở về trước thì quét dọn trong ngoài sạch sẽ, trải sàn tọa, kiểm tra các bình nước, nếu hết thì xuống suối xách nước đem đổ đầy các bình.
Mọi việc hoàn tất, người ấy sẽ đi rửa mặt, rửa chân, ngồi quán tưởng và thọ trai. Trước khi thọ thực người ấy san sớt thức ăn vào một cái bát khác. Thức ăn này để dành cho vị tỳ-kheo nào khi đi khất thực không đủ thức ăn. Khi các vị kia về thì nước uống và nước rửa tay chân đã có sẵn. Họ chỉ việc rửa mặt, rửa chân và thọ trai. Nếu thức ăn còn dư, sẽ đem đổ ở chỗ đất trống hoặc trong nước nơi không có loài vật sinh sống .
Mọi việc hoàn tất, các thầy rửa tay chân, trải tọa ngồi, đoan chánh niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng và tọa Thiền. Ba tỳ-kheo sinh hoạt trong sự hòa hợp, đầy đủ oai nghi.
Ba vị nhập định cho đến hoàng hôn buông xuống, xả định đi kinh hành, đi lấy nước tắm. Nếu cảm thấy không thể làm một mình thì đưa tay ra dấu nhờ người kia giúp đỡ, ba vị tu hành trong im lặng.
Cứ năm ngày một lần, các vị lại cùng nhau học hỏi giáo lý, trao đổi kinh nghiệm tu hành, đời sống hồn nhiên thanh tịnh, vui vẻ hòa hợp như nước hòa với sữa. Cuộc sống của ba thầy tràn đầy ý nghĩa và tôn kính. Đây mới chính là những tỳ-kheo tu hành chân chính và đạo hạnh.
Ráng chiều loang lổ, Đức Thế Tôn lặng lẽ đi vào rừng, lòng tràn đầy hỷ lạc. Khi đến cửa rừng, Ngài bị người giữ rừng ngăn lại không cho đi vào bên trong. Ông chưa từng gặp Phật, đương nhiên không biết Ngài là bậc Thầy cao cả của ba thầy tỳ-kheo đang tu trong rừng.
Tuy vậy, vẫn kính cẩn thưa: “Thưa Sa- môn! Xin Ngài chớ vào. Trong đây có ba vị thánh giả an trụ tu hành. Xin Ngài đừng vào làm kinh động các vị ấy”
Đức Phật mỉm cười từ tốn đáp: “Hãy vào nói với họ là Như Lai đến. Bọn họ thấy Ta sẽ rất hoan hỷ.”

Người giữ rừng đem những lời này vào trình bày với ba thầy tỳ-kheo. Nghe tin Đức Phật quang lâm, các vị rất vui mừng, liền ra cửa rừng nghênh đón. Đức Phật mỉm cười nhìn ba đệ tử với ánh mắt trìu mến. Ba vị cung kính đảnh lễ rồi mời Đức Phật vào thất. A Na Luật đỡ y bát của Ngài, thầy Đề Bà trải tọa cụ mời Thế Tôn an tọa, Kim Tỳ La lấy nước rửa chân. Thấy cung cách điềm đạm, nét mặt rạng rỡ vui tươi của ba đệ tử, Ngài lấy làm vui lòng nói :
– Các thầy ở đây an ổn tu hành, không tranh chấp, cuộc sống yên bình hòa ái.Các thầy thực hành giáo lý lục hòa một cách triệt để. Thật đáng khen ngợi! Thật đáng tán thán!
Đức Phật ca ngợi sự hòa hợp rồi thuận đó nói thêm đạo lý Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần, Bát chánh đạo. Nghe Thế Tôn khai thị rồi, ba vị càng thêm tín tâm đối với chánh pháp. Trong lòng được muôn phần lợi ích hoan hỷ .HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.28/12/2016.

No comments:
Post a Comment