Đã quy y Tam Bảo phải dứt điều ác, làm việc lành, gắng giữ trọn luân thường,
phát lòng tín nguyện cầu sanh về Tây Phương. Lại phải có lòng thương xót hộ
sanh, đừng giết hại, và trì Lục Trai hoặc Thập Trai. Nếu chưa có thể dùng thanh
đạm trọn đời, cũng chớ nên quá tham trong sự ăn uống. Như thế mới không trái với
tâm từ bi của Phật.
Người thường ý chí kém, tâm lại
quá cao, tuy nói vâng lời , thật ra toàn là y theo thiên kiến của mình. Trong
môn Tịnh Độ, lòng tin là cội gốc. Tin được chắc, kẻ phạm tội ngũ nghịch thập ác
đều có thể vãng sanh; tin chưa vững, bậc thông Tông thông Giáo còn hoặc nghiệp
cũng không duyên phận. Ngươi đã chẳng phải là bậc thông Tông Giáo, có thể nương
sức mình trừ hoặc nghiệp để khỏi sanh tử, lại không tin nơi sức Phật và công đức
của tự tánh đều không thể nghĩ bàn, thì làm sao để giải thoát? Phải biết, nếu đủ
tín nguyện sâu thiết cầu về Tây Phương, không người nào chẳng được vãng sanh.
Niệm Phật là pháp tròn tắt mau lẹ để thoát nẻo luân hồi; với sự hướng thượng của
môn nầy, nhiều người còn chưa biết, lại sanh lòng háo thắng đi nghiên cứu nhiều
mon tuy là cương yếu của Phật Pháp, nhưng khó đem sự lợi ích cho người căn tánh
kém và kẻ sơ cơ. Dù cho nghiên cứu được thông suốt không còn nghi, đến khi dụng
công lại phải y theo phép Niệm Phật Cầu Sanh mới là ổn thỏa. Nếu nói về lý giải,
lại còn có những nghĩa của Pháp Tướng, Thiền, Giáo rất nhiệm mầu, làm sao thông
suốt cho hết được? Tâm người thường cao mà không biết hạn lượng sự cao theo sức
mình! Thường tự cho rằng “căn tánh hèn kém, khó mong sanh về Tây Phương, chỉ cầu
không đọa tam đồ cũng vui lòng”, đâu biết nếu chẳng được vãng sanh, tương lai sẽ
bị đọa vào ác đạo? Các môn Pháp Tướng, Thiền, Giáo, nghiên cứu trọn đời cũng khó
nắm được chỗ quy thú, dù được, còn phải dứt sạch hết hoặc nghiệp mới thoát khỏi
luân hồi. Nói đến việc nầy, e rằng mộng không thành mộng đó
thôi!
Pháp môn Tịnh Độ nương nhờ sức từ của Phật, các
pháp môn khác chỉ dùng sức mình. Những môn kia đều là giáo lý thông thường, như
sĩ phu trong đời do tài đức mà làm quan cao thấp. Môn Tịnh Độ là giáo lý đặc
biệt, như thái tử mới sanh đã tôn quí hơn quần thần. Vì thế, hai bên không thể
sánh nhau, mà phàm phu nghiệp chướng vẫn nhiều, há chẳng dè dặt trong sự lựa
chọn pháp môn để tu hành ư?
Người đời khi có bệnh
hoặc gặp những sự nguy hiểm tai nạn, thường thường không biết niệm Phật làm
lành, lại lầm lạc muốn cầu cứu với quỷ thần. Do đó giết hại sanh mạng gây thêm
tội nghiệp, thật rất đáng thương! Bệnh khổ cùng những tai họa, phần nhiều đều do
nghiệp đời trước gây ra; nếu niệm Phật, sám hối, làm lành thì tội chướng sẽ
tiêu, bệnh được mau mạnh. Loại quỷ thần kia chính họ hãy còn ở trong biển
nghiệp, đâu có thể khiến cho người tiêu nghiệp? Dù cho hạng chánh thần có oai
lực lớn chăng nữa, oai lực ấy so với thần lực của Phật, Bồ Tát chẳng khác chi
lửa đom đóm sánh cùng ánh sáng mặt trời! Người Phật tử không chịu nương tựa
Phật, Bồ Tát, trở lại cầu cứu với quỷ thần, đó là tà kiến.
Người niệm Phật khi có bệnh, phải một lòng đợi chết, nếu thọ mạng chưa
dứt, sẽ được an lành. Vì khi buông cả toàn thân mà niệm Phật thì nghiệp chướng
tiêu rất mau, nghiệp tiêu tất nhiên bệnh được lành mạnh. Nếu chẳng buông bỏ muôn
duyên, chỉ mong mau lành mạnh, thảng như bệnh không hết, thì phần vãng sanh sẽ
phải mất, bởi vì không có tâm nguyện cầu sanh. Như không hiểu rõ đạo lý này, đâu
có thể nhờ từ lực của Phật tiếp dẫn ư?
Thường người túc căn rất sâu, hiện hạnh lại tinh thuần khi tu mới
có những cảnh tượng lạ . Nhưng người đời nay phần nhiều hay ưa danh vọng, có
được nửa phần một phần, liền nói đến trăm ngàn muôn phần. Như trong quyển ký lục
của vị cư sĩ nọ, những cảnh giới của y đều do tự ý vẽ vời ra khác hẳn với sự
thật. Ngươi đã không nói dối, nhưng e hoặc khi có tập quán đó thì lầm lỗi rất
nhiều! Đức Phật đem tội nói dối liệt vào trong năm giới căn bản, chính là để
phòng ngừa mối tệ ấy. Như về việc thường, không thấy nghe nói thấy nghe, tội hãy
còn nhẹ. Nếu cố ý muốn xây dựng lâu các giữa hư không, dối nói những cảnh giới
nhiệm mầu, chưa chứng đắc bảo rằng chứng đắc, tức là đại vọng ngữ, tội này nặng
hơn giết, trộm, dâm trăm ngàn muôn ức lần. Người đã phạm, nếu không hết sức sám
hối, tất sẽ bị đọa vào ngục A Tỳ, vì lời nói ấy làm cho chúng sanh nghi lầm, có
thể phá hoại Phật Pháp. Vậy ngươi cần phải thận trọng với những cảnh đã thấy,
chớ nên nói thêm bớt một mảy ly. Nếu thêm bớt tức là có lỗi, vì bậc tri thức
chưa chứng được tha tâm đạo nhãn, chỉ dùng lời nói làm bằng cớ để phán đoán mà
thôi. Đem những cảnh giới như thế tỏ với bậc trí thức để cầu quyết trạch sự
chơn, giả, chánh, tà, thì không lỗi. Nếu không vì việc chứng minh quyết trạch, ý
muốn tự khoe cũng có lỗi. Lại, chỉ nên tỏ cùng bậc tri thức cầu xin chứng minh,
ngoài ra chớ nên nói với ai, nếu lộ bày thì có hại, vì về sau không còn được
thấy cảnh giới ấy nữa. Đây là điều quan hệ thứ nhất của người tu hành, mà trong
Thai giáo thường nói đến. Cho nên người niệm Phật đời nay phần nhiều hay bị ma
dựa, đều do dùng tâm vọng động mong được những cảnh lạ thường. Đừng nói cảnh ấy
là ma, dù có thắng cảnh, nếu sanh lòng vui mừng tham trước cũng bị tổn hại,
huống chi vị tất quả thật là thắng cảnh ư? Nếu người có công hàm dưỡng, dứt hẳn
tâm vọng động, khi thấy các cảnh giới, không vui mừng, tham trước, sợ hãi, nghi
ngờ, thì dù gặp ma cảnh cũng được lợi ích, nói gì là cảnh nhiệm mầu? Sở dĩ được
như thế, là bởi không bị ma chuyển nên có thể tiến triển
thêm.
Thiết nghĩ trong thể
đạo Phật, Tiên, vẫn đồng nguồn, nhưng về chi phái thật ra cách nhau xa khác. Đạo
Phật dạy người trước tiên tu phép quán Tứ Niệm Xứ, quán thân không sạch, thọ là
khổ, tâm vô thường và pháp vô ngã. Khi được biết thân, thọ, tâm, pháp là không
sạch, khổ, vô thường, vô ngã, đều giả dối như mộng huyễn, thì tánh chơn như sẽ
tự hiện bày. Đạo Tiên ước về lúc chánh truyền ban đầu, cũng không chuyên chủ nơi
sự luyện đơn vận khí để cầu trường sanh, nhưng người sau tu hành lại lầm cho đó
là tông chỉ chơn chánh. Đạo Phật bao trùm tất cả pháp, chẳng những đối với vấn
đề thân tâm tánh mạng, phát huy rõ ràng, mà các việc nhỏ của thế đế như hiếu,
đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, cũng không bỏ sót. Duy về việc luyện đơn
vận khí, trong Phật Pháp tuyệt không nói đến một chữ, lại còn răn cấm là khác
nữa. Vì lẽ bên Tiên thì khiến cho người giữ gìn thân tâm làm chân thật, bên Phật
lại chỉ rõ thân tâm vốn giả dối, theo duyên sanh diệt, không phải là bản hữu
chân tâm. Phép luyện đơn chẳng phải không bổ ích, song chỉ có thể làm cho người
sống lâu, nhẫn đến thành Tiên sanh lên trời, nếu nói về sự giải thoát luân hồi
thì vẫn còn là việc mộng. đã biết Tiên có số kiếp, Phật thọ không cùng, thì muốn
vượt sinh tử, phải chuyên tâm gắng sức nơi pháp môn Tịnh
Độ
Xá Lợi, vốn tiếng Phạn,
dịch nghĩa: thân cốt hoặc linh cốt, là kết tinh của sức tu giới định huệ, không
phải do luyện khí thần mà thành. Đó cũng là biểu tướng của người tu đến cảnh tâm
cùng Phật hiệp. Nhưng xá lợi chẳng phải chỉ do thịt, xương, tóc biến thành trong
lúc thiêu thân, mà sự xuất hiện của nó có nhiều trường hợp khác nhau. Như thuở
xưa có vị cao tăng đang khi tắm gội bỗng được xá lợi. Tuyết Nham Khâm Thiền Sư
lúc cạo đầu, tóc Ngài biến thành một xâu xá lợi. Có kẻ chí tâm niệm Phật, xá lợi
từ trong miệng vọt ra. Một người thợ khắc văn Long Thơ Tịnh Độ, xá lợi hiện
trong bản cây. Có vị tín nữ thêu Phật, thêu kinh, được xá lợi dưới mũi kim. Lại
có kẻ đi xa về, ngậm ngùi thương cảm tế lễ trước tượng, nơi tượng bỗng hiện ra
xá lợi. Thiền Sư Trường Khánh Nhàn, khi tịch rồi thiêu hóa, nhằm lúc trời nổi
gió lớn, khói bay xa ba bốn mươi dậm, khói đến chỗ nào nơi ấy đều có xá lợi,
lượm gom lại được hơn bốn thạch. Thế thì biết xá lợi do đạo lực hóa hiện, nhà
luyện đơn không rõ, lầm tưởng là luyện tinh khí thần kết thành. Bởi họ thấy
những danh tướng trong Phật Pháp, không chịu tìm hiểu căn nguyên, vội đem phụ
hội một cách sai lạc vào sự luyện đơn của mình. Chỉ nghe nói chứng quả bồ đề mới
được thành Phật, chưa từng có việc luyện tinh khí thần, trước thành xá lợi tử,
sau kết làm bồ đề châu mà thành Phật bao giờ! Tánh và mạng của nhà luyện đơn
nói, đều là lối tu chấp trước trên thần thức, sắc thân. Họ không hiểu lẽ ấy, trở
lại chê đạo Phật chỉ tu tánh không biết tu mạng, đâu dè việc làm của họ chính là
chỗ phá trừ bên Phật giáo.
Phép tham thiền chẳng phải là cơ duyên của người đời nay, dù có
học cũng thành sự hiểu biết về văn tự, quyết không thể tỏ suốt tâm tánh. Tại sao
thế? Vì thiếu bậc thiện tri thức dắt dìu chỉ định, lại người học chẳng biết tham
thiền là thế nào, phần nhiều tuy gọi tham thiền, song thật ra là ngộ nhận. Trong
bài luận 'Tông cùng Giáo không nên lẫn lộn' và 'Tịnh Độ Quyết Nghi', tôi đã chỉ
phần đại khái về việc trên đây. Người đời nay, không luận căn cơ thượng, trung,
hạ, đều phải gìn luân thường, giữ lòng thành kính, tin chắc lý nhân quả, làm
những điều lành và chuyên niệm Phật cầu sanh về Tây Phương. Nhân quả là cái lò
lớn để nung phàm luyện thánh trong đạo pháp thế và xuất thế gian. Nếu trước tiên
không nghiên cứu về nhân quả, sau khi thông hiểu Tông Giáo, e cho còn sự lỗi lầm
đối với vấn đề nầy, và đã lỗi lầm tất có phần sa đọa. Vì thế, chớ cho nhân quả
là cạn cợt mà xem thường. Phàm phu vì tâm lượng nhỏ hẹp nên không hiểu thấu
những chỗ nói về nhân quả trong kinh, thật ra, các đấng Như Lai thành Chánh
Giác, chúng sanh đọa tam đồ, đều chẳng ngoài đạo lý ấy. Nên lấy pháp thiển cận ở
đời để làm phương tiện vào đạo mầu, như các thiên: Văn Xương Âm Chất, Thái
Thượng Cảm Ứng chẳng hạn. Mấy quyển ấy, nếu xem kỹ và thực hành theo thì mỗi
người đều có thể thoát nẻo luân hồi, hoặc ít ra cũng làm được hạng dân lương
thiện. Niệm Phật tuy trọng ở sự vãng sanh, nhưng khi niệm đến cùng cực cũng ngộ
được chân tâm, chẳng phải đối với đời hiện tại hoàn toàn không lợi ích. Thuở
xưa, Thiền Sư Minh Giáo Tung mỗi ngày niệm thánh hiệu Quán Âm mười muôn câu, về
sau những kinh sách ở đời, Ngài không đọc mà biết cả. Nên xem Tịnh Độ Thập Yếu,
Tịnh Độ Thánh Hiền Lục, sẽ biết niệm Phật là nhiệm mầu.HET=NAM MO BON SU THICH CA MAU NI PHAT.( 3 LAN ).GIAO HOI PHAT GIAO VIETNAM TREN THE GIOI.TINH THAT KIM LIEN.BAT CHANH DAO.THICH NU CHAN TANH.GIAC TAM.AUSTRALIA,SYDNEY.14/6/2015.
No comments:
Post a Comment