Thuở xưa, Đại sư Liên Trì tập họp các yếu nghĩa trong Luật tạng, sáng tác ra 24 Chương Oai Nghi, để tiện bề cho người học ghi nhớ, ngắn gọn dễ hành trì, thực tập lâu dần thành bản tánh, do vậy mà không phạm phải oai nghi giới luật, chẳng giống như đại chúng ngày nay, huân tập nhiều điều không hay lắm, có những điều sách nầy không thể nêu ra hết.
Nhân gần đây, có một số cư sĩ tinh tấn, tuy phát tâm dõng mãnh, nhưng tác phong thì phần nhiều lại không hợp với Phật pháp. Sự nghiệp của người học Phật là để giải thoát, có tâm cung kính thì thành tựu được nhân cách đạo đức. Nếu hành nghi chưa am tường, mà có thể tự tu tự đắc, thâm nhập Phật đạo, thì thật hiếm thấy.
Thế nên, chẳng ngại sự hiểu biết còn giới hạn của mình, chúng tôi mạo muội lựa ra những điều quan trọng từ trong bộ “Nhựt Dụng Thiết Yếu” mà thuật lại thành 24 chương, đặt tên là Học Phật Hành Nghi (Tác Phong Của Người Học Phật). Phàm làm Tỳ kheo, Sa di, Cư sĩ, Ni giới, v.v… đều có thể học tập và hành theo.
Trong văn đây có chỗ chung và riêng có thể học, vì sợ văn từ rườm rà nên không tách ra và phân loại. Tuy nhiên đầu câu của mỗi chương đều có nêu rõ. Hy vọng quí vị cùng chí hướng, mỗi người tự xem xét phân biệt, học tập và thực hành theo.
CHƯƠNG I
KÍNH PHẬT
Phàm là Sa môn, Cư sĩ, Ni giới,… từ đây về sau cũng nêu ra như thế, khi thấy hình tượng Phật, không luận là tượng đúc, hoặc tượng vẽ, đều phải sửa sang y phục lễ bái, ít nhất là cúi đầu hoặc chắp tay. Nếu như ở trong Chánh điện, nhà để kinh, mà thấy Phật tượng, thì phải nên lễ bái.
Lúc lễ lạy niệm thầm bài kệ rằng:
Phiên âm:
Thiên thượng thiên hạ vô như Phật
Thập phương thế giới diệc vô tỷ
Thế gian sở hữu ngã tận kiến
Nhất thiết vô hữu như Phật giả.
Án phạ nhựt ra hộc
(3lần)
Tạm dịch:
Trên trời dưới trời Phật tối thắng
Mười phương thế giới cũng không sánh
Tất cả những điều con thấy biết
Hết thảy không ai bằng Đức Phật.
Án phạ nhựt ra hộc
(3lần)
Bài kệ thì niệm một lần còn chú thì niệm ba lần, các bài kệ sau cũng như thế.
Khi vào chánh điện Phật, nhà để kinh, chẳng nên xách mang những đồ dùng chi khác, ngoại trừ Kinh điển, tượng Phật, hay phẩm vật dâng cúng Phật.
Đã vào trong chánh điện rồi thì chẳng nên tò mò dòm ngó bên này bên kia, đợi sau khi lễ bái xong thì mới yên lặng chiêm ngưỡng đức tướng của Phật.
Niệm thầm bài kệ rằng:
Kệ nhìn thấy Phật:
Phiên âm:
Nhược đắc kiến Phật
Đương nguyện chúng sanh
Đắc vô ngại nhãn
Kiến nhất thiết Phật.
Án a mật lật đế hồng phấn tra (3lần)
Tạm dịch:
Khi nhìn thấy Phật
Nguyện cho chúng sanh
Được mắt vô ngại
Thấy tất cả Phật.
Án a mật lật đế hồng phấn tra
(3lần)
Lại niệm kệ khen ngợi rằng:
Kệ khen ngợi Phật:
Phiên âm:
Pháp vương vô thượng tôn
Tam giới vô luân thất
Thiên nhân chi đạo sư
Tứ sanh chi từ phụ
Ngã kim tạm quy y
Năng diệt tam kỳ nghiệp
Xưng dương nhược tán thán
Ức kiếp mạc năng tận.
Tạm dịch:
Đấng pháp vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loại
Quy y tròn một niệm
Xưng dương và tán thán
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Ức kiếp không cùng tận.
Phàm đi kinh hành ở trong chánh điện thì nên đi vòng theo bên phải, chẳng nên đi vòng theo phía bên trái, đi nhiễu bên trái hay bên phải là lấy theo hướng tượng Phật mà tính, 3 vòng hoặc 7 vòng, đều nên nhìn ngay đi thẳng nhất tâm niệm Phật.
Chẳng được luận bàn chuyện thế gian, mà phải nên nói về Phật pháp, lại chẳng nên lớn tiếng. Chẳng nên cười, chẳng nên ngồi, chẳng nên khạc nhổ, chẳng nên dựa vách, tựa bàn. Nếu ho, ợ ngáp, phải nên lấy tay áo che miệng. Phàm lễ bái phải nên thong thả, năm vóc gieo sát đất, tinh cần quán tưởng, chẳng được cúi xuống đứng dậy mau.
Trong kinh có nêu ra 7 cách lạy, người học Phật cần phải biết.
1. Ngã mạn lễ: Tuy noi theo thứ lớp, nhưng chẳng có tâm cung kính, tâm chạy theo ngoại cảnh, năm vóc mọp chẳng sát đất, lạy giống như chày giã gạo.
2. Xướng họa lễ: Tâm không quán tưởng thanh tịnh, thấy người đến thì thân mau lễ lạy, người ta đi rồi thì thân lười tâm mỏi, ấy là tâm tán loạn mà chỉ có miệng xướng họa.
3. Thân tâm cung kính lễ: Nghe xướng danh hiệu Phật, liền nhớ tưởng niệm Phật, thân tâm cung kính, tinh cần không lười biếng mỏi mệt.
4. Phát trí thanh tịnh lễ: Đạt được cảnh giới Phật, tùy tâm hiện lượng. Lễ một vị Phật, tức lễ tất cả chư Phật. Lễ một lạy, tức là lễ cả pháp giới, vì pháp thân chư Phật dung thông.
5. Biến nhập pháp giới lễ: Tự quán thân tâm và tất cả các pháp, từ xưa đến nay chẳng rời pháp giới, Phật và ta bình đẳng. Nay lễ 1 vị Phật, tức là cùng một lúc lễ hết thảy 10 phương pháp giới chư Phật.
6. Chánh quán lễ: Lễ đức Phật nơi tự thân, chẳng duyên tưởng theo đức Phật ở bên ngoài, vì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh bình đẳng.
7. Thật tướng bình đẳng lễ: Sáu cách lạy trên là có lễ có quán, tự tha hai thứ khác nhau. Duy chỉ có phép lạy này, không có phân biệt tự tha, phàm thánh nhất như, thể dụng chẳng hai. Cho nên Bồ Tát Văn Thù nói kệ:
Năng lễ sở lễ tánh không tịch… Người lễ Phật và Đức Phật mà mình đang lễ thể tánh vốn rỗng rang vắng lặng…
Trong bảy cách lạy nầy: Ba cách trước là thuộc về sự lễ, bốn cách sau là thuộc về lý lễ.
Người học Phật nên y theo 5 phép lạy sau, chẳng nên theo 2 cách lạy trước.
Khi lạy Phật, lạy tháp, lạy kinh, lạy đại Sa môn, đều nên noi theo phép trên, chẳng cần nói lại nữa.
Nếu như đi đến đâu, thấy có tượng Phật, kinh Phật, hoặc chữ Phật ở nơi bất tịnh, phải mau dùng hai tay nâng lên rồi an trí ở nơi chỗ sạch sẽ. Nếu có thấy ai đối với Phật, kinh, tượng chẳng có lòng cung kính, thì mỗi khi có dịp ngồi chung gặp nên đem lời chơn chánh mà khuyên bảo.
Phàm tượng Phật, chẳng nên an trí trong phòng ngủ, nếu phải đặt ở trong phòng ngủ thì nên thường xuyên niệm Phật. Lại chẳng được để các đồ chứa phân nước tiểu trong phòng ngủ, phải biết Phật tượng hiện tiền như Phật tại thế, cần phải nên kính trọng.
Thường thấy người đời, với nghĩa lý của kinh Phật, thì cực kỳ hâm mộ khen ngợi sâu xa, mà đối với Kinh, tượng thì đa phần lại coi thường, bởi cho rằng Phật pháp chẳng phải ở nơi kinh tượng, chẳng biết rằng cung kính Phật, kinh, tượng, là vì thành tựu phẩm hạnh của tự mình vậy.
Nếu đối với kinh tượng mà chẳng cung kính, thì lý mầu của Phật Pháp do đâu mà ra!? Cho nên, bất luận là hạng người nào, cũng đều nên cung kính Kinh điển và tượng Phật. Sa môn mà không kính kinh điển tượng Phật, đến chương sau phần “Cư Am” sẽ đề cập lại
CHƯƠNG II
KÍNH PHÁP
Phàm là Sa môn, Cư sĩ, khi đọc kinh luật của Phật nên đốt hương ngồi ngay thẳng, thấy kinh như thấy Phật.
Chẳng được nương dựa bàn ghế vách tường, chẳng được dùng tay dơ mà cầm nắm kinh tượng. Muốn đọc kinh, trước hết nên ngồi tĩnh tọa một chút, niệm thầm bài kệ rằng:
Kệ đọc kinh:
Phiên âm:
Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì
Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa.
Tạm dịch:
Phật pháp cao siêu rất thẳm sâu
Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu
Con nay nghe thấy chuyên trì niệm
Nguyện tỏ Như Lai nghĩa nhiệm mầu.
Niệm xong rồi, chắp tay xá rồi mới mở kinh ra.
Đọc kinh, phải hiểu ý nghĩa trong từng chữ, để cho tương ưng cùng với tâm, chẳng được đọc sơ lược qua loa.
Phàm đọc kinh, nên đắp y hoặc mặc áo tràng. Trên bàn trừ kinh điển hương đèn ra, chẳng được để thêm các thứ tạp vật như trà quả…, còn bút viết nghiên mực, nên an trí nơi chỗ khác. Trên kinh có bụi, nên dùng giấy sạch lau, chẳng được dùng miệng thổi. Đọc xong hoặc nghỉ ngơi, cần phải đem kinh để trên kệ và gấp lại cho ngay ngắn. Đọc đến chỗ nào nên dùng chỉ hoặc miếng giấy để ngăn làm dấu, trên đầu để lộ ra một chút, chẳng được bẻ gấp góc trang kinh làm dấu, chẳng được làm hư nát. Đọc kinh đến nửa chừng nếu tâm sanh tạp niệm, thì nên gấp kinh lại, đến khi tạp niệm tan rồi mới lại mở ra đọc tiếp.
Nếu có khách, thượng tòa, đồng học đến, đều nên gấp kinh sách lại rồi mới nên tiếp chuyện. Có kinh Phật ở trên bàn, chẳng nên đàm luận chuyện thế gian, chẳng được cười nói lớn tiếng, chẳng được khạc nhổ. Nếu phát cơn ho sặt thì phải dùng tay áo che miệng. Nếu đọc kinh có được chút tâm ý lãnh hội, thì khi đọc xong, lấy giấy bút ghi chú riêng bên ngoài, không được ghi chú ngay trên đầu quyển kinh. Nếu sao chép kinh luật, thì phải viết chữ chơn phương ngay ngắn, bút tích rõ ràng, chẳng được tùy ý viết thảo, lại chẳng được trước sau thêm vào nhiều lời hư dối.
Phàm các kinh sách, phải nên như pháp cung kính. Kinh Phạm Võng nói: “Nếu là Phật tử – phải thường nhất tâm thọ trì đọc tụng kinh luật đại thừa, dùng giấy, vải, hàng lụa, thẻ tre, vỏ cây, cho đến lột da làm giấy, chích máu làm mực, lấy tủy làm nước, chẻ xương làm viết, để biên chép kinh luật – thường dùng 7 báu vô giá hương hoa và tất cả châu báu làm hộp rương, đựng những quyển kinh luật. Nếu không y theo pháp mà cúng dường kinh luật, Phật tử nầy phạm khinh cấu tội. Nếu kinh sách hư rách, nên mau tu sửa lại, phải luôn giữ gìn như mới”.
Phàm khi cầm kinh tượng phải nên dùng hai tay bưng lên ngang ngực, chẳng được một tay xách mang đi. Tay mình cầm kinh tượng không được hướng người khác lễ lạy, chẳng được một tay xá chào, cho đến cúi mình chắp tay, nên dùng hai tay nâng kinh tượng lên ngang với mi mắt thì đủ lễ vậy.
Phàm kính pháp, không chỉ riêng kính trọng kinh điển, mà phải đối với y bát, tích trượng, v.v… cũng lại như vậy. Còn nhiều thứ vô hình vô tướng đặc biệt khác, không thể nêu hết.
Thường thấy kinh sám lưu thông ngày nay có phần thuộc về ngụy soạn, tuy có một hai phần là chánh kinh, nhưng chỉ là những phần vụn vặt hơi hỗn tạp.
Lại nữa, những người mới học gần đây thấy kinh nghĩa sâu xa, cũng muốn lấy mà xem coi. Nhưng lúc xem coi, nằm ngửa, tựa lưng, ngồi nghiêng, uốn mình cong như ống đồng,… những tư thế nầy người học Phật không nên làm. Hy vọng các vị có cùng chí hướng nên nỗ lực hết lòng khuyên bảo nhau để mong tránh khỏi ác báo.
CHƯƠNG III
KÍNH TĂNG
Phàm là Sa môn, Cư sĩ, khi thấy các bậc Trưởng lão, Pháp sư, Đại đức, đều nên giữ thân mình ngay ngắn, đứng cho trang nghiêm chào hỏi, chẳng được ngồi yên không đứng dậy tiếp đón chào hỏi. Trừ khi tụng kinh, khi bệnh, khi cắt tóc, khi đang bận rộn với công việc, và những trường hợp không thể đứng dậy được.
Hàng hậu học chẳng được nói lỗi của chư Trưởng lão, Pháp sư, Đại đức. Chẳng được nói trổng danh xưng của các bậc lớn, nên xưng Trưởng lão…, Pháp sư…, Đại sư gì đó. Còn khi đối diện chuyện trò thì chẳng được nêu ra danh tự, chỉ nên xưng riêng hai chữ Trưởng lão, Pháp sư, Hòa thượng, đó là cách xưng hô thông thường nhất của người học.
Phàm thư từ qua lại cũng phải như vậy, chẳng nên xưng là kẻ hậu sanh, tôi, ta, kẻ ngu này v.v…
Còn khi thấy các vị tăng lữ bình thường thì nên xưng Thầy (cô)… gì đó, chẳng được gọi thẳng tên vị ấy, chẳng được nói Pháp danh. Còn khi hỏi Pháp danh là dành cho hàng Thượng tọa hỏi đàn hậu học vậy.
Phàm là Sa di, Cư sĩ, trong văn xưng là Tỳ kheo, Sa di, Cư sĩ. Tức gồm có Tỳ kheo ni, Sa di ni, nữ cư sĩ, ý là ở trong đó, nếu nói tỉnh lược văn từ, thì nói như phần liệt kê phía sau. Chẳng được lén nghe đại Sa môn thuyết giới, trong văn đơn xưng là đại Sa môn xứ, tức là bao hàm cả Trưởng lão, Pháp sư ở trong đó. Ví như cũng chẳng được lén nghe Tỳ kheo tụng Giới Kinh.
Phàm vào Tăng phòng, không luận là phòng nào, không được khinh suất tự ý xông vào, nên trước khảy tay, gõ cửa 3 tiếng, bên trong bằng lòng mới được vào, không có tiếng đáp thì nên đi. Vào trong rồi, trước nên hướng đến Phật tượng làm lễ, kế đến hướng về chư Đại đức đang xem kinh, đối trước bàn xá chào thưa hỏi, sau mới hướng về các vị Đại đức chắp tay xá chào thưa hỏi.
Phàm khi thấy chư Đại đức, Trưởng lão, Pháp sư cũng như thấy Phật, quy tắc lễ nghi như phần trước có nói. Còn khi thấy chư Tăng bình thường lại cũng phải xem như thấy Bồ tát vậy, chẳng được khinh khi. Dù chẳng phải bậc Tăng tốt cũng nên cung kính, phải lấy theo hình tướng của Sa môn để tôn trọng vậy. Huống chi có những biểu hiện mà với con mắt thịt của chúng ta không thể thấy hết được. Vì vậy mà Bồ tát Thường Bất Khinh khi thấy bất cứ người nào đều nói rằng: “Các Ngài đều sẽ làm Phật, tôi chẳng dám khinh các Ngài”.
Như vậy có thể biết. hàng Cư sĩ mỗi khi thấy Sa di, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni đi qua thì nên đứng dậy, còn khi thấy những vị đồng bậc với nhau thì chỉ cần ngồi ngay là được rồi.
Phàm muốn lễ bái chư Đại đức thì khi những vị ấy đang an tọa hoặc đang đứng thì có thể lễ bái, còn những khi chư Đại đức đang ngồi thiền, kinh hành, dùng cơm, cạo tóc, tắm rửa, ngủ nghỉ, v.v… thì chẳng nên lễ bái. Nếu phòng đóng cửa thì không nên ở ngoài cửa làm lễ, muốn vào cửa làm lễ nên gõ cửa, khảy tay 3 lần, Thầy không trả lời thì nên đi.
Phàm thưa hỏi Phật pháp thì phải nên chỉnh sửa y phục lễ bái, tối thiểu phải đứng ngay ngắn cúi đầu chắp tay thưa hỏi, nếu Thầy mời ngồi thì ngồi, cần phải lắng lòng nghe kỹ, tư duy tiếp nhận. Khi chư Đại đức nói chưa xong chẳng được hớt lời chen vào câu thưa hỏi. Phàm Tăng – Ni có lỗi lầm gì, thì do đại Sa môn đến thời Tự tứ sẽ đề cập tới, hàng Cư sĩ chẳng được nói lỗi lầm của các vị Sa môn, đối với hàng hậu học cũng lại như vậy.
Phàm ở giữa đường gặp các vị Đại đức, nên mau đứng nhường sang một bên chờ chư Đại đức đi qua rồi mới đi, chẳng được đi song song lấn đường, những lúc cùng đi chung, phải nên nhường chư Đại đức đi trước, nên thay chư Đại đức mang hành lý.
Lúc ngồi phải nên nhường chư Đại đức ngồi trên trước, ngồi trên giường… cũng lại như vậy.
Khi thấy chư Đại đức chẳng được hai tay chống nạnh, chẳng được run cánh tay cùng uốn éo toàn thân, chẳng được ngồi chồm hổm, chẳng được vừa đi vừa nhảy, chẳng được đi mau, trừ khi có việc gấp. Chẳng được rút cổ co đầu, trừ khi có bệnh. Chẳng được liếc nhìn hai bên phải trái, chẳng được đứng chỗ cao, chẳng được cười giỡn. Những việc còn lại đều có nói rõ ở trong luật, do vì văn nhiều không chép.
CHƯƠNG IV
Ở AM THẤT
Phàm là Sa môn khi ra cất Am thất để tu hành, trong ngoài chung quanh Am đều nên quét dọn sạch sẽ, chẳng được để bề bộn các thứ tạp vật. Sớm tối chuông trống cần phải đều đặn rõ ràng, chẳng được lơ đễnh trễ nãi. Mặt tiền Am cần phát quang mở lối cho thông thoáng, chẳng được để hoang vu. Hai thời cơm cháo cần phải thanh khiết, không nhất thiết phải phong phú nhiều món cao sang. Trong Phật điện, nhà để kinh, phải luôn luôn lau chùi quét dọn sạch sẽ, trừ những thứ pháp khí, hương đèn ra chẳng nên để các thứ tạp vật. Hoa quả, nước sạch, cơm cúng Phật,… chẳng được dùng mũi ngửi trước. Không được trái thời đánh chuông, gõ mõ, đánh kiền chùy,… Khám thờ Phật, đèn cúng Phật nên lấy giấy kiếng, lồng chụp, óng khói,… che đậy để tránh bụi bặm và các loài côn trùng bay vào.
Thường xuyên lau chùi khiến tâm mắt sáng sạch. Kim thân Phật tượng phải luôn giữ gìn như mới, chẳng để bụi trần làm dơ bẩn khó coi.
Thường thấy các am nhỏ của Tăng lữ gần nhà dân, không những tự thân đã không trang nghiêm mà đối với Phật tượng cũng để cho loang lỗ khó coi.
Trong Phật điện để bụi bặm bám đầy. Treo tượng thì tùy tiện theo thế tục, để lẫn lộn ở chỗ không thể thấy nghe. Việc làm nầy một khi mất thân người thì muôn kiếp khó gặp lại. Hy vọng các bậc minh triết nên cùng nhau cố gắng.
Sớm tối siêng năng tụng niệm chẳng được gián đoạn. Hương đèn cúng Phật cần nên thường thay tươi mới, chớ để bàn thờ trống không. Tiếp đãi khách khứa cần nên giữ lễ, chẳng được kiêu ngạo nịnh bợ. Dạy đệ tử cũng phải có giờ giấc, chẳng được nóng giận mắng chửi người.
Chẳng được nuôi dưỡng gà vịt heo mèo, chẳng được cất giữ dao súng, đạn pháo, cần câu, lưới cá,… tất cả những thứ này đều là thứ sát hại sanh vật, làm tổn lòng từ. Phàm mướn công thợ làm việc chùa nên trước phải phân định ngày giờ và giá cả, nói rõ nơi đây ăn chay, giữ giới sát sanh, thường xuyên niệm Phật, không uống rượu, không ăn các thứ nồng cay, cho đến chẳng được ca hát cười giỡn,… công thợ nên trả bằng tiền, để thay thế cho các phẩm vật cần thiết khác.
Bên ngoài Am chẳng được trồng đào lý các thứ cây ăn trái, để tránh miệng người đàm tiếu.
Chẳng được ăn và trồng ngũ vị tân, – hành, hẹ, tỏi, nén và hưng cừ – chẳng được nuôi thân bằng những nghề không chân chánh.
Kinh Phạm Võng nói: Nếu Phật tử, đem ác tâm vì lợi dưỡng buôn bán nam sắc nữ sắc, tự tay làm đồ ăn, tự xay, tự giã, xem tướng, bàn mộng, đoán sẽ sanh trai, sanh gái, bùa chú pháp thuật, nghề nghiệp, phương pháp nuôi ó và chó săn, hòa hiệp trăm thứ thuốc độc, nghìn thứ thuốc độc, độc rắn, độc sanh kim, sanh ngân, độc sâu cổ, đều không có lòng từ bi, lòng hiếu thuận. Nếu cố làm điều trên, Phật tử này phạm “Khinh cấu tội”.
Trong Am chỉ treo những câu liễn cảnh sách, ngoài ra chẳng nên để những chữ gì khác. Phàm là những gì có đủ sự trang nghiêm thì nên để cúng trong Phật điện, nhưng lại chẳng được quá hoa lệ, đã viết là Am thì nên lấy sự thanh khiết là trên hết. Lại chẳng được tích chứa nhiều tiền bạc, gạo thóc, áo quần, trân bảo vật quý, tránh cho lòng ham muốn của người đời. Nếu có dư thì nên đem ra bố thí cho những người nghèo khó khốn khổ trong những năm mất mùa đói kém. Chẳng được cứ mãi lo cho vay cho mượn, để mang tiếng là Am giàu. Chẳng được dùng rượu thịt cúng bái quỉ thần. Chẳng được cùng với hàng văn Nho đọc sách để ngâm ca xướng vịnh thơ văn.
Nếu gặp những năm đói kém, hoặc rét buốt nghiêm trọng cùng tang ma việc, nên tùy theo sức mình mà chu cấp cho người nghèo khó. Chẳng được cùng người dân kết giao làm cha mẹ, huynh đệ, chị em nuôi. Chẳng được hai bên tặng quà cáp lễ vật qua lại, cùng đến người thăm chơi, thường xuyên mời người về Am để học cúng dường, trừ những việc cúng dường các Trưởng lão.
Nếu là ngày Thánh đản của Phật, Bồ tát, nên vì đại chúng nhóm họp, diễn thuyết Phật pháp, đưa sách Phật. Chẳng được nhận những trẻ nhỏ làm đồ đệ bà con. Chỉ trừ việc vì nhân duyên đại sự, chẳng được tìm đến các nhà giàu sang hóa duyên, và cầu tụng kinh sám, v.v… chẳng được dừng đứng bên trường học, dừng lại cùng những người nhàn rỗi, người xấu, trừ người dưỡng bệnh. Lúc gặp người dưỡng bệnh thì nên tùy thời mà thuyết nhân duyên Phật pháp cho họ nghe, chẳng được cùng người đánh đàn, chơi cờ, ca hát.
Chẳng được luận đàm việc chính trị, chiến tranh, thưa kiện, chuyện phải quấy trong nhân gian, cùng tất cả những việc tạp nhạp ở đời. Lúc rảnh rang thì nên tụ họp đồ chúng, đồng tham đạo hữu, công nhân,… nói giáo lý nhân quả trong Phật pháp cho họ nghe. Chẳng được châm lửa thiêu đốt núi rừng,…
Kinh Phạm Võng nói: “Nếu Phật tử vì ác tâm, phóng hỏa đốt núi rừng đồng nội. Từ tháng 4 cho đến tháng 9 phóng hỏa, hoặc cháy lan đến nhà cửa, thành ấp, tăng phường, ruộng cây của người, và cung điện tài vật của quỷ thần. Tất cả chỗ có sinh vật, không được cố thiêu đốt. Nếu cố thiêu đốt, Phật tử nầy phạm “Khinh cấu tội”.
Chương này tuy chỉ riêng nói về phần của Sa môn, tuy nhiên có hàng Cư sĩ nào muốn ở Am thì cũng nên y theo cách thức trên mà thực hành.
CHƯƠNG V
HẦU THẦY
Phàm là Sa môn, phép tắc hầu Thầy thì nên căn cứ theo chương thứ 2 và chương thứ 3 trong sách Oai Nghi mà học tập, đây chẳng cần nêu lại.
Còn việc cư sĩ hầu Thầy, thì phải thật tâm làm cho tốt, giống như con cháu đối với tôn trưởng sống một mình. Chẳng phải chỉ biết nói suông. Bởi vì hầu Thầy tức là phụng thờ Sư trưởng vậy, ý nói có một hai đệ tử quy y phụng phụng thờ Trưởng lão. Trường hợp nầy cũng căn cứ theo oai nghi “Thờ Thầy” mà học tập, ở đây không nêu lại.
CHƯƠNG VI
DƯỠNG NUÔI CHA MẸ
Phàm là Sa môn, Cư sĩ chăm sóc cha mẹ, không chỉ sớm thăm tối viếng, mà còn phải lo việc ăn uống nóng lạnh, khéo biết thời nói cho cha mẹ nghe về nhân quả thiện ác tu tập để thoát ra biển khổ luân hồi, cũng cần phải hiểu lễ tiết của Nho gia có nhiều chỗ bất đồng. Người học Phật rồi thì mỗi khi thấy cha mẹ chẳng nên đứng ngồi nương dựa mà nên giữ thân ngồi ngay đứng thẳng. Thường niệm kệ rằng:
Kệ phụng dưỡng cha mẹ:
Phiên âm:
Hiếu sự phụ mẫu
Đương nguyện chúng sanh
Thiện sự ư Phật
Hộ dưỡng nhất thiết.
Tạm dịch:
Hiếu thờ cha mẹ,
Nguyện cho chúng sanh
Như thờ chư Phật
Cung cấp tất cả.
Lúc phải thời thì nên đem nhân duyên Phật pháp. Để hướng dẫn, còn khi tương giao với bạn bè thân hữu thì cũng nên đem Phật pháp ra khuyên bảo, khiến cha mẹ thấm nhuần thiện căn. Nếu cha mẹ không có lòng tín ngưỡng, thì phải đợi khi có cơ duyên như bệnh đau, tai nạn,… mới đem ra để giảng nói.
Nếu cha mẹ muốn mình uống rượu, ăn thịt nên tùy nghi mà thưa: “Con nay đã thọ trì giới của Phật, ăn thịt làm tổn hại mạng chúng sanh, uống rượu làm lu mờ tâm tánh, chẳng tự mình ăn thịt uống rượu, lại cũng chẳng nên đưa người ăn thịt uống rượu. Xin nguyện cho hết thảy người thân của con cùng giới hạnh như con không khác, toàn bộ người thân của con đều tiếc giữ đức hạnh, cùng mạng sống của tất cả chúng sanh,…”
Tha thiết khẩn cầu như vậy, nhưng cũng chưa hẳn là xong. Phàm khi tổ chức lễ mừng thọ, nên y theo lời Phật dạy mà làm, để tránh tổn hại đến mạng sanh vật.
Nếu thấy người thân thọ mạng gần hết, trước hết đem lạc cảnh Tây phương Tịnh độ nói cho cha mẹ nghe. Khi mạng chung rồi, liền thông báo cho mọi người biết, đừng nên sanh lòng bi ai quá độ.
Tang lễ tất phải y theo văn dưới mà cử hành. Tuy khó có thể làm hết điều mình mong muốn, nhưng lại cũng nên lấy việc chẳng tổn hại sanh mạng sanh vật làm chính. Phàm khi thấy chú bác các bậc tôn trưởng nên giữ mình ngay thẳng, cũng nên lấy nhân duyên của Phật pháp khuyên bảo bảo cho thấu hiểu.
CHƯƠNG VII
BỒ TÁT TẠI GIA
Phàm là Cư sĩ ở nhà, tuy không thể làm hết mọi Phật sự, nhưng cũng đừng tạo oan nghiệp mới. Thường thầm niệm bài kệ rằng:
Kệ khi ở nhà:
Phiên âm:
Bồ tát cư gia
Đương nguyện chúng sanh
Tri gia tánh không
Miễn kỳ bức bách
Tạm dịch:
Bồ tát ở nhà,
Nguyện cho chúng sanh,
Rõ tánh nhà không,
Thoát khỏi bức bách.
Nếu dạy vợ con, trước hết phải nói về nhân quả, đem Phật pháp hướng dẫn, khai thị về thế giới Cực lạc. Thường niệm bài kệ rằng:
Kệ khi gia đình tập họp:
Phiên âm:
Thê tử tập hội
Đương nguyện chúng sanh
Oán thân bình đẳng
Vĩnh ly tham sân.
Tạm dịch:
Vợ con tụ hội,
Nguyện cho chúng sanh,
Oán thân bình đẳng
Lìa hẳn tham sân.
Nếu vợ con có chút niềm tin thì nên đem năm giới ra mà răn dè. Trong nhà con gái là dễ giáo hóa nhất, nên đem sách Phật căn bản cho chúng đọc, sống đời thanh đạm, khuyên chúng gieo trồng hạt giống Phật trong thửa ruộng tâm thức.
Lại nên tìm chỗ thanh tịnh ở trong nhà, hoặc trên lầu thiết lập một phòng kinh, trang nghiêm thanh tịnh, để tiện cho việc sớm tối lễ tụng, khiến cho con cái cùng những người thân, thấy được mà phát lòng lành, sanh khởi tín tâm. Mỗi lần lên lầu thì nên thầm niệm bài kệ rằng:
Kệ khi lên lầu:
Phiên âm:
Thượng thăng lầu các
Đương nguyện chúng sanh
Thăng chánh pháp lầu
Triệt kiến nhất thiết.
Tạm dịch:
Khi lên lầu các,
Nguyện cho chúng sanh
Lên lầu chánh pháp,
Hiểu hết tất cả.
Phàm mướn công nhân, nên trước phân định ngày làm, nói rõ nơi đây niệm Phật, ngăn sát sanh, uống rượu, chẳng nên dùng lời buông lung ca hát. Tự thân cư sĩ, thường ngày luôn giữ phong cách, sống đời trong sáng đoan chánh, không giận hờn, không mắng chửi, không uống rượu, không nói lỡ lời, không giỡn cười, không đam mê cờ bạc. Khi gặp cảnh quyến thuộc chẳng vừa ý cũng không nên thường giận hờn la mắng, dạy dỗ cũng phải biết đúng thời.
Khi có các tiệc vui, nên lấy tiền tài ra mà bố thí cho những người nghèo khó. Khi bố thí nên niệm kệ rằng:
Kệ đọc khi bố thí:
Phiên âm:
Nhược hữu bố thí,
Đương nguyện chúng sanh,
Nhất thiết năng xả,
Tâm vô ái trước.
Tạm dịch:
Nếu có bố thí
Nguyện cho chúng sanh
Xả bỏ hết thảy
Lòng không luyến tiếc.
Nên mời người hoặc tự mình diễn nói Phật pháp căn bản, cùng nhân duyên quả báo,…Tổ chức lễ cưới gã cho con gái, không cần phải sắm nhiều tư trang, của hồi môn nên nói rõ, hoặc lập khế ước, viết: “Những tài sản này, mỗi khi đổi thành tiền được bao nhiêu thuộc về con gái dùng, trích bao nhiêu tiền này ra để ấn tống kinh Phật, hoặc làm các việc từ thiện”.
Cưới dâu cũng không hẳn phải sắm nhiều tư trang. Đến lúc chúng sanh con nên mời thân bằng quyến thuộc, làm chay đãi tiệc, giảng nói Phật pháp, bố thí người nghèo, biếu tặng kinh sách.
Nếu gia đình có dư cũng nên tiết kiệm như người bình dân, những phần dư thừa nên đem làm từ thiện công ích, tuyên dương Phật pháp, trang nghiêm chùa Phật. Nếu gia đình giàu có, nên đem tài sản giao phó cho những người thiện hữu, kiến lập Cư sĩ tòng lâm công cộng, xây Tịnh xá, Học viện,.. cùng làm những công tác cứu giúp cho người có hoàn cảnh neo đơn, già nua khốn khổ, sửa cầu đắp đường, tuyên dương Phật pháp…
Muốn cứu giúp chúng sanh, thì trước hết phải đắn đo suy nghĩ, quan trọng là chớ để cho người ta sanh lòng ỷ lại, trở thành lười biếng. Xưa ở quê tôi có một người nhà giàu, đem gia tài cự phú của mình nhập vào Từ Đường, để cho những người trong thân tộc đổi ra được rất nhiều lúa gạo.
Về sau những người trong thân tộc đều chỉ lấy lúa gạo đó để sống qua ngày chẳng chịu làm việc gì nữa, họ lại sanh lòng kiêu mạn khác thường, sau nầy không còn biết nghĩ đến việc mưu sinh. Vì vậy phát sanh hàng trăm tệ nạn trộm cắp, để bây giờ không cách nào cứu vãn được nữa.
Người xưa nói: “Lấy lòng nhân từ đối đãi mà kết quả lại là bất nhân”. Thật là thuộc về hoàn cảnh nầy. Cho nên bố thí, quan trọng là phải xem xét những người nhận của bố thí này có gây ác nghiệp hay không?
Nếu không được như thế thì nên đem của cải ra làm việc hoằng dương Phật pháp, cảm hóa lòng người, khiến cho thế giới thanh bình, thì công đức lại càng thù thắng.
Trong nhà chẳng nên cất chứa những thứ như dao súng, chất nổ, cần câu, lưới cá, bình xiệc điện rà cá… tất cả những khí cụ sát hại sinh mạng muôn loài, làm mất lòng từ.
Phàm khi giao tiếp với người thân thích, nếu muốn tặng Phẩm vật, nên phải nói rõ trước, chớ nên hiến tặng các thứ thức ăn mặn, chỉ xin nhận phần vải lụa thôi.
CHƯƠNG VIII
TIẾP KHÁCH
Phàm là Sa môn, Cư sĩ, khi tiếp khách, ngoại trừ hỏi thăm qua lại xã giao lúc đầu, đến khi quen biết lâu dần thì nên đem Phật pháp cùng nhân quả thiện ác,.. để tiếp chuyện. Khi trò chuyện thì tránh bàn luận về những việc chính trị, chiến tranh, thưa kiện và tất cả những lời tạp nhạp vô ích ở thế gian.
Trong phòng khách nên treo một câu cáo bạch rằng: “Gia đình tôi học Phật, chẳng bàn thế sự, chẳng uống rượu và chẳng ăn các thứ hành hẹ, tỏi nén,.. chẳng ca múa hát xướng, chẳng làm tổn hại sanh vật, chẳng dùng xủ quẻ xem bói, tướng số, chẳng thờ phụng tà giáo. Ngại rằng quý khách đến nhà chẳng rõ nguyên tắc nơi đây nên đặc biệt viết lời thưa trước để tránh việc xảy ra ngoài ý muốn”.
Khi mời khách dùng cơm nên dùng đồ chay, chẳng được giết gà làm thịt cá. Bất đắc dĩ lắm thì nên ra chợ mua về để đãi khách, những thứ tịnh nhục này là không thấy giết, không nghe giết, chẳng nghi vì mình mà giết. Tiếp đãi khách nên như vậy và lo ăn cho người làm công cũng lại như thế.
Phàm khi tiếp rước khách tham quan, trước nên đưa đến Phật đường, phòng kinh sách để chiêm ngưỡng Phật tượng, kinh điển. Kế đến mới đi tham quan vườn cây phòng ốc lầu gác các nơi. Ngoài ra, mỗi chỗ đều nên treo những câu cảnh tỉnh ở trong kinh. Liễn đối trong phòng cũng nên dùng những lời giác ngộ trong kinh Phật để đề tỉnh. Nếu khách đến có nhu cầu, hoặc tìm hỏi việc làm, nên nhân cơ hội này mà nói rằng: Bạn có thể niệm Phật răn sát sanh, thực hành theo lời dạy của Ngài không? Nếu được như thế thì giúp họ, còn không được thì thôi. Phàm khi nói chuyện, chẳng được tự khen mình chê người, chẳng được nói lưỡi hai chiều, nói chuyện phải quấy của người. Chẳng được cùng khách chơi cờ, ca hát, đánh bạc… Khi khách ra về, nên lấy kinh sách, chuỗi niệm Phật mà biếu tặng họ.
Nếu khi gặp Trưởng lão, Pháp sư, các vị Đại đức đến thăm nên mau ra lễ bái nghinh tiếp, lại nên bảo con cái thân quyến đều lễ bái đón chào. Lúc ra về cũng nên lễ bái đưa tiễn.
Kinh Phạm Võng nói: Nếu Phật tử, thấy có vị Pháp sư đại thừa, hay những bực đồng học, đồng kiến, đồng hạnh đại thừa, từ trăm dặm, nghìn dặm đến nơi tăng phường, nhà cửa thành ấp, thời liền đứng dậy rước chào, đưa đi, lễ bái cúng dường. Mỗi ngày ba thời cúng dường, trăm thứ uống ăn, giường ghế, thuốc men tất cả đồ cần dùng đáng giá 3 lượng vàng đều phải cấp hộ cho Pháp sư. Mỗi ngày: sáng, trưa và chiều, thường thỉnh Pháp sư thuyết pháp và đảnh lễ, ngày ngày ba thời lễ bái. Không khởi tâm sân hận phiền não, thỉnh pháp không mỏi nhàm, chỉ trọng pháp chớ không kể thân. Nếu Phật tử không như thế thì phạm khinh cấu tội.
CHƯƠNG IX